Đặc sắc nghệ thuật

Một phần của tài liệu Tai lieu on tap mon ngu van 12 (Trang 50 - 61)

PHẦN IV. VĂN BẢN VĂN HỌC KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM

III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU

2) Đặc sắc nghệ thuật

- Tạo nên một trường ẩn dụ đặc sắc, ấn tượng xuyên suốt bài thơ qua hình tượng sóng nhằm thể hiện được tình yêu sôi nổi, mãnh liệt, trong sáng, thủy chung của người phụ nữ

- Thể thơ ngũ ngôn có các vần liền mạch nhau tạo âm điệu liên tiếp không ngừng ngắt; nhịp điệu thơ nhịp nhàng linh hoạt, lúc sôi nổi dồn dập, lúc sâu lắng dịu êm; những câu ngắn, đều nhau gợi nên ý niệm về hình ảnh của những con sóng vỗ liên tiếp vào bờ.

- Sắc điệu đa dạng, phong phú với các cặp câu đối xứng (Dữ dội và dịu êm / Ồn ào và lặng lẽ ; Con sóng dưới lòng sâu / Con sóng trên mặt nước) xuất hiện liên tiếp; ngắt nhịp linh hoạt mô phỏng thành công nét đa dạng của nhịp sóng.

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Trích)

Nguyễn Tuân I. GIỚI THIỆU CHUNG:

1) Tác giả : a. Cuộc đời :

- Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh ra ở Hà Nội trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn.

- Từ nhỏ, ông theo gia đình sống ở nhiếu tỉnh miền Trung. Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay) ở Nam Định, sau đó về Hà Nội viết văn và làm báo.

- Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân đến với cách mạng, tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dânt tộc. Từ 1948 đến 1958, ông là Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.

- Năm 1996, Nguyễn Tuân được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

b. Sự nghiệp sáng tác :

 Đánh giá :

- Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp.

- Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đối với văn học Việt Nam hiện đại: thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa và độc đáo.

 Tác phẩm tiêu biểu : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972)…

2) Tác phẩm :

a. Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:

- Tác phẩm này được in trong tập tùy bút Sông Đà, xuất bản lần đầu năm 1960, tất cả gồm 15 bài tùy bút

- Đây là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp; đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế năm 1958. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem lại cho tác giả nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên tác phẩm.

b . Thể loại :

- Thể loại tùy bút – thể văn xuôi với cách viết tự do, tùy hứng để bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ , nhận xét về con người và cuộc đời một cách chân thực, sâu sắc, đầy khám phá.

- Viết tùy bút, cái tôi của nhà văn có điều kiện bộc lộ trực tiếp. Trong tác phẩm này, dấu ấn tình cảm riêng của tác giả in rõ trong nhiều trang, nhiều đoạn. Không phải là tình cảm bực dọc bất hòa với hiện thực mà là gắn bó, mê say với nhân dân và cuộc đời lao động bình thường.

- Qua tác phẩm, nhà văn thể hiện một trình độ hiểu biết cực kì sâu rộng và một tình yêu vô cùng tha thiết đối với thiên nhiên cũng như con người Việt Nam từ cội nguồn xa xưa, đến hiện tại ngày nay, từ đó khát vọng và tin tưởng ở muôn vàn hạnh phúc sáng tươi trong tương lai.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN : 1) Những ý chính :

a. Hình ảnh con sông Đà :

Hung bạo, dữ dằn: Sông Đà “ác như mụ dì ghẻ”, luôn gây tai họa cho con người và thuyền bè qua đấy. Tính hung bạo thể hiện ở nhiều mặt:

- Địa hình hiểm trở: những ghềnh đá, thác nước, luồng sóng luôn hung hăng gây sự như muốn đánh chặn người lái đò và “đòi ăn chết cái thuyền”

- Dòng sông: cuồn cuộn ghềnh thác kết hợp với nước, đá, sóng, gió. Kết cấu câu trùng điệp càng tăng mức độ dữ dội.

- Nước: những cái hút nướcghê rợn “xoáy tít đáy”, “quay lừ lừ những cánh quạ đàn”, âm thanh cũng đáng sợ: “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc như vừa rót dầu sôi vào”. Biện pháp nhân hóa, so sánh rất độc đáo.

- Đá: “cả một chân trời đá” với hình dáng, tư thế rất đa dạng. Đá cũng có ngoại hình, tâm địa như con người: “mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược”,chúng biết khi thì

“dụ cái thuyền”, khi thì “thách thức” với đối phương. Nghệ thuật so sánh kết hợp nhân hóa, liên tưởng làm cho đá vô tri hiện lên sống động lạ thường.

- Thác: Âm thanh nhiều cung bậc qua sự liên tưởng với cảm giác tinh tế. Lúc thì

“réo gần”, “réo to”, lúc lại “rống như tiếng một ngàn con trâu mộng lồng lộn…”.

Giọng cũng thay đổi, tráo trở: “nghe như là oán trách”, “rồi lại như van xin” chuyển sang “khiêu khích”, “chế nhạo”…Cách nhân hóa và so sánh độc đáo đã lột tả tâm địa của thác.

- Những trùng vi thạch trận, thủy trận: đá, nước thác đã phối hợp, reo hò, thanh viện cho nhau, chúng mở ra những luồng sinh, luồng tử bố trí bất ngờ để đánh lạc hướng, lừa ông lái và con thuyền vào chỗ chết

 Nguyễn Tuân đã huy động vốn kiến thức đa ngành: lịch sử, địa lý, quân sự, điện ảnh, thể thao…để sông Đà không còn là dòng sông vô tri mà trở nên một thực thể có bản chất, tâm hồn, kể cả thủ đoạn!

Thơ mộng, trữ tình: Vẻ đẹp sông Đà được tác giả quan sát từ nhiều góc độ, mỗi góc độ có một vẻ đẹp riêng:

- Đi tàu bay: Nhìn thấy “dòng sông tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình” của một người phụ nữ kiều diễm, duyên dáng. Nước sông thay đổi theo mùa: “mùa xuân

dòng xanh ngọc bích”, “mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”.

Nhà văn còn cảm nhận được vẻ “ bực bội”, “bất mãn” của dòng sông mỗi độ thu về.

- Đi bộ từ rừng ra: Sông Đà rất gợi cảm, Nguyễn Tuân gặp sông Đà như “gặp lại cố nhân”. Niềm vui cũng được so sánh mới lạ: “vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm” , “như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Nước còn lấp lánh màu nắng tháng ba Đường thi.

- Đi thuyền: Vẻ đẹp hai bên bờ sông hoang sơ mà thơ mộng qua cách so sánh liên tưởng ngộ nghĩnh; “hoang dại như một bờ tiền sử”, “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Hình ảnh lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh ra nõn búp, con hươu vểnh tai trên bờ, đàn cá đầm xanh dưới nước quẫy vọt “bụng trắng như bạc rơi thoi”…tất cả đều được Nguyễn Tuân miêu tả bằng tình yêu thiên nhiên say đắm.

Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, Sông Đà trở thành công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, đem lại chất men say trong tâm hồn người nghệ sĩ .

b. Hình ảnh ông lái đò :

Tinh thần dũng cảm mưu trí, ứng phó linh hoạt trước ghềnh thác Sông Đà:

- Dũng cảm: Ông lái như một người lính xung trận, đơn độc đối đầu với một đội quân hùng hổ: “Nước bám lấy thuyền như đô vật túm lấy thắt lưng ông đò”, chúng “ùa vào bẻ gãy cán chèo”, thứ vũ khí duy nhất của ông đò. Nhưng “ông đò cố nén vết thương” vẫn kẹp lấy cuống lái mà tiếp tục chiến đấu. Có lúc ông như một người chỉ huy, một vị tướng cầm quân, trước hiểm nguy “vẫn nghe tiếng chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo của người cầm lái”. Trước trùng vi thạch trận, thủy trận, ông lái vẫn “nắm lấy cái bờm sóng” để “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”.

- Mưu trí, ứng phó linh hoạt: ông biết đổi chiến thuật ở từng trận vì “đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. Những luồng sinh luồng tử dù bố trí lúc ở hữu ngạn, lúc sang tả ngạn, lúc lại lập lờ, ông vẫn nhắm đúng luồng sinh mà phóng thẳng

- Nguyên nhân chiến thắng: Cuộc sống của người lái đò là hằng ngày chiến đấu với thiên nhiên để “giành lấy cái sống từ tay những cái thác”, là cuộc đấu tranh để giành sự sống.

- Kết quả: Cái thằng đá tướng chiến “đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè vì thất vọng thua cái thuyền”. Người lao động đã chinh phục được thiên nhiên

Ông lái còn là người nghệ sĩ tài hoa:

- Tay lái rất điêu luyện: Các luồng sinh, luồng tử của sông bố trí rất phức tạp nhưng thuyền vẫn lao vun vút “thuyền như mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”, “tự động lái được lượn được”

- Khi vượt qua nguy hiểm, hầu như người lái đò không ai coi việc vượt thác là quan trọng vì “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Họ chỉ bàn tán những chuyện vui hầu như không liên quan đến cuộc vươt thác, họ không cần bàn đên chiến thắng vừa qua, bỡi đó là chuện thường ngày của họ, “không có gì là hồi hộp đáng nhớ”.

2) Đặc sắc nghệ thuật:

- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, vốn từ vựng phong phú, chính xác ; nhiều so sánh liên tưởng táo bạo, bất ngờ. Từ ngữ được trau chuốt, câu văn dài hơi như ngân nga mãi âm điệu trầm tư, mơ mộng khi miêu tả vẻ đẹp trữ tình của con sông Đà; sử dụng nhiều từ quân sự , võ thuật kết hợp cùng câu văn ngắn, nhịp điệu dồn dập khi miêu tả cuộc quyết đấu giữa người lái đò và sóng thác.

- Sự tài hoa, uyên bác khi vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học khác (võ thuật, điện ảnh, hội họa, âm nhạc, lịch sử, địa lí) vào việc miêu tả sự vật. Ông đã dành cho người đọc những trang viết hấp dẫn miêu tả con sông như một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa.

- Vận dụng nghệ thuật tương phản để miêu tả vẻ đẹp đa dạng, độc đáo của con sông Đà và vẻ đẹp tài hoa, trí dũng của con người.

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích) Hoàng Phủ Ngọc Tường

I. GIỚI THIỆU CHUNG:

1) Tác giả : a . Cuộc đời :

- Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế, quê gốc ở Quảng Trị

- Ông học hết bậc trung học tại Huế, tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Sài Gòn năm 1960 và trường Đại học Huế năm 1964

- Năm 1966, ông thoát li lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ.

- Ông từng là Tổng thư kí Hội văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt

- Năm 2007 ông được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

b . Sự nghiệp sáng tác :

- Là một trong những nhà văn chuyên về bút kí

- Tác phẩm : Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971); Rất nhiều ánh lửa (1979); Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (1986); Hoa trái quanh tôi (1995); Ngọn núi ảo ảnh (1999)...

- Đặc sắc trong cách viết :

 Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí...

 Lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa 2) Tác phẩm :

a. Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ:

- Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Là một trong những tác phẩm bút kí đặc sắc, vừa thể hiện những nét đẹp

độc đáo của sông Hương, vừa biểu hiện phong cách trữ tình hướng nội súc tích và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

- Bài bút kí có 3 phần, đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ 1.

b. Ý nghĩa nhan đề :

- Bài bút kí có nhan đề và câu kết lại đoạn trích là một câu hỏi : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Đây là một câu hỏi tu từ nhằm mục đích khẳng định vẻ đẹp biến ảo của con sông cũng đẹp như chính cái tên của nó. Chính nội dung bài kí đã là phần trả lời cho câu hỏi ấy, một câu trả lời trải dài theo hành trình của con sông với tất cả vẻ đẹp, chất thơ của nó in đậm trong lòng người.

- Đồng thời, nhan đề này như một nguyên cớ đầy dụng ý nghệ thuật để giúp nhà văn rất tự nhiên khi đi vào miêu tả, ngợi ca vẻ đẹp của dòng Hương gắn với xứ Huế - vùng đất cố đô cổ kính, mộng mơ, nên thơ. Nhan đề cũng mang một nội dung biểu cảm sâu sắc, nó thể hiện tất cả lòng yêu mến, trân trọng đến nỗi ngỡ ngàng bật lên câu hỏi như một phút giây cảm xúc vỡ òa, thăng hoa tạo nên những dòng bút kí say đắm, tài hoa.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN : 1) Những ý chính :

a. Vẻ đẹp của sông Hương trên mỗi đoạn thủy trình:

 Sông Hương ở thượng nguồn:

- Được nhà văn so sánh với “cô gái Digan phóng khoáng và man dại”, vẻ đẹp con sông được nhân hóa bằng “bản lĩnh gan dạ”“tâm hồn trong sáng”. Nó dữ dội mạnh mẽ và cũng dịu dàng say đắm, là “bản trường ca của rừng già” nhưng rừng già cũng chế ngự sức mạnh của nó để biến đổi thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”

khi vể đồng bằng.

- Vẻ đẹp sông Hương trong cái tổng thể của núi rừng rực rỡ “giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, nhà văn cũng liên tường đến vẻ đẹp kín đáo của con người xứ Huế, khi sông Hương ra khỏi rừng đã “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

 Sông Hương khi về đồng bằng ở ngoại vi thành phố Huế:

- Dòng sông được so sánh với “người gái đẹp ngủ mơ màng” trước vẻ đẹp hoang sơ của đồng bằng “giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”.

- Sông Hương chuyển dòng liên tục qua những địa danh quen thuộc của đất Huế là cách lý giải của tác giả bằng kiến thức địa lý, từ đó cảm nhận vẻ đẹp của sông về hình dáng “mềm như tấm lụa”, về sắc nước xanh thẳm hoặc “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Kiến trúc lăng tẩm của cố đô cũng đem lại vẻ đẹp riêng cho sông Hương nét trầm mặc “như triết lý, như cổ thi”.

- Sông Hương càng đẹp hơn, sống động hơn trong âm thanh “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga”“xóm làng trung du bát ngát những tiếng gà”

 Sông Hương khi vào thành phố Huế:

- Dòng sông soi bóng kiến trúc tiêu biểu của đô thị cổ, đó là cầu Tràng Tiền, “chiếc cầu trắng” được so sánh với những vành trăng non nhỏ nhắn in trên nền trời, dòng

sông uốn những hình cánh cung, “những đường cong thật mềm” được nhà văn liên tưởng với vẻ kín đáo, duyên dáng của người con gái Huế trong “tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”.

- Sông Hương còn soi bóng thiên nhiên đất Huế với những “cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm” mà trong đêm sương vẫn ấp ủ linh hồn đặc trưng miền đất Huế.

- Tác giả cũng lý giải vẻ đẹp lững lờ của mặt nước sông Hương “chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh” bằng hiểu biết địa lý: bởi gặp những cồn và chia các chi lưu. So sánh với những dòng sông khác trên thế giới và liên tưởng đến âm nhạc, ông cảm nhận điệu chảy lững lờ ấy là “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Vẻ đẹp của sông còn được tôn lên với phong tục văn hóa lễ hội “trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh”, từ đó gửi gắm nỗi lòng vấn vương của người con xứ Huế.

- Sông Hương còn là “người tài nữ đánh đàn”, vẻ đẹp ấy gợi cảm hứng cho “bản đàn đi suốt cuộc đời Kiều”, cho bản nhạc Tứ đại cảnh.

 Sông Hương khi giã từ thành phố:

- Thiên nhiên Huế với tre trúc, vườn cau Vĩ Dạ,đảo Cồn Hến “mơ màng trong sương khói” soi bóng tô điểm vẻ đẹp cho dòng Hương. Cấu trúc địa lý làm sông Hương đột ngột chuyển dòng được nhà văn liên tưởng đến nỗi vấn vương lúc chia tay có “một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, liên tưởng đến tâm trạng chia tay Kim - Kiều trong đêm tình tự với “lời thề trước khi về biển cả”.

- Tác giả tiếp tục dẫn dắt người đọc liên tưởng đến dư âm lời thề hóa thành “giọng hò dân gian” chứa đựng tấm lòng chung tình của người dân Châu Hóa, đó cũng là cách ông gửi gắm tình yêu xứ sở của mình một cách tinh tế.

- Chất nghị luận kết hợp với sự liên tưởng độc đáo để lồng vào tình yêu quê hương đất nước được thể hiện một cách lãng mạn, đó cũng là cái tôi tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

b. Sông Hương với lịch sử dân tộc,văn hóa, âm nhạc, cuộc đời và thi ca:

 Với lịch sử dân tộc:

- Sông Hương “là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc” nên mỗi thời đại, sông đều trở thành chứng nhân của lịch sử.

- Thời vua Hùng là dòng sông biên thùy, là dòng Linh Giang “bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt”. Thế kỷ mười tám nó “soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ”, sông còn chứng kiến lịch sử bi tráng của thế kỷ mười chín, chiến công rung chuyển của thời đại Cách mạng tháng Tám.

- Sông Hương còn là chứng nhân cho niềm vui lẫn nỗi buồn: vui vì nó nhận được lời cổ vũ nồng nhiệt trong mùa xuân Mậu Thân, buồn khi nhận lời chia buồn sâu sắc khi đế quốc Mĩ tàn phá di sản văn hóa Huế.

 Với văn hóa, âm nhạc :

- Sông Hương soi bóng tất cả vẻ đẹp của một vùng văn hóa cố đô: những lăng tẩm đồ sộ, những kiến trúc đô thị cổ, nơi ấy có “ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê

Một phần của tài liệu Tai lieu on tap mon ngu van 12 (Trang 50 - 61)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(95 trang)
w