1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự

19 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 230,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sựViệt Nam và điều kiện đảm bảo thực hiện................................................................................................................................................................................................................................................................

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -BÀI TẬP HỌC KÌ

Đề bài: Nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sư

Việt Nam và điều kiện đảm bảo thưc hiện.

Môn học:

Họ và tên:

Mã SV:

Lớp:

Hà Nội,04/2021

Trang 2

Danh mục những từ viết tắt:

TTHS: Tố tụng hình sư

BLTTHS: Bộ luật tố tụng Hình sư

THTT: Tiến hành Tố tụng

VKSNDTC: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 3

MỞ ĐẦU

Việt Nam đang trong quá trình xây dưng nhà nước pháp quyền Một trong những yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải xây dưng cho được hệ thống pháp luật thống nhất, chặt chẽ và đồng bộ bảo vệ quyền con người Pháp luật tố tụng hình sư (TTHS) cũng cần đáp ứng yêu cầu đó Bởi lẽ, TTHS là lĩnh vưc hoạt động đặc biệt của nhà nước, ở đó, xuất hiện quan hệ bất bình đẳng giữa một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng với sư hậu thuẫn của quyền lưc nhà nước và bên kia yếu thế hơn là những người bị buộc tội Cũng từ đó, nguy cơ xâm phạm đến quyền con người là cao nhất và hậu quả cũng nặng nề nhất và đòi hỏi bảo vệ quyền con người trong TTHS cũng là yêu cầu bức thiết nhất Pháp luật tố tụng hình sư đáp ứng các đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, trước hết thể hiện ở chỗ hệ thống nguyên tắc của nó với tư cách là những quan điểm chỉ đạo làm nền tảng và xuyên suốt các quy phạm pháp luật tố tụng hình sư, hoạt động tố tụng hình sư cần được thể hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ Các nguyên tắc đó một mặt cần ghi nhận những giá trị chung của nhân loại mặt khác cần có sư cụ thể hóa trong kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Trong hệ thống các nguyên tắc của TTHS, nguyên tắc suy đoán vô tội đóng vai trò hết sức quan trọng và đây được thừa nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản và là trụ cột chính kiến tạo nên hệ thống pháp luật TTHS của các nhà nước văn minh Suy đoán vô tội cũng là một trong những nội dung của nguyên tắc (quyền) xét xử công bằng (right to a fair trial) theo tiêu chuẩn quốc tế TTHS Việt Nam cũng đã ghi nhận và thể hiện nguyên tắc này Suy đoán vô tội có thể được tiếp cận từ phương diện là sư thể hiện của quyền con người trong lĩnh vưc TTHS mà nhà nước phải ghi nhận, bảo đảm thưc hiện và bảo vệ Suy đoán vô tội từ phương diện là một nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa làm nền tảng, chỉ đạo và xuyên suốt quá trình TTHS từ lập pháp đến thưc tiễn thưc hiện trong đó chủ yếu tập trung vào đánh giá việc thưc hiện nguyên tắc này trong TTHS Việt Nam Vì vậy em xin chọn đề nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sư Việt Nam và điều kiện đảm bảo thưc hiện làm bài tập lần này.1

NỘI DUNG

I Khái quát chung về nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sư Việt Nam:

1 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay-dung-phat-luat/thuc-hien-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam

Trang 4

1 Giải thích một số thuật ngữ:

 Thuật ngữ “suy đoán”

Nguồn gốc của thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng Latin

“praesumptino” hay trong tiếng Anh “presump” được hiểu là coi vấn đề, hiện tượng nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ vấn đề, hiện tượng đó Từ điển Longman nêu rõ trong lĩnh vưc pháp luật, “presump” được hiểu là

“chấp nhận một điều gì đó là đúng cho đến khi nó được chứng minh là không đúng” Trong tiếng Anh, thuật ngữ “suy đoán vô tội” được dịch từ “presumption

of innocence” trong các tài liệu khoa học hay cụm từ “the right tobepresumed innocent” trong các văn kiện quốc tế về quyền con người Cội nguồn của nguyên tắc này từ thời La Mã cổ đại khi Hoàng đế La Mã Justinian (thế kỷ VI tr.CN) ban hành một bản tóm lược Luật La Mã được gọi là “Digest of Justinian”, trong đó có quy định về nguyên tắc chung liên quan đến chứng minh thuộc về bên tố tụng (dân sư) “Ei incumbit probatio qui dicit, non qui negat”- có nghĩa là “chứng minh là công việc thuộc về anh ta, người khẳng định, chứ không phải là người phủ định” Theo đó, trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và người nào

đi kiện thì người đó chứng minh trước Sau đó, các triều đại La Mã đã áp dụng nguyên tắc này trong quá trình xét xử hình sư và bắt đầu khẳng định nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội và một hệ quả tất yếu là bị cáo luôn được coi là vô tội.2

 Khái niệm “suy đoán vô tội”

Suy đoán vô tội được xem như một nguyên tắc mang tính công cụ pháp luật, luật gia người Pháp Jean Lemonie nhằm ủng hộ cho một cách suy luận mang

tính pháp lý rằng hầu hết mọi người không phải là tội phạm Suy đoán vô tội được ví như là nguyên tắc “vàng” trong tố tụng hình hình sự (TTHS), một thành

tưu vĩ đại của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người và chứng minh trong TTHS đã được thể hiện trong và được quy định trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền như Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789 của Cộng hòa Pháp (Déclaration des droits de l’Homme et du citoyen), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights-UDHR), Công ước quốc tế về các Quyền Dân sư và Chính trị năm 1966

2 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi

Trang 5

(International Covenant on Civil and Political Rights – ICCPR) Tư tưởng về suy đoán vô tội chỉ trở thành nguyên tắc pháp luật khi Cách mạng tư sản Pháp thắng lợi cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội Trước yêu cầu bảo vệ quyền con người và xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, suy đoán vô tội (hay giả định vô tội) – một trong những nguyên tắc cơ bản trong luật TTHS

đã được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trong nền tư pháp của nhiều quốc gia văn minh, trong đó có Việt Nam

Vì vậy, Suy đoán vô tội hay giả định vô tội, là một trong những nguyên tắc

cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại Nội dung cốt lõi của nguyên tắc cho rằng mọi nghi can đều vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội

2 Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội

Để đảm bảo cho nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện một cách triệt để trong hệ thống luật pháp, có ba nguyên tắc cốt lõi được đặt ra để có thể áp dụng trong TTHS, bao gồm: (i) Căn cứ vào những sư kiện có thật liên quan đến vụ án

- cho dù việc phạm tội có xảy ra và bị cáo có tội hay không - cơ quan công tố phải hoàn toàn gánh vác nghĩa vụ chứng minh (ii) Căn cứ vào những sư kiện có thật liên quan đến vụ án, bị cáo không có bất kỳ nghĩa vụ chứng minh nào Bị cáo không cần phải trình bày chứng cứ, gọi nhân chứng hay làm bất cứ điều gì để chứng minh mình vô tội và điều này không được xem là cơ sở để chống lại bị cáo (iii) Toà án phải hoàn toàn dưa trên cơ sở là những chứng cứ được trình bày trước toà để dưa vào đó ra phán quyết và không được phép suy diễn theo hướng không tốt cho bị cáo chỉ vì bị cáo bị truy tố và cáo buộc bởi cơ quan công tố

Pháp luật Việt Nam đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ và ghi nhận suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS để đảm bảo quyền con người và hoạt động TTHS Suy đoán vô tội là nguyên tắc hiến định và là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sư, được quy định đầy đủ, cụ thể tại Điều 13 BLTTHS Với tư cách là văn bản có hiệu lưc pháp lý cao nhất, là những quy phạm pháp luật cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quốc gia, Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tư luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật” (khoản 1 Điều 31) Cụ thể hóa Hiến pháp năm

Trang 6

2013, Bộ luật Tố tụng hình sư (BLTTHS) Việt Nam 2015 được xây dưng, và thưc hiện theo 27 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 7 đến Điều 33), bổ sung và quy định lần đầu tiên nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tư, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tư, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” (Điều 13) Nguyên tắc suy đoán vô tội đặt

ra những đòi hỏi cụ thể hơn mà tố tụng hình sư phải đảm bảo đó là:

2.1 Không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thưc hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của BLTTHS và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lưc pháp luật của Tòa án

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tư, thủ tục do Bộ luật tố tụng quy định và chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lưc pháp luật Yêu cầu đầu tiên của nguyên tắc suy đoán vô tội là yêu cầu về lỗi phải được chứng minh theo trình tư thủ tục đảm bảo việc khởi tố, điều tra, truy tố xét xử là đúng quy định pháp luật Bị can, bị cáo phải được coi là vô tội cho tới khi lỗi của bị can, bị cáo đó được chứng minh Nếu lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với “sư vô tội được chứng minh” Là sư thừa nhận chính thức của xã hội, thông qua các quy tắc pháp lý về việc một người bị tình nghi phạm tội được coi là ngoại phạm chừng nào các bằng chứng rõ ràng chống lại người này chưa được cơ quan có thẩm quyền đưa ra ánh sáng Đồng thời, yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý là việc truy tố, xét xử một người phải tiến hành theo trình tư, thủ tục do pháp luật quy định (dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền)

Thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sư truy bức tùy tiện, bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư của bị can, bị cáo Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng yêu cầu phải có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lưc pháp luật Người bị tình nghi, bị can, bị cáo được coi là không có tội cho đến khi có bản án có hiệu lưc của tòa án kết tội đối với người đó Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có

Trang 7

quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tư do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sư bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó

2.2.Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (bên buộc tội)

Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 15, Bộ luật Tố tụng Hình sư năm 2015) Người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sư vô tội của mình mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (cơ quan buộc tội, người buộc tội) phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tư, thủ tục luật định Người bị buộc tội được quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội đồng nghĩa với việc tại phiên toà bị cáo có quyền im lặng tức là không có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử Để có thể ra một trong các quyết định khởi tố, điều tra, truy thì các cơ quan THTT3 phải có trách nhiệm chứng minh và xác định rõ ràng các căn cứ là có tội được quy định trong BLHS; phải đảm bảo xem xét các tình tiết vụ án một cách khách quan, đầy đủ Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình và các hình thức trái pháp luật khác trong các quy trình thu nhập chứng cứ và thưc hiện các hoạt động tố tụng khác Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội

Tòa án phải hoàn toàn dưa trên cơ sở những chứng cứ được trình bày trước Tòa để đưa ra phán quyết Bản án kết tội phải dưa trên các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, chứng minh bị cáo có tội Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sư buộc tội phải dưa trên những chứng cứ xác thưc không còn nghi ngờ Mọi

sư nghi ngờ đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ Khi có những nghi ngờ về pháp luật (về lỗi của bị can, bị cáo) và chứng cứ xuất hiện nếu không chứng minh làm rõ được thì những nghi ngờ này được hiểu và giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó Việc suy đoán vô tội chỉ bị bác bỏ bằng việc tuyên bản án buộc tội đã có hiệu lưc pháp luật trên cơ sở những chứng cứ được thu thập, thẩm

3 Tiến hành tố tụng

Trang 8

vấn và xác minh một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện tại phiên toà xét xử chứng minh lỗi của bị cáo theo trình tư luật định

2.3 Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo quy định của BLTTHS thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận (ra quyết định) trả tư do hoặc tuyên bố người bị buộc tội không phạm tội

Đây là quy định rõ ràng, dứt khoát và tinh thần này được thể hiện ở các ở giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Mục đích của TTHS là tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Tuy nhiên, trong thưc tế có thể xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội yếu, cả hai khả năng oan và lọt cùng song song tồn tại mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định Trong trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội phải thưc hiện theo hướng “thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”, mở ra một hướng mới cho những trường hợp còn tồn tại những hoài nghi Nguyên tắc suy đoán vô tội đã đưa ra một phương án tốt nhất để đảm bảo quyền và lợi ích cho người bị buộc tội

3 Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội là một nguyên tắc có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và quá trình chứng minh nói riêng; giúp hoạt động chứng minh được thực hiện đúng quy định pháp luật, theo trình

tự thủ tục nhất định và loại trừ những yếu tố, vấn đề còn nghi ngờ về hành vi phạm tội Các quy định liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện

trong các giai đoạn TTHS, tạo thành hệ thống các quy phạm ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, bởi lẽ: việc ghi nhận quyền chứng minh của người bị buộc tội sẽ đảm bảo sư cân bằng trong hoạt động TTHS giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử hùng mạnh được thưc hiện bằng quyền lưc nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị buộc tội Đảm bảo người bị buộc tội không bị phân biệt đối xử khi chưa có bản án kết tội có hiệu lưc pháp luật của Tòaán và là nhân tố phát triển tính đúng đắn của lĩnh vưc TTHS

Trang 9

Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng mang ý nghĩa định hướng cho việc xây

dựng và thực hiện pháp luật TTHS; tạo ra một hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể tố tụng, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho việc phát huy, bảo đảm các quyền cá nhân, sự công bằng, khách quan.

Không chỉ là quyền của người bị buộc tội và nghĩa vụ của bên buộc tội, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sư: một người luôn vô tội khi nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội Như là một điều luật bảo vệ bên yếu thế, chống lại sư xâm hại quyền con người từ phía công quyền, nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sư và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sư, đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm: cơ quan tư pháp, điều tra có trách nhiệm phải tìm được bằng chứng chứng minh vô tội song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội Đề cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT trước số phận chính trị, danh dư, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, nguyên tắc suy đoán vô tội là “lá chắn thép” bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, phòng chống oan sai – yếu tố căn bản, thể hiện rõ nhất việc tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người

Suy đoán vô tội có nội dung quan trọng và trọng tâm là bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phản ánh bản chất nhân văn, nhân đạo của pháp luật dân chủ và pháp quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội và kết án thiếu căn cứ Do vậy, trong quá trình tiến hành tố tụng các cơ quan

tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng phải nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng và chấp hành theo nguyên tắc này để tránh việc oan sai đối với những công dân vô tội Nguyên tắc mở ra một định hướng tích cưc hơn và được coi là nguyên tắc “vàng” trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay

II Điều kiện đảm bảo thưc hiện nguyên tắc “suy đoán vô tội”

1 Những vấn đề cần sửa đổi nhằm bảm bảo nguyên tắc “suy đoán vô tội”

1.1 Về mô hình tố tụng:

Mô hình tố tụng, như trên đã nói, mô hình tố tụng của Việt Nam hiện này là

mô hình tố tụng xét hỏi có cài đặt những yếu tố tranh tụng Với việc dồn toàn

Trang 10

bộ gánh nặng chứng minh lên Nhà nước, cụ thể là các cơ quan THTT Tuy nhiên, đặc trưng của mô hình tố tụng Việt Nam hiện nay là sư mờ nhạt, thụ động của các chủ thể khác Hạn chế này cho thấy nó không đảm bảo các nguyên tắc khác của TTHS trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội Bên cạnh đó, mô hình tố tụng hiện này còn cho thấy nó chưa có sư phân biệt rõ ràng, rành mạch các chức năng của tố tụng là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử BLTTHS cũng thiết không theo chức năng này mà theo thẩm quyền của từng cơ quan trong quá trình tố tụng hình sư được phân chia thành các giai đoạn Chính vì không có sư rành mạch về chức năng dẫn đến sư chồng lấn trong chức năng, ví dụ Toà án có chức năng buộc tôi như trả hồ sơ để điều tra bổ sung, khởi tố vụ án hình sư

BLTTHS năm 2015 đã cho thấy những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhưng nhìn chung chưa cho thấy sư thay đổi về mô hình tố tụng Tố tụng của chúng ta vẫn là tố tụng xét hỏi có cài đặt yếu tố tranh tụng bằng việc quy định nguyên tắc tranh tụng và bổ sung thêm các quy định nhằm tăng cường tranh tụng Tuy nhiên, nhiều quy định, đặc biệt là quy định các quyền tố tụng của các chủ thể có trong mô hình tranh tụng được bổ sung nhưng thưc tế cho thấy sư cài đặt này là không nhuần nhuyễn Những quyền tố tụng, ví dụ quyền bào chữa, tranh tụng chỉ phát huy hiệu quả cao khi và chỉ khi nó được đặt trong mô hình tố tụng tranh tụng thưc chất Chính vì vậy tố tụng hình sư Việt Nam chứa đưng các yếu tố của tố tụng buộc tội Quá trình tố tụng là quá trình buộc tội qua các giai đoạn, mức độ khác nhau và các chủ thể khác nhau để buộc tội

1.2 Về chứng cứ, chứng minh

Về nguyên tắc, mọi chứng cứ do người có thẩm quyền thu thập đúng trình

tư, thủ tục đều có giá trị pháp lý ngang nhau nên phải được đánh giá, sử dụng như nhau nhưng BLTTHS4 Việt Nam chưa thể hiện được điều này Vẫn còn sư bất bình đẳng trong thu thập, đánh giá chứng cứ BLTTHS quy định luật sư có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, nhưng lại chưa quy định cụ thể về trình tư, thủ tục thu thập chứng cứ của luật sư Giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật do luật sư thu thập không cao, thậm chí không được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận BLTTHS 2015 không lượng hóa chứng cứ để chứng minh trong vụ án hình sư, mà chỉ quy định “chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án

4 B lu t Tố tụng HInh sư Vi t Nam năm 2015 ô â ê

Ngày đăng: 21/08/2021, 23:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w