Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử : Năm 1989 ngân hàng tại Mỹ Well Fargo, lần đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng, đến nay có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm xây dựn
Trang 1TRẦN THỊ PHƯỚC DUYÊN
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người Hướng Dẫn Khoa Học PGS.TS NGUYỄN VĂN SĨ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
123doc
Trang 3Bảng 2.2 - Số lượng khách hàng và giao dịch tài chính tại BIDV đến 31/12/2013 Bảng 2.3 - Số liệu dịch vụ BIDV e-banking năm 2013
123doc
Trang 4Hình 2.1 - Mô hình cơ cấu- tổ chức- bộ máy hệ thống BIDV
Biểu 2.2 -Tỷ trọng khách hàng e-banking theo các dịch vụ đến tháng 31/12/2013 Biểu 2.3 - Tỷ trọng phí giao dịch của các sản phẩm e-banking theo số lượng dịch vụ đến tháng 31/12/2013
123doc
Trang 55 CNTT: Công nghệ thông tin
6 E-banking: Ngân hàng điện tử
7 IB: Internet Banking
8 IBMB: Ngân hàng trực tuyến
9 MB: Mobile Banking
10 NHĐT: Ngân hàng điện tử
11 NHNN: Ngân hàng nhà nước
12 NHTM: Ngân hàng thương mại
13 NHTW: Ngân hàng Trung Ương
14 POS: Point Of Sales (Điểm chấp nhận thanh toán thẻ)
20 TMĐT: Thương mại điện tử
21 WTO: Tổ chức Liên Hiệp Quốc
22 WU: Western Union (Dịch vụ chuyển tiền nhanh)
123doc
Trang 6Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1
1.1 Khái niệm,vai trò và điều kiện để phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử 1
1.1.1 Khái niệm: 1
1.1.2 Vai trò của ngân hàng điện tử trong xu thế hội nhập: 1
1.1.3 Điều kiện để phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử: 2
1.2 Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử: 6
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử : 6
1.2.2 Các dịch vụ ngân hàng điện tử : 7
1.3 Ưu điểm, hạn chế, rủi ro và sự cần thiết phải phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam: 10
1.3.1 Ưu điểm: 10
1.3.2 Hạn chế 12
1.3.3 Những rủi ro trong dịch vụ NHĐT 12
1.3.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: 14
1.4 Kinh nghiệm phát triển NHĐT của một số nước trên thế giới, tình hình phát triển tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm: 15
1.4.1 Tại Trung Quốc 15
1.4.2 Tại Malaysia 19
1.4.3 Tại Singapore 19
1.4.4 Tại Philippines 20
1.4.5 Tại Nhật Bản 20
1.4.6 Tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm: 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 26 ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 26
123doc
Trang 72.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của BIDV: 26
2.1.3 Một số các chỉ tiêu tài chính của BIDV: 29
2.2.Thực trạng tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV: 29
2.2.1 Các dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV: 29
2.2.2 Đánh giá mức độ cạnh tranh của sản phẩm IBMB của BIDV so với các đối thủ trên thị trường: 30
2.2.3 Kết quả đạt được của việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV: 35
2.2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV: 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN 46
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 46
3.1 Định hướng phát triển công nghệ thông tin ngân hàng đến năm 2020: 46
3.1.1 Về mục tiêu: 47
3.1.2 Về định hướng: 47
3.1.3 Về nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2020: 48
3.2 Các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV: 49
3.2.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng điện tử BIDV 49
3.2.2 Các giải pháp phát triển cụ thể: 50
3.3 Kiến nghị: 57
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và cơ quan quản lý: 57
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước: 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 62
KẾT LUẬN 63
Tài liệu tham khảo Phụ lục 1: So sánh tính năng, biểu phí và hạn mức của dịch vụ BIDV Online Phụ lục 2: So sánh tính năng, biểu phí và hạn mức của dịch vụ BIDV Mobile Phụ lục 3: So sánh tính năng, biểu phí và hạn mức của dịch vụ BIDV Business Online
123doc
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Trong xu thế phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin và quá trình hội nhập toàn cầu của nền kinh tế với các nước trên thế giới đã tác động rất lớn tới đời sống, kinh tế - xã hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất kinh doanh của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế khác nhau, trong đó có lĩnh vực Ngân hàng Công nghệ thông tin và thương mại điện tử đã bổ sung thêm kênh giao dịch mới bên cạnh kênh giao dịch truyền thống, đó chính là ngân hàng điện tử với những dịch vụ ngân hàng mới
Không nằm ngoài xu thế phát triển chung của thương mại điện tử thế giới, Ngân hàng điện tử đã bắt đầu trở thành xu thế phát triển và cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Trong đó Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam-BIDV triển khai dịch vụ này hơi muộn hơn so với các ngân hàng bạn nên khả năng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử còn gặp nhiều khó khăn Việc tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển ngân hàng điện tử tại BIDV trong giai đoạn sắp tới là hết sức cần thiết nhằm giúp BIDV phát triển, duy trì khách hàng, tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi nhuận, khẳng định vị trí và thương hiệu của mình
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: ”Phát triển dịch vụ
ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để làm đề
tài Luận văn Thạc sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích thực trạng, những thành công, thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình phát triển ngân hàng điện tử tại BIDV, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển ngân hàng điện tử tại BIDV trong thời gian tới
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
123doc
Trang 9- Thời gian: từ 2012-2013
- Nội dung: Những sản phẩm ngân hàng điện tử triển khai tại BIDV
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành mục tiêu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: thống kê, mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát…
5 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương
- Chương 1: Tổng quan về ngân hàng điện tử
- Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
123doc
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.1 Khái niệm,vai trò và điều kiện để phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử
1.1.1 Khái niệm:
Khái niệm ngân hàng điện tử được xuất phát từ khái niệm Thương mại điện tử, theo tài liệu đào tạo về TMĐT của Microsoft (Fundamentals of E-business), khái niệm TMĐT được hiểu như sau:
TMĐT là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết hợp người bán và người mua Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh TMĐT là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết các tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những giao dịch điện
tử Nhìn chung TMĐT là các dạng của giao dịch thương mại dựa trên quá trình xử lý
và chuyển giao số liệu số hoá bao gồm cả văn bản, âm thanh và hình ảnh
Sự phát triển của TMĐT gây ảnh hưởng vô cùng lớn tới hệ thống ngân hàng Công nghệ thông tin đặc biệt là internet tạo ra một hệ thống thanh toán rộng khắp, tiến tới một thế giới không dùng tiền mặt, thanh toán nhanh gọn an toàn và chính xác, từ đó dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời
“Ngân hàng điện tử (E-Banking) - còn được biết như ngân hàng trên mạng (Internet Banking), ngân hàng ảo (Virtual Banking), ngân hàng trực tuyến (Online Banking) và ngân hàng tại nhà (Home Banking), bao gồm nhiều hoạt động ngân hàng
được thực hiện tại nhà, tại công ty hay trên đường thay vì tại ngân hàng” (Turban et al,
2004) (Hà Nam Khánh Giao, 2010) Theo hiệp hội phần mềm Việt Nam (VINASA)
thì Ngân hàng điện tử được định nghĩa như một phương thức cung cấp các sản phẩm mới và sản phẩm truyền thống đến khách hàng thông qua các kênh phân phối điện tử tương tác
1.1.2 Vai trò của ngân hàng điện tử trong xu thế hội nhập:
Ngân hàng điện tử khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin và viễn thông tạo
ra các phương tiện giao tiếp mới giữa ngân hàng và khách hàng, bổ sung cho phương tiện giao tiếp truyền thống dựa vào mạng lưới chi nhánh và quầy giao dịch
123doc
Trang 11sơ nhân sự, đào tạo nghiệp vụ đều có thể thực hiện qua những ứng dụng của mạng thông tin giúp giảm thiểu chi phí và tiết kiệm thời gian
Với nguồn dữ liệu điện tử được truy nhập kịp thời, chính xác qua hệ thống mạng, NHTW có thể phân tích, lựa chọn các công cụ kiểm soát, điều tiết chính sách tiền tệ nhằm điều hoà luồng tiền đối nội, đối ngoại, đánh giá tình hình cán cân thanh toán, cán cân thương mại và tốc độ phát triển của nền kinh tế
Đầu tư tín dụng cũng có những thay đổi tích cực nhờ vào ngân hàng điện tử Các thông tin dự án được chào mời thông qua mạng thông tin, sự tính toán của máy tính cho phép nhà đầu tư lựa chọn các dự án tối ưu Bên cạnh đó thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán cũng được cung cấp trên mạng giúp nhà đầu tư có thể hoạch định chính sách và hoạt động kinh doanh phù hợp
Ngân hàng điện tử đóng vai trò to lớn trong hệ thống ngân hàng, tác động đến việc sáp nhập, hợp nhất, hình thành các ngân hàng lớn, trang bị công nghệ thông tin hiện đại, nâng cao vốn tự có, tạo khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng trong điều kiện hội nhập Nó cũng thúc đẩy quá trình hợp tác, liên kết các ngân hàng trong và ngoài nước, tạo mạng lưới rộng khắp, phát triển các nghiệp vụ kinh doanh mới như:
Tư vấn tài chính, rủi ro, tư vấn pháp luật, kiểm toán, liên kết đào tạo, các hoạt động tài trợ cho các sự kiện văn hoá, xã hội
1.1.3 Điều kiện để phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử:
1.1.3.1 Điều kiện pháp lý:
123doc
Trang 12Dịch vụ Ngân hàng điện tử với việc sử dụng công nghệ mới đòi hỏi khuôn khổ pháp lý mới Các dịch vụ Ngân hàng điện tử chỉ có thể triển khai được hiệu quả và an toàn khi các dịch vụ này được công nhận về mặt pháp lý
Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 Luật này đã chính thức được áp dụng vào ngày 1/3/2006, tiếp đó, Chính Phủ cũng đã ban hành một số Nghị định nhằm hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật giao dịch điện tử:
- Ngày 09/06/2006: ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật giao dịch điện tử
- Ngày 15/02/2007: ban hành Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
- Ngày 23/02/2007: ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
- Ngày 08/03/2007: ban hành Nghị định số 35/2007/NĐ-CP quy định về giao dịch điện tử trong Ngân hàng
- Ngày 23/11/2011: ban hành Nghị định số 106/2011/NĐ-CP về sửa đổi,bổ sung Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/2/2007 quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
- Ngày 18/11/2013: ban hành Nghị định số 170/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/2/2007 quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
1.1.3.2 Điều kiện công nghệ:
An ninh bảo mật đã trở thành vấn đề sống còn của ngành Ngân hàng trong thời điện tử hóa An ninh bảo mật cũng là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng khi quyết định lựa chọn hình thức thanh toán phi tiền mặt Vì vậy nếu thiếu những biện pháp an toàn bảo mật thì việc phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử không thể thực hiện được
- Mã hóa đường truyền:
Để giữ bí mật khi truyền tải thông tin giữa hai thực thể nào đó người ta tiến hành
mã hóa chúng Mã hóa thông tin là chuyển thông tin sang một dạng mới khác dạng ban đầu, dạng mới này được gọi chung là văn bản mã hóa Có hai thuật toán mã hóa: 123doc
Trang 13Thuật toán quy ước, còn gọi là thuật toán mã hóa đối xứng Theo đó, người gửi
và người nhận sẽ dùng chung một chìa khóa Đó là một mã số bí mật dùng để mã hóa
và giải mã một thông tin mà chỉ có người nhận và người gửi biết được Tuy nhiên, với thuật toán này còn nhiều vấn đề đặt ra, ví dụ: số lượng các khóa sẽ tăng rất nhiều khi lượng khách hàng tăng kéo theo việc quản lý sẽ được tổ chức như thế nào…
Thuật toán mã khóa công khai, còn được gọi là thuật toán mã hóa bất đối xứng, giải quyết được vấn đề trao đổi khóa ở thuật toán quy ước Theo đó, thuật toán mã hóa bất đối xứng sẽ quy ước việc sử dụng 2 khóa, một khóa dùng để mã hóa và khóa còn lại dùng để giải mã Việc nhận một thông tin được thực hiện an toàn và bảo mật khi thông báo một khóa (khóa chung) và giữ bí mật khóa còn lại (khóa bí mật) Bất kỳ khách hàng nào cũng có thể mã hóa thông tin đề nghị của mình bằng cách sử dụng khóa chung nhưng chỉ duy nhất người sở hữu khóa bí mật mới có thể giải mã và đọc được thông tin đó
Đây là công nghệ an toàn bảo mật thông tin trên các ứng dụng và đặc biệt sử dụng trong giao dịch Ngân hàng điện tử Thuật toán mã hóa công khai được sử dụng trong công nghệ mã hóa đường truyền và chữ ký điện tử Chữ ký điện tử dùng để giữ
sự riêng tư của thông tin Việc mã hóa đường truyền sẽ bao bên ngoài để đảm bảo thông tin được an toàn
- Chữ ký điện tử:
Chứng chỉ số (CA) là một tập tin có chứa đựng dữ liệu về người chủ sở hữu Các
dữ liệu này được nhà cung cấp chứng chỉ số xác nhận và chứng thực
Người sử dụng sẽ dùng chứng chỉ số mà mình được cấp để ký vào thông điệp điện tử Việc ký chữ ký điện tử này đồng nghĩa với việc mã hóa thông điệp trước khi gửi đi qua đường truyền Internet Lúc này chứng chỉ số cấp cho khách hàng được xem như là chữ ký điện tử Chữ ký điện tử là dữ liệu đã được ký và mã hóa bởi và chỉ duy nhất bởi người chủ sở hữu Đây là công nghệ cấp mã bất đối xứng mã hóa dữ liệu trên đường truyền và xác định rằng: về phía khách hàng được xác nhận là đang giao dịch,
về phía Ngân hàng được xác nhận là đang thực hiện giao dịch với khách hàng Chứng chỉ số do một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực phần mềm được Ngân hàng chủ quản lựa chọn làm nhà cung cấp, cấp cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ này
- Công nghệ bảo mật:
123doc
Trang 14- SET (Secure Electronic Transaction): là một giao thức bảo mật do Microsoft phát triển, SET có tính riêng tư, được chứng thực và rất khó xâm nhập nên tạo được độ
an toàn cao, tuy nhiên, SET ít được sử dụng do tính phức tạp và sự đòi hỏi phải có các
bộ đọc card đặc biệt cho người sử dụng
- SSL (Secure Socket Layer): là công nghệ bảo mật do hãng Nestcape phát triển, tích hợp sẵn trong bộ trình duyệt của khách hàng, đó là một cơ chế mã hóa (encryption) và thiết lập một đường truyền bảo mật từ máy của Ngân hàng đến khách hàng (https), SSL đơn giản và được ứng dụng rộng rãi
1.1.3.3 Điều kiện về con người:
- Mức sống của người dân:
Mức sống là một nhân tố quan trọng để phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử Khi người dân phải sống với thu nhập thấp, hay nói cách khác có ít tiền thì có lẽ họ sẽ không quan tâm đến các dịch vụ Ngân hàng Họ sẽ dùng tiền mặt thay vì các dịch vụ thanh toán điện tử Do vậy, phát triển kinh tế và cải thiện mức sống luôn luôn là những yếu tố tiên quyết cho việc phát triển các dịch vụ Ngân hàng điện tử
- Sự hiểu biết và chấp nhận các dịch vụ Ngân hàng điện tử:
Thói quen và sự yêu thích dùng tiền mặt, tính “ì” của khách hàng trước các dịch
vụ mới có thể là những trở ngại chính cho việc phát triển các dịch vụ Ngân hàng điện
tử Sự phổ biến của các dịch vụ Ngân hàng điện tử liên quan chặt chẽ tới sự chấp nhận của khách hàng hơn là những gì mà phía mời chào cung ứng dịch vụ đưa ra Sẽ chẳng
có lý do nào cho các Ngân hàng cung cấp các dịch vụ Ngân hàng điện tử mà không được sự chấp nhận của khách hàng Sự hiểu biết của đông đảo khách hàng về các dịch
vụ Ngân hàng điện tử và ích lợi của các dịch vụ này là hết sức cần thiết Rõ ràng, các dịch vụ Ngân hàng điện tử là các dịch vụ hiện đại và tốt Tuy vậy, chúng ta không thể cho rằng có các dịch vụ tốt là đủ Để xúc tiến các dịch vụ Ngân hàng điện tử các Ngân hàng cung cấp các dịch vụ này cần phải làm cho khách hàng biết rằng có những dịch
vụ như vậy và hướng dẫn họ sử dụng các dịch vụ đó
- Nguồn nhân lực của Ngân hàng:
Các hệ thống thanh toán điện tử đòi hỏi một lực lượng lớn lao động được đào tạo tốt về CNTT và truyền thông để cung cấp các ứng dụng cần thiết, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ và chuyển giao các tri thức kỹ thuật thích hợp Thiếu các kỹ năng để làm việc trên Internet và làm việc với các phương tiện hiện đại khác, hạn chế về khả năng sử dụng 123doc
Trang 15tiếng Anh - ngôn ngữ căn bản của Internet cũng là những trở ngại cho việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử
1.2 Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử:
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử :
Năm 1989 ngân hàng tại Mỹ (Well Fargo), lần đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng, đến nay có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm xây dựng hệ thống ngân hàng điện tử hoàn hảo đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, nhìn chung hệ thống ngân hàng điện tử trải qua những giai đoạn sau:
- Website quảng cáo ( Brochure – Ware): là hình thái đơn giản nhất của ngân hàng điện tử, hầu hết các ngân hàng đều bắt đầu xây dựng ngân hàng điện tử theo hình thái này Thực chất là các ngân hàng xây dựng một Website quảng cáo, trên đó đăng tải các thông tin về ngân hàng mình, các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng như các thông tin chỉ dẫn, liên lạc Mọi giao dịch ngân hàng vẫn được thực hiện qua kênh phân phối truyền thống đó là các chi nhánh và phòng giao dịch
- Thương mại điện tử ( E- Commerce ): Ngân hàng sử dụng internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như xem thông tin tài khoản, nhận giao dịch chứng khoán internet đóng vai trò là dịch vụ cộng thêm để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc kiểm tra các giao dịch tái chính đã thực hiện
- Quản lý điện tử (E- Business): trong hình thái này các xử lý cơ bản của ngân hàng ở cả khía cạnh khách hàng và người quản lý đều được tích hợp trên internet và các kênh phân phối khác Giai đoạn này đánh dấu sự phát triển về sản phẩm dịch vụ cũng như chức năng của ngân hàng Các sản phẩm được phân biệt theo nhu cầu và quan hệ với khách hàng Đồng thời sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hội sở chính của các ngân hàng và chi nhánh cũng được thực hiện thông qua internet, mạng không dây giúp cho việc xử lý các yêu cầu của khách hàng nhanh chóng và chính xác hơn
- Ngân hàng điện tử (E-Banking): Đây chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử Thông qua sức mạnh của mạng toàn cầu cung cấp đến cho khách hàng những dịch vụ ngân hàng tiện ích nhất bằng các kênh phân phối riêng biệt, đưa ra các giải pháp tài chính hiệu quả, khách hàng có thể thực hiện tất cả các giao dịch tài chính mà không cần đến quầy giao dịch của ngân hàng
123doc
Trang 161.2.2 Các dịch vụ ngân hàng điện tử :
Cùng với sự phát triển của công nghệ điện tử, các sản phẩm dịch vụ NHĐT mới xuất hiện ngày càng nhiều, với tiện ích ngày càng hiện đại dưới nhiều hình thức khác nhau Người ta có thể liệt kê các dạng sản phẩm chính như sau:
1.2.2.1 Dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tính toàn cầu (Internet banking):
Đây là dịch vụ NHĐT phổ biến nhất, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua mạng Internet Hầu hết các ngân hàng đều có trang Web để cung cấp các thông tin như tỷ giá, lãi suất, danh sách các sản phẩm… cho khách hàng Hiện nay các ngân hàng đã tiến xa hơn, cho phép khách hàng truy cập trực tuyến vào tài khoản của mình để vấn tin, cập nhật thông tin tài khoản và thực hiện các giao dịch tài chính như chuyển tiền, thanh toán hóa đơn Ngoài ra, khách hàng còn có thể gửi yêu cầu, ý kiến, thắc mắc hoặc góp ý cho ngân hàng Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ và được cấp mã truy cập và mật khẩu để đăng nhập vào chương trình Internet banking trên trang Web của ngân hàng Việc đăng ký các dịch vụ này hiện nay được miễn phí
Thông qua dịch vụ này, khách hàng có thể thực hiện giao dịch vào bất cứ lúc nào 24/7, từ bất cứ đâu tại nhà riêng hoặc văn phòng ở trong hay ngoài nước Internet banking thực sự là một cuộc cách mạng, thúc đẩy các giao dịch diễn ra nhanh và nhiều hơn, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho cả khách hàng, ngân hàng lẫn xã hội Tuy nhiên, Internet banking phụ thuộc rất lớn vào mạng Internet nên vấn đề kỹ thuật như tin tặc, virus, nghẽn mạng… là trở ngại lớn trong việc phát triển và nâng cao tiện ích của dịch vụ này
1.2.2.2 Dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây (Mobile banking):
Là dịch vụ NHĐT mới nhất hiện nay dựa trên công nghệ điện tử viễn thông không dây của mạng điện thoại di động Thực chất dịch vụ này là sự kết nối các thiết
bị di động của khách hàng như điện thoại di động hoặc thiết bị kỹ thuật số cá nhân (Personal Digital Assistant -PDA) với trung tâm cung cấp dịch vụ NHĐT và kết nối Internet trên điện thoại di động sử dụng giao thức truyền thông Dịch vụ mobile banking đầu tiên được cung cấp qua tin nhắn Sự xuất hiện của điện thoại thông minh với giao thức ứng dụng không dây (WAP – Wireless Application Protocal) hỗ trợ cho phép sử dụng các trang web trên điện thoại di động trong năm 1999 Các ngân hàng
123doc
Trang 171.2.2.3 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone banking):
Đây là loại hình dịch vụ NHĐT sử dụng một tổng đài trả lời tự động được cài sẵn thông tin kết nối với hệ thống máy chủ đặt tại ngân hàng Khách hàng muốn sử dụng dịch vụ này phải đăng ký với ngân hàng và được ngân hàng cung cấp mã truy cập và mật khẩu Khách hàng dùng hệ thống điện thoại cố định, làm theo hướng dẫn của tổng đài, nhấn các phím số hoặc phím chức năng trên điện thoại là có thể biết được thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, về tài khoản… mọi nơi, mọi lúc và thậm chí có thể thực hiện được một số loại giao dịch
Đây là hệ thống trả lời tự động, hoạt động 24/24 giờ trong ngày, 7/7 ngày trong một tuần (24/7), 365 ngày trong một năm, nên khách hàng hoàn toàn chủ động sử dụng khi cần thiết Tuy nhiên dịch vụ trả lời tự động không giải đáp được hết các thắc mắc của khách hàng, nên dịch vụ “call center” ra đời, đây cũng là một tổng đài nhưng có người trực 24/24 để cung cấp thông tin, tư vấn giải đáp thắc mắc của khách hang một cách linh hoạt Dịch vụ “call center” còn có thể thực hiện được một số giao dịch như thanh toán hóa đơn và chuyển tiền vào thẻ…rất thuận tiện cho khách hàng đang đi công tác ở xa hoặc ở nước ngoài cần chuyển tiền vào thẻ để đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu
1.2.2.4 Dịch vụ ngân hàng tại nhà (home banking):
Home banking hay một số tài liệu gọi là PC banking cho phép khách hàng giao dịch với ngân hàng tại nhà hoặc công ty thông qua mạng nội bộ (Intranet) do ngân
123doc
Trang 18hàng xây dựng riêng Home banking cũng tương tự như Internet banking với khác biệt
là khách hàng không sử dụng Internet để truy cập vào tài khoản của mình; từ máy tính
cá nhân, khách hàng có thể kết nối trực tiếp vào mạng nội bộ của ngân hàng bằng phần mềm chuyên dụng, modem và đường dây điện thoại hiện có Homebanking cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch ở cùng một mức độ với Internet banking Tuy nhiên, Home banking nhanh hơn và an toàn hơn so với Internet banking, cho phép tiếp cận nhiều dịch vụ ngân hàng hơn Khách hàng có thể chịu phí sử dụng dịch vụ Hệ thống này giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và tiền bạc vì không cần đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng, dành thời gian tập trung vào kinh doanh Khách hàng cũng không còn phải lo kẹt xe làm lỡ giờ giao dịch Với dịch vụ này, giao dịch ngân hàng chỉ còn là việc bấm bàn phím máy tính, vào thời điểm thuận tiện nhất
1.2.2.5 Dịch vụ ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác (TV banking):
Là dịch vụ ngân hàng hiện đại còn mới mẻ, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng thông qua truyền hình và một thiết bị được gọi là hộp TV set-top Chúng được sử dụng như các thiết bị đầu cuối và điều khiển từ xa cho các công cụ hoạt động dựa trên mạng cáp truyền hình băng thông rộng So với Internet banking,
TV banking gần gũi hơn với mọi người Khách hàng sử dụng TV banking không cần mua máy tính hoặc chịu cảnh nghẽn mạng, so với phone banking, TV banking có một giao diện trực tiếp hơn và hiển thị thông tin tổng thể hơn, cho phép khách hàng hoàn thành các giao dịch ngân hàng qua truyền hình, tiếp cận các sản phẩm tài chính và thông tin công nghiệp, trải nghiệm cách quản lý tài sản hiện đại và thuận tiện Hiện nay trên thế giới, một số định chế tài chính đã tung ra dịch vụ TV banking dựa trên truyền hình kỹ thuật số như ngân hàng Agribank of China (ngân hàng Nông Nghiệp Trung Quốc), ICICI Bank của Ấn Độ… Với dịch vụ này, khách hàng có thể thưởng thức các dịch vụ tài chính như thẻ ngân hàng, chuyển khoản và thanh toán hóa đơn
TV banking đã trở thành một kênh dịch vụ tự phục vụ khách tiếp theo các dịch vụ NHĐT đã có trước đó như Internet banking, Home banking, Mobile banking và máy ATM Hiện nay, TV banking vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm, khách hàng của dịch
vụ này còn ít, nhưng trong tương lai có nhiều tiềm năng với sự hỗ trợ và xúc tiến của công nghệ truyền hình kỹ thuật số
1.2.2.6 Dịch vụ ngân hàng qua các trạm giao dịch tự phục vụ (kiosk banking):
123doc
Trang 19Trên đường phố, ngân hàng lắp đặt các trạm làm việc với màn hình cảm ứng công nghệ cao và đường truyền tốc độ cao Khi khách hàng có nhu cầu, chỉ cần có mã truy cập và mật khẩu để đăng nhập hệ thống và tự mình thực hiện các giao dịch Với dịch vụ này, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch như: gửi tiền có kỳ hạn, thanh toán hóa đơn, chuyển khoản, in sao kê, vấn tin…trực tuyến tại kiosk; còn ngân hàng thì quảng cáo trực tiếp các sản phẩm dịch vụ của mình cũng như gián tiếp cho các loại sản phẩm dịch vụ khác Kiosk banking chỉ thực hiện các giao dịch phi tiền mặt để giảm áp lực cho các máy ATM
1.3 Ưu điểm, hạn chế, rủi ro và sự cần thiết phải phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam:
1.3.1 Ưu điểm:
1.3.1.1.Về phía khách hàng:
- Sự tiện lợi: Sự tiện lợi là lợi ích cơ bản rõ nhất mà dịch vụ NHĐT mang lại cho khách hàng Khách hàng sẽ không phải đến ngân hàng xếp hàng và đợi đến lượt giao dịch Dù đang ở bất cứ đâu, chỉ cần một tin nhắn SMS hay một cú nhấp chuột là khách hàng có thể nắm nhiều thông tin, kiểm soát tài khoản 24/24 giúp hạn chế rủi ro, và thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn Với dịch vụ NHĐT, khách hàng có thể chủ động trong giao dịch
- Tiết kiệm chi phí và thời gian: Dịch vụ NHĐT giúp khách hàng giảm bớt đi lại,
tiết kiệm được thời gian đi trên đường và bảo vệ sức khỏe, không phải chịu đựng cảnh kẹt xe, tiếng ồn và khói bụi của đường phố, tiết kiệm được thời gian xếp hàng chờ đợi
ở ngân hàng, tập trung cho công việc chính
1.3.1.2 Về phía ngân hàng
- Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: Bất kỳ một dịch vụ nào của
ngân hàng đều hướng đến khách hàng, xem khách hàng là trung tâm Dịch vụ NHĐT hướng tới sự an toàn và tiện lợi cho khách hàng trong giao dịch, nâng cao sự hài lòng của khách hàng hiện tại và thu hút thêm khách hàng mới
- Mở rộng phạm vi hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh: Để đưa dịch vụ ngân
hàng đến gần khách hàng, người ta phát triển mạng lưới giao dịch vật thể, mở thêm chi nhánh hoặc các phòng giao dịch tại các trung tâm thương mại hay khu đông dân cư Điều này còn phụ thuộc vào năng lực tài chính của từng ngân hàng Ngoài ra khách 123doc
Trang 20hàng bên ngoài khu vực thường than phiền phải di chuyển xa Dịch vụ NHĐT xóa bỏ khoảng cách địa lý, giúp ngân hàng quảng bá hình ảnh trong nước và trên toàn thế giới khi khách hàng xa gần đều tiếp cận ngân hàng từ nhà hay nơi làm việc với máy tính để bàn hay xách tay Khi đăng nhập vào trang Web, khách hàng dễ dàng nắm bắt nhiều thông tin chi tiết về ngân hàng Điều này tăng thêm lợi thế cạnh tranh, nâng cao vị thế của ngân hàng Ngoài ra, trong xu thế toàn cầu hóa, NHĐT có vai trò quan trọng giúp ngân hàng sớm hội nhập và phát triển
- Tiết kiệm chi phí và nhân lực: Trừ mức đầu tư ban đầu, chi phí duy trì của dịch
vụ NHĐT thấp vì không phải xây thêm trụ sở, giảm được số nhân viên nhờ giao dịch
đã được tự động hóa, giúp tăng hiệu suất hoạt động và lợi nhuận
- Cung cấp dịch vụ trọn gói: Nhờ dịch vụ NHĐT, ngân hàng có thể cung cấp dịch
vụ trọn gói Ngân hàng có thể liên kết với công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, các công ty tài chính khác để tăng tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng
- Tiếp cận công nghệ tiên tiến: Dịch vụ NHĐT ra đời đã giúp ngân hàng tận dụng
được những thành tựu công nghệ cao, thích ứng nhanh chóng với những tiến bộ khoa học công nghệ và thay đổi thị trường, kịp thời cập nhật thông tin, hạn chế rủi ro, tránh nguy cơ tụt hậu
1.3.1.3 Về phía xã hội
- Tiết kiệm chi phí: NHĐT giúp tiết kiệm chi phí đi lại, chi phí thanh toán, chi
phí hoạt động, chi phí kiểm đếm tiền mặt… cho toàn xã hội
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Thông qua dịch vụ NHĐT, các lệnh chi trả,
nhờ thu… được thực hiện nhanh chóng tạo điều kiện cho dòng vốn chu chuyển nhanh, thực hiện tốt sự chuyển hóa tiền – hàng, qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế
- Thúc đẩy phát triển kinh tế: Đối với nền kinh tế, NHĐT góp phần phát triển
thương mại, dịch vụ, đặc biệt là thương mại điện tử, tác động cộng hưởng với công nghệ hiện đại, giúp nền kinh tế quốc gia sớm hòa nhập vào khu vực và thế giới
- Tăng cường quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực ngân hàng: Giúp Ngân hàng
Trung ương và các cơ quan quản lý có thể giám sát được các luồng chu chuyển tiền tệ, hạn chế các hoạt động rửa tiền, kịp thời đưa ra các giải pháp về chính sách tiền tệ,
123doc
Trang 21đánh giá được tốc độ phát triển kinh tế góp phần điều hành các chính sách vĩ mô của đất nước
1.3.2 Hạn chế
1.3.2.1 Vốn đầu tư ban đầu lớn:
Để xây dựng một hệ thống ngân hàng lõi (core banking) phải đầu tư một lượng vốn ban đầu khá lớn để sở hữu công nghệ hiện đại, đúng định hướng, chưa kể chi phí cho hệ thống dự phòng, chi phí bảo trì, duy trì thường xuyên và phát triển hệ thống, đổi mới công nghệ sau này Đồng thời cần tuyển dụng đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật
có trình độ để quản trị, vận hành hệ thống… các khoản chi phí mà chỉ các NHTM có vốn điều lệ lớn mới sẵn sàng đầu tư Đầu tư ấy có phát huy hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng truyền thông trong nước, tức còn phụ thuộc vào những
nỗ lực chung của cả quốc gia
1.3.2.2 Rủi ro cao:
Do dịch vụ NHĐT thường thông qua các thiết bị công nghệ cao nên rủi ro cũng thường cao hơn so với giao dịch truyền thống Khách hàng có thể quên hay bị lộ mật khẩu truy cập từ lúc nào chẳng hay biết do bị tin tặc đánh cắp bằng công nghệ cao.Virus máy tính, phần mềm gián điệp là những nguy cơ thường trực tấn công hệ thống qua việc giả mạo, đánh cắp thông tin khách hàng, tội phạm tấn công kiểu “từ chối dịch vụ” (DDoS) làm tê liệt website rất có thể xảy ra Mục tiếp theo sẽ đưa ra chi tiết những loại rủi ro mà ngân hàng và khách hàng có thể gặp phải khi sử dụng dịch vụ NHĐT
1.3.3 Những rủi ro trong dịch vụ NHĐT
Bên cạnh những ưu thế của dịch vụ e-banking, các ngân hàng gặp những rủi ro
và thách thức mới, xuất phát từ việc kinh doanh qua các phương tiện điện tử như fax, e-mail, điện thoại hay Internet…Dưới đây là một số rủi ro thường thấy:
1.3.3.1 Rủi ro về pháp luật
Khi giao dịch vượt khỏi biên giới quốc gia, giao dịch ấy vừa chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước khởi tạo, vừa chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước đối tác và thông lệ quốc tế Quy định khác nhau về NHĐT ở mỗi nước khiến ngân hàng và khách hàng có thể gặp rủi ro 123doc
Trang 22Dịch vụ NHĐT được tự động hóa, nếu quy trình giao dịch chưa chặt chẽ, biện pháp kiểm soát chưa tốt có thể vô tình cho phép những hoạt động phi pháp như đào hối, rửa tiền, mạo danh nhà cung cấp dịch vụ NHĐT để lừa đảo Ngoài ra các ngân hàng phải đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng Nếu để tin tặc bẻ khóa lấy cắp thông tin hay tài sản của khách hàng họ sẽ khởi kiện ngân hàng đòi bồi thường thiệt hại
1.3.3.3 Rủi ro do sơ suất của khách hàng
Trong dịch vụ e-banking, khách hàng phải dùng chữ kí điện tử đã đăng kí trước với ngân hàng, tuy tiện dụng nhưng cũng kéo theo rủi ro cho cả đôi bên Người dùng
vô tình để lộ mật khẩu khi giao dịch, hoặc thực hiện giao dịch trên trang Web đang bị tấn công Người dùng có thể trao khóa truy cập nhờ người khác làm hộ sau đó bị lợi dụng quyền truy cập Rủi ro này đòi hỏi luật giao dịch điện tử bao quát và bộ phận điều tra xử lý tội phạm công nghệ cao giỏi
1.3.3.5 Rủi ro về công nghệ
123doc
Trang 23Dịch vụ NHĐT phụ thuộc rất lớn vào khoa học và công nghệ hiện đại Ngày nay, công nghệ tiến nhanh từng ngày từng giờ, do vậy ngân hàng phải thường xuyên nâng cấp, cải tiến dịch vụ của mình để theo kịp, nếu không sẽ bị tụt hậu và khó cạnh tranh với các đối thủ khác
1.3.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử:
E-Banking là một kênh giao dịch, giúp cho khách hàng có thể liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần) và ở bất cứ nơi đâu Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các khách hàng có ít thời gian để đi đến văn phòng trực tiếp giao dịch với ngân hàng, các khách hàng nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân có số lượng giao dịch với ngân hàng không nhiều, số tiền mỗi lần giao dịch không lớn Đây là lợi ích mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với ngân hàng điện tử Phí giao dịch E-Banking được đánh giá là
ở mức rất thấp so với giao dịch truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần tăng doanh thu hoạt động cho ngân hàng Số liệu về phí giao dịch ngân hàng khảo sát ở Mỹ đã minh chứng cho điều đó:
STT Hình thức giao dịch Phí bình quân 1 giao dịch (USD)
1 Giao dịch qua nhân viên ngân hàng 1,07
( Nguồn: Ban thương mại điện tử, Bộ thương mại)
E-Banking là một giải pháp của NHTM để nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM Điều quan trọng hơn
là E-Banking còn giúp NHTM thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa” mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nước cũng như ở nước ngoài E-Banking cũng là công cụ quảng bá, khuyếch trương thương hiệu của NHTM một cách sinh động, hiệu quả Xét
về mặt kinh doanh của ngân hàng, E-Banking sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Thông qua các dịch vụ của ngân hàng điện tử, các lệnh về chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh, 123doc
Trang 24thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền - hàng Qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Chính sự tiện ích có được từ công nghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung cấp dịch vụ mạng, dịch vụ Internet đã thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ giao dịch với ngân hàng, trở thành khách hàng truyền thống của ngân hàng Với mô hình ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng thì khả năng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vực kinh doanh của E-banking là rất cao Điểm đặc biệt của dịch vụ ngân hàng điện tử là có thể cung cấp dịch vụ trọn gói Theo đó các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng căn bản các nhu cầu của một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng về các dịch vụ liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán
1.4 Kinh nghiệm phát triển NHĐT của một số nước trên thế giới, tình hình phát triển tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm:
1.4.1 Tại Trung Quốc
Ngân hàng điện tử tại Trung Quốc bắt đầu phát triển từ năm 2000 và có những bước đột phá Trung Quốc xây dựng những chiến lược cho việc phát triển các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng điện tử với chiến lược “xi măng và con chuột”
Những năm gần đây, kể từ thời điểm nhiều hệ thống ngân hàng Trung Quốc triển khai dịch vụ ngân hàng qua mạng internet, còn gọi là Banking online hay E-banking, hàng triệu khách hàng Trung Quốc đã lập tức lựa chọn hình thức thanh toán này Không còn lo bị phạt tiền vì quá hạn trả hóa đơn, không phải tốn quá nhiều thời gian để viết chi phiếu, dán tem, gửi thư qua bưu điện và chờ đợi ngân hàng gửi bảng kết toán hàng tháng … Bên cạnh đó, những công việc thông thường tốn nhiều thời gian xưa nay như trả hóa đơn tiền điện, khi đốt, tiền nước, tiền nhà, hoặc tiền thẻ tín dụng… thì nay chỉ cần khoảng từ 15 đến 30 phút đồng hồ Khách hàng sử dụng dịch
vụ E-banking có thể nhập vào máy tính các dữ liệu về số tiền, số tài khoản và ngày thanh toán là tiền sẽ được rút thẳng từ tài khoản của mình trả cho công ty nhận thanh toán Thì giờ là vàng bạc, các ngân hàng Trung Quốc có lẽ nhận thức rõ khía cạnh này
để khai thác triệt để những lợi ích từ E-banking
123doc
Trang 25Thị trường toàn cầu đang mở rộng trước mắt, nhưng với việc Trung Quốc gia nhập WTO, nhiều chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng E-banking sẽ là đầu cầu để các ngân hàng nước ngoài tấn công vào thị trường tài chính ngân hàng trong nước Khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, việc đảm bảo sẽ mở cửa thị trường này là một trong những cam kết mà quốc gia nào cũng phải thực hiện Một quan chức cao cấp trong ngành ngân hàng Trung Quốc bày tỏ sự lo ngại: “Cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng đang là một sức ép lớn đối với Trung Quốc trước việc các ngân hàng nước ngoài tham gia ngày càng nhiều vào thị trường tài chính Trung Quốc Các ngân hàng Trung Quốc có thể sẽ gặp phải bất lợi lớn do hạn chế về công nghệ dịch vụ ngân hàng Mặc dù vấn đề mất an toàn chưa bao giờ xảy ra, nhưng điều tạo nên khoảng cách giữa các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng trong nước và đối thủ cạnh tranh nước ngoài là kinh nghiệm và kỹ năng quản lý Chúng ta nên tính đến những chiến lược dài hơi và hiệu quả”
Từ đó, chiến lược “xi măng và con chuột” ra đời khi kết hợp thành công việc
mở rộng hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng điện tử với khả năng bảo mật an toàn cao nhằm đối phó với sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài
Từ việc linh hoạt và thông minh như “con chuột”
Ngân hàng thương mại và công nghiệp Trung Quốc (ICBC), ngân hàng thương mại lớn nhất Trung Quốc, là nơi triển khai đầu tiên chiến lược này Để có được sự thông minh, lanh lợi như “con chuột”, ICBC đã nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến của mình lên gấp hai lần và đã thu được giá trị giao dịch lên đến 4 tỷ nhân dân tệ (482 triệu USD) mỗi ngày kể từ tháng 12/2003 ICBC cũng dẫn đầu trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định và di động tại thị trường nội địa
Song song với việc tung ra nhiều chiến dịch quảng cáo về sự tiện dụng của dịch
vụ E-banking, ICBC đã chứng minh cho khách hàng thấy điều quan trọng nhất là tiết kiệm thời gian trong việc trả hóa đơn hàng tháng, tránh bị phạt tiền do chậm trễ và tính bảo mật thông tin Tuy không cùng thời điểm tiến hành, nhưng đa số các ngân hàng lớn khác tại Trung Quốc cũng áp dụng những chiêu thức quảng cáo tương tự như ICBC Sở dĩ các ngân hàng đó muốn chuyển dịch vụ ngân hàng từ việc phục vụ tại các
123doc
Trang 26chi nhánh, gửi bảng kết toán hàng tháng thành dịch vụ E-banking không dùng đến giấy mực, là bởi không chỉ có khách hàng, mà chính phía ngân hàng cũng sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí với dịch vụ tiện ích này
Sự năng động còn được tạo ra khi bộ phận E-banking dành được mối quan tâm lớn từ phía ban lãnh đạo ngân hàng Họ đã coi đây là bộ phận rất quan trọng của tiến trình phát triển, ngân hàng có thể đứng vững và tồn tại trong cạnh tranh hay không, kinh doanh có hiệu quả hay không, lợi nhuận thu được có lớn hơn chi phí hay không, tất cả tuỳ thuộc vào kết quả làm việc của bộ phận E-banking Chẳng hạn như Ngân hàng xây dựng Trung Quốc thường bố trí những nhân viên tinh thông kỹ thuật nghiệp
vụ, am hiểu rộng về tình hình tài chính, có các quan hệ kinh doanh, nhạy bén với sự biến đổi của tình hình, năng nổ, tháo vát, dám nghĩ dám làm nhưng thận trọng và quyết đoán để gánh vác nghiệp vụ này Ngân hàng tuyển dụng vào bộ phận E-banking không chỉ các nhân viên có kiến thức về ngân hàng, mà cả những nhân viên thuộc các lĩnh vực kinh doanh và tiếp thị…
Đến chắc chắn và an toàn như “xi măng”
Điểm quan tâm hàng đầu của ICBC cũng như nhiều ngân hàng Trung Quốc khác
là là cố gắng để giành được chữ ký của hàng trăm triệu khách hàng không chỉ cho dịch
vụ E-banking, mà còn cho cả các dịch vụ tài chính ngân hàng khác ICBC hiện đang phấn đấu để cung cấp các dịch vụ hoàn hảo hơn cho 100 triệu khách hàng là các cá nhân, các tập đoàn, công ty Trung Quốc Hầu hết các công ty bảo hiểm, phần lớn trong
số 10 tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất cả nước và một số các tổ chức tài chính đa quốc gia, trong đó phải kể đến Citibank, hiện là khách hàng trong tổng số 5600 khách hàng của hệ thống ngân hàng trực tuyến ICBC Ngân hàng đã bắt đầu lưu giữ hồ sơ và phân tích các giao dịch của khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu được xây dựng hoàn tất từ năm 2004 Theo ICBC, mặc dù có những lợi thế về công nghệ, dịch vụ và quản
lý, các ngân hàng nước ngoài vẫn cần có thêm thời gian và sự kiên trì để thuyết phục người dân Trung Quốc rằng việc nhấp con trỏ chuột trên trang web của họ là lựa chọn tốt hơn và an toàn hơn so với việc thực hiện các giao dịch trực tuyến tại các ngân hàng Người dân Trung Quốc vẫn luôn cảm thấy an toàn hơn khi gửi số tiền mà họ vất vả kiếm được tại các ngân hàng nội địa trên toàn quốc, một điểm mạnh bổ sung cho các dịch vụ ngân hàng trực tuyến trong nước Đây là nơi mà “xi măng” chứng tỏ sự hữu
123doc
Trang 27ích của mình trong các chiến lược E-banking của các ngân hàng Trung Quốc Một lần nữa, xã hội và văn hoá truyền thống Trung Quốc lại trở thành một rào cản vô hình ngăn chặn sự tấn công mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh đến từ bên ngoài biên giới Không chỉ dừng lại ở đó, các ngân hàng Trung Quốc còn tiến hành nhiều biện pháp khác nhau nhằm củng cố mức độ tin tưởng và bảo mật của mình Một trong số đó
là biện pháp “lưu dấu vết” đối với các giao dịch E-banking
Do việc tuân thủ quy định kiểm soát nội bộ sẽ khó khăn hơn đối với các giao dịch ngân hàng điện tử qua Internet, nên các ngân hàng Trung Quốc không chỉ chịu áp lực trong việc đảm bảo hoạt động kiểm soát nội bộ trong các môi trường tự động cao,
mà còn chịu áp lực trong việc duy trì tính độc lập của hoạt động kiểm soát, đặc biệt với các ứng dụng E-banking chủ chốt Chính vì vậy, việc duy trì khả năng kiểm soát
“lưu dấu vết” đối với các hoạt động e-banking sẽ giúp tăng cường vai trò kiểm soát nội
bộ của ngân hàng Những loại giao dịch e-banking sau thường xuyên được ICBC cũng như các ngân hàng Trung Quốc khác chú trọng hơn cả:
- Thời điểm mở, thay đổi hoặc đóng tài khoản của khách hàng
- Mọi giao dịch liên quan đến kết quả tài chính
- Mọi sự hỗ trợ, chuyển đổi hay hủy bỏ quyền truy cập hệ thống
Song song với việc “lưu dấu vết”, vấn đề bảo mật thông tin E-banking cũng rất được chú trọng trong chiến lược “xi măng” Với các ngân hàng Trung Quốc, bảo mật
có nghĩa là giữ cho các thông tin thiết yếu không bị rò rỉ và không bị truy cập trái phép Sự xuất hiện của E-banking cũng đồng nghĩa với việc những thách thức về bảo mật thông tin sẽ tăng thêm, bởi vì khi truyền qua mạng internet hoặc lưu trữ trong cơ
sở dữ liệu, thông tin sẽ dễ dàng bị tin tặc tấn công
Với mục đích an toàn thông tin, tất cả dữ liệu ngân hàng và các bản ghi của BOC đều được bảo mật, chỉ có những cá nhân, tổ chức hoặc hệ thống được cấp quyền
sử dụng mới có thể truy cập Mọi dữ liệu mật của BOC phải được bảo đảm bởi hệ thống an ninh mạng để tránh bị truy cập, thay đổi trái phép trong suốt thời gian truyền trên mạng BOC cũng kiểm soát việc sử dụng và bảo vệ dữ liệu trong suốt quá trình bên thứ 3 truy cập dữ liệu ngân hàng thông qua các quan hệ ngoài luồng, mọi sự truy
123doc
Trang 28vụ điện tử Với mỗi ngân hàng Trung Quốc, việc phát triển và ứng dụng e-banking với quy mô, tính chất dịch vụ có thể khác nhau tuỳ thuộc vào năng lực quản lý, trình độ ứng dụng công nghệ và chiến lược phát triển của từng ngân hàng Tuy không có giải pháp chung về quản lý rủi ro trong hoạt động e-banking áp dụng cho tất cả các ngân hàng, nhưng tất cả đều có một điểm chung- đó là chiến lược và định hướng phát triển Những giải pháp của các ngân hàng Trung Quốc có thể được xem như những định hướng mang tính “mở”, việc triển khai áp dụng vào từng ngân hàng cụ thể cần phải được xem xét, đánh giá cho phù hợp với các hoạt động e-banking hiện tại và kế hoạch phát triển trong tương lai của Việt Nam
1.4.2 Tại Malaysia
Để phát triển dịch vụ NHĐT, Malaysia đã thành lập một tiểu ban đặc nhiệm do
bộ Năng lượng, Bưu điện và Thông tin đứng đầu, để xây dựng hệ thống luật đáp ứng các yêu cầu của dịch vụ gồm: Luật chữ ký điện tử, Luật tội phạm máy tính, Luật bản quyền sửa đổi Hệ thống thanh toán điện tử được thiết lập ở Malaysia do ngân hàng Negara chịu trách nhiệm chính đã phát triển rất mạnh Dịch vụ NHĐT ở đây tương đối phát triển do Chính phủ đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi Malaysia chú trọng phát triển thanh toán trực tuyến qua Internet và thẻ ngân hàng với các khoản thu ngân sách trên toàn quốc, như thu thuế, phí và lệ phí của Nhà Nước
Trang 29chính ở Singapore có sự hiện diện internet Những ngân hàng này đưa ra một loạt sản phẩm trực tiếp tới khách hàng qua các trang web internet Những ngân hàng này đã chuyển từ sự tập trung ban đầu vào các dịch vụ ngân hàng bán lẻ sang các công ty vừa
và nhỏ sang các tổ hợp công ty
- Chuyển tiền thanh toán
- Lồng ghép các sản phẩm thương mại điện tử liên quan tới chọn sản phẩm, đặt hàng mua, phát hành hoá đơn và thanh toán
- Đặt hàng chứng khoán và bảo hiểm, các hoạt động thị trường vốn
123doc
Trang 30dịch trên toàn quốc, nhân dân thấy tin tưởng hơn vào sự an toàn của cả hệ thống, các dịch vụ NHĐT ở Nhật Bản giờ đã có thể cạnh tranh với thế giới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
1.4.6 Tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm:
1.4.6.1 Tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam:
Một hệ thống TCTD của Việt Nam mạnh về chất lượng là điều mà những nhà quản lý ngân hàng đang hướng tới sau khi thực hiện Quyết định 254/QĐ - TTg về Đề
án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015 (Đề án 254)
Trước khi thực hiện Đề án 254, Việt Nam có trên 100 TCTD, bao gồm 5 NHTM Nhà nước, 35 NHTMCP, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài,
và 54 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, còn có TCTD phi ngân hàng bao gồm 30 công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, 1 Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương (nay là Ngân hàng Hợp tác xã) và 915 Quỹ Tín dụng cơ sở Mô hình ngân hàng trong tương lai, được nhiều người cho rằng, là “không phòng giao dịch” - có nghĩa là mọi giao dịch được thực hiện online trên cơ sở phát triển của công nghệ thông tin Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho hay, đến cuối tháng 4/2014 có 48,7 triệu tài khoản cá nhân được mở tại NHTM; 69,7 triệu thẻ ATM đã được phát hành (trong
đó 94% thẻ nội địa và 6% thẻ quốc tế); 15.500 cây ATM, trên 500.000 ví điện tử Với hơn 40% dân số sử dụng Internet, Việt Nam là thị trường tiềm năng để ứng dụng các công cụ thanh toán điện tử tích hợp các ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống ngân hàng Theo báo cáo của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tính đến ngày 31-12-
2012, có trên 46 ngân hàng tham gia triển khai Internet Banking, tăng gấp 15 lần so với cuối năm 2004 Mobile Banking xuất hiện từ năm 2003 nhưng hầu hết các ngân hàng chỉ sử dụng kênh SMS để cung cấp dịch vụ này với chức năng truy vấn thông tin tài khoản Ví điện tử được 20 ngân hàng với giá trị giao dịch khoảng vài trăm tỷ đồng/năm
123doc
Trang 31Hình 1.1– Số lượng Ngân hàng triển khai Internet Banking
(Nguồn Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2012 của Bộ Công thương)
Kể từ khi mới bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam đến nay đã được tròn 10 năm, dịch
vụ ngân hàng trực tuyến đang ngày càng phổ biến, thu hút ngày càng nhiều người sử dụng Theo ước tính, chỉ trong 3 năm, đến cuối năm 2013, số người sử dụng dịch vụ Internet Banking (IB) đã tăng 45% Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết đến nay có khoảng 40 ngân hàng công bố đã triển khai hệ thống IB ở các mức độ khác nhau Mạnh mẽ nhất là IB của một số ngân hàng lớn như Vietcombank trong khối quốc doanh hay Techcombank đứng đầu khối ngân hàng cổ phần Người sử dụng vô cùng phấn khích với xu hướng phát triển IB ở Việt Nam Trên thế giới, IB được coi là một
xu hướng tất yếu để phát triển ngân hàng bán lẻ, mở rộng và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, duy trì và mở rộng khách hàng IB tạo ra kênh giao dịch thay thế, giảm chi phí cho ngân hàng cũng như khách hàng, nâng cao hiệu quả quay vòng vốn IB được khuyến khích bởi góp phần đáng kể tạo nên nền kinh tế không dùng tiền mặt
Trong khối ngân hàng TMCP, Techcombank có thể được coi là ngân hàng tiên phong phát triển ngân hàng điện tử Dự án “Phát triển Thương mại điện tử với F@st - eCOM” của Techcombank đã bắt đầu được triển khai từ tháng 5 năm 2007, với mục tiêu phát triển các kênh giao dịch thay thế nhằm đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khách hàng và cung cấp tất cả các sản phẩm dịch vụ cơ bản của ngân hàng cho khách hàng trong thời gian ngắn nhất, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng
123doc
Trang 32Thực tế triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử cho thấy các ngân hàng Việt Nam đang đi theo xu hướng tất yếu của ngành ngân hàng thế giới Tuy nhiên, mức độ triển khai sâu và rộng đến đâu phụ thuộc vào chiến lược và tiềm lực của từng ngân hàng Mọi dịch vụ của ngân hàng điện tử đều gắn liền với yếu tố công nghệ, đòi hỏi ngân hàng có sự đầu tư lớn và liên tục vào cơ sở vật chất, đồng thời có đội ngũ nhân lực có trình độ
Dễ nhận thấy đa phần các ngân hàng tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ trực tuyến đơn giản như chuyển tiền, thanh toán online Còn các dịch
vụ ở mức cấp cao hơn như liên kết ví điện tử, chuyển tiền bằng số điện thoại… chỉ có
ở những ngân hàng lớn và mạnh về công nghệ Dịch vụ “Tiết kiệm trực tuyến” và “Tín dụng trực tuyến” của Techcombank cho phép khách hàng chuyển tiền vào tài khoản tiết kiệm, hay đề nghị cho vay và cho vay trực tuyến
Tình hình phát triển khách hàng Internet Banking (không bao gồm SMS Banking,
Mobile Banking, BankPlus) của các ngân hàng như sau (số liệu tính đến tháng
12/2013):
Hình 1.2 – Số lượng khách hàng Internet Banking đến tháng 12/2013
(Nguồn: sưu tầm)
0 200,000 400,000 600,000 800,000 1,000,000 1,200,000
216,314
17,000 105,442
200,000 39,799 11,048
30,000 35,356 65,000 220,000
1,174,124
494,886
220,000 137,000
123doc
Trang 33Nhận xét:
- Hiện nay, VCB đang dẫn đầu thị trường về số lượng khách hàng sử dụng dịch
vụ (tuy nhiên số liệu này VCB báo cáo là số lượng khách hàng sử dụng Internet Banking, không ghi rõ là bao gồm những sản phẩm nào)
- Các dịch vụ IB, MB của BIDV triển khai ra thị trường khá chậm so với các đối thủ cạnh tranh
- Việc triển khai các dịch vụ ngân hàng điện tử khá khó khăn, bằng chứng là số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ của các ngân hàng đã triển khai các dịch vụ này từ khá lâu như ACB, Techcombank,MB, Đông A Bank,…cũng không thật lớn
- Tỷ lệ khách hàng sử dụng IB so với số lượng khách hàng của các ngân hàng (đặc biệt là VCB, DongA Bank, TienphongBank, Techcombank…) là khá ấn tượng, điều này cũng cho thấy một phần chiến lược chuyển luồng giao dịch của khách hàng sang các kênh ngân hàng điện tử của các ngân hàng này
1.4.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới như Bỉ, Pháp, Canada, giá trị chi tiêu không dùng tiền mặt của người dân chiếm tới hơn 90% tổng số giao dịch hằng ngày Trong khi đó, ở Việt Nam, thống kê của MasterCard cho thấy có đến 97% tổng số giao dịch được thanh toán bằng tiền mặt và 60% dân số chưa có tài khoản ngân hàng Thói quen tiêu dùng tiền mặt là một khó khăn lớn cho các ngân hàng khi triển khai các kênh giao dịch trực tuyến ở Việt Nam
Thông qua tình hình phát triển dịch vụ NHĐT ở các nước và tại Việt Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Nâng cao hiểu biết và nhận thức đầy đủ về dịch vụ NHĐT cho đông đảo người dân và doanh nghiệp
- Sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin và thương mại điện tử ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của dịch vụ NHĐT
- Việc xây dựng hành lang pháp lý liên quan đến dịch vụ NHĐT, sự hỗ trợ của Chính phủ đối với các ngân hàng qua định hướng phát triển dịch vụ NHĐT của Nhà Nước, sự kiểm duyệt đối với Internet quyết định sự hình thành và phát triển của dịch
vụ NHĐT
123doc
Trang 34- Trong quá trình xây dựng và phát triển dịch vụ NHĐT, phải chú trọng vấn đề bảo mật thông tin Lựa chọn các biện pháp quản lý rủi ro phù hợp với hoàn cảnh thực
tế và lộ trình phát triển của ngân hàng
- Mỗi quốc gia đều lựa chọn một mô hình phát triển riêng cho mình Phát triển nhanh nhưng bền vững vẫn là chính sách tiên quyết của ngân hàng
- Tận dụng lợi thế am hiểu khách hàng nội địa, yếu tố văn hóa và truyền thống dân tộc để cạnh tranh đối với các đối thủ nước ngoài trong quá trình hội nhập
- Dù hành động cụ thể có khác nhau, nhưng cách tiếp cận dịch vụ NHĐT ở các
nước về cơ bản là như nhau và đều gồm các bước: Đầu tiên, hình thành một hệ thống các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo về dịch vụ này Thứ hai, phổ cập kiến thức và nhận thức về dịch vụ NHĐT tới các doanh nghiệp và từng cá nhân Thứ ba, xác định các cản trở hiện hữu của đất nước mình để lo tháo gỡ Thứ tư, triển khai từng bước dịch vụ liên quan Thứ năm, nhanh chóng đào tạo một đội ngũ chuyên viên có kỹ năng
xu thế hội nhập hiện nay là tất yếu Tuy nhiên, để phát triển dịch vụ Ngân hàng hiện đại này cũng cần có sự hiểu biết, chấp nhận của khách hàng, đồng thời vấn đề về pháp
lý và công nghệ cũng góp phần không kém trong việc triển khai thành công dịch vụ Ngân hàng điện tử
123doc
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1.Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV):
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BIDV:
Tiền thân của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Bank for Investment and Development of VietNam, viết tắt là BIDV) là Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam, được thành lập ngày 26/04/1957 theo Quyết định 177/TTg thuộc bộ tài chính với qui mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh và 200 nhân viên Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn Kiến Thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội Ngày 26/4/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam Nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch Nhà nước Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư Và Phát triển Việt Nam Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Năm 1992 bắt đầu hoạt động với các đối tác nước ngoài Đặc biệt, năm 1994 thành lập lại dưới hình thức tổng công ty nhà nước theo Quyết định số 90/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994, đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong hoạt động của BIDV, Ngân sách hàng năm không chuyển vốn qua BIDV
để cho vay đầu tư nữa, mà BIDV phải tự vươn lên, huy động lấy vốn cho đầu tư phát triển trong nước và ngoài nước Theo đó, BIDV từng bước chuyển sang kinh doanh đa tổng hợp, hoạt động đầy đủ các chức năng của ngân hàng thương mại - kinh doanh tiền
tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phục vụ các khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó lấy nhiệm vụ phục vụ lĩnh vực đầu tư và phát triển là chủ đạo
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của BIDV:
Đến nay, BIDV đã hoàn thành Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010, thông qua mô hình cơ cấu- tổ chức- bộ máy chủ yếu tại Trụ sở chính BIDV đến 31/12/2007 và 31/12/2009 cùng mô hình, mạng lưới chi nhánh đến 31/12/2008 và 31/12/2009
123doc
Trang 36Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức hệ thống theo hướng hình thành và phân định
rõ theo 4 khối chức năng: Khối công ty, Khối đơn vị sự nghiệp & Văn phòng đại diện, Khối ngân hàng, Khối liên doanh và góp vốn cổ phần
Tại Chi nhánh:
- Mạng lưới ngân hàng: BIDV có 126 chi nhánh và trên 503 phòng giao dịch, 95 quỹ tiết kiệm, 1.300 ATM/POS tại 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc
- Mạng lưới phi ngân hàng: Gồm các Công ty Chứng khoán Đầu tư (BSC), Công
ty Cho thuê tài chính, Công ty Bảo hiểm Đầu tư (BIC) với 20 chi nhánh trong cả nước…
- Hiện diện thương mại tại nước ngoài: Lào, Campuchia, Myanmar, Nga, Séc
- Các liên doanh với nước ngoài: Ngân hàng Liên doanh VID-Public (đối tác Malaysia), Ngân hàng Liên doanh Lào -Việt (với đối tác Lào) Ngân hàng Liên doanh Việt Nga - VRB (với đối tác Nga), Công ty Liên doanh Tháp BIDV (đối tác Singapore), Liên doanh quản lý đầu tư BIDV - Việt Nam Partners (đối tác Mỹ)…
123doc
Trang 37Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ cấu- tổ chức- bộ máy hệ thống BIDV
NGÂN HÀNG TM
CP PHÁT TRIỂN VIỆTKhối công ty contài sản BAMC
• Cty (Nguồn: Báo cáo thường niên của BIDV năm 2013).
123doc
Trang 382.1.3 Một số các chỉ tiêu tài chính của BIDV:
Bảng 2.1 Bảng đánh giá các chỉ tiêu tài chính của BIDV từ năm 2011-2013
cáMộttc chỉ tiêu quy mô, chất lượng, hiệu quảĐơn vị:tỷ đồng, %
(Nguồn:Báo cáo thường niên BIDV năm 2013)
2.2.Thực trạng tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV:
2.2.1 Các dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV:
- BSMS là dịch vụ gửi nhận tin nhắn qua điện thoại di động thông qua số tổng đài tin nhắn của BIDV
- BIDV Business Online là Dịch vụ Ngân hàng trực tuyến của BIDV giúp doanh nghiệp quản lý tài khoản và thực hiện các giao dịch tài chính thông thông qua Internet
mà không cần phải tới Quầy giao dịch
- BIDV Mobile là dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động, cho phép thực hiện các giao dịch ngân hàng (vấn tin, chuyển khoản, thanh toán )
123doc
Trang 39- BIDV Online là Dịch vụ Ngân hàng trực tuyến của BIDV giúp khách hàng cá nhân quản lý tài khoản và thực hiện các giao dịch với BIDV thông qua Internet mà không cần phải tới quầy giao dịch
- Bankplus là dịch vụ hợp tác giữa Viettel và các Ngân hàng, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch chuyển tiền qua điện thoại di động một cách nhanh chóng, an toàn, đơn giản, mọi lúc mọi nơi
- TTHĐ Online là Dịch vụ thanh toán hóa đơn trực tuyến tại BIDV cho phép khách hàng mua bán hàng hóa online tại các website bán hàng của các nhà cung cấp dịch vụ, công ty trung gian thanh toán và thanh toán online bằng tài khoản/thẻ BIDV
2.2.2 Đánh giá mức độ cạnh tranh của sản phẩm IBMB của BIDV so với các đối thủ trên thị trường:
2.2.2.1 Đối với sản phẩm BIDV Online (Internet Banking dành cho khách hàng cá nhân)
* Về tính năng: BIDV Online cung cấp đầy đủ các tính năng cơ bản cho khách hàng Khách hàng có thể truy vấn thông tin cũng như thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển khoản thông qua internet mà không cần phải tới quầy giao dịch Cụ thể:
- Vấn tin: các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ
hạn, tiền vay tại BIDV và chi tiết giao dịch của từng tài khoản
- Tiền gửi: Gửi tiền có kỳ hạn Online với kỳ hạn linh hoạt cho khách hàng
từ 1 tuần cho tới 36 tháng với số tiền tối thiểu thấp nhất so với mặt bằng chung của các ngân hàng là 1 triệu
- Tiền vay: vấn tin tài khoản tiền vay, tiếp nhận đăng ký vay online, tiếp
nhận yêu cầu trả nợ trước hạn/yêu cầu giải ngân khoản vay, hỗ trợ tính toán khoản vay
- Chuyển tiền: chuyển tiền trong và ngoài hệ thống BIDV, đặt lệnh thanh
toán định kỳ, lệnh chuyển tiền ngày tương lai và có thể tự hủy các lệnh này khi cần Các giao dịch đều được tự động phân kênh thanh toán phù hợp trong khi hiện nay một số ngân hàng còn xử lý lệnh bán tự động (Vietcombank, Vietinbank)
123doc
Trang 40- Thanh toán hóa đơn: thanh toán cước viễn thông, hóa đơn internet, vé
máy bay (Jetstar Pacific), mua bảo hiểm, nộp học phí, nạp ví điện tử…
Ngoài ra khách hàng còn có thể gửi các yêu cầu dịch vụ online (yêu cầu phát hành thẻ, yêu cầu giải ngân khoản vay, yêu cầu trả nợ trước hạn khoản vay, yêu cầu phát hành sổ séc, yêu cầu phát hành sao kê) hoặc đăng ký online (đăng ký BIDV Mobile, gửi tra soát Online qua Hộp thư)
Với những tính năng này, khách hàng cá nhân có thể dễ dàng quản lý tài khoản
và thực hiện các giao dịch trực tuyến với nhiều tiện ích thiết thực giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí Giao diện của BIDV Online thân thiện, thông tin hiển thị
khoa học và dễ sử dụng
Tuy nhiên vẫn còn một số tính năng so với các hệ thống khác trên thị trường mà giải pháp BIDV Online chưa có như:
- Tiền gửi: tất toán online tiền gửi có kỳ hạn (Dự kiến sẽ bổ sung trong dự
án nâng cấp tính năng IBMB)
- Tiền vay: Cho vay online cầm cố bằng tiền gửi tiết kiệm online
- Thẻ: vấn tin thông tin thẻ và dịch vụ thẻ, thanh toán dư nợ thẻ tín dụng
(Dự kiến sẽ bổ sung trong dự án nâng cấp tính năng IBMB)
- Chuyển tiền: chuyển tiền liên ngân hàng qua thẻ/tài khoản theo các kênh
của đơn vị trung gian thanh toán (Dự kiến sẽ bổ sung trong dự án nâng cấp tính năng IBMB), chuyển tiền cho người nhận bằng CMND/Hộ chiếu
- Thanh toán hóa đơn: Thanh toán vé máy bay qua Vietnam Airlines (Dự
kiến sẽ bổ sung trong dự án nâng cấp tính năng IBMB)
Về biểu phí: Mức phí hiện tại của BIDV ở mức trung bình/thấp hơn so với các ngân hàng khác Cụ thể:
- Phí chuyển khoản ngoài hệ thống: Mức phí tối thiểu thấp nhất (6.600 VND/giao dịch) trong khi ACB là 15.000 VND/giao dịch, Techcombank (12.900 VND/giao dịch), HSBC (33.000 VND/giao dịch), Vietinbank (9.900 VND/giao dịch) và VCB là 10.000 VND/giao dịch Mức phí cho các giao dịch trên 20 triệu là 0,03%, cao hơn mức phí của ACB là 0,01% và HSBC là 0,0275%
123doc