1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự

17 113 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 211,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong đó có quy định về thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Để có thể hiểu rõ hơn về quy định đó, tôi xin chọn đề số 19: Biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHOA

BỘ MÔN LUẬT

.………***………

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỀ BÀI:

Biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi

cư trú” theo quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự.

HỌ VÀ TÊN:

MSSV :

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng

tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án,

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong đó có quy định về thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú Để có thể hiểu rõ hơn về quy định đó, tôi xin chọn đề số 19:

Biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

NỘI DUNG

1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn

Biện pháp ngăn chặn được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự gồm: bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm Biện pháp ngăn chặn được hiểu là các biện pháp mang tính chất cưỡng chế về mặt tố tụng áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm của họ trong

xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án

2 Khái niệm biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều

Trang 4

tra, Viện kiểm sát, Tòa án (Khoản 1 điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng buộc

bị can, bị cáo không được đi khỏi nơi cư trú của mình và phải có mặt theo giấy triệu tập

Biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định của BLTTHS năm 2015 là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can,

bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng đối với mọi loại tội phạm Người được áp dụng biện pháp này phải có có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng, phải làm giấy cam đoan, phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập Tóm lại, đây là biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam,

bị can hay bị cáo không bị cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ bị hạn chế quyền tự do đi lại

3 Mục đích biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án

4 Đối tượng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Đối tượng bị áp dụng biện pháp này thường là bị can, bị cáo:

Trang 5

- Phạm tội ít nghiêm trọng,

- Phạm tội lần đầu,

- Có nơi cư trú rõ ràng,

- Thái độ khai báo thành khẩn

- Và có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn,

- Không gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội

Điều luật này cũng như các quy định khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định bắt buộc biện pháp này chỉ được áp dụng với tội ít nghiêm trọng mà không được áp dụng với tội rất nghiêm trọng Căn cứ nơi cư trú rõ ràng thường được hiểu là bị can, bị cáo có nơi ổn định, thường xuyên, đã đăng ký thường trú

ở địa điểm đó

Có thể hiểu, điều luật này cũng như các quy định khác trong BLTTHS không có quy định bắt buộc biện pháp này chỉ được áp dụng với tội ít nghiêm trọng mà không được áp dụng với tội rất nghiêm trọng Căn cứ nơi cư trú rõ ràng thường được hiểu là bị can, bị cáo có nơi ổn định, thường xuyên, đã đăng ký thường trú

ở địa điểm đó

5 Điều kiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú đối với bị can, bị cáo là: bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng Những người không có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì đối với họ không được áp dụng biện pháp này Bởi lẽ, biện pháp này nhằm đảm bảo cho bị can,

bị cáo có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng đối với mọi loại tội phạm Người được áp dụng biện pháp này phải có có nơi

Trang 6

cư trú và lý lịch rõ ràng, phải làm giấy cam đoan, phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập Theo quy định của Bộ luật dân sự, nơi cư trú của một cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú và có đăng ký tạm trú Nơi cư trú của quân nhân đóng quân, nơi cư trú của sỹ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng là nơi đơn vị đóng quân, trường hợp họ có nơi thường xuyên sinh sống

và có hộ khâu thường trú

6 Nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Khoản 2 điều 123 BLTTHS năm 2015, quy định:

“2 Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;

b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

c) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng,

bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.”

Trang 7

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ như:

+ Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép

+ Có mặt theo giấy triệu tập trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan,

+ Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội,

+ Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

Không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;

Không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam

7 Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Khoản 3 điều 123 BLTTHS năm 2015)

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 những người sau đây có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp

Trang 8

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp, Hội đồng xét xử

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

- Đồn trưởng Đồn biên phòng

Ở đây cần lưu ý khi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp áp dụng biện pháp này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là những người có thẩm quyền

áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo, ngoài ra, đồn trưởng Đồn biên phòng cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp này

Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo để quản lý, theo dõi Bị can, bị cáo muốn đi khỏi nơi cư trú phải được sự đồng ý của chính quyền xã phường, thị trấn nơi cư trú và có giấy phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú

Người có thẩm quyền khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, cần phải linh hoạt trong việc áp dụng, hướng tới mục đích nhằm bảo đảm bị can, bị cáo không bỏ trốn hoặc phát hiện kịp thời nếu bỏ trốn để truy nã

8 Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá

Trang 9

thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù (Khoản 4 điều 123 BLTTHS năm 2015)

Điều luật cũng quy định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn điều tra do Cơ quan điều tra quyết định nhưng không được quá thời hạn điều tra; thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn truy tố do Viện kiểm sát quyết định nhưng không được quá thời hạn truy tố Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn xét xử do Toà án quyết định nhưng không được quá thời hạn xét xử, nếu người bị kết án bị phạt tù thì thời hạn cấm

đi khỏi nơi cư trú đối với họ không được quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù

Có thể hiểu, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn điều tra do Cơ quan điều tra quyết định nhưng không được quá thời hạn điều tra Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn truy

tố do Viện kiểm sát quyết định nhưng không được quá thời hạn truy tố Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn xét xử do Toà án quyết định nhưng không được quá thời hạn xét xử Nếu người bị kết án bị phạt tù thì thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với họ không được quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được xác định theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử Trên thực tế các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, cơ quan tiến hành

tố tụng thường xác định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc thời hạn điều tra hoặc đến khi kết thúc thời hạn truy tố…

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được xác định theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử Trên thực tế các lệnh cấm đi khỏi nơi

cư trú, cơ quan tiến hành tố tụng thường xác định thời hạn cấm

Trang 10

đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc thời hạn điều tra hoặc đến khi kết thúc thời hạn truy tố…

9 Thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc

áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ

Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được

sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Khoản 5 điều 123 BLTTHS năm 2015)

Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan th=ì chính quyền

xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền

10 Nội dung giấy cam đoan của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú

Bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan với nội dung cam kết thực hiện nghĩa vụ sau:

- Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;

- Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

- Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

Trang 11

- Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sàn liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam

11 Vướng mắc trong áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú

Hiện tại không có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, biện pháp quản lý người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này cũng như quy định về trách nhiệm của người quản lý bị can, bị cáo bị

áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nên trên thực tế, có nhiều trường hợp chính quyền địa phương không biết việc bị can, bị cáo đi khỏi nơi cư trú do bị can, bị cáo không khai báo, chính quyền địa phương không kiểm tra, cũng không có ai biết

để báo với chính quyền địa phương

Về thời hạn ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, theo quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không được quá thời hạn xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự Thực tiễn hiện nay cho thấy, có Thẩm phán ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tính

từ ngày thụ lý vụ án nhưng cũng có Thẩm phán ra lệnh tính từ ngày hết lệnh của Viện kiểm sát đã ra trước đó.

Nếu ghi theo thời hạn chính không tính thời gian gia hạn nhưng trong quá trình giải quyết mà vụ án đó cần thiết phải gia hạn thời hạn điều tra, truy tố, xét xử thì việc áp dụng biện pháp

Trang 12

ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tiếp theo trong thời gian gia hạn thời hạn tố tụng sẽ được thực hiện như thế nào vì BLTTHS năm 2015 không quy định việc gia hạn thời hạn cấm đi khỏi nơi

cư trú Nếu ghi thời hạn cả thời hạn gia hạn mà vụ án đó không cần thiết phải gia hạn thời hạn giải quyết thì Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử

Sau khi Cơ quan điều tra ra lệnh áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì lệnh này sẽ tồn tại suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nếu không được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác Do đó xảy ra trường hợp sau khi xét xử bị cáo vẫn còn lệnh này mà không biết khi nào hết thời hạn

Trong thực tiễn sau khi Cơ quan điều tra ra lệnh áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì lệnh này sẽ tồn tại suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nếu không được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác

Luật chỉ quy định trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì bị tạm giam mà không quy định thời hạn tạm giam như thế nào Tất nhiên, thời hạn tạm giam phải tuân theo quy định của BLTTHS

12 Kiến nghị trong áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú

- Cần quy định cụ thể về đối tượng của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bản thân biện pháp này là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc ít hơn so với một số biện pháp ngăn chặn khác như tạm giữ, tạm giam Vì vậy, các đối tượng được áp dụng biện pháp này phải có những điều kiện về nhân thân, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm

Ngày đăng: 14/12/2020, 10:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w