1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

93 608 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Tác giả Bùi Thế Hoàn
Người hướng dẫn TS. Trương Hữu Dũng
Trường học Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm .... Cũng như góp phần nâng cao chất lượng, số lượng của giống gà này ở các địa

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI THẾ HOÀN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ ĐA CỰA NUÔI TẠI

XÃ XUÂN SƠN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

: TS TRƯƠNG HỮU DŨNG

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Bùi Thế Hoàn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Chăn nuôi, khoa sau Đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy hướng dẫn là TS Trương Hữu Dũng, đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

, khích lệ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày 6 tháng 2 năm 2014

Tác giả Luận văn

Bùi Thế Hoàn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

1.1.1 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm 3

1.1.2 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm 6

1.1.3 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của gia cầm 15

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23

1.2.1 Tình hình nghiên cứu gia cầm trên thế giới 23

1.2.2 Tình hình nghiên cứu gia cầm ở Việt Nam 24

1.3 Vài nét về gà Đa Cựa 26

1.4 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Xuân Sơn 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Địa điểm nghiên cứu 29

Trang 5

2.3 Nội dung nghiên cứu 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp theo dõi đặc điểm sinh học gà Đa Cựa 29

2.4.2 Phương pháp theo dõi sinh trưởng của gà Đa Cựa 30

2.4.3 Phương pháp phân tích thành phần hóa học, chất lượng thịt 31

2.4.4 Phương pháp theo dõi sinh sản của gà Đa Cựa 33

2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 33

2.5.1 Các chỉ tiêu về đặc điểm sinh học 33

2.5.2 Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục 33

2.5.3 Chỉ tiêu về năng suất sinh sản 35

2.5.4 Chỉ tiêu sinh trưởng 36

2.5.5 Chỉ tiêu về khảo sát năng suất thịt 36

2.6 Phương pháp sử lý số liệu 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Cơ cấu và sự phân bố đàn gà Đa Cựa tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ38 3.1.1 Số lượng gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn 38

3.1.2 Cơ cấu phân bố và qui mô đàn gà nuôi tại Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ40 3.2 Một số chỉ tiêu về đặc điểm sinh học của gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ 43

3.2.1 Đặc điểm ngoại hình của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn 43

3.2.2 Một số tập tính sinh hoạt của giống gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ 49

3.3 Một số chỉ tiêu về tuổi thành thục về tính và sinh sản của giống gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn - Thanh Sơn - Phú Thọ 50

3.3.1 Một số chỉ tiêu về thành thục sinh dục 50

3.3.2 Tỷ lệ đẻ và năng suất, chất lượng trứng của giống gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ 52

Trang 6

3.4 Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của giống gà Đa Cựa nuôi tại

Xuân Sơn - Tân Sơn - Phú Thọ 57

3.5 Đánh giá khả năng cho thịt của đàn gà Đa Cựa 61

3.5.1 Kết quả mổ khảo sát 61

3.5.2 Đánh giá chất lượng thịt của giống gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn 64

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Đề nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

cs : Cộng sự ĐVT : Đơn vị tính

KL : Khối lượng NST : Năng suất trứng STT : Số thứ tự

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TL : Tỷ lệ VCK : Vật chất khô

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Số lượng gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn qua các năm 38

Bảng 3.2: Cơ cấu phân bố đàn gà nuôi tại xã Xuân Sơn 41

Bảng 3.3: Qui mô chăn nuôi gà Đa Cựa 42

Bảng 3.4: Nguồn gốc nhân đàn gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn 43

Bảng 3.5: Đặc điểm màu lông của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 44

Bảng 3.6 Kiểu mào của gà Đa Cựa 28 tuần tuổi 46

Bảng 3.7 Số cựa hai bên chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 48

Bảng 3.8 Màu da chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 49

Bảng 3.9: Tập tính sinh hoạt của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 50

Bảng 3.10: Một số chỉ tiêu về tuổi thành thục sinh dục của gà Đa Cựa 51

Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu về tỉ lệ đẻ và năng suất trứng 53

Bảng 3.12: Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của đàn gà thí nghiệm 55

Bảng 3.13 Sinh trưởng tích lũy của gà Đa Cựa 0 - 28 tuần tuổi (g) 58

Bảng 3.14: Khảo sát thành phần thân thịt của giống gà Đa Cựa ở các độ tuổi khác nhau 62

Bảng 3.15: Phân tích một số thành phần hóa họccủa thịt ngực gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi (n=3) 64

Bảng 3.16: Độ pH của thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi 65

Bảng 3.17: Tỷ lệ mất nước do bảo quản, chế biến vàđộ daicủa thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi 67

Bảng 3.18: Màu sắc sau bảo quản 24h của thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi 68

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Gà Đa Cựa 1 ngày tuổi 44

Hình 3.2 Một số màu lông gà 20 tuần 45

Hình 3.3 Kiểu mào trái dâu 46

Hình 3.4 Kiểu mào cờ 46

Hình 3.6 Gà trống 7 cựa 20 tuần tuổi 48

Hình 3.7 Đồ thị tỷ lệ đẻ của đàn gà thí nghiệm theo dõi tại 12 nông hộ 54

Hình 3.8 Đồ thị sinh trưởng từ sơ sinh đến 28 tuần tuổi của gà Đa Cựa 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta

Hiện nay, với sự phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa, ngành chăn nuôi gia cầm đã đáp ứng đủ về mặt số lượng cho nhu cầu của thị trường Tuy nhiên, khi đời sống xã hội ngày càng cao, càng phát triển thì người tiêu dùng lại hướng đến thị trường chăn nuôi nhằm mục đích phục vụ thị hiếu đa dạng của con người

Là người Việt Nam không ai không biết đến câu chuyện truyền thuyết Vua Hùng kén rể (Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh), trong câu chuyện này có xuất hiện một loài gia cầm được chọn làm lễ vật gả công chúa mà ai cũng nghĩ nó chỉ có trong truyền thuyết, đó là con gà chín cựa Ngày nay, ở vùng đất tổ Phú Thọ xuất hiện giống gà lạ, từ khi nở ra gà đã có nhiều ngón chân, các ngón chân này mọc thành từng chùm ở vị trí cổ chân, gần với vị trí cựa của các giống gà địa phương khác Gà có tên là gà Đa Cựa, được gọi theo cách gọi của người dân địa phương

Gà Đa Cựa là gà quý hiếm ngoài việc gắn liền với truyền thuyết, nó còn gắn liền với đời sống của người dân tộc Dao, đã được phát hiện, thuần hóa và nuôi tập trung ở xã Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ Giống gà này

có đặc điểm ngoại hình rất đặc biệt là từ khi sinh ra chân gà đã mọc từng chùm cựa, chất lượng thịt thơm ngon và được coi như một món quà quý về mặt tâm linh

Gà được nuôi với hình thức chăn thả tự nhiên, chủ yếu sống trên đồi, tối mới về chuồng ngủ Nguồn thức ăn chính là giun, dế, cỏ do gà bới tìm, một phần là ngô, thóc và các sản phẩm phụ nông nghiệp khác Đây là một

Trang 11

giống gà quý, có khả năng chống chịu với các loại bệnh cao, nhưng hiện nay

gà Đa Cựa có số lượng ít, phân tán, tỷ lệ nuôi sống thấp, thường bị lai tạp với các giống gà khác và cũng chưa có nhiều nghiên cứu về giống gà này

Để đóng góp cơ sở khoa học cho việc đánh giá một cách có hệ thống về giống gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ và cung cấp số liệu cơ sở để so sánh với các giống nội địa khác Cũng như góp phần nâng cao chất lượng, số lượng của giống gà này ở các địa phương trong tỉnh, nhằm tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc

vùng cao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm sinh

học và sức sản xuất của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ"

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được cơ cấu, sự phân bố, đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin đầu tiên về gà Đa Cựa nuôi trong nông hộ tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ

thành lập giống gà mới, là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu phát triển tiếp theo

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ về đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng, sản xuất của gà Đa Cựa Từ đó cung cấp thông tin kỹ thuật, kinh

tế giúp người chăn nuôi lựa chọn phương thức nuôi phù hợp Giúp các nhà quản lý trong việc định hướng bảo tồn nguồn gen vật nuôi, nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị, nâng cao hiệu quả chăn nuôi trong nông hộ để phát triển hơn nữa gà Đa Cựa

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm

1.1.1.1 Ngoại hình của gia cầm

Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999)[22] màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống Màu sắc và phối hợp màu sắc đã đi vào khía cạnh thẩm mỹ của con người Màu sắc da, lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc: thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên

cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp Màu sắc do một

số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc

Hầu như không có tính trạng bên ngoài nào của vật nuôi được những nhà chăn nuôi chú ý bằng sắc lông và đốm Vì vậy, không lấy làm lạ khi thấy sắc lông là một tính trạng của phẩm giống và đặc tính của phần lớn phẩm giống đều có yêu cầu nhất định về sắc lông Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai loại sắc tố là xantofin và melanin Xantofin là sắc

tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da những con có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế sự tích luỹ cơ - xantofin trong máu và mỡ (Hutt) Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi

Ở những con hoàn toàn có màu, da thường có melanin Ngoài ra, trong một vài trường hợp đặc biệt, chất này cũng có cả ở lớp da trong, da ngoài Ở những con đồng hợp thể hay nửa đồng hợp thể do gen lặn (id) liên kết với giới tính, chất melanin không lan rộng được do lớp da trong hạn chế Nếu lớp da ngoài cũng có chất xantofin thì da có màu óng ánh thấy rõ

Trang 13

qua các tế bào Stratun corneum trong vắt của cẳng chân Nếu cũng trong lớp da ấy mà lại có xantofin nữa thì màu trở thành xanh Ở các giống có màu sắc đen, màu vàng có thể hoàn toàn do màu đen che lấp

Giải thích di truyền màu sắc da của các loại gia cầm như vậy, còn về màu sắc lông thì phức tạp hơn Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thâu nhạy ánh sáng của các tế bào ấy (Hutt) Vì vậy, loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc Ví dụ: các màu xanh, đỏ thường thấy ở gà đen Ở phần lớn các giống

gà, gà trống và gà mái được phân biệt nhau qua bộ lông, lông gáy, vòng cung cánh và lông seo ở gà trống thì nhọn, cong và dài Tính trạng màu sắc

và kiểu lông là tính trạng bị giới hạn bởi giới tính

Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ

Cổ, bàn và ngón chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da Chân thường có vuốt và cựa Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài Chân gia cầm có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón vì thế khi phát hiện chân gà Đa Cựa có từ 3-8 cựa (ngón) là phát hiện mới cần có các nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về giống gà địa phương này

1.1.1.2 Tập tính và sức đề kháng

Tập tính động vật là chuỗi những phản ứng trả lời lại các kích thích của môi trường (bên trong cũng như bên ngoài cơ thể) nhờ đó mà động vật tồn tại và phát triển

Dựa vào các đặc điểm của tập tính động vật, có thể phân biệt thành 2 nhóm tập tính chính là: tập tính bẩm sinh và tập tính thứ sinh

Trang 14

Tập tính bẩm sinh (inborn): là những hoạt động cơ bản của cơ thể động vật mà ngay từ khi sinh ra đã có, không cần qua học hỏi, rèn luyện, mang tính bản năng, được di truyền từ bố mẹ, không thay đổi và không chịu ảnh hưởng của điều kiện và hoàn cảnh sống, chúng được quyết định bởi yếu tố di truyền

Tập tính thứ sinh (acquired): là loại tập tính được hình thành trong quá trình sống do học tập hoặc do có sự bàn giao giữa các cá thể cùng loài

Ở những nhóm động vật càng cao, càng tiến hóa, loại tập tính đó học được càng nhiều, do đó chúng càng dễ thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh sống Ngoài ra, có thể kể loại tập tính thứ ba là tập tính hỗn hợp (mixed)

Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể Hiệu quả chăn nuôi bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh (dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch

tễ, chuồng trại ) Lê Viết Ly (1995)[19] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt,

sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp

Sức sống được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh (Johanson, 1972) [13]

Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch and cs, 1978) [58] Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới (Trần Đình Miên và cs, 1994) [32]

Trần Thị Mai Phương, (2004) [26] cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ác

từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9% Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999) [42]

Trang 15

1.1.2 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm

1.1.2.1 Khái niệm về sinh trưởng và phát triển

Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định Trần Đình Miên và cs, (1995)[24] cho biết: Mydedorpho A.F là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi

* Khái niệm sinh trưởng:

Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành

Trần Đình Miên và cs, (1995)[24] đã khái quát: Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn

bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ đời trước

Mozan, (1977) (trích theo Chamber, 1990)[46] đã định nghĩa: “Sinh trưởng là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những

bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng”

Khái quát hơn, Trần Đình Miên và cs, (1992)[22] đã định nghĩa đầy đủ như sau “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và

dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận

và toàn cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước” Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Về mặt sinh

Trang 16

học, sinh trưởng của gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu nhận từ bên ngoài chuyển hoá thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước

Sự sinh trưởng ở động vật tuân theo những quy luật nhất định Theo Trần Đình Miên và cs, (1994)[23] thì Midedorpho (1987) là người đầu tiên đã phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc Ông cho rằng ở gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó phần tăng khối lượng giảm dần theo tuổi Theo Kislowsky (1930) trong tài liệu của Nguyễn

Ân, (1984)[1] đã khẳng định: Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể

có sự khác nhau Sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ quan (mô, xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm

1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm

Các tính trạng số lượng, trong đó tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể gà, chịu ảnh rất lớn các tác động của môi trường E (Environment) Theo Đặng Vũ Bình (2002)[2]; Nguyễn Văn Thiện và cs, (1995)[29] quan hệ giữa kiểu hình P (Phenotype), kiểu gen G (Genotype) và môi trường E (Environment) được biểu thị bằng công thức P = G + E; Đặng Hữu Lanh và cs, (1999)[15]; Nguyễn Văn Thiện và cs, (1998)[31] cho rằng căn cứ vào mức

độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia súc, gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại:

- Môi trường chung Eg (General environment) tác động thường xuyên liên tục đến tất cả các cá thể trong quần thể

- Môi trường riêng ES (Special environment) tác động đến một số cá thể riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn

Trang 17

Theo Lê Đình Lương và cs, (1994)[18] các giống gia súc, gia cầm đều nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng, trong đó

có các tính trạng số lượng Đó chính là những đặc điểm di truyền của giống hoặc dòng, nhưng những khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng như thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và khí hậu

a) Ảnh hưởng của dòng, giống:

Mỗi dòng hay mỗi giống gia cầm có nhiều điểm khác nhau về đặc điểm ngoại hình, sức sản xuất, khả năng kháng bệnh…từ đó ảnh hưởng rất lớn đến

sự sinh trưởng Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể, giữa dòng, giống có sự sai khác

Theo Godfrey and cs, (1952)[51] sự di truyền về khối lượng cơ thể do

) vì vậy có sự khác nhau về khối lượng cơ thể giữa con mái và con trống trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái từ

24 - 32% Ở gà, các giống gà hướng trứng nhẹ hơn các giống gà hướng thịt 2 lần và giống gà kiêm dụng 1,3 - 1,7 lần

Dẫn theo tài liệu của Đào Văn Khanh, (2002)[14] thì Boshhlebao and

cs, (1972) cho rằng sự tồn tại của các gen hoặc các nhóm gen trong các dòng, giống gia súc, gia cầm rất khác nhau nên dòng, giống khác nhau có tốc độ sinh trưởng không giống nhau Letner and cs, (1938)[54] đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới

24 tuần tuổi cho rằng gà Plymouth Tock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn

từ 3 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau Nguyễn Mạnh Hùng và

cs (1994)[11] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g khoảng 13 - 30%

Trang 18

Chọn lọc tính trạng sinh trưởng là do di truyền Jaap and cs (1973)[52]

đã phát hiện những sai khác trong cùng một giống và cường độ sinh trưởng trước 8 tuần ở gà con của các bố mẹ có sự khác nhau Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Hưng và cs (1997)[12] cũng khẳng định các giống gia cầm khác nhau có năng suất khác nhau

Qua đó ta thấy khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng của các dòng, giống gia cầm chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền Trong thực tế sản xuất cũng như trong nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của phần di truyền tới năng suất của gia súc, gia cầm người ta xác định hệ số di truyền của tính trạng đối với quần thể gia cầm cụ thể để xây dựng chương trình công tác giống phù hợp Theo Nguyễn Ân (1983)[1] thì hệ số di truyền khối lượng cơ thể 3 tháng tuổi là 0,26 -0,5; Cook and cs, (1956)[48] xác định hệ số di truyền khối lượng cơ thể gà lúc 6 tuần tuổi là 0,5 Dẫn theo tài liệu của Chambers (1990)[46] thì Sigel và Kiney đã tổng kết tương đối hoàn chỉnh hệ số di truyền tốc độ sinh trưởng là 0,4 - 0,5

Tóm lại ở các lứa tuổi khác nhau,các dòng gà khác nhau có hệ số di truyền khác nhau và biến động trong khoảng 0,26 - 0,60 Ở các quần thể càng được chọn lọc nhiều thì hệ số di truyền thấp và ngược lại

b) Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng

Chamber (1990)[46] cho biết: “Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, đến sự phát triển của từng mô khác nhau và gây nên sự biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng mà còn ảnh hưởng đến sự di truyền về sinh trưởng”

Có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý sinh dưỡng đã chứng minh

để đạt được năng suất cao nhất không những phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng mà còn phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp nhất giữa chúng

Trang 19

Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm đảm bảo các hoạt động duy trì cơ thể và sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng) Năng lượng và protein là hai yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần thức ăn của gà Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như acid béo, khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được Khoáng vô cơ là một thành phần trong khẩu phần

ăn dưới dạng canxi (Ca), photpho (P), natri (Na), kali (K), mangan (Mn) và clo (CL), những nguyên tố này có chức năng khác nhau, đặc biệt là ba nguyên

tố Ca, P và Na có vai trò trong việc hình thành xương, vỏ trứng, điều khiển chức năng thẩm thấu của cơ thể và hoạt động như những chất bổ trợ của Enzyme Đồng (Cu), Iod (I), sắt (Fe), Mangan (Mn), Selen ( Se) là những yếu

tố vi lượng

Vitamin là hợp chất hữu cơ được chia thành hai nhóm: Nhóm hòa tan trong nước và nhóm hòa tan trong dầu mà gia cầm chỉ cần một lượng nhỏ sinh

tố trong khẩu phần

c) Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng của gia cầm

Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia cầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng Trong đó nhiệt độ và

ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc

độ sinh trưởng của gia cầm Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được sự ảnh hưởng của hai yếu tố này

+ Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ:

Gà con ở giai đoạn còn nhỏ (30 ngày tuổi đầu) cơ quan điều khiển nhiệt chưa hoàn chỉnh, cho nên yêu cầu về nhiệt độ tương đối cao Nó rất nhạy cảm với tác động của điều kiện khí hậu thay đổi Những ngày đầu tiên thân nhiệt của gà con mới nở không ổn định và phụ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi Vì thế nhiệt độ chuồng nuôi trong giai đoạn đầu của gà cần phải quan tâm giữ

ấm, nếu nhiệt độ quá thấp gà con sẽ tụ đống lại, không ăn, gà sinh trưởng kém

Trang 20

hoặc chết do tụ đống, dẫm đạp lên nhau Song ở các giai đoạn sau nếu nhiệt

độ môi trường quá cao thì sẽ hạn chế việc sử dụng thức ăn, gà uống nhiều nước, bài tiết phân lỏng, hạn chế khả năng sinh trưởng và gà dễ mắc các bệnh đường tiêu hoá

Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ là những tác động của nó liên quan đến việc tiêu thụ thức ăn, ngoài ra còn làm tăng hoạt động sinh lý của hệ tuần hoàn, hô hấp gây stress mạnh Nhiệt độ thích hợp nhất cho gà là 150

C đến 250

C Những thay đổi nhiệt độ trên và dưới ngưỡng này đều có thể gây stress và ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của gà

Scoft and cs (1976)[56] cho biết trong khoảng 260C đến 320

C khi nuôi gà broiler, tiêu thụ thức ăn giảm 1,5g/10C/1 gà và trong khoảng 320

C - 360C tiêu thụ thức ăn giảm 4,2g/10

C/1 gà

+ Ảnh hưởng của độ ẩm không khí:

Ẩm độ cũng là một tác nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia cầm Trong mọi điều kiện của thời tiết, nếu ẩm độ không khí cao đều bất lợi cho gia súc, gia cầm, bởi vì nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gà con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao,

ẩm độ cao làm cơ thể gia cầm thải nhiệt khó khăn và dẫn đến cảm nóng Nhiệt

độ và ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ, cho nên ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm là điều tất yếu

Vai trò của ẩm độ không khí cùng với nhiệt độ môi trường luôn luôn là những tác nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, từ

đó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sống hàng ngày của cơ thể gia cầm, chúng không chỉ ảnh hưởng khi gia cầm còn nhỏ, mà còn tác động khi chúng ở

đã lớn, thậm chí còn ở cả giai đoạn phôi thai Phisinhin (1985) (trích từ Đào Văn Khanh, 2002)[14] xác nhận: Gà con nở vào mùa xuân, thường sinh trưởng kém trong 15 ngày đầu, sau đó tốc độ sinh trưởng kéo dài đến 3 tháng tuổi

Trang 21

Smetner (1975) đã chứng minh rằng: Gà con nở vào mùa xuân và mùa hè, thời gian đầu sinh trưởng kém, ngược lại nở vào mùa thu thì gà sinh trưởng tốt ngay trong những ngày tuổi đầu Như vậy trong điều kiện khí hậu tối ưu, ẩm độ thấp, thời tiết mát mẻ sẽ ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng của gia cầm (trích từ Đào Văn Khanh, 2002)[14]

+ Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng:

Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà đẻ Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho gà ăn, uống, vận động, ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng Theo Bùi Đức Lũng và cs (1993)[17] gà broiler cần được

chiếu sáng 23 giờ/ngày khi nuôi trong nhà kín

d) Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc

Chăn nuôi gia cầm là ngành đang phát triển mạnh ở nước ta, song chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng là vấn đề nan giải đối với những nước có khí hậu không thuận hoà Khí hậu nước ta thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong quá trình chăn nuôi, rất nhiều tác nhân khí hậu đã có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, ẩm độ không khí, ánh sáng cho nên ở nước ta, nhất là ở miền Bắc phải có những biện pháp bảo vệ chuồng nuôi chu đáo Những biện pháp như che gió, thông thoáng, sưởi ấm nhằm tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu, cũng như nuôi ở mật độ hợp lý, vận dụng một cách linh hoạt tuỳ thuộc vào sự biến động của thời tiết là một việc làm cần thiết để triệt tiêu hoặc làm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi trường,

sẽ giúp chăn nuôi đạt kết quả cao

Sự biến đổi của tiểu khí hậu trong chuồng nuôi về tính chất vật lý (nhiệt độ, ẩm độ, gió, bụi, ánh sáng ) và tính chất hóa học (oxi, nitơ, cacbonic, amoniac ) và vi sinh vật, khác xa so với không khí ngoài tự nhiên

Trang 22

Mật độ nuôi cũng là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả

và năng suất chăn nuôi gia cầm Nuôi mật độ thưa lãng phí lao động, lãng phí chuồng trại và hiệu quả sản xuất thấp Nuôi ở mật độ cao không hợp

lý ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng nuôi Ảnh hưởng của mật độ nuôi gồm nhiều yếu tố:

+ Mật độ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí độc sinh ra trong chuồng nuôi Khí độc trong chuồng sinh ra từ phân bị phân huỷ, nước tiểu, nước thải, thức ăn thừa tạo thành các khí NH3, CO2, H2S, CH4 khí NH3 khi đi vào cơ thể khiến hàm lượng kiềm dự trữ trong máu tăng, gia cầm rơi vào trạng thái trúng độc kiềm (Đỗ Ngọc Hoè, 1995)[9] Khi hàm lượng NH3trong chuồng là 25ppm sẽ làm giảm lượng hemoglobin trong máu, giảm sự trao đổi khí, giảm hấp thu dinh dưỡng và làm giảm tăng trọng của gà tới 4% (theo Coldhaft (1971) trích từ Đỗ Ngọc Hoè, 1995)[9] Cùng với NH3, khí H2S cũng là khí độc ảnh hưởng tới sinh trưởng, H2S kết hợp với Na trong dịch niêm mạc đường hô hấp tạo thành Na2S, muối này đi vào máu, thuỷ phân thành H2S tác động tới thần kinh gây trúng độc cho gia súc Nếu nồng độ H2S lớn hơn 1mg/l gà sẽ bị chết vì bị liệt trung khu hô hấp

1.1.2.3 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của gia cầm

Sinh trưởng tích luỹ: Là sự tăng khối lượng cơ thể, kích thước các

chiều do trong một đơn vị thời gian nhất định Khối lượng cơ thể ở tại một thời điểm nào đó là chỉ tiêu được sử dụng quen thuộc nhất để chỉ khả năng sinh trưởng Xác định được khối lượng cơ thể sau các khoảng thời gian khác nhau như: 1 tuần tuổi, 2 tuần tuổi sẽ cho ta những số liệu về sinh trưởng tích luỹ Đối với gà thịt, sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng nhất làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc giống với nhau

Trang 23

Đối với gà đẻ trứng sinh trưởng tích luỹ ( đặc biệt giai đoạn hậu bị ) liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn đẻ trứng Nếu khối lượng cơ thể nhỏ thì khả năng sinh sản thấp, nếu khối lượng cơ thể lớn thì tiêu tốn thức ăn tăng Như vậy khối lượng cơ thể gà mái đẻ trứng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế

Trần Long (1994)[16] đã nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các dòng gà V1, V3, V5 thuộc giống gà Hybro (HV 85), đường cong sinh trưởng của 3 dòng gà có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và mái cũng có sự khác nhau: Tốc độ sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà trống và 6 - 7 tuần đối với gà mái

Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể

tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát Trong chăn nuôi thường sử dụng chỉ tiêu (gram/con/ ngày hoặc gram/con/ tháng) để đánh giá sinh trưởng tuyệt Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabon

Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng,

kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát

Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hyperbon

1.1.2.4 Tiêu tốn thức ăn ở gia cầm

Theo Chambers and cs (1984) [47], hệ số tương quan giữa khối lượng

cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (r = 0,5 - 0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là tương quan nghịch (từ r = -0,2 đến -0,8) Willson (1969) [57] đã xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = 0,5

Những giai đoạn đầu, tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với các giai đoạn sau Theo Trần Công Xuân và cs (1995)[44], gà broiler Ross 208 - V35 được nuôi cùng chế độ dinh dưỡng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng ở 4; 6 và 8 tuần tuổi tương ứng là 1,65; 1,83 và 2,02kg

Trang 24

Đối với gia cầm sinh sản lấy trứng giống hoặc thương phẩm, tiêu tốn thức ăn thường được tính cho 10 quả trứng hoặc 1kg trứng

Theo Nguyễn Đăng Vang và cs (1999)[41], tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gà Đông Tảo trong 36 tuần đẻ là 4,14kg Trần Công Xuân và cs (1999)[43] cho biết : Gà Tam Hoàng Jiangcun có mức tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng trong 66 tuần đẻ đạt 2,94 - 2,99kg Theo Phùng Đức Tiến và cs, (1999) [34] gà kiêm dụng trứng thịt Ai Cập tiêu tốn 2,33 kg thức ăn/10 quả trứng trong 43 tuần

Gà đẻ trứng tiêu chuẩn có mức tiêu tốn thức ăn sản xuất trứng thấp, Nguyễn Huy Đạt và cs (1996)[5] cho biết tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng trung bình trong 12 tháng đẻ ở gà Goldline - 54 thương phẩm là 1,65 - 1,84 kg và gà Moravia thương phẩm đạt 1,86kg

Ngoài ra tiêu tốn thức ăn của gia cầm còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và tình trạng sức khoẻ

1.1.3 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của gia cầm

1.1.3.1 Cơ sở khoa học của năng suất trứng

Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các thành phần khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống trứng tạo nên Nhiều công trình nghiên cứu

đã khẳng định ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi 2 bên phải, trái của gà mái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến, chỉ còn lại buồng trứng bên trái

Số lượng tế bào trứng theo một số tác giả có khác nhau Pearl and Schoppe (1921) đếm được 1906 trứng bằng mắt thường và 12000 trứng bằng kính hiển vi, Jull (1939 - 1948) thì cho rằng ở gà mái thời kỳ đẻ trứng

có thể đếm được 3600 trứng, trong khi đó Hutt (1978) đã đếm và cho biết

Trang 25

số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào Còn Frege (1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt đầu đẻ là 900 - 3500 ở gà mái, 1500 ở vịt mái, nhưng chỉ có một số lượng rất hạn chế được chín và rụng (dẫn theo

Lê Thị Nga, 2004) [25]

1.1.3.2 Cơ sở di truyền của năng suất trứng

Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệt của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó

được thể hiện qua các chỉ tiêu về năng suất trứng,

và ấp nở Đối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản của chúng cũng rất khác nhau Bởi vậy, các nhà nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu cơ sở di truyền sức đẻ trứng của gia cầm và cho rằng việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền Letner and cs (1938) [54] Năm yếu tố đó là:

 Tuổi thành thục về sinh dục, người ta cho rằng ít nhất cũng có hai cặp gen chính tham gia vào yếu tố này: 1 là gen E (gen liên kết với giới tính) và gen e; còn cặp thứ hai là E’ vàe’ chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục

 Cường độ đẻ trứng: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành

 Bản năng ấp do hai gen A và C điều khiển phối hợp với nhau

 Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M

và m điều khiển Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều

 Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ: do cặp gen P và p diều khiển

Trong 5 yếu tố trên thì yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các cặp gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên thì có thể còn

có nhiều gen khác phụ lực vào

Trang 26

a Tuổi đẻ quả trứng đầu

Nhiều tác giả khi nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu cho rằng, đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là một yếu tố cấu thành năng suất trứng Đối với từng cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là số ngày tuổi kể từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu Trong thực tế sản xuất tuổi

đẻ quả trứng đầu của một đàn (quần thể) được xác định khi có 5% số cá thể trong đàn đã đẻ

Theo Trần Đình Miên và cs (1995)[24] thì có ít nhất hai cặp gen cùng quy định tuổi đẻ quả trứng đầu, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai là E’ và e’ Tuổi đẻ và năng suất trứng có mối tương quan nghịch, giữa tuổi đẻ và khối lượng trứng lại có tương quan thuận Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường Đặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc đẩy gia cầm thành thục sinh dục, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm

Dickerson (1952)[49] đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 đến -0,16) Còn Nicola và cs tính hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0,11 (dẫn theo Trần Long, 1994)[16]

b Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của một gia cầm mái trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh l

động của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể

Trang 27

Brandsch and cs (1978)[45] cho rằng sản lượng trứng được tính đến

500 ngày tuổi, cũng theo tác giả trên thì sản lượng trứng còn được tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên Trong thời gian gần đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi Các hãng gia cẩm nổi tiếng trên thế giới như Shaver (Canada), Lohmann (Đức) , sản lượng trứng được tính phổ biến nhất đến 70 và 80 tuần tuổi

Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng sớm, do đó trong chăn nuôi gà sinh sản người

ta thường quan tâm đến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai đoạn cuối gà con, giai đoạn gà dò - hậu bị để đảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai đoạn đẻ trứng Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn Theo Nguyễn Văn Thiện (1995)[29] cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 - 0,3 Đối với tính trạng năng suất trứng, để cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai, kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ

áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả

Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng có liên quan chặt chẽ với nhau, tỷ lệ đẻ trứng được tính theo tuần, tháng, năm, đó cũng thể hiện cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian Cường độ đẻ trứng phụ thuộc và độ dài của chu kỳ đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng chính là thời gian gia cầm đẻ liên tục không

bỏ ngắt quãng còn được gọi là trật đẻ

Cường độ đẻ trứng có tương quan dương và chặt chẽ với sản lượng trứng Đây chính là tính trạng có hệ số di truyền cao, thường đượng sử dụng

để chọn lọc nâng cao năng suất trứng Wagner (1980)[58] cho biết hệ số di truyền về cường độ đẻ trứng của gà vào loại cao h2

= 0,66

Cường độ đẻ trứng có tương quan rất chặt chẽ với năng suất trứng của cả năm, thường người ta dựa theo các số liệu của trật đẻ trứng những tháng đầu tiên và thường theo dõi sản lượng trứng từ lúc bắt đầu đẻ đến 36

Trang 28

c Khối lượng trứng

Khối lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng, là một tính trạng do nhiều gen có tác động cộng gộp quy định, nhưng đến nay người ta cũng chưa xác định được số lượng gen quy định tính trạng này Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn bố mẹ Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và khối lượng trứng nhỏ, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía

Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể đạt được mục đích nhanh chóng thông qua con đường chọn lọc Ngoài các yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Khối lượng trứng mang tính đặc trưng của từng loài và tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này là 0,48 - 0,8 theo Brandsch and cs, (1978)[45] Theo Nguyễn Văn Thiện (1995)[29] hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 0,6 - 0,74

Kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận và cs (1996)[21] cho biết: Khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng và hệ số tương quan (r) nằm trong khoảng từ -0,33 đến - 0,36, nhưng giữa khối l

lượng cơ thể có tương quan dương r = 0,31

Trang 29

Bề mặt vỏ trứng: Thường trứng gia cầm đẻ có bề mặt trơn, đều, song bên cạnh đó cũng có một số cá thể thường đẻ ra trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này gia tăng khi tuổi đẻ của gia cầm mái cao, ảnh hưởng xấu đến kết quả ấp nở cũng như thị hiếu người tiêu dùng và cũng làm cho tỷ lệ trứng dập vỡ cao hơn, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi

Chỉ số hình thái: Trứng gia cầm thường có hình ovan hoặc elip, một đầu lớn và một đầu nhỏ Người ta đã tính toán được chỉ số hình thái trứng thông qua phương pháp toán học Chỉ số hình thái có thể tính bằng hai cách:

tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng

so với chiều dài của trứng

Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình thái của trứng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng, đặc biệt là trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm đều

có chỉ số hình thái riêng theo Lê Hồng Mận và cs, (1996)[21]

Độ dày và độ bền vỏ trứng: Độ dày, độ bền hay độ chịu lực của vỏ trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với gia cầm, có ảnh hưởng tới kết quả ấp nở và bao gói vận chuyển, nó phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nhiệt độ chuồng nuôi, tuổi gà hay stress đều làm giảm độ dày và sức bền vỏ trứng

Hệ số di truyền độ dày vỏ trứng theo Nguyễn Văn Thiện, (1995)[29] là 0,3

Độ dày vỏ trứng có tương quan dương với độ bền và ảnh hưởng đến kết quả

ấp nở, thường trứng có vỏ quá dày hoặc quá mỏng đều cho tỷ lệ nở kém Vỏ trứng quá dày làm hạn chế sự bốc hơi nước của trứng, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở Nếu vỏ trứng quá mỏng làm quá trình bay hơi nước diễn ra nhanh, khối lượng trứng giảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, gia cầm con nở ra yếu và tỷ lệ chết cao, độ dày l

Trang 30

của vỏ trứng từ 0,26 - 0,34mm Ngoài ra, độ dày vỏ trứng còn chịu ảnh hưởng của môi trường như thức ăn, tuổi gà, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác

Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh: Khi đánh giá chất lượng trứng giống cũng như trứng thương phẩm người ta đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này, chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở cao

Chỉ số lòng đỏ: Chất lượng lòng đỏ được xác định bởi chỉ số lòng đỏ,

mà chỉ số này là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ với đường kính của nó Chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,4 - 0,42 Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt

Chỉ số lòng trắng là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó, chỉ số này lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng

Hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng h2

= 0,22 - 0,78, chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa đông cao hơn về mùa xuân và mùa hè, giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống gà kiêm dụng vào khoảng 0,08 Nguyễn Huy Đạt và cs, (1996)[5] cho biết, trứng gà Lương Phượng hoa có chỉ số lòng trắng và lòng đỏ ở 38 tuần tuổi, tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49

Đơn vị Haugh được Haugh (1930) xây dựng, sử dụng để đánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao của lòng trắng đặc Đơn

vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt, đơn vị Haugh chịu ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già, trứng có đơn vị Haugh càng thấp) bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước khi thay lông) và giống gia cầm Chất lượng trứng rất tốt có đơn vị Haugh 80 - 100, tốt 65 - 79, trung bình 55 - 64, xấu dưới 55

Trang 31

Nguyễn Huy Đạt và cs, (1996)[5] nghiên cứu trên gà nghiên cứu chất lượng trứng gà Mía lúc 38 tuần tuổi có chỉ số Haugh là 84,7 Lương Phượng hoa ở 38 tuần tuổi chỉ số Haugh đạt 94,4 và ở 60 tuần tuổi đạt 91,1

e Khả năng thụ tinh và ấp nở

Kết quả thụ tinh (tỷ lệ trứng có phôi ở gia cầm) là chỉ tiêu quan trọng

để đánh giá về khả năng sinh sản của con giống, phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, thời vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối… Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sự sống của gia cầm non Khả năng ấp nở phụ thuộc vào chất lượng trứng, tỷ lệ phôi, kỹ thuật ấp nở…

Nghiên cứu khả năng ấp nở của trứng gà, các tác giả cho thấy tỷ lệ trứng được thụ tinh, tỷ lệ nở gà loại I phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền

và môi trường Trong điều kiện phối giống tự nhiên đặc tính phối giống của

gà trống là rất quan trọng, các dòng gà có khối lượng cơ thể cao, sự giao phối và tỉ lệ thụ tinh kém hẳn so với dòng gà có khối lượng cơ thể thấp Sự khác nhau này là do tính năng đạp mái củ

Nếu khối lượng trứng nhỏ hơn 45g - 64g thì tỷ

lệ nở đạt đạt 87% Trứng nhỏ hơn 45g thì nở đạt được 80%, trứng to lớn hơn 60g thì nở được 71%

Các yếu tố di truyền gây chết và nửa gây chết có tầm quan trọng lớn, ảnh hưởng của chúng được biểu hiện là gà con không thể nở ra hoặc chết trong giai đoạn đầu của phôi Phần lớn các yếu tố gây chết di truyền dưới dạng các gen lặn nên rất khó loại bỏ trong quá trình chọn lọc cũng như tìm nguyên nhân gây chết trong công tác ấp trứng nhân tạo Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ nở như: Thời gian, chế độ bảo quản trứng, chế độ máy ấp, chế độ máy nở

Trang 32

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu gia cầm trên thế giới

Hiện nay, cả thế giới đang nuôi khoảng 4,93 tỷ con gà đẻ, năng suất trung bình là 300 trứng/năm Theo dự kiến của FAO, đến năm 2015, thế giới

sẽ sản xuất 72 triệu tấn trứng

Trong hơn bốn thập kỷ vừa qua, sản xuất trứng liên tục tăng lên ở Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, và Mê-hi-cô Hầu hết các nước đang phát triển cũng có sản lượng trứng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của sự tăng dân số Từ 1990 đến 2005, Trung Quốc chiếm 64% sự tăng trưởng sản lượng trứng của toàn thế giới

Sản lượng trứng ở Hoa Kỳ năm 2005 tăng 13% so với năm 1995 (trong khi ở Trung quốc là 34% cùng kỳ) Các nước Anh, Nhật Bản, Hung-ga-ri, và Đan Mạch, sản lượng trứng năm 2000 thấp hơn năm 1998 Từ năm

1961 - 2000, ở các nước công nghiệp phát triển tốc độ tăng trưởng khá thấp, chỉ đạt 1,6%; tăng từ 18 triệu đến 20 triệu tấn, do cung đã bão hòa và vượt quá nhu cầu trong nước

Năm 2005, Trung Quốc sản xuất gần 44% sản lượng trứng toàn cầu, đạt 28,7 triệu tấn, gấp năm lần nước đứng tiếp theo trong bảng phân loại, xu hướng này sẽ còn tiếp tục Dự đoán đến năm 2015, sản lượng trứng của nước này sẽ tăng lên 23% Năm 2000, các nước đang phát triển ở châu Á đã sản xuất gấp hai lần sản lượng trứng của tất cả các nước nông nghiệp phát triển

Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về khả năng sinh sản của các giống gà như sau:

Theo BrandSch and cs (1978)[45] thì hệ số tương quan giữa sản lượng trứng ba tháng đầu với sản lượng trứng cả năm là rất chặt chẽ từ (0,7 - 0,9), Levie and cs (1943)[55] cho rằng thời gian kéo dài đẻ trứng là yếu tố quyết định đến sản lượng trứng Tuy nhiên mốc xác định thời gian đẻ để tính sản lượng trứng hiện còn nhiều ý kiến và nó phụ thuộc vào nhiều nước khác nhau

Trang 33

Theo Barndsch and cs (1978)[45] thì sản lượng trứng được tính theo năm sinh hoặc 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên

Kaltlfen (1973)[53] khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến tỷ lệ ấp nở đã cho biết: Thời gian bảo quản quá dài làm giảm tỷ lệ ấp nở

Wagner (1980)[58] cho biết ảnh hưởng của một số gen gây chết đến tỷ lệ

ấp nở chủ yếu là các gen lặn, ảnh hưởng này càng rõ ràng hơn trong giao phối cận huyết Hệ số di truyền về tỷ lệ ấp nở nói chung là thấp đạt từ 0,16 đến 0,2

Sở dĩ trong thời gian qua, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà nói riêng đã đạt được tốc độ phát triển nhanh như vậy là nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chọn tạo giống, thức ăn, thú y và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Hiện nay có nhiều giống gà nổi tiếng của các hãng sản xuất lớn đã được nuôi phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như: Arbor Acres, Avian, Cobb, Hybro, Ross, ISA những giống gà chuyên thịt lông trắng mà bố mẹ có thể sản xuất 150 - 160 gà con/mái/năm Gà thịt thương phẩm 35 - 42 ngày tuổi

đã đạt khối lượng 2,0 - 2,3 kg, tiêu tốn thức ăn 1,7 - 1,9 kg thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng Những giống gà chuyên trứng vỏ trắng hoặc vỏ nâu với năng suất 310 - 340 quả trứng/mái/năm, tiêu tốn 2,0 - 2,2 kg thức ăn cho 1 kg trứng

1.2.2 Tình hình nghiên cứu gia cầm ở Việt Nam

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998)[8], ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam phát triển theo phương thức chăn thả tự nhiên Với các giống gà nội địa như: Gà Ri, gà Mía, gà Hồ… Chúng có đặc điểm chung là thịt thơm ngon, khả năng chống chịu tốt với khí hậu Việt Nam nhưng nhược điểm của chúng

là có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp khả năng sinh sản không cao

Những năm 1970 trở về trước, chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam chưa phát triển, phương thức chăn nuôi lạc hậu, phân tán, quảng canh, chủ yếu sử dụng các giống địa phương có năng suất thấp, khả năng thích nghi tốt, dễ nuôi

Trang 34

dưỡng, chăm sóc Từ năm 1974, được sự giúp đỡ của nước Cộng hoà Cu Ba Việt Nam nhập nội hai bộ giống gà thuần chủng: Giống gà chuyên trứng Leghorn với hai dòng X và Y; giống chuyên thịt Plymouth Rock với 3 dòng

799, 488, 433 Từ đây ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam mới chính thức được tổ chức thực hiện theo phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp

Trải qua hơn 30 năm phấn đấu và phát triển, qua 20 năm đổi mới đến nay ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên 3712,8 tỷ đồng năm 2002, năm 2006 đạt 9244,3 tỷ đồng và chiếm 19% trong chăn nuôi

Đạt được những kết quả trên, khoa học công nghệ đã có những đóng góp quan trọng như: Nghiên cứu, bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của các giống gà nội như giống gà Ri, gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía nghiên cứu thích nghi và đưa vào sản xuất các giống gà công nghiệp như: AA, Avian, Ross, ISA, Brownick, Goldline gà trứng thương phẩm 4 dòng cho năng suất 270 - 280 quả/mái/năm Đồng thời với việc nghiên cứu, đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp chuyên dụng, từ năm 1995 chúng ta đã tập trung nghiên cứu và phát triển các giống gà chăn thả năng suất chất lượng cao trên phạm

vi toàn quốc Các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, ISA, Sasso,

Ai Cập cho chất lượng thịt, trứng ngon tương đương gà địa phương nhưng

có năng suất thịt, trứng cao hơn 130 - 150%

Các giống gà nội của Việt Nam có nhiều giống, chúng có đặc điểm chung là chịu đựng tốt khí hậu địa phương, dễ nuôi dưỡng, chăm sóc và các sản phẩm thịt, trứng thơm ngon, có hương vị đặc trưng Nhưng nhược điểm là khả năng sinh sản kém, năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang và cs (1999)[42] cho biết khả năng sản xuất của gà Ri:

Trang 35

khối lượng lúc 18 tuần tuổi, gà trống đạt 1675g, gà mái đạt 1247g, sản lượng trứng 100 quả/mái/năm, ở gà Đông Tảo lúc 22 tuần tuổi gà trống nặng 2530g,

gà mái 1989g (Nguyễn Đăng Vang và cs , 1999)[41], sản lượng trứng gà Đông Tảo đạt 67,7 - 68,3 quả (Lê Viết Ly và cs, 2001)[20] Gà Mía có khối lượng cơ thể lúc 14 - 15 tuần tuổi, gà trống nặng 2175g, gà mái 1740g (Nguyễn Văn Thiện và cs ,1999)[30] Trong thời gian qua chúng ta đã nhập nội

và đưa vào sản xuất một số giống gà lông màu, gà công nghiệp hướng trứng và hướng thịt có năng suất và chất lượng cao, đã và đang được thị trường chấp nhận

Gà Đa Cựa có thể coi là giống gà nội của Việt Nam, mới được phát hiện vài năm trở lại đây nên những công trình nghiên cứu về giống gà này còn hạn hẹp Hiện nay Viện chăn nuôi quốc gia - Bộ môn Động vật quý hiếm cũng bắt đầu tìm hiểu về giống gà này và đưa về nghiên cứu

Công ty TNHH một thành viên Gà giống DABACO thuộc Tập đoàn DABACO Việt Nam đóng ở thành phố Bắc Ninh đã đi sâu vào nghiên cứu, chọn tạo và nhân nhanh được giống gà nhiều cựa, đã đưa ra thị trường giống

gà lai tạo nhiều cựa ra thị trường và đặt tên là gà Sơn Tinh, tuy nhiên giá thành còn khá cao

1.3 Vài nét về gà Đa Cựa

Gà Đa Cựa ở xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ thường được chăn thả tự nhiên, ăn ngô xay trong một, hai tháng đầu sau đó gà tự đi kiếm ăn, tận dụng thức ăn rơi vãi, không được ăn những thức ăn tổng hợp đủ thành phần dinh dưỡng, nên gà phát triển chậm và thời gian nuôi kéo dài Tuy nhiên do cách chăn thả riêng biệt, nên gà Đa Cựa ít bị bệnh dịch

Đặc điểm nổi bật của giống gà Đa Cựa ở xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ là ngay từ khi mới nở chân đã có nhiều ngón, ở nhiều nơi gà Đa Cựa còn được gọi là gà nhiều ngón Để phân biệt với gà nhiều ngón đã bị lai tạp ở các địa phương khác thì tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ gà được gọi là Đa Cựa, tên gọi mang tính chất tâm linh và để phân biệt với các giống gà khác

Trang 36

Điều khác biệt của cựa so với ngón là cựa không mọc ở đầu mút và ổ khớp có rãnh của xương bàn mà mọc ra ở phần thân xương bàn, tạo nên hình dạng đặc trưng của chân gà Đa Cựa, giống như từng chùm ngón chân mọc ra ở

vị trí cựa của các giống gà khác Nơi xuất phát của cựa tập trung khoảng ¼ dưới của xương bàn và cách các ngón 0,5 - 1,5cm Trung bình chân gà Đa Cựa thường có thêm 3 - 8 ngón, được phân bố ở hai bên chân, các ngón này mọc ra

ở phần thân xương bàn chân của gà Đa Cựa Gà có chín cựa thường là những con có lông màu đỏ - đen - tím sẫm Tỷ lệ gà trống có 9 ngón cao hơn gà mái, tính số ngón bằng cách cộng tổng số ngón thừa hai bên chân của gà Đa Cựa

Hình dáng giống gà Ri, gà lai Lương Phượng và gà lai Mía, không có màu sắc hình dáng đặc trưng cho giống Lông màu đỏ - đen; cũng có những con màu nâu - đen, màu trắng - đen thường ít có, màu hoa mơ pha với tím sẫm…

Thân hình mảnh dẻ, mang dáng dấp của gà rừng Mào gà đỏ rực, đuôi

gà vồng cong như một chiếc cầu vồng Chân gà óng vàng và to, có con màu xám đen như gà ác, chỉ khác biệt là mỗi bên chân có nhiều cựa

Chỉ vài năm trở lại đây, khi dịch cúm gia cầm bùng phát, một lượng tương đối lớn gà Đa Cựa bị giảm đáng kể, gà con sinh ra khó nuôi, gà Đa Cựa đến tuổi trưởng thành chỉ nhảy phối với gà Đa Cựa cùng loài Nhưng ngay sau đó, do hiểu được tính chất quý hiếm của giống gà này người dân địa phương đã gây dựng lại đàn gà Đa Cựa và thấy rằng nó cho giá trị kinh tế rất cao khi được người tiêu dùng biết đến

1.4 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Xuân Sơn

+ Vị trí địa lý

Xã Xuân Sơn là một xã miền núi thuộc phía bắc của huyện Tân Sơn Trung tâm xã nằm cách xa UBND huyện Tân Sơn khoảng 42 km

- Phía Bắc giáp huyện Phù Yên - Sơn La

- Phía Tây giáp huyện Đà Bắc - Hòa Bình

Trang 37

- Phía Nam giáp Kim Thượng - Tân Sơn - Phú Thọ

- Phía Đông giáp Xuân Đài - Tân Sơn - Phú Thọ

+ Khí hậu

Xã Xuân Sơn là vùng có thời tiết khí hậu khắc nghiệt, lốc xoáy, lũ ống,

lũ quét xảy ra bất thường vào mùa hè; rét đậm, rét hại xuất hiện với cường độ mạnh vào mùa đông nên gây rất nhiều thiệt hại và khó khăn cho sản xuất và đời sống

Lượng mưa: Mưa nhiều và nóng ẩm từ tháng 5 đến thàng 10, lượng mưa trung bình khoảng 1200mm/năm

Nhiệt độ: Trung bình khoảng 21,50C Mùa hè nhiệt độ từ 25-300C cao nhất là 340C Mùa đông nhiệt độ từ 10-150C thấp nhất trong mùa đông năm

2009 xuống tới 60C

Độ ẩm: Độ ẩm trung bình là 78%, mùa hè khoảng 81%, mùa đông khoảng 75%

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được tiến hành trên đàn gà Đa Cựa ở các lứa tuổi với số lượng:

+ Gà nuôi thịt: 55 con

+ Gà mái đẻ: 102 con

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại xã Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ

Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 7/2012 đến tháng 8/2013

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát về cơ cấu và sự phân bổ giống gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn - Tân Sơn - Phú Thọ

- Theo dõi một số chỉ tiêu về đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng

và sinh sản của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn - Tân Sơn - Phú Thọ

- Khảo sát một số chỉ tiêu về năng suất và chất lượng thịt của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn - Tân Sơn - Phú Thọ

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp theo dõi đặc điểm sinh học gà Đa Cựa

- Phỏng vấn trực tiếp các hộ chăn nuôi của xã Xuân Sơn - Tân Sơn - Phú Thọ Phương pháp điều tra cá thể vật nuôi theo bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước, việc ghi chép do nhiều người nhưng mô tả chỉ do một người quyết định

- Các mô tả trên sự quan sát trực tiếp đàn gà qua các thời điểm thí nghiệm và chụp ảnh

Trang 39

- Khai thác các nguồn thông tin cơ bản trên số liệu của phòng Nông nghiệp huyện Tân Sơn, niên giám thống kê của tỉnh Phú Thọ qua 3 năm 2011-2013

2.4.2 Phương pháp theo dõi sinh trưởng của gà Đa Cựa

Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi tại 2 nông hộ chăn nuôi gà với điều kiện chăn nuôi giống nhau, theo dõi 55 con gà Đa Cựa từ mới nở đến 28 tuần tuổi, hàng tuần cân gà vào ngày cuối cùng của tuần Cân được sử dụng

để xác định khối lượng gà là cân Nhơn Hòa (loại cân đồng hồ) sản xuất tại Việt Nam với các cỡ khác nhau Cân nhỏ giới hạn cân tối đa 0,5kg (độ chính xác là 0,1g) dùng cân gà từ lúc mới nở đến 3 tuần tuổi và cân lớn giới hạn cân tối đa là 5kg (độ chính xác từ ±2 đến ±5g) cân gà từ tuần tuổi thứ 4 trở đi

Gà được nuôi theo phương thức chăn thả tự nhiên có rào quây, được ăn khẩu phần tự do chia làm 2 giai đoạn Thức ăn được chế biến, phối trộn, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương sau đó đóng bao bảo quản cung cấp cho đàn gà thí nghiệm theo bảng:

Stt Thành phần dinh dƣỡng 0 - 3 tuần tuổi 4 - 28 tuần tuổi

1 Năng lượng ME (kcalo/kg TĂ) 2950 3050

Trang 40

2.4.3 Phương pháp phân tích thành phần hóa học, chất lượng thịt

Chất lượng thân thịt được đánh giá thông qua việc phân tích thành phần hóa học (thành phần dinh dưỡng) tại phòng thí nghiệm

Xác định thành phần hoá học của thịt đùi, thịt ngực tại phòng thí nghiệm của khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản trường đại học Nông nghiệp I theo các phương pháp sau:

+ VCK: Theo TCVN 4326 - 2001 (ISO 6496: 1999) [35]

+ Protein tổng số (%): Theo TCVN 4328: 2007 (ISO 6496: 2003) [36] + Lipit tổng số (%): Theo TCVN 4331 - 2001 (ISO 6492: 2002) [37] + Khoáng tổng số (%): Theo TCVN 4327: 2007 (ISO 5984: 2002) [38]

+ Độ pH:

Thông thường sau khi bị giết thịt, do quá trình chuyển hóa vật chất sau giết mổ xảy ra trong thịt, chủ yếu là phân hủy đường và các chất hữu cơ, đó là quá trình axit hóa làm cho pH của thịt bị giảm xuống pH giảm càng nhanh thì chứng tỏ quá trình axit hóa càng nhanh, thịt càng có chất lượng kém

+ Cách xác định pH cơ ngực:

Cắm trực tiếp đầu đo pH thịt Electrode (Mettler Toledo MP220 pH Meter ) vào cơ ngực trái để xác định pH vào thời điểm 15 phút (pH15) sau khi giết thịt và tại thời điểm 24 giờ (pH24) bảo quản trong nhiệt độ 2 - 40C ở cơ ngực phải Phần thân thịt bên phải được bảo đảm trong túi nhựa kín ở nhiệt độ

2 - 40C trong 24 giờ để xử dụng xác định màu sắc và giá trị pH24

Ngày đăng: 15/06/2014, 20:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân (1984), “Di Truyền giống động vật”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội trang 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di Truyền giống động vật”
Tác giả: Nguyễn Ân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1984
2. Đặng Vũ Bình (2002), “Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi”, giáo trình sau đại học, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
3. Nguyễn Thanh Bình (1998), "Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Ri nuôi tại Trung tâm giống gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi Quốc gia - Từ Liêm - Hà Nội”, Báo cáo khoa học năm 2002, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Ri nuôi tại Trung tâm giống gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi Quốc gia - Từ Liêm - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1998
4. Lê Công Cường (2007), “Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và gà Lương Phượng”, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và gà Lương Phượng”
Tác giả: Lê Công Cường
Năm: 2007
5. Nguyễn Huy Đạt, Trần Long, Vũ Đào, Nguyễn Thanh Sơn, Lưu Thị Xuân, Nguyễn Thành Đồng, Nguyễn Thị San (1996), “Nghiên cứu tính năng sản xuất của giống gà trứng Goldline-54”, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm 1986-1996, liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tính năng sản xuất của giống gà trứng Goldline-54”
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Trần Long, Vũ Đào, Nguyễn Thanh Sơn, Lưu Thị Xuân, Nguyễn Thành Đồng, Nguyễn Thị San
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
6. Phan Xuân Hảo (2009), “Xác định tỷ lệ ấp nở, sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của 2 tổ hợp lai giữa gà mái Lương Phượng với trống Hồ và Sasso”, Nông nghiệp & PTNT, số 5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ ấp nở, sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của 2 tổ hợp lai giữa gà mái Lương Phượng với trống Hồ và Sasso
Tác giả: Phan Xuân Hảo
Nhà XB: Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2009
7. Đào Lệ Hằng (2001), “Nghiên cứu tập tính và khả năng sản xuất của gà H’mong trong điều kiện nuôi nhốt”, Báo cáo khoa học năm 2003, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tập tính và khả năng sản xuất của gà H’mong trong điều kiện nuôi nhốt
Tác giả: Đào Lệ Hằng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
8. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1998), “Giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho cao học và nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi”, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho cao học và nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi”
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
9. Đỗ Ngọc Hòe (1995), “Một số chỉ tiêu vệ sinh ở các chuồng gà công nghiệp và nguồn nước cho chăn nuôi khu vực quanh Hà Nội”, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu vệ sinh ở các chuồng gà công nghiệp và nguồn nước cho chăn nuôi khu vực quanh Hà Nội
Tác giả: Đỗ Ngọc Hòe
Nhà XB: Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp
Năm: 1995
10. Lương Thị Hồng, Phạm Công Thiếu, Trần Quốc Hùng, Hoàng Văn Tiệu và Nguyễn Viết Thái (2007), “Nghiên cứu khả năng sản xuất thịt gà đenắ H’Mụng của cỏc tổ hợp lai giữa gà H’Mụng và gà Ai Cập”, Bỏo cỏo khoa học năm 2007, phần Công nghệ sinh học và các vấn đề kỹ thuật chăn nuôi, Hà Nội ngày 1-2/8/2007, trang 293-303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất thịt gà đenắ H’Mụng của cỏc tổ hợp lai giữa gà H’Mụng và gà Ai Cập
Tác giả: Lương Thị Hồng, Phạm Công Thiếu, Trần Quốc Hùng, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Viết Thái
Nhà XB: Bỏo cỏo khoa học năm 2007
Năm: 2007
11. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994), “Chăn nuôi gia cầm”, NXB Nông nghiệp- Hà Nội, trang 11-12, 15-17, 24-25, 104, 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp- Hà Nội
Năm: 1994
12. Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng Vang (1997), “Khả năng cho thịt của một số giống gà địa phương nuôi tại Thừa Thiên Huế”. Báo cáo chăn nuôi thú y, trang 177-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cho thịt của một số giống gà địa phương nuôi tại Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng Vang
Nhà XB: Báo cáo chăn nuôi thú y
Năm: 1997
13. Jonhanson I. (1972), “Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật”, Tập I, Phan Cự Nhân dịch, NXB KHKT Hà Nội, trang 35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật
Tác giả: Jonhanson I
Nhà XB: NXB KHKT Hà Nội
Năm: 1972
14. Đào Văn Khanh (2002), “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt gà của 3 giống gà lông màu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau ở Thái Nguyên”, Luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, trang 147-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt gà của 3 giống gà lông màu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau ở Thái Nguyên
Tác giả: Đào Văn Khanh
Nhà XB: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2002
15. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng (1999), “Cơ sở di truyền học giống động vật”, NXBGD, Hà Nội, 1999, trang 96-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Cơ sở di truyền học giống động vật”
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
16. Trần Long (1994), “Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương án chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro- HV85”, Luận án phó tiến sĩ, trang 90-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương án chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro- HV85”
Tác giả: Trần Long
Năm: 1994
17. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993), “Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao”
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
18. Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân (1994), “Cơ sở di truyền học”, NXB KHKT, Hà Nội, trang 280-296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền học
Tác giả: Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 1994
19. Lê Viết Ly (1995), “Sinh Lý động vật”, giáo trình cao học nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 246-283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh Lý động vật”
Tác giả: Lê Viết Ly
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
20. Lê Viết Ly, Bùi Quang Tiến, Hoàng Văn Tiệu, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thị Minh, Lê Thị Thuý (2001), “Chuyên khảo bảo tồn quỹ gen vật nuôi ở Việt Nam”, phần gia cầm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 9, 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo bảo tồn quỹ gen vật nuôi ở Việt Nam”
Tác giả: Lê Viết Ly, Bùi Quang Tiến, Hoàng Văn Tiệu, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thị Minh, Lê Thị Thuý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Gà Đa Cựa 1 ngày tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 3.1. Gà Đa Cựa 1 ngày tuổi (Trang 53)
Hình 3.2. Một số màu lông gà 20 tuần  3.2.1.2. Đặc điểm kiểu mào - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 3.2. Một số màu lông gà 20 tuần 3.2.1.2. Đặc điểm kiểu mào (Trang 54)
Bảng 3.6. Kiểu mào của gà Đa Cựa 28 tuần tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.6. Kiểu mào của gà Đa Cựa 28 tuần tuổi (Trang 55)
Hình 3.5. Gà 5 cựa 1 tuần tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 3.5. Gà 5 cựa 1 tuần tuổi (Trang 56)
Bảng 3.7. Số cựa hai bên chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.7. Số cựa hai bên chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi (Trang 57)
Hình 3.8. Đồ thị sinh trưởng từ sơ sinh đến 28 tuần tuổi của gà Đa Cựa - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 3.8. Đồ thị sinh trưởng từ sơ sinh đến 28 tuần tuổi của gà Đa Cựa (Trang 70)
Bảng 3.14: Khảo sát thành phần thân thịt   của giống gà Đa Cựa ở các độ tuổi khác nhau - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.14 Khảo sát thành phần thân thịt của giống gà Đa Cựa ở các độ tuổi khác nhau (Trang 71)
Hình 1. Đàn gà Đa Cựa 1 tuần tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 1. Đàn gà Đa Cựa 1 tuần tuổi (Trang 87)
Hình 3. Gà 2 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 3. Gà 2 tháng tuổi (Trang 88)
Hình 4. Gà 3 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 4. Gà 3 tháng tuổi (Trang 89)
Hình 5. Gà 4 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 5. Gà 4 tháng tuổi (Trang 89)
Hình 7. Gà Đa Cựa trưởng thành - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 7. Gà Đa Cựa trưởng thành (Trang 90)
Hình 10. Thịt đùi và thịt ngực gà Đa Cựa 5 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 10. Thịt đùi và thịt ngực gà Đa Cựa 5 tháng tuổi (Trang 92)
Hình 11. Thịt đùi và thịt ngực gà Đa Cựa 6 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 11. Thịt đùi và thịt ngực gà Đa Cựa 6 tháng tuổi (Trang 92)
Hình 12. Thịt đùi và thịt ngực gà Đa Cựa 7 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 12. Thịt đùi và thịt ngực gà Đa Cựa 7 tháng tuổi (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN