Giá trị của tác phẩm

Một phần của tài liệu Tai lieu on tap mon ngu van 12 (Trang 61 - 67)

PHẦN IV. VĂN BẢN VĂN HỌC KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM

III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU

2) Giá trị của tác phẩm

- Tác phẩm là bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của phong kiến và thực dân.

- Phản ánh cuộc sống đau thương, tăm tới của người dân nghèo miền núi Tây Bắc.

- Phơi bày, vạch trần bộ mặt tàn bạo của bọn phong kiến với những tập tục cổ hủ của người Mèo ở vùng cao.

- Phản ánh quá trình vùng dậy đấu tranh từ tự phát đến tự giác của người dân Tây Bắc dưới ánh sáng Cách Mạng.

b. Giá trị nhân đạo :

- Tố cáo tội ác của bọn thống trị vùng cao chà đạp lên quyền sống con người.

- Cảm thông sâu sắc với cuộc sống cơ cực, tủi nhục của người lao động nghèo Tây Bắc.

- Phát hiện và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, khát vọng sống, khát khao hạnh phúc ở họ.

- Tin tưởng vào khả năng đấu tranh tự giải phóng, thức tỉnh của những người bị áp bức.

- Mở ra cho nhân vật một hướng đi, một lối thoát tìm đến tương lai tương sáng c. Giá trị nghệ thuật :

- Khắc họa nhân vật sinh động: tính cách phong phú, phát triển hợp lý, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả, phân tích nội tâm nhân vật tinh tế, đặc sắc.

- Kết cấu hấp dẫn, dù không theo trình tự thời gian nhưng vẫn mạch lạc bởi các tình huống được xây dựng rất chặt chẽ, hợp lý, giàu kịch tính.

- Nghệ thuật kể chuyện, dựng cảnh tạo ấn tượng sâu sắc (cảnh ngày Tết, cảnh xử kiện)

- Giàu chất thơ, đậm đà phong vị miền núi (tục cướp vợ, bài hát dân ca, đêm tình mùa xuân, cảnh mùa xuân về trên bản mường)

VỢ NHẶT Kim Lân I. GIỚI THIỆU CHUNG:

1) Tác giả :

- Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài (1920 – 2007), quê ở Bắc Ninh.

- Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến.

- Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào ông cũng có những tác phẩm hay.

- Trước CMT8: ông viết một số tác phẩm vừa thể hiện không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam nhưng đồng thời tái hiện những sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê, qua đó biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước CMT8 – những người sống cực nhọc, khổ nghèo, lam lũ, vất vả nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, tài hoa.

Tác phẩm : các truyện như Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn...

- Sau CMT8 : ông tiếp tục làm báo, viết văn; tác phẩm : các tập truyện ngắn Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962)

- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Thế giới nghệ thuật của ông chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. Ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của những người nông dân nghèo rất gần gũi với sinh hoạt của ông – những con người gắn bó với quê hương và cách mạng.

- Ông được tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 2) Tác phẩm :

a. Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:

- Vợ nhặt có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Tác phẩm được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công lấy bối cảnh nạn đói năm 1945 (nhưng bị mất bản thảo)

- Sau khi hoà bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết Vợ nhặt.

- Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí (1962).

b. Tóm tắt :

Năm Ất Dậu 1945, nạn đói khủng khiếp xẩy ra lan tràn khắp mọi nơi, người chết như ngả rạ. Tràng, một nông dân nghèo, xấu xí sống cùng mẹ già ở xóm ngụ cư. Hàng ngày anh phải kéo xe chở thuê để kiếm sống. Một hôm, khi kéo xe lên dốc tỉnh, anh hò một câu cho đỡ mệt. Không ngờ câu hò đó đã làm cho anh quen được một người phụ nữ.

Ít lâu sau gặp lại, anh không nhận ra được người phụ nữ đó nữa bởi cái đói làm thị rách rưới, tiều tụy. Quá đói, thị đã gợi ý xin anh cho ăn và cắm đầu ăn một lúc hết bốn bát bánh đúc. Sau câu nói nửa đùa nửa thật của Tràng, thị đã theo anh về làm vợ.

Việc Tràng dẫn người phụ nữ lạ về, khiến mọi người trong xóm ngụ cư rất ngạc nhiên, nhất là mẹ anh. Bà không tin vào mắt mình nữa. Khi hiểu ra cơ sự, bà vui vẻ đón nhận con dâu với tấm lòng nhân hậu, độ lượng và bao dung. Tuy cái đói, cái chết đe doạ nhưng họ vẫn vui vẻ bàn chuyện làm ăn, vẫn hướng đến tương lai, hướng đến lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh sẽ mang lại hạnh phúc ấm no cho người nghèo. Khép lại tác phẩm là hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Nhật hiện lên trong tâm trí Tràng.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN : 1) Những ý chính :

a. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm :

- Nhan đề Vợ nhặt gây cho người đọc một sự chú ý đặc biệt. Người ta thường nói nhặt được vật này vật, vật khác, không ai nói “nhặt” được vợ hay chồng.

- Lấy vợ vốn là một trong những việc trọng đại trong cuộc đời người đàn ông. Bởi vậy, việc lấy vợ thường được tiến hành một cách thận trọng. Thế mà ở đây, anh Tràng lại

“nhặt” được vợ một cách dễ dàng.

- Nhan đề Vợ nhặt nói lên thân phận rẻ rúng của con người trong xã hội cũ, nhất là vào năm đói 1945. Vợ có thể “nhặt” được như người nhặt được cái rơm cái rác bên đường. Tựa đề Vợ nhặt vừa có ý nghĩa sâu sắc, vừa tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn cho tác phẩm.

b. Tình huống độc đáo của truyện

- Tình huống độc đáo của truyện là tình huống nhân vật Tràng, một người xấu xí, ế vợ, là dân ngụ cư nghèo túng, bị người làng khinh rẻ. Giữa lúc thiên hạ đói khát ghê gớm lại “nhặt” được vợ một cách dễ dàng (chỉ bằng vài bát bánh đúc).

- Tràng “nhặt” được vợ đã gây sự ngạc nhiên đối với mọi người trong xóm ngụ cư, gây sự ngạc nhiên cho mẹ Tràng và cho cả Tràng nữa. Bởi lẽ một người như Tràng mà lại lấy được vợ. Người như Tràng, thời buổi này nuôi thân, nuôi mẹ chẳng xong lại còn đèo bòng.

- Đó là một tình huống vừa độc đáo, vừa bi thảm, vừa thấm đẫm tình người, tạo sức lôi cuốn, sự chú ý đặc biệt của người đọc. Vì đây không phải là chuyện lấy vợ theo nghĩa bình thường, không có cưới hỏi đàng hoàng mà lại là “nhặt vợ”. Thân phận con người thật là rẻ rúng. Qua đó, tác phẩm đã vạch trần tội ác của bọn thực dân, phát xít đã đẩy người nông dân vào tình cảnh bi thảm. Tác phẩm mang ý nghĩa tố cáo mạnh mẽ, sâu sắc.

- Đồng thời, tình huống này còn mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng, hành động của những người có liên quan.

c. Khung cảnh xóm ngụ cư ngày đói :

- Thời gian : chiều, chạng vạng – gợi lên cảnh tiêu điều, ảm đạm, u tối

- Không gian : nhà cửa thì “úp súp, tối om, không nhà nào có ánh lửa, đèn”, “tối sầm lại vì đói khát”

- Mùi : “Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.

- Âm thanh : tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết”, tiếng hờ khóc tỉ tê của những gia đình có người chết đói, tiếng trống thúc thuế “dồn dập, vội vã khiến đàn quạ …hốt hoảng bay vù lên”

- Thôn xóm bao trùm không khí chết chóc: người đói khắp nơi “lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ…”, không sáng nào “không gặp ba bốn cái thay nằm còng queo bên đường”; “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”

d. Những nhân vật của truyện :

Người vợ nhặt :

Trước khi về làm vợ Tràng :

- Xuất hiện không tên tuổi, quê quán, gốc tích, đói khát rách rưới chị là hiện thân của hàng triệu người bần cùng, đói rách, tha phương vất vưởng kiếm ăn trong nạn đói năm 1945.

- Không một cái tên rõ ràng, tác giả gọi nhân vật là : “thị, ả, người đàn bà” thân phận mờ nhạt, đáng thương

- Cái đói đã làm chị thay đổi quá nhiều :

+ Nhân hình: lần trước gặp Tràng, chị còn hồn nhiên “liếc mắt, cười tít”, đon đả với anh ; lần thứ 2 chính Tràng cũng không nhận ra vì “hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy xọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”

+ Nhân cách: quên đi sự ý tứ cần có của người phụ nữ, trở nên suồng sã khi “sầm sầm chạy đến”, “sưng sỉa”, “cong cớn” trách mắng Tràng : “Điêu ! Người thế mà điêu”; trơ trẽn sống sượng khi gợi ý Tràng để được ăn và khi Tràng đồng ý thì “hai con mắt trũng hoáy của thị lập tức sáng lên" và “thị ngồi sà xuống,…cắm đầu vào ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng mà thở” - hình ảnh đáng thương hơn là đáng giận.

- Liều lĩnh nhắm mắt đưa chân khi đi theo về làm vợ Tràng vì cần một chỗ dựa, cần có miếng ăn để tồn tại, cần một mái ấm gia đình.

Từ khi về làm vợ Tràng :

- Trở về với ý thức về thân phận rẻ rúng của mình: đi sau Tràng “chừng ba bốn thước, cắp cái thúng con, cái nón tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt” với vẻ

“rón rén, e thẹn”. Dĩ nhiên về nhà chồng cô dâu mới nào chẳng thẹn, song cái ngượng ngùng của chị nó nhói lòng người đến lạ

- Khó chịu khi bị mọi người bàn tán, càng “ngượng nghịu, chân nọ díu cả vào chân kia” khi thấy mọi người càng lúc càng tò mò

- Lo lắng, ngập ngừng khi về đến nhà Tràng và có chút thất vọng trước gia cảnh của Tràng: thị “đảo mắt nhìn xung quanh”“nén một tiếng thở dài”. Dáng ngồi “mớm xuống mép giường” có cái gì đó lo lắng, bất an, chông chênh đến tội nghiệp

- Trước mẹ chồng, chị càng rụt rè, e dè hơn: chủ động gọi bà là u, chỉ dám “đứng nguyên chỗ cũ, khẽ nhúc nhích”

- Sớm mai tỉnh dậy: tỏ ra đảm đang khi cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa. Đặc biệt hơn, trong mắt nhìn của chồng “nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh”

- Bình thản trước bữa ăn đói. Khi nhận chén cám từ tay mẹ chồng, dẫu ban đầu “hai mắt thị tối lại” nhưng rồi “điềm nhiên và vào miệng” chấp nhận số phận khi đã vào bước đường cùng và không muốn làm bà mẹ già tội nghiệp thêm tủi cực, xót xa

- Hiểu biết rộng khi thông tin cho Tràng về việc “trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa” mà còn tụ họp nhau “đi phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói”

Anh Tràng :

Cảnh ngộ : là dân ngụ cư, nghèo, làm nghề đẩy xe bò mướn, có ngoại hình thô kệch ; cuộc sống bấp bênh, đang bị cái đói đe dọa.

Là người hiền lành, chất phác, nhân hậu :

Khi gặp người đàn bà :

- Trong lúc đói đang đe dọa, miếng ăn là vấn đề sinh mệnh, Tràng sẵn sàng mời người phụ nữ không quen biết bốn bát bánh đúc.

- Chấp nhận người phụ nữ, dù lúc đầu nghĩ “đến cái thân mình chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”, nhưng sau lại “tặc lưỡi một cái : chậc, kệ !”, cái chậc lưỡi muốn đánh cuộc cùng cái đói để được sống bình thường như mọi người; cái chậc lưỡi của lòng nhân ái sẵn sàng cưu mang người khác trong cơn hoạn nạn.

- Có ý thức chăm sóc cho hạnh phúc ngay từ khi chưa về nhà : “ …hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt” và mua hai hào dầu thắp để “vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí”

Trên đường dẫn vợ về nhà: vui mừng xen lẫn với vụng về, lóng ngóng :

- “mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường”, “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”

- Đối thoại rời rạc, lúng túng, vụng về, cộc lốc, ngượng ngùng e thẹn “hắn cứ lúng ta lúng túng”

- Bâng khuâng, cảm nhận được hạnh phúc đang đến nên “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa”, “trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”

- Cảm thấy lạ lùng mới mẻ chưa từng có “Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ, man man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ lên sống lưng”.

Khi chờ mẹ về:

- Ngượng nghịu, lúng túng “Tràng đứng ngây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ”.

- Chưa tin hẳn là mình đã có vợ “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn ngờ ngợ không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?" - Tâm trạng của người lao động nghèo khi hạnh phúc đến quá bất ngờ.

Sáng sớm tỉnh dậy, nhìn thấy những đổi thay của gia đình :

- Cảm xúc ban đầu khi tỉnh dậy : “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong mơ đi ra” – ngay trong quay quắt giữa cái đói, cái chết, người lao động nghèo vẫn luôn khát khao hạnh phúc một mái ấm gia đình

- Những thay đổi của gia đình : nhà cửa được dọn sạch sẽ, tinh tươm hơn “hai cái ang nước vẫn để khô ong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch” , mấy chiếc áo quần rách bươm được đem ra phơi; mẹ thì rạng rỡ và tươi tỉnh, vợ thì không còn vẻ gì “chao chát, chỏng lỏn”, thấy thấm thía, cảm động .

- Thấy thương yêu, gắn bó với gia đình, cần có bổn phận với gia đình “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng . Hắn đã có một gia đình.

Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy, cái nhà như cái tổ ấm, che mưa che nắng, bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

- Hạnh phúc trong bữa ăn dù cái đói đã hiện diện.

Bà cụ Tứ :

Trong đêm đón cô dâu mới về nhà chồng:

- Ngạc nhiên trước thái độ của con trai, bà “phấp phỏng bước theo con vào nhà”

- Bà càng ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người phụ nữ - cô vợ nhặt; hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà, “quay lại nhìn con trai tỏ ý không hiểu”, chủ yếu là việc người phụ nữ kia gọi mình là u.

- Khi hiểu ra vấn đề mà Tràng nói, hiểu hoàn cảnh của con trai, bà sẵn sàng chấp nhận việc làm của con trong tâm trạng diễn biến phức tạp:

+ Bà xót xa cho số kiếp con trai, hờn tủi cho thân mình đã không làm tròn bổn phận với con : “lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót thương cho số phận đứa con mình.” và ý thức rõ hơn vợ chồng Tràng rất nhiều về cái nghịch cảnh éo le của cuộc hôn nhân.

+ Bà thương cảm cho hai đứa con : “Biết rồi chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”; thương cho con dâu bằng tấm lòng của người phụ nữ từng chịu cảnh cơ hàn, nghèo đói. Chấp nhận người phụ nữ nghèo khổ làm con dâu trong

lúc mình cũng không nuôi nổi bản thân là một hành động rất bao dung của bà lão. Đây cũng chính là chỗ Kim Lân tâm đắc nhất.

+ Bà khổ tâm ao ước “Kể ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo…” nhưng vẫn ân cần với con “Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông trời cho khá”, bà khuyên con giữ đạo vợ chồng

“Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi”.

+ Bà động viên hai con hy vọng vào tương lai “biết thế nào hả con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau”.

+ Nói như vậy nhưng tâm trạng của bà vô cùng ngổn ngang : bà “đăm đăm nhìn ra sông, bóng tối trùm lấy hai con mắt”, “thở nhẹ một hơi dài”, rồi bà “nghĩ đến ông lão, đứa con gái út, đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình”. Bao nhiêu tâm trạng khiến

“bà cụ nghẹn lời không nói được nữa” mà “nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”; nhưng khi anh con trai đốt đèn thì bà “vội vàng lau nước mắt ngửng lên”

Trong sáng hôm sau :

- “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”, cùng với con dâu bà “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa”; cái dáng vẻ già yếu , lọng khọng đã biến mất , thay vào đó là sự nhanh nhẹn , đầy sức sống và hòa chung tâm trạng với dâu con cùng “có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”

- Trong bữa cơm thảm hại ngày đói, bà nói toàn chuyện vui, vừa ăn vừa kể chuyện tương lai hạnh phúc, “toàn chuyện sung sướng về sau này” để động viên hai con, chính bà tạo nên không khí ấm áp cho ngôi nhà sau một thời gian dài chưa bao giờ đầm ấm, hòa hợp đến như thế.

- Khi phải ăn cám, thái độ “lật đật chạy xuống bếp , lễ mễ bưng ra một nồi khói bốc lên nghi ngút” và vẫn vui vẻ : “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ” nhưng khi nghe tiếng trống thúc thuế dồn dập , “bà ngoảnh vội ra ngoài vì không dám để con dâu thấy bà khóc” – cười rồi khóc, tất cả đều vì hạnh phúc hai con của bà. Hóa ra trong bữa cơm bi đát ấy, chính bà lão gần đất xa trời này lại là người nói nhiều đến hi vọng, đến tương lai.

Những năm tháng cuối đời của bà lão tội nghiệp ấy niềm hi vọng không bao giờ tàn theo đói nghèo và tuổi tác.

Một phần của tài liệu Tai lieu on tap mon ngu van 12 (Trang 61 - 67)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(95 trang)
w