PHẦN IV. VĂN BẢN VĂN HỌC KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU
2) Lời người ra đi – cán bộ Cách Mạng: nhắc lại ân tình những ngày gắn bó
a. Đoạn 4:
- Sự tinh tế một lần nữa được nhấn mạnh khi người ra đi cảm nhận rất sâu sắc nỗi lòng người ở lại và đang hòa nhịp nhớ thương cùng Việt Bắc.
- “Mình đi mình lại nhớ mình” khẳng định không bao giờ đánh mất những tình cảm quý gía một thời đã qua .Sự hoán đổi vị trí “mình – ta” khẳng định tình cảm quấn quýt, hoà quyện, gắn bó, sâu nặng, bền chặt ; đồng thời củng cố niềm tin cho người ở lại - Cách so sánh “bao nhiêu – bấy nhiêu” mang đậm màu sắc ca dao “Nguồn….bấy nhiêu” càng nhấn mạnh nghĩa tình sâu sắc, lớn lao, gắn bó Cách Mạng. Sự tương đồng này rất lớn lao, không thể đong đếm được. “Mặn mà – đinh ninh”, trước sau như một khiến tình cảm càng thêm sâu nặng.
b. Đoạn 5, 6 :
- So sánh “nhớ gì như nhớ người yêu” làm bật lên nỗi nhớ vừa tha thiết vừa quen thuộc. Người ra đi nhớ từng khoảnh khắc đẹp nhất, thơ mộng nhất. Cảnh sắc thiên nhiên rất thực mà cũng đầy bâng khuâng da diết : trăng đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói sương , bếp lửa sớm khuya, rừng nứa bờ tre, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê. Các địa danh gắn với điệp từ “từng” khiến nỗi nhớ cụ thể với đặc điểm rất riêng của từng địa danh, từng cảnh vật vì gắn bó rất sâu nặng nên tái hiện lại ngập tràn trong nhớ thương tha thiết
- Nỗi nhớ Việt Bắc gắn với con người Việt Bắc (người thương) và tình cảm ân nghiã đã trải đắng cay ngọt bùi có nhau : “Sắn lùi , chăn sui”, “chia - cùng – sẻ” làm hiện rõ , nổi bật thêm tình cảm “thương nhau” được đặt ở đầu câu. Tình cảm sâu nặng đã biến những khó khăn một thời thành kỉ niệm đẹp khó quên
- “Nhớ người…bắp ngô” hình ảnh bà mẹ tảo tần, quen thuộc. Nghệ thuật thậm xưng
“nắng cháy lưng” thể hiện rõ cảm xúc xót xa nghẹn ngào vừa gợi sự cơ cực vừa nói lên sự biết ơn những khó khăn ấy lại chứa chan ân tình.
c. Đoạn 7: Bộ tranh tứ bình về bốn mùa nơi núi rừng Việt Bắc
Đoạn thơ gợi lại kỷ niệm thân thiết và đẹp đẽ nhất về cảnh và người Việt Bắc trong nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi và cũng là của nhà thơ.
Hai dòng thơ đầu :
Hai câu đầu giới thiệu chung về nội dung xúc cảm của đoạn thơ. Câu trên là hỏi người, còn câu dưới là giãi bày lòng mình. Vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc đã trào dâng trong nỗi nhớ của người ra đi. Có thể nói, ngay từ đầu, đoạn thơ giúp người đọc vừa cảm nhận được vẻ đẹp của nghĩa tình vừa thấy được vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc.
Tám dòng thơ tiếp theo :
Mùa đông
- Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ tỏ ra rất ấn tượng: giữa bạt ngàn xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên sự ấm áp, có sức lan tỏa.
- Câu sau cũng là một sự điểm xuyết nhưng hình ảnh điểm xuyết nổi rõ hơn cảnh, điểm rất nhỏ nhưng sức gợi cực lớn. Câu thơ có sự lấp lánh của hình ảnh khiến cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch bỗng có sức sống, có sự chuyển động. Hình ảnh con người lao động được tả thực gợi vẻ đẹp khoẻ khoắn, mạnh mẽ.
Mùa xuân
- Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh màu trắng hoa mơ là màu chủ đạo của khu rừng mùa xuân. Màu trắng gợi sự tinh khiết, nên thơ. Thời gian đưa lên đầu câu thơ cho ta cảm giác màu trắng lan cả thời gian –không gian .
- Cách điệp âm “mơ – nở” cùng với hình ảnh của hoa mơ sắc trắng tạo ra một không gian vừa rộng lớn, vừa có sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên khi xuân đến. Màu trắng mơ hòa với màu trắng của sợi giang trên tay đan nón tạo nền cho con người hiện lên với vẻ đẹp trong sự lao động cần mẫn, trong công việc thầm lặng.
Mùa hè
- Dòng thơ vừa có âm thanh rộn rã , vừa có màu sắc đặc trưng của núi rừng Việt Bắc tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên : màu vàng của rừng phách - gam màu nóng, đặc trưng của mùa hè; kết hợp cùng tiếng ve xao động khiến rừng phách đổ vàng - tín hiệu của mùa hè được thể hiện sự chuyển đổi đột ngột, nhanh chóng.
- Hình ảnh con người “Hái măng một mình” - thêm một lần nữa là sự thầm lặng và cần mẫn trong công việc. Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh ấy là một điểm gợi nhớ sinh động và ngời sáng.
Mùa thu
- Bức tranh thu với ánh sáng trăng thu dịu nhẹ, huyền ảo, gợi không khí thanh bình, yên ả.
- Hình ảnh con người ân tình, son sắt gắn bó với cách mạng thể hiện qua tiếng hát ngọt ngào dưới ánh trăng.
Nhận xét :
Bên cạnh những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi về cuộc sống đời thường gần gũi , thân thiết được bao bọc bởi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp . Đoạn thơ được cấu trúc cân đối, hài hòa, có giá trị tạo hình. Cảnh và người được thể hiện trong đoạn thơ đều đẹp, đều đáng yêu. Đó là một sự kết hợp hài hòa tuyệt vời giữa cảm xúc và nghệ thuật, giữa hình ảnh và âm thanh, màu sắc và ánh sáng. Nếu không thật sự gắn bó sâu sắc, không có tình yêu và nỗi nhớ Việt Bắc nồng nàn, tha thiết thì nhà thơ Tố Hữu không thể nào dựng được bức tranh quê hương Cách Mạng - Việt Bắc với vẻ đẹp tuyệt diệu và ấm áp tình người đến như vậy.
d. Đoạn 8, 9 :
Nỗi nhớ những kỉ niệm buổi đầu kháng chiến :
- Lực lượng Cách Mạng còn yếu phải dựa vào địa hình hiểm trở.
- “Rừng”, “núi” - vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên Việt Bắc.“Giăng, che, vây” – Thiên nhiên là bạn tốt của nhân dân Việt Bắc, là nỗi nguy hiểm của kẻ thù.
- Con người đoàn kết một lòng, chung sức cùng nhua và cùng Việt Bắc chuẩn bị bước vào những trận đánh sau này. Điệp từ “Nhớ” - khẳng định nỗi nhớ + liệt kê dồn dập các trận đánh của buổi đầu kháng chiến.
Buổi trưởng thành, ra trận hào hùng và niềm vui chiến thắng :
Đoàn quân :
- Thể hiện lòng tự hào: “Những đường Việt Bắc của ta” kết hợp cùng nghệ thuật so sánh, thậm xưng, điệp âm đầu “r” tái hiện sức mạnh hùng dũng, khoẻ khoắn của đoàn quân. Những bước chân vang rền khắp nẻo đường Việt Bắc với âm hưởng hùng tráng, rung chuyển cả đất trời. Hình ảnh thơ vừa tả thực vừa tạo được sự liên tưởng lớn về sức mạnh của đoàn quân trong phút lên đường .
- “Điệp điệp trùng trùng” gợi hình ảnh đoàn quân nối tiếp nhau không dứt trong bức tranh kỳ vĩ mang tính chất sử thi hoành tráng. Câu thơ “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” khiến hình ảnh người lính hiện lên thật đẹp, rực rỡ : đẹp trong đội ngũ như một sức mạnh vô tận, đẹp trong lí tưởng ngời sáng như ánh sao trên mũ .
Đoàn dân công :
Hình ảnh đoàn dân công với sức mạnh “bàn chân nát đá” như thể hiện bước chân của những con người đầy quyết tâm đạp bằng gian khó, chông gai mà vươn tới. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ban ngày là của địch nhưng ban đêm là của ta. Hình ảnh những đoàn dân công đỏ đuốc đi trong đêm là đúng với hiện thực. Nhưng với ánh đuốc đỏ rực ấy cùng với “muôn tàn lửa bay” thì lại lãng mạn khiến ta có cảm giác đêm ra trận có khác gì một hội hoa đăng.
Đoàn xe :
Hình ảnh đoàn xe ra trận - tả thực ánh sáng đèn pha xuyên bóng tối, còn tượng trưng cho niềm tin tưởng tương lai. Ngày mai đã lên từ trong đêm dày thăm thẳm nhờ đèn pha bật sáng, nhờ sức con người tỏa sáng. Bởi họ đã cầm chắc chiến thắng trong tay ngay từ khi mới xuất quân. Câu thơ để lại nhiều dư vị, dư vang về một cảnh ra quân hoành tráng, đầy hào khí và hi vọng, niềm tin.
Niềm vui chiến thắng :
- Tác giả đã liệt kê các địa danh gắn liền với chiến thắng với nhịp điệu dồn dập thể hiện niềm tự hào vô tận, ngân vang không dứt. Các chiến thắng vang dội trăm miền tạo ra âm vang lớn lao của niềm tin đang lan rộng .
- Tác giả đã tái hiện hình ảnh quân dân ta từ buổi đầu cho đến những ngày thắng lợi , tạo nên bức tranh hoành tráng trọn vẹn của kháng chiến, của Cách Mạng gắn liền với Việt Bắc. Đoạn thơ mang chất sử thi hào hùng. Nhịp điệu thơ dồn dập, hình ảnh vừa hiện thực, lãng mạn gắn với cảm hứng anh hùng hào lẫn trong cảm xúc tự hào mãnh liệt.
e. Đoạn 10: Nỗi nhớ Việt Bắc kết tinh lại ở nỗi nhớ Cách mạng, nhớ Bác Hồ.
- Hình ảnh Trung ương, Chính Phủ Tổ chức chu đáo để chuẩn bị chiến đấu, vừa tổ chức, sản xuất, giáo dục gợi ra những bề bộn của công việc kháng chiến. Thế nhưng trong không khí tất bật đó là hình ảnh lộng lẫy cờ đỏ, sao vàng chói ngời, vừa hiện thực vừa kì vĩ lạ thường. Hình ảnh hang đá (nơi cơ quan Trung ương Đảng) và ngọn cờ đỏ sao vàng - màu sắc tươi thắm rực rỡ với bao hoạt động sôi nổi góp phần thể hiện niềm tin hi vọng, lòng lạc quan phơi phới dẫu bộn bề công việc. Điều này càng bộc lộ niềm tin yêu của nhân dân với Cách Mạng.
- Tình cảm của người ra đi với Việt Bắc lồng trong hình ảnh Bác Hồ thiêng liêng, trân trọng ; nghệ thuật đối lập giữa “u ám – sáng soi” , “đau đớn – chí bền” nhấn
mạnh Bác là ánh sáng, niềm tin hy vọng, là sức mạnh của dân tộc, của cuộc kháng chiến trường kì. Phép điệp cấu trúc và nghệ thuật đối lập; kết cấu theo lối vòng tròn vừa khẳng định Bác và Việt Bắc luôn là nơi soi đường cho Cách Mạng, cho dân tộc. Thiên nhiên, con người ở Việt Bắc được nhắc lại hô ứng trong đoạn thơ càng khẳng định người ra đi không thể nào quên những năm dài gắn bó tha thiết vì đó là ân tình, vì đó là lí tưởng .
ĐẤT NƯỚC
(trích Trường ca “Mặt đường khát vọng”) Nguyễn Khoa Điềm
I. GIỚI THIỆU CHUNG:
1) Tác giả :
- Ông sinh năm 1943 tại Thừa Thiên - Huế trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng
- Năm 1955, ông ra Bắc học tại trường học sinh miền Nam.
- Sau khi tốt nghiệp khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông về Nam hoạt động cho đến năm 1975
- Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động chính trị và văn nghệ ở Thừa Thiên - Huế
- Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và Nhà nước : Bộ trưởng bộ Văn hóa - thông tin, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
- Sau Đại hội X của Đảng, ông về nghỉ hưu ở Huế, tiếp tục làm thơ.
- Ông thuộc thế hệ nhà thơ thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam,
- Năm 2000, ông nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn hóa nghệ thuật.
- Tác phẩm chính : Đất ngoại ô (thơ, 1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (tuyển chọn, 1990), Cõi lặng (thơ, 2007)
2) Tác phẩm :
a. Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:
- Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971.
- Sáng tác nhằm thức tỉnh tuổi trẻ các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường tranh đấu hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược.
- Đoạn trích Đất Nước (trích từ phần đầu chương V của trường ca) thể hiện cảm nhận sâu sắc, mới mẻ của nhà thơ về đất nước và khẳng định tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”.
b. Bố cục :
Phần 1: Nêu lên cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước; từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước.
- Đất nước được hình thành từ những gì bé nhỏ, gần gũi, riêng tư trong cuộc sống mỗi con người.
- Đất nước là sự hòa quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc.
- Đất nước là sự thống nhất của phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa ngàn đời của dân tộc.
- Đất nước là của nhân dân
- Mỗi người phải có trách nhiệm với đất nước.
Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”được thể hiện qua ba chiều cảm nhận về đất nước:
- Từ không gian địa lý: Tác giả đã phát hiện ra rằng tất cả những danh lam thắng cảnh, những núi, sông, rừng, biển…đều là tặng vật quí giá của nhân dân.
- Từ thời gian lịch sử: Nhà thơ tự hào, ngợi ca biết bao thế hệ nhân dân đã lao động, sáng tạo để xây dựng đất nước; đã hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước muôn đời.
- Từ bản sắc văn hóa: Nhà thơ đã khẳng định chính nhân dân đã sáng tạo, gìn giữ, truyền lại cho các thế hệ mai sau mọi giá trị vật chất đến tinh thần để hình thành nên đất nước. - - Qua đó, nhà thơ khẳng định, ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trình dựng nước và giữ nước.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN : 1) Những ý chính :
a . Cảm nhận chung về Đất Nước:
Đoạn thơ “Khi ta lớn lên …. Đất Nước có từ ngày đó” :
- Đất Nước được viết hoa trang trọng thể hiện tình cảm yêu mến tự hào về một Đất Nước có quá trình hình thành và phát triển như con người . Hàng loạt những từ ngữ mang ý nghĩa khẳng định “đã có rồi, bắt đầu, lớn lên, có từ ngày đó” xác nhận với ta Đất Nước đã có từ rất lâu đời và Đất nước bắt nguồn từ những gì thân thiết gần gũi nhất trong đời sống tinh thần, vật chất của chúng ta.
- Tiếp theo đó là một loạt hình ảnh hoán dụ đậm chất dân gian
+ “những cái ngày xửa ngày xưa…” , “miếng trầu” câu chuyện cổ dân gian gợi tình gia tộc
+ “trồng tre đánh giặc” - Thánh Gióng truyền thống yêu nước
+ “tóc mẹ bới sau đầu”, “gừng cay, muối mặn” tập quán lâu đời với lối sống đậm tình nặng nghĩa.
+ “cái kèo, cái cột ”,“hạt gạo…”: đời sống sinh hoạt, lao động cần cù.
- Đất Nước được cảm nhận gắn liền với biết bao hình ảnh thân quen tượng hình nên đất nước : truyện cổ của mẹ, miếng trầu của bà, lũy tre làng xanh mát…Tất cả đều như gắn bó hữu cơ với nhau, cùng đứng chung trong một con đường đi đến định nghĩa thiêng liêng về Đất Nước. Tất cả đều gắn liền với những truyền thuyết, sự tích, những giá
trị tinh thần đẹp quý của dân tộc. Đó là những hình ảnh thân thiết của quê hương, những cảnh vật thân thương của đất nước. Cách nói của nhà thơ chính luận mà trữ tình là vậy .
Đoạn thơ “ Đất là nơi anh đến trường … Đất Nước muôn đời”
Đất Nước gắn với tình yêu tuổi trẻ :
- Theo tác giả, Đất Nước là tất cả những gì gần gũi, thân thiết nhất của mỗi con người; là không gian thân quen như “nơi anh đến trường, nơi em tắm, nơi ta hò hẹn”, cả nỗi lòng tương tư đôi lứa cũng là một phần trong Đất Nước.
- “Đất Nước ” là sự kết hợp hài hòa của riêng chung, được định nghĩa là “nơi ta hò hẹn” (không gian kỉ niệm tình yêu của “anh” và “em”, của “ta”). Như thể Đất Nước trở thành nơi chứng kiến, ghi dấu của tình yêu, nơi xe kết nên bao mối lương duyên tốt đẹp Đất Nước gắn bó với tình yêu thiêng liêng.
Đất Nước gắn với không gian địa lí và thời gian lịch sử :
- Nhưng Đất Nước còn là tất cả những gì lớn lao, thiêng liêng, vĩ đại hơn nhiều.
Thiêng liêng với cội nguồn dân tộc nơi “Chim về, Rồng ở” ; lớn lao vì thế hệ này nối thế hệ kia, người đã khuất nâng bước ngừơi bây giờ bước tới sinh sôi nảy nở muôn đời trên mảnh đất này. Chính vì thế ngay sau những hồi ức, kỉ niệm giàu cảm xúc, Đất Nước được cảm nhận trong sự thống nhất nhiều phương diện không gian địa lí, thời gian lịch sử.
- Mượn bài dân ca Bình Trị Thiên “con chim phượng hoàng…con cá ngư ông
…” - đất gắn với không gian “hòn núi bạc”, nước gắn với không gian “biển khơi”. Các động từ “bay về, móng nuớc” mở ra không gian rộng lớn của Đất Nước, được khái quát
“không gian mênh mông” trong niềm tự hào vô hạn. Đất Nước không chỉ là tình yêu của tuổi trẻ, Đất Nước không chỉ là hình ảnh, là hồi tưởng, đất nước còn hiện hữu trong những ảnh hình tráng lệ, những thanh âm da diết “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”, “con cá ngư ông móng nước biển khơi”.
- Đồng thời, mượn ý từ truyền thuyết dựng nước của dân tộc “Đất là nơi chim về…
Âu Cơ…bọc trứng”; tác giả gợi lên hình ảnh về quê hương, dân tộc liền một mối, nhằm định nghĩa và cụ thể hóa Đất Nước trong quan hệ gắn bó với mỗi người chúng ta.
- Đất Nước không chỉ được cảm nhận ở không gian địa lý, không gian sinh tồn của bao thế hệ dân tộc Việt Nam mà còn được cảm nhận ở phương diện chiều dài, chiều sâu của lịch sử – văn hóa, hình thành nên những truyền thống tốt đẹp của dân tộc: đòan kết, yêu thương, “uống nước nhớ nguồn” – không quên “ngày giỗ tổ” thời gian của truyền thống dân tộc, bề dày lịch sử đáng tự hào
Đất Nước gắn với trách nhiệm của mỗi con người trong cộng đồng (đoạn thơ
“Trong anh…… Đất Nước muôn đời”) :
- Chín dòng thơ đầu nhà thơ nêu lên những cảm nhận của mình về Đất Nước . nếu như ở đoạn thơ trước đó, tác giả nhìn nhận Đất Nước từ bề dày văn hóa dân tộc hàng ngàn năm, thì ở đây lại là những suy nghĩ của ông về Đất Nước từ cuộc sống hiện tại trong các mối quan hệ riêng - chung, cá nhân – cộng đồng và sự tiếp nối giữa các thế hệ