THẢO LUẬN TỐ TỤNG HÌNH SỰ LẦN 1 I. CÂU HỎI LÝ THUYẾT 1. Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản? Trả lời: Chức năng buộc tội: mang tính quy luật, quyết định sự tồn tại và là cơ sở của chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Bắt đầu khi có người bị buộc tội và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Các cơ quan điển hình thực hiện chức năng này: Viện kiểm sát, cơ quan có thẩm quyền điều tra...Điều này để phát hiện, chứng minh tội phạm, người phạm tội và buộc họ chịu chế tài theo quy định của pháp luật Chức năng bào chữa: luôn tồn tại song song với chức năng buộc tội. Cũng kết thúc khi có người bị buộc tội và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nhưng được thực hiện bởi người bị buộc tội, người bào chữa... để giảm nhẹ tình tiết cho người bị buộc tội. Chức năng xét xử: đây là chức năng quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Được thực hiện bởi chủ thể duy nhất có thẩm quyền là Tòa án. Đồng thời, Tòa án ra bản án hoặc quyết định về việc bị cáo có hay không có tội, hình phạt, các biện pháp khẩn cấp tạm thời. II. CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH 1. Quan hệ pháp luật TTHS chi phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhận định Sai. Vì Quan hệ pháp luật TTHS đã bắt đầu khi cơ quan thẩm quyền bắt đầu tham gia giải quyết khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. sử dụng 1 số biện pháp điều tra trước khi ktvahs tại k3 Đ147, như tiếp nhận nguồn thông tin, xác minh giải quyết thì đã xuất hiện qhpl TTHS 2. Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự. Nhận định sai. Vì quan hệ pháp luật hình sự xuất hiện khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm đối với xã hội mà hành vi đó được BLHS quy định là tội phạm, và sau đó khi mà tội phạm đó được phát hiện và cơ quan có thẩm quyền bắt đầu tham gia giải quyết thì mới xuất hiện quan hệ pháp luật TTHS. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện nhưng không trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự: trường hợp bắt nhầm người. Thì tuy người này không thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn phát sinh quan hệ TTHS. Đúng. QHPLTTHS phát sinh trong quá trình giải quyết VAHS, khi k có QHPLHS thì sẽ k có VAHS cho nên QHPLTTHS xuất hiện sau và trên cơ sở QHPLHS 3. Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS Nhận định đúng Vì đợi tượng điều chỉnh của luật tố tụng hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Nên quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội cũng có thể xem là đối tượng điều chỉnh của luật TTHS Sai. QHPLHS thì ít nhất phải là CQ có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền 4. Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật TTHS. VAHS. Chứ không phải Nhận định đúng.
Trang 1THẢO LUẬN TỐ TỤNG HÌNH SỰ LẦN 1
I CÂU HỎI LÝ THUYẾT
1 Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản?
Trả lời:
- Chức năng buộc tội: mang tính quy luật, quyết định sự tồn tại và là cơ sở của chức
năng bào chữa và chức năng xét xử Bắt đầu khi có người bị buộc tội và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Các cơ quan điển hình thực hiện chức năng này: Viện kiểm sát, cơ quan có thẩm quyền điều tra…Điều này để phát hiện, chứng minh tội phạm, người phạm tội và buộc họ chịu chế tài theo quy định của pháp luật
- Chức năng bào chữa: luôn tồn tại song song với chức năng buộc tội Cũng kết thúc khi
có người bị buộc tội và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Nhưng được thực hiện bởi người bị buộc tội, người bào chữa… để giảm nhẹ tình tiết cho người bị buộc tội
- Chức năng xét xử: đây là chức năng quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân Được thực hiện bởi chủ thể duy nhất có thẩm quyền là Tòa án Đồng thời, Tòa án ra bản án hoặc quyết định về việc bị cáo có hay không có tội, hình phạt, các biện pháp khẩn cấp tạm thời
2 Mô hình TTHS là gì? Có những mô hình TTHS nào đã và đang tồn tại trên thế giới? Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS?
Trả lời:
“Mô hình TTHS” được hiểu chung nhất là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự, cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án Cách thức tổ chức này quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự
Trên thế giới có 3 loại mô hình tố tụng hình sự phổ biến là: mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn; mô hình tố tụng hình sự tranh tụng và mô hình tố tụng hình sự pha trộn
- Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng: bảo đảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội
(cơ quan công tố) và bên bào chữa trong suốt quá trình đi tìm sự thật vụ án
Ưu điểm:
+ Thể hiện tính công bằng cao, bên bị buộc tội và bên gỡ tội đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong suốt quá trình tố tụng
+ Trong một mô hình tố tụng tranh tụng có tính công bằng cao, người bào chữa và bị cáo cũng dễ cảm thấy rằng mình đã có một cơ hội tốt và công bằng để đi tìm công lý Vì vậy, họ
sẽ ít có xu hướng kháng cáo hơn
+ Quyền được suy đoán vô tội của người dân được tôn trọng hơn so với các mô hình TTHS khác
Nhược điểm:
+ Người có nhiệm vụ xét xử tham gia một cách thụ động vào phiên tòa và là người không chuyên nghiệp, đó chính là thành viên đoàn bồi thẩm
Trang 2+ Do quá đề cao tính công bằng mô hình tranh tụng không phản ánh được hết tầm quan trọng của việc bảo vệ lợi ích công cộng trong các vụ án hình sự Chính điều này dẫn đến việc áp dụng tràn lan hình thức đàm phán nhận tội dẫn tới khả năng bỏ lọt tội phạm
+ Năng lực của luật sư có vai trò quyết định tới phán quyết của đoàn bồi thẩm Điều này dẫn đến tình trạng các luật sư giỏi sẽ được nhiều người muốn thuê và gây nên bất công cho những người nghèo không có điều kiện để thuê luật sư giỏi
+ Trong mô hình tranh tụng, thẩm phán và đoàn bồi thẩm không biết về vụ án từ trước và cũng không kiểm soát một cách toàn diện đối với thời gian xét xử => Tốn kém tiền bạc và thời gian chứng cứ tuy có giá trị sử dụng cao cho việc xác định sự thật khách quan nhưng lại
có thể bị loại bỏ do vi phạm thủ tục
- Mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn: huy động các cơ quan tố tụng chuyên nghiệp của
Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát/Viện công tố, Tòa án) vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, các cơ quan này cùng được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm
Ưu điểm:
+ Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc tìm kiếm sự thật, nên trong chừng mực nhất định, quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội luôn được bảo vệ tốt hơn khi quyền đó xâm phạm bởi cá nhân người phạm tội
+ Do không đặt nặng hình thức, những sai phạm không đáng kể trong thủ tục có thể được
bỏ qua nếu mục đích chứng minh tội phạm vẫn được giải quyết.Thủ tục phiên tòa đơn giản nhanh chóng, sự thật nhanh chóng được tìm kiếm
Nhược điểm:
+ Không đảm bảo quyền con người, quyền công dân (sự nhấn mạnh quá mức đến việc tìm kiếm sự thật vụ án nhằm đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tội phạm dễ dàng dẫn đến tình trạng tình trạng bức cung, nhục hình
+ Sự thiên kiến buộc tội của thẩm phán: Các chứng cứ không phù hợp với quan điểm và nhận định của cơ quan công tố và cơ quan điều tra có thể bị bỏ qua
+ Bị cáo không được coi là chủ thể của quá trình tố tụng mà là đối tượng truy cứu của tố tụng, vì thế việc đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo là 1 khái niệm xa lạ => Không đảm bảo được tính công bằng, vô tư, không thiên vị của phiên tòa hình sự Từ đó dễ dẫn đến những án oan sai, đồng thời bỏ lọt tội phạm thực sự
- Mô hình tố tụng hình sự pha trộn: Nhiệm vụ xác định sự thật khách quan, trách nhiệm
chứng minh tội phạm được giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng đảm nhiệm Người tham gia tố tụng được thực hiện việc tranh tụng để bảo vệ quyền lợi ích của tại phiên tòa
Ưu điểm:
+ Đảm bảo quyền con người, quyền công dân
+ Quyền bào chữa của bị cáo, bị can được đảm bảo
+ Tại phiên tòa, tranh tụng công khai giữa các bên hoàn toàn bình đẳng về địa vị tố tụng trong hoạt động chứng minh tại tòa
+ Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc tìm kiếm sự thật, nên trong chừng mực nhất định, quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội luôn được bảo vệ tốt
Nhược điểm:
Trang 3+ Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa của họ còn khá thụ động và trong nhiều trường hợp lệ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng
+ Hạn chế sự tranh tụng trong giai đoạn điều tra, có sự cách biệt trong bình đẳng về địa vị
tố tụng giữa các bên
3 Nếu các đặc điểm để nhận diện mô hình TTHS Việt Nam hiện nay? Việt Nam nên đổi mới mô hình TTHS theo hướng nào? Tại sao?
Trả lời:
Dựa trên những quy định của Luật TTHS 2015, ta có thể thấy hiện nay mô hình TTHS Việt Nam đang hướng tới là mô hình pha trộn thiên hướng thẩm vấn Cụ thể:
- Thứ nhất, Tại Điều 15 về nguyên tắc xác minh sự thật: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ,” cùng với Điều 19: “Mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật”, => Quy định này cho thấy sự
rõ nét về đặc điểm của mô hình thẩm vấn bởi lẽ trong mô hình thẩm vấn mục đích cuối cùng
là tìm ra sự thật vụ án (seeking the truth) Từ việc khám phá sự thật vụ án thì tòa án mới ban hành phán quyết đúng đắn, và người có tội bị kết án, người vô tội được tự do
- Thứ hai, đảm bảo việc xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân (ĐIều 22)
- Thứ ba, căn cứ các Điều 86,87 cho thấy tố tụng hình sự Việt Nam không áp dụng các nguyên tắc loại trừ chứng cứ (exclusionary rules of evidence) Thay vào đó, việc kiểm tra đánh giá chứng cứ tập trung vào ba yếu tố: tính khách quan (chứng cứ phải có thật), tính liên quan ( chứng cứ phải chứa đựng thông tin liên quan đến các vấn đề cần phải chứng minh của vụ án), và tính hợp pháp (chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do luật định.)
Ngoài ra, nhằm đề cao các giá trị công bằng, khắc phục sự thiên kiến buộc tội của Tòa án,cũng như bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, Luật TTHS cũng có những quy định mang sắc thái của mô hình tranh tụng như
- Đảm bảo quyền bào chữa cho người bị buộc tội Theo đó, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa và cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải có nghĩa vụ đảm bảo cho họ thực hiện đầy đủ quyền này theo quy định pháp luật (điều 16) Đảm bảo có có người bào chữa cho một số trường hợp đặc biệt (Điều 76)
- Tranh tụng trong tố tụng được đảm bảo Theo đó:Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia
tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.Mọi chứng cứ, tình tiết liên quan đến vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.Tòa án đưa ra phán quyết không chỉ dựa vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ mà còn dựa vào kết quả tranh tụng tại Tòa
- Đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội: Đây là quy định mới được ghi nhận trong BLTTHS 2015, theo đó trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình có tội (Điều 15)
4 Đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về nguyên tắc "Suy đoán vô tội"
Trả lời:
Trang 4Suy đoán vô tội là một nguyên tắc có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và quá trình chứng minh nói riêng; giúp hoạt động chứng minh được thực hiện đúng quy định pháp luật, theo trình tự thủ tục nhất định và loại trừ những yếu tố, vấn đề còn nghi ngờ về hành vi phạm tội Các quy định liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện trong các giai đoạn TTHS, tạo thành hệ thống các quy phạm ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội tạo ra một hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh các quan
hệ giữa các chủ thể tố tụng, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho việc phát huy, bảo đảm các quyền cá nhân, sự công bằng, khách quan Không chỉ là quyền của người bị buộc tội và nghĩa vụ của bên buộc tội, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự: một người luôn vô tội khi nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội Như là một điều luật bảo vệ bên yếu thế, chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền
Nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm: cơ quan tư pháp, điều tra có trách nhiệm phải tìm được bằng chứng chứng minh vô tội song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội Đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân
5 Phân tích nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”?
Trả lời:
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 14 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với nội dung: Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm
Theo quy định trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, Viện kiểm sát không được truy tố, Tòa án không được xét xử và tuyên bố một người phạm tội khi hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện đã được giải quyết và xử lý bằng một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Nếu đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì cơ quan có thẩm quyền phải kịp thời ra quyết định đình chỉ điều tra hay đình chỉ vụ án tùy theo từng giai đoạn tố tụng
Nguyên tắc này thể hiện sự nhân đạo, chính nghĩa, công bằng trong pháp luật hình sự, thiết lập sự công bằng giữa lợi ích công và lợi ích riêng cá nhân Đối với người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực của Tòa án, quyết định đình chỉ điều tra hay đình chỉ vụ án sẽ giải thoát cho họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hai lần về cùng một hành vi phạm tội, bảo đảm công bằng các quyền lợi hợp pháp của công dân, không chỉ có ý nghĩa chính trị
- xã hội mà còn tác động đến tâm tư, tình cảm và niềm tin của họ vào pháp luật, đồng thời
có ý nghĩa đối với nhận thức pháp luật của công chúng về tính công bằng của pháp luật
6 Phân tích những quy định của BLTTHS 2015 nhằm thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội”?
Trả lời:
* Cơ sở pháp lý:
Điều 16 BLTTHS quy định:
Trang 5“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.”
Ngoài ra theo điểm đ Điều 4 BLTTHS 2015 quy định: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.”
* Nội dung nguyên tắc:
- Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa
+ Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc người khác bào chữa Khi tự bào chữa cho mình, người bị buộc tội sử dụng các quyền được ghi nhận trong BLTTHS để đưa ra những chứng cứ gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình… Nếu người bị buộc tội không tự bào chữa thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa
+ Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của họ
+ Trong một số trường hợp sẽ được Bào chữa chỉ định theo khoản 1 Điều 76 BLTTHS
2015
* Điều kiện thực hiện nguyên tắc
- Tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa
- Xây dựng đội ngũ luật sư chuyên nghiệp đông về số lượng và mạnh về chất lượng
- Tuyên truyền phổ biến pháp luật tố tụng hình sự cho người dân
* Ý nghĩa
- Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để người bị buộc tội có thể thực hiện tốt việc bào chữa của mình
- Góp phần xác định sự thật và vụ án một cách khách quan, đúng đắn
Câu 7: Trình bày cơ sở của việc ghi nhận nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong BLTTHS 2015”
Trả lời:
Thứ nhất, phạm vi của nguyên tắc tranh tụng
Theo Điều 26 BLTTHS 2015, phạm vi của việc tranh tụng được xác định cả trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Tuy nhiên, trong các giai đoạn tố tụng tiền xét xử, nguyên tắc tranh tụng không được thể hiện rõ nét mà chỉ được thực hiện rõ nét nhất trong giai đoạn xét xử tại tòa án Do đó, Điều 26 BLTTHS 2015 đã lấy quá trình xét xử để đặt tên cho nguyên tắc tranh tụng nhưng nội hàm thực hiện lại quy định cho toàn bộ quy trình tố tụng
Thứ hai, về chủ thể tranh tụng
Bản chất của hoạt động tranh tụng là sự tranh luận qua lại giữa bên buộc tội và bên bào chữa để tìm ra sự thật của vụ án Vì vậy, Điều 26 BLTTHS 2015 cho phép các chủ thể buộc tội gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các chủ thể gỡ tội gồm: người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều
Trang 6được quyền tham gia vào quá trình tranh tụng Còn Tòa án được trao cho nhiệm vụ là trọng tài xác định việc đánh giá chứng cứ của cả hai bên buộc tội và gỡ tội
Thứ ba, yêu cầu và nội dung của nguyên tắc tranh tụng
Các bên tham gia tranh tụng đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Đây cũng là lần đầu tiên pháp luật quy định bị can, bị cáo, người bào chữa có quyền đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ do cơ quan tố tụng thu thập hoặc yêu cầu Tòa án thu thập Trước đây, việc thu thập chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu thực hiện như Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát Chính sự quy định như vậy bảo đảm cho quá trình tranh tụng được bình đẳng
và hiệu quả cao hơn
II CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH
1 Quan hệ pháp luật TTHS chi phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nhận định Sai
Vì Quan hệ pháp luật TTHS đã bắt đầu khi cơ quan thẩm quyền bắt đầu tham gia giải
quyết VAHS Chứ không phải khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sử dụng 1 số biện pháp điều tra trước khi ktvahs tại k3 Đ147, như tiếp nhận nguồn thông tin, xác minh giải quyết thì đã xuất hiện qhpl TTHS
2 Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự
Nhận định sai
Vì quan hệ pháp luật hình sự xuất hiện khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm đối với
xã hội mà hành vi đó được BLHS quy định là tội phạm, và sau đó khi mà tội phạm đó được phát hiện và cơ quan có thẩm quyền bắt đầu tham gia giải quyết thì mới xuất hiện quan hệ pháp luật TTHS Tuy nhiên vẫn có những trường hợp quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện nhưng không trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự: trường hợp bắt nhầm người Thì tuy người này không thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn phát sinh quan hệ TTHS
Đúng
QHPLTTHS phát sinh trong quá trình giải quyết VAHS, khi k có QHPLHS thì sẽ k có VAHS cho nên QHPLTTHS xuất hiện sau và trên cơ sở QHPLHS
3 Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS
Nhận định đúng
Vì đợi tượng điều chỉnh của luật tố tụng hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình
sự Nên quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội cũng có thể xem là đối tượng điều chỉnh của luật TTHS
Sai QHPLHS thì ít nhất phải là CQ có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền
4 Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật TTHS
Nhận định đúng
Trang 7Vì Quan hệ pháp luật TTHS là những quan hệ xã hội phát sinh, thay đổi hay chấm dứt trong quá trình giải quyết VAHS được các quy phạm pháp luật TTHS điều chỉnh
Chủ thể QHPL TTHS là các bên tham gia trong QHPL TTHS bao gồm: cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT, người TGTT và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 34, khoản 9 Điều 55 BLTTHS, CQĐT là cơ quan tiến hành
tố tụng và nguyên đơn dân sự là người tham gia tố tụng Do đó, quan hệ giữa cơ quan điều tra và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ giữa CQTHTT và NTGTT phát sinh trong quá trình giải quyết VAHS là quan hệ pháp luật TTHS
Đúng Cơ quan điều tra là cơ quan có thẩm quyền và nguyên đơn dân sự là người tham gia tt
5 QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL tố tụng hình sự
Nhận định sai
Vì QHPL là những quan hệ xã hội được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở ban hành các quy phạm pháp luật và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước
QHPL do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nên QHPL mang tính quyền lực nhà nước
Do đó, QHPL của các ngành luật như dân sự, hành chính, tố tụng hình sự… là QHPL mang tính quyền lực nhà nước nên không thể khẳng định QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL tố tụng hình sự
Sai CC, VC nhà nước khi vi phạm sẽ bị kỷ luật thì các quyết định đó bắt buộc phải thi hành nên ngoài qhtths thì các qhpl khác cũng có
6 Phương pháp phối hợp - chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT
Nhận định sai
Vì phương pháp phối hợp - chế ước dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa các CQTHTT, người có thẩm quyền THTT:
• Giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với nhau VD: Sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc khởi tố bị can (Khoản 3 Điều 179)
• Giữa cơ quan với người có thẩm quyền tiến hành tố tụng VD: Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can (điểm e Khoản 1 Điều 42)
• Giữa những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng với nhau
Do đó, phương pháp phối hợp - chế ước không chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT
Sai Điều chỉnh qh giữa các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
7 Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy
Nhận định đúng
Vì Phương pháp quyền uy dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa những cơ quan và người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết
Trang 8VAHS Trong đó, điều tra viên là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm a Khoản 2 Điều 34), người bào chữa là người tham gia tố tụng (Khoản 17 Điều 55)
8 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS
Nhận định sai
Vì còn được áp dụng trong pl TTHC, TTDS Quy định chung thì tất cả các vụ án thì đều phải xác minh đúng sự thật
Đúng Theo quy định trong BLTTHS tại Đ15 quy định rõ, đối với các BLTT khác thì k
óc quy định nào về nguyên tắc xác định sự thật
9 Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả phiên tòa hình sự
Nhận định sai
Vì TA xx công khai trừ các trường hợp BLHS quy định Đối với trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai Đ25 BLTTHS, k2Đ423
10 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong Luật TTHS
Nhận định sai
Nguyên tắc Tranh tụng trong xét xử không chỉ có trong bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
mà còn quy định tại khoản 5 điều 103 hiến pháp năm 2014 , điều 13 luật tổ chức Tòa Án nhân dân năm 2014, điều 26 BLTTHS năm 2015, Đ18 BLTTHC
11 Kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa là căn cứ duy nhất để Tòa án
ra bản án, quyết định
Nhận định sai
Căn cứ theo điều 26 BLTTHS năm 2015 thì Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa
Vì vậy kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa không phải là căn cứ duy nhất
để Tòa án ra bản án, quyết định
12 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình
Sai chỉ có người tham gia tố tụng k có quy định về người tiến hành tố tụng
Căn cứ theo điều 29 BLTTHS năm 2015
Thì Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có phiên dịch
III CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
1 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định
a Tội phạm và hình phạt
b Quyền và nghĩa vụ của người TGTT, cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trang 9c Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Luật tổ chức cơ quan điều tra vs cơ quan điều tra)
d Nguyên tắc, trình tự, thủ tục, quy chế thi hành tạm giữ, tạm giam (Luật thi hành tạm giữ tạm giam)
→ Đáp án đúng: B
Căn cứ Điều 1 BLTTHS về phạm vi điều chỉnh của BLTTHS thì Bộ luật tố tụng hình sự
có quy đinh về quyền và nghĩa vụ của người TGTT, cơ quan, tổ chức, cá nhân
2 Trong TTHS, phương pháp quyền uy điều chỉnh mối quan hệ nào sau đây:
a Quan hệ giữa CQĐT với người bào chữa
b Quan hệ giữa CQĐT với VKS
c Quan hệ giữa VKS với Tòa án
d Quan hệ giữa CQTHTT với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
→ Đáp án đúng: A
Phương pháp quyền uy thể hiện ở quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng
Theo đó, căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 34 BLTTHS thì CQĐT là cơ quan tiến hành tố tụng và người bào chữa là người tham gia tố tụng theo quy định tại Khoản 17 Điều 55 BLTTHS Do đó quan hệ giữa CQĐT với người bào chữa được điều chỉnh bằng phương pháp quyền uy
3 Đặc điểm nào sau đây thể hiện tính quyền lực của quan hệ pháp luật TTHS:
a Phát sinh khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền (có phát sinh tính quyền lực nhà nước)
b Có một số chủ thể đặc biệt mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm CQĐT, VKS, Tòa án
c Một trong các bên tham gia quan hệ luôn là cơ quan Nhà nước
d Tất cả các câu trên đều đúng
→ Đáp án đúng: D
Vì tất cả đều thể hiện tính quyền lực
4 Nguyên tắc nào sau đây là nguyên tắc đặc thù của luật TTHS:
a Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
b Suy đoán vô tội
c Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Trang 10d Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân
→ Đáp án đúng: B
Vì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội
5 Chủ thể nào sau đây có quyền bào chữa trong TTHS:
a Nguyên đơn dân sự
b Bị hại
c Người bị buộc tội
d Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
→ Đáp án đúng: C
Theo Điều 16 BLTTHS về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội thì người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa
IV BÀI TẬP
Bài tập 1:
Trong lúc đang trộm cắp tài sản của D, A bị B phát hiện và đuổi theo nhưng không bắt được Một thời gian sau, B tình cờ biết được A đang cư trú tại phường X nên tố giác với cơ quan nơi đây Công an phường X tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển hồ
sơ cho CQĐT công an quận Vụ án được khởi tố, Điều tra viên N là người được phân công trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra dưới sự kiểm sát của Kiểm sát viên M Vì
A là người chưa thành niên nên được chỉ định luật sư C làm người bào chữa CQĐT nhận thấy A có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiêm trọng, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, nên quyết định miễn TNHS và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng Điều tra viên N được phân công chủ trì việc hòa giải giữa bị can A, cha mẹ A và bị hại B Trong biên bản hòa giải, các bên đã thỏa thuận về vấn để bồi thường thiệt hại, bị can A xin lỗi người bị hại D
Câu hỏi:
1 Xác định tất cả QHXH giữa các chủ thể trong vụ án trên thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS?
Có 6 quan hệ xã hội giữa các chủ thể trong vụ án thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS theo điều 1 BLTTHS:
(1) - B tố giác với công an phường X → QHXH giữa CQĐT (Điểm a, Khoản 1 Điều 34) với người tố giác, báo tin về tội phạm (Khoản 1 Điều 55)
(2) - Công an phường X chuyển hồ sơ cho CQĐT công an quận → QHXH giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Khoản 1 Điều 34)