1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang

97 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 904,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu đàn dê theo tính biệt Cơ cấu đàn dê cái sinh sản theo tuổi Mầu sắc lông của dê huyện Vị Xuyên Một số chỉ tiêu sinh lý máu dê Tỷ lệ đực/cái của đàn dê Một số chỉ tiêu về khả năng s

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

_

PHAN ANH TÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI MỘT SỐ XÃ VÙNG CAO HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2006

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

_

PHAN ANH TÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI MỘT SỐ XÃ VÙNG CAO HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành : CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60 62 40

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN VĂN BÌNH

THÁI NGUYÊN - 2006

Trang 3

Lêi cam ®oan

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Trang 4

Ban Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Giám đốc Trung tâm Thông tin và Chuyển giao Công nghệ mới Hà Giang, UBND huyện

Vị Xuyên và UBND các xã đã tạo điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất để tôi thực hiện hoàn thành luận văn đúng kế hoạch

Đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Văn Bình đã đầu tư nhiều công sức và thời gian hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành Luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới toàn thể gia đình và bạn

bè gần xa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, sự giúp đỡ về mọi mặt, động viên tôi hoàn thành Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp này

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2006

Tác giả

Phan Anh T ân

Trang 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Nguồn gốc và vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật

1.1.1.1 Nguồn gốc của dê

1.1.1.2 Vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật

1.1.1.3 Đặc điểm sinh vật học của dê

1.1.2 Cơ sở khoa học việc nghiên cứu các tính trạng về năng suất

1.1.2.1 Khả năng sinh sản

1.1.2.2 Khả năng sinh trưởng

1.1.2.3 Khả năng cho thịt

1.1.3 Bản chất di truyền của các tính trạng năng suất ở động vật

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới

1.2.2 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình chung

1.2.2.2 Một số đặc điểm của dê nội

1.2.3 Một số nghiên cứu về sức sản xuất của dê

1.2.3.1 Khả năng sinh sản của dê cái

1.2.3.2 Khả năng sinh sản của dê đực

1.2.3.3 Khả năng sinh trưởng

1.2.3.4 Khả năng sản xuất thịt

1.2.3.5 Khả năng cho sữa

1.2.3.6 Khả năng cho da, lông

1.2.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu dê

Trang 6

Chương II : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

2.4 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu

2.4.1 Tỷ lệ nuôi sống

2.4.2 Sinh trưởng tuyệt đối

2.4.3 Sinh trưởng tương đối

2.4.4 Một số chỉ tiêu khảo sát sức sản xuất thịt

3.1 Kết quả điều tra về tình hình phát triển đàn dê

3.1.1 Biến động về số lượng đàn dê qua 5 năm (2001-2005)

3.1.2 Tình hình chăn nuôi dê và quy mô đàn dê

3.1.3 Cơ cấu đàn dê tại huyện Vị Xuyên

3.1.3.1 Cơ cấu đàn dê theo tính biệt

3.1.3.2 Cơ cấu đàn dê cái sinh sản theo tuổi

3.2 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của dê

3.2.1 Đặc điểm ngoại hình và tập tính sinh hoạt của dê

3.2.1.1 Đặc điểm ngoại hình của dê

3.2.1.2 Mầu sắc lông

3.2.1.3 Tập tính sinh hoạt

3.2.2 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của dê

3.3 Khả năng sinh sản của dê

3.3.1 Tỷ lệ đực/cái và nguồn gốc đực giống

Trang 7

3.3.1.1 Tỷ lệ đực/cái

3.3.1.2 Nguồn gốc đực giống

3.3.2 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của dê

3.4 Khả năng sinh trưởng của dê

3.4.1 Tỷ lệ nuôi sống và các yếu tố ảnh hưởng

3.4.2 Khả năng sinh trưởng của dê

3.4.2.1 Sinh trưởng tích lũy

3.4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối

3.4.2.3 Sinh trưởng tương đối

3.4.3 Kích thước một số chiều đo và chỉ số cấu tạo thể hình dê

3.4.3.1 Kích thước một số chiều đo

3.4.3.2 Chỉ số cấu tạo thể hình

3.4.4 Khả năng cho thịt của dê

3.4.4.1 Năng suất thịt dê

3.4.4.2 Thành phần hóa học của thịt dê

Trang 8

Cơ cấu đàn dê theo tính biệt

Cơ cấu đàn dê cái sinh sản theo tuổi Mầu sắc lông của dê huyện Vị Xuyên Một số chỉ tiêu sinh lý máu dê

Tỷ lệ đực/cái của đàn dê Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn dê

Tỷ lệ nuôi sống của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi Khối lượng cơ thể dê ở các độ tuổi

Sinh trưởng tuyệt đối của dê qua các giai đoạn Sinh trưởng tương đối của dê qua các tháng tuổi (%) Kích thước một số chiều đo chính của dê

Chỉ số cấu tạo thể hình của dê (%) Kết quả mổ khảo sát dê địa phương ở Vị Xuyên Thành phần hóa học của thịt dê ở 2 giai đoạn giết mổ

Trang 9

Sinh tr−ëng tÝch luü cña dª qua c¸c th¸ng tuæi

Sinh trưởng tương đối của dê qua các giai đoạn

56

67

65

69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu giống vật nuôi có nghĩa là xem quá trình hình thành của giống

ấy, xem xét sự sinh trưởng và phát triển của giống trong những điều kiện địa lý, kinh tế nhất định Để thực hiện tốt công tác giống, trước tiên phải chú ý công tác nghiên cứu cơ bản, lấy đó làm công việc trọng tâm và công việc này được coi là giai đoạn mở đầu của công tác giống trong một khu vực, một địa phương nào đó

Vì vậy phải nghiên cứu kỹ về các ưu điểm, nhược điểm về ngoại hình thể chất, sinh trưởng phát dục, sức sản xuất, khả năng sinh sản, sinh trưởng (cho thịt, sữa, lông, da ) của giống để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng vốn có của giống đó

Dê là một loại vật nuôi truyền thống ở nước ta và được phân bố khá rộng rãi, đặc biệt ở các vùng trung du và miền núi phía Bắc đàn dê chiếm một tỷ lệ khá lớn

và được chăn nuôi theo phương thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn thiên nhiên là chủ yếu Con dê đã tự khẳng định được những ưu thế của nó và được thể hiện qua các mặt sau :

- Tính thích nghi cao với các điều kiện tự nhiên và phù hợp với phương thức chăn thả quảng canh

- Có tính bầy đàn cao và có khả năng tự tìm kiếm thức ăn trên những địa hình núi đá hiểm trở nên ít tốn công chăn dắt và có khả năng sử dụng được nhiều loại lá cây làm thức ăn, không cạnh tranh lương thực với con người

- Dê thành thục sớm, mắn đẻ nên tốc độ tăng đàn nhanh, đầu tư ít vốn, chuồng trại đơn giản làm bằng vật liệu tại chỗ, dễ tìm kiếm

- Cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị cho đời sống con người

Vị Xuyên là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Hà Giang, đa số các xã của huyện này nằm trên vùng núi cao, địa bàn đất đai rộng, mật độ dân cư thấp, nhân dân có truyền thống chăn nuôi dê lâu đời Số lượng dê được nuôi tương đối lớn và

Trang 11

là nguồn cung cấp thịt dê cho nhu cầu của huyện, tỉnh lỵ và một số tỉnh lân cận như : Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội Đặc biệt là ở những vùng núi cao là nơi sinh sống của cộng đồng các dân tộc Mông, Dao, Nùng, Giấy dê được nuôi nhiều và chiếm một số lượng khá lớn Trong những năm qua, dê nuôi ở những vùng núi cao này được người tiêu dùng ưa thích vì chúng cho nhiều thịt và đặc biệt là chất lượng thịt rất thơm ngon Những kết quả điều tra, đánh giá ban đầu cũng cho thấy dê ở vùng này có tầm vóc khối lượng lớn hơn dê cỏ nuôi ở những vùng khác Để có thêm những cơ sở khoa học đánh giá về giống dê này, xem xét chúng có được xếp vào nhóm dê núi hay không, chúng tôi đã tiến hành đề tài:

"Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê địa phương tại một số xã vùng cao huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang"

- Đánh giá, so sánh với kết quả nghiên cứu về dê cỏ nuôi ở những vùng khác

để rút ra những kết luận ban đầu về dê địa phương nuôi ở vùng này

- Các kết quả thu được sẽ là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất các chính sách, các giải pháp hữu hiệu nhằm góp phần thúc đẩy nghề chăn nuôi dê địa phương thuộc khu vực miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng

Trang 12

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Nguồn gốc và vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật

1.1.1.1 Nguồn gốc của dê

Dê là một trong những loài động vật được thuần hoá từ lâu đời và được con người nuôi cách đây hơn hai vạn năm, trong đó các nước Trung Đông, Ấn Độ nuôi

từ rất sớm Các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Chí Trung, 1995 [14] cho rằng dê được thuần hoá từ 3 trung tâm :

- Trung tâm cổ nhất là trung tâm Cận Á - Ấn Độ, giống dê ở đây giống với

dê sừng xoắn (Capra Falconeri) hiện còn sống ở miền tây Hymalaya, Kasơmia, Afganistan, loài dê này có sừng xoắn hướng lên trên

- Trung tâm Cận Á có giống dê với nguồn gốc từ loài dê rừng (Capra aegagrus), hiện còn sống ở miền Tây Ấn Độ, Cáp Ca, Tiểu Á và quần đảo Hy Lạp Loài này có sừng dẹp xuôi xuống 2 bên vai và cong về phía sau

- Trung tâm Đông Nam Á là trung tâm mới nhất, ở đây việc nuôi dê bắt đầu

từ thời kỳ đồ đồng Nơi đây là nguồn gốc các loài dê núi (Capra Prisca) Sừng của loài dê này cong về phía sau, đi sang hai bên và hơi soắn một chút Giống dê này sau khi được thuần hoá thì được nuôi phổ biến ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi Theo một số tài liệu khác, dê nhà đã xuất hiện khoảng 6 - 7 nghìn năm trước Công nguyên Khó xác định chính xác thời điểm mà con người thuần dưỡng loài

dê và chỉ có thể cho rằng sự thuần dưỡng dê đã xảy ra ở vùng Tây Á hoặc quanh vùng này Phần lớn những dê rừng này có bộ lông đen, có lông dài ở khuỷu chân,

từ đây dê được phổ biến sang các vùng khác từ thời xa xưa Việc nghiên cứu nguồn gốc của dê, ngoài ý nghĩa về lý luận còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Bởi vì

sự hiểu biết những biến đổi lịch sử của động vật sẽ giúp cho việc sử dụng các cá thể hoang dã đã thuần hóa để lai khác loài và tạo ra những giống mới phù hợp với yêu cầu của thực tế sản xuất hơn

Trang 13

1.1.1.2 Vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dê nhà có tên khoa học là: Caprahircus, thuộc loài dê (Capra), họ phụ dê cừu (Caprarovance) với 2 chi Caprinae và Hemirragus thuộc họ sừng rỗng (Bovidae) bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactila), lớp có vú (Mammalia) Theo Nguyễn Đình Rao và cộng sự, 1979[24], Nguyễn Văn Thiện, 1996[30] cho biết vị trí của dê nhà trong hệ thống phân loại động vật như sau :

- Giới (Kingdom) : Animal

Việc chọn lọc định hướng về giống, năng suất sản phẩm đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong những thế kỷ qua và đã tạo ra nhiều giống dê, có năng suất và chất lượng cao như các giống dê chuyên dụng sản xuất sữa, kiêm dụng sữa-thịt đã phục vụ được phần nào nhu cầu đời sống của con người

1.1.1.3 Đặc điểm sinh vật học của dê

Đặc điểm ngoại hình: dê là loài động vật được thuần hoá rất lâu đời, nhìn bên ngoài dê có râu ở cả con đực và con cái, có sừng, hai sừng gần sát nhau, trên

cổ có các túm lông Trán dê lồi, xương mũi thẳng, mõm dê mỏng, môi hoạt động, răng cửa sắc nhờ đó dê có thể gặm được cỏ mọc thấp và chọn lấy những lá, thân

Trang 14

cây mềm mại Dê thích leo trèo ở những vùng núi đá cao, khô ráo, ưa các loại thức

ăn trên cành, lá Lông dê sạch, da có ít tuyến mồ hôi, tuyến mỡ nhờ đó mà các cơ quan hô hấp tham gia tích cực hơn vào quá trình điều tiết thân nhiệt Lông tơ của

dê có cấu tạo mô học như lông cừu Merinos, lông tơ bắt mầu thuốc nhuộm tốt, sợi lông tơ càng kéo dài thì độ thô của nó cũng ít

Đặc điểm sinh lý: thân nhiệt của dê từ 38 - 40P

0

C, nhịp đập tim 70 - 80 lần/phút, nhịp thở 12 - 15 lần/phút Ở dê cỏ số lượng hồng cầu là 13 - 14 triệu/mmP

Tập tính của dê : dê có nhiều tập tính tốt, rất phàm ăn, luôn tìm những thức

ăn mới, chúng nếm mỗi thứ một chút Dê hoạt động nhanh nhẹn, sống thoải mái và

tự do ở vùng đồi núi, thích nghi với nhiều loại địa hình, khí hậu, thức ăn và cách nuôi dưỡng

Tập tính sinh dục : dê đực hoạt động sinh dục quanh năm, có khả năng phối giống rất mạnh Dê có tính hay ghen, nếu trong đàn có nhiều dê đực chúng thường húc nhau và tách đàn, mỗi con đực dẫn một đàn có khoảng từ 5 - 7 cái Ở dê đực mỗi lần giao phối, lượng tinh xuất ra khoảng 0,6 - 0,8 cmP

3

(Trần Kiên và cộng sự, 1995) [14] Ở dê cái khi động dục cũng biểu hiện rất mãnh liệt, nhiều khi dê cái tìm đến dê đực để giao phối Trong đàn thường có dê đầu đàn dẫn đầu trên bãi chăn, ở trong đàn dê rất yên tâm, khi bị tách khỏi đàn dê tỏ ra sợ hãi Dê thích nghỉ, ngủ ở những nơi cao ráo, trên những mô đất hoặc trên những tảng đá, khi nằm dê vẫn thường nhai lại Dê có khứu giác và thính giác rất phát triển, ban đêm nếu có tiếng động nhỏ hoặc con người đi gần chuồng chúng phát hiện được ngay

và lao xao kêu khe khẽ như thông báo cho nhau biết

Dê là những con vật hiếu động, dễ dàng di chuyển và có thể sử dụng những diện tích đồng cỏ rộng, bởi vậy nhiều nước nuôi dê chủ yếu theo phương pháp chăn thả trên đồng cỏ

Trang 15

tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra một thế hệ mới

Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều khiển và chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng ) Trong chăn nuôi người ta đánh giá khả năng sinh sản của chúng thông qua các chỉ tiêu sau:

- Ở con đực : tuổi thành thục sinh dục, tuổi phối giống lần đầu, khả năng sản

xuất, chất lượng tinh dịch và khả năng phối giống

- Ở con cái : tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu,

chu kỳ động dục, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (số lần đẻ/năm), số con đẻ ra/lứa, khối lượng dê con đẻ ra, tỷ lệ nuôi sống của dê con sau 1, 3, 6 và 12 tháng tuổi

Hoạt động sinh dục của dê cái theo chu kỳ, chu kỳ đó được gọi là chu kỳ động dục Chu kỳ động dục của dê cái xuất hiện đều đặn (trừ trường hợp con vật mang thai) Thời gian của chu kỳ động dục được tính từ ngày đầu của chu kỳ động dục này tới ngày đầu của chu kỳ động dục sau, một chu kỳ động dục ở dê dài từ 17 - 19 ngày Mỗi chu kỳ động dục bao gồm 4 giai đoạn:

Š Giai đoạn trước động dục: bao noãn chín, màng tử cung dày lên sung huyết chuẩn bị đón trứng

Š Giai đoạn động dục: bao noãn vỡ ra, trứng rụng, màng tử cung sung huyết,

dê cái động hớn, chịu đực Giai đoạn động hớn ở dê kéo dài từ 1 - 3 ngày (ở dê Bách Thảo kéo dài từ 18 - 43 giờ)

Š Giai đoạn sau động dục: thể vàng phát triển sau khi bao noãn được giải phóng, màng nhày của tử cung dày lên để chuẩn bị đón trứng thụ tinh (hợp tử)

Trang 16

Š Giai đoạn yên tĩnh: ở buồng trứng thể vàng tiêu biến, niêm mạc tử cung lại trở về trạng thái bình thường (nếu trứng không được thụ tinh) giai đoạn này thường kéo dài nhất trong các giai đoạn của chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục của gia súc có sự khác nhau ngay ở cá thể trong cùng một giống, nó biến đổi tùy thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng và nguồn thức ăn Đây là một sự thích ứng sinh học để đảm bảo cho con non ra đời trong những điều kiện thuận lợi nhất

Dựa vào bản chất sinh học của sự sinh sản, người ta có thể nâng cao khả năng sinh sản bằng cách ghép đôi giao phối hoặc thụ tinh nhân tạo Một số nước trên thế giới đã ứng dụng công nghệ cấy truyền phôi bằng cách gây siêu bài noãn

để thu hoạch được nhiều phôi, nhằm nâng cao khả năng sinh sản ở dê, phát huy tối

đa khả năng sinh sản của những con giống quý Hiện nay kỹ thuật này đang được

áp dụng ở các nước như : Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaixia, Thái Lan, Philippin

và Việt Nam (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi, số 3/1998) [34]

Có thể nói mọi hoạt động sống của một cá thể động vật được biểu hiện bằng các mặt sinh trưởng và phát dục của cơ thể Tuy nhiên những điều đó chỉ có thể có được khi có hoạt động sinh sản làm tiền đề

1.1.2.2 Khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá,

là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng, các cơ quan bộ phận

và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở các đặc tính di truyền từ đời trước truyền lại cho đời sau (Trần Đình Miên và cộng sự, 1994) [18]

Bản chất về sự tăng khối lượng, thể tích tế bào cũng như toàn bộ cơ thể là do

sự tích lũy các chất dinh dưỡng thông qua thức ăn, trao đổi chất với ngoại cảnh làm cho cơ thể đạt tới khối lượng nhất định nào đó (tất nhiên khả năng đó còn được quy định bởi gen di truyền mà đời trước để lại) Tế bào phân chia mạnh ở giai đoạn phát triển của phôi thai, tăng thể tích và các chất chứa trong tế bào và đó là cả quá trình từ khi hình thành phôi thai tới khi cơ thể đạt tới sự ổn định về thể vóc Tác

Trang 17

giả Trần Đình Miên và cộng sự, 1994 [18] cho biết trong quá trình sinh trưởng, sự tăng số lượng tế bào và thể tích tế bào do kết quả của quá trình đồng hóa là quan trọng nhất

Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng Các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể để phát triển tế bào, vừa là cơ sở để hình thành các chất trong tế bào và giữa các tế bào đó là protein, lipit, gluxit và các chất khoáng

Đàm Văn Tiện, Lê Văn Thọ, 1992 [33] cho rằng quá trình sinh trưởng là sự tổng hợp, sinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem là sự tăng cường tổng hợp protein trong các mô bào Vì thế việc tăng khối lượng, thể tích và kích thước các chiều đo

là chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Quá trình này thể hiện ở ba mặt :

- Phân chia làm tăng số lượng tế bào

- Tăng thể tích của mỗi tế bào

- Tăng thể tích giữa các tế bào

Đồng thời sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang 3 đặc tính : tốc độ, thời gian và tính chất diễn tiến Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự tăng khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân đo và tính tốc độ sinh trưởng nói trên (Trần Đình Miên và cộng sự, 1994) [18]

Sinh trưởng của gia súc tuân theo những quy luật nhất định, đó là quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều

và quy luật sinh trưởng phát dục theo chu kỳ

Theo quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn thì quá trình sinh trưởng của gia súc được chia làm 2 thời kỳ, đó là thời kỳ trong bào thai và thời kỳ ngoài bào thai Ở thời kỳ bào thai các đặc tính của phẩm giống được hình thành rất sớm,

do đó giai đoạn này cơ thể mẹ cần được tăng cường về các chất dinh dưỡng như nhu cầu protein và vitamin

Trang 18

Thời kỳ ngoài bào thai kể từ lúc gia súc được sinh ra đến khi gia súc chết Gia súc sinh trưởng và phát triển mạnh ở giai đoạn bú sữa cho tới khi thành thục về tính dục Ở giai đoạn này, cơ thể phát triển mạnh về hệ cơ, xương, cơ quan tiêu hoá, sinh dục và hệ thống thần kinh Do vậy, con người cần phải tác động những biện pháp kỹ thuật hợp lý để con vật sinh trưởng phát triển mạnh, phát huy tối đa năng lực của phẩm giống

Tính quy luật không đồng đều trong sinh trưởng thể hiện sự không đồng đều

về tăng khối lượng cơ thể qua các giai đoạn tháng tuổi, sự không đồng đều về phát triển bộ xương, các cơ quan bộ phận nhưng lại tạo nên sự phát triển cân đối của toàn bộ cơ thể con vật

Quy luật có tính chu kỳ trong sinh trưởng của gia súc được thể hiện ở một số mặt như: tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý sinh sản, tính chu kỳ trong sự phát triển thể hiện qua sự tăng trọng lượng và trao đổi chất thông qua quá trình đồng hoá và dị hoá (Trần Đình Miên và cộng sự, 1994) [18]

Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc chịu sự điều khiển của hệ thống thần kinh thể dịch và phụ thuộc vào yếu tố di truyền, ngoại cảnh Sự sinh trưởng của gia súc còn phụ thuộc vào từng giai đoạn tuổi và ở mỗi giai đoạn tuổi Sự phát triển của từng cơ quan bộ phận trong cơ thể cũng có sự thay đổi khác nhau về cường độ, tốc độ tăng trưởng Trong nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng người ta thường dùng các chỉ tiêu:

- Sinh trưởng tích luỹ

- Sinh trưởng tuyệt đối

- Sinh trưởng tương đối

- Kích thước cơ thể và các chỉ số cấu tạo thể hình

Tính quy luật trong sự sinh trưởng phát triển của cơ thể động vật có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giống Qua đó giúp chúng ta xây dựng và đề ra những giải pháp kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con vật phát triển tốt ngày từ

Trang 19

và các sản phẩm phụ không đồng đều nhau Mỗi loại gia súc, gia cầm khác nhau đều cho sản phẩm thịt khác nhau, khả năng cho thịt của gia súc chính là mức độ tích tụ các vật chất dinh dưỡng cho tế bào cơ, hệ thống cơ này khi gia súc còn sống

nó thực hiện hàng loạt các chức năng sinh lý như vận động, tuần hoàn, tiêu hoá, hấp thu

Thành phần lý học, hoá học, đặc điểm cấu tạo của cơ phụ thuộc vào đặc điểm di truyền, trao đổi chất và khả năng vận động cùng với những tác động khác của điều kiện ngoại cảnh Con người đã dùng các biện pháp kỹ thuật, kết hợp với những khả năng sẵn có của gia súc để nâng cao khả năng cho thịt, đáp ứng nhu cầu của con người Trong chăn nuôi gia súc người ta đánh giá khả năng cho thịt theo các chỉ tiêu sau:

- Khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ

- Khối lượng và tỷ lệ thịt tinh

- Khối lượng và tỷ lệ xương, da

1.1.3 Bản chất di truyền của các tính trạng năng suất ở động vật

Các tính trạng về năng suất ở động vật như khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, khả năng cho sữa, khả năng cày kéo, khả năng sinh trưởng đều là các tính trạng số lượng Các tính trạng này đều do kiểu gen quy định, đồng thời chịu sự tác động lớn của điều kiện môi trường

Trang 20

Quan hệ này được biểu thị bằng công thức :

P = G + E

Giá trị kiểu gen (G) của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (polygen) Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen, vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:

G = A + D + I

Trong đó : G : Giá trị kiểu gen

A : Giá trị cộng gộp

D : Là giá trị sai lệch trội

I : Là giá trị sai lệch tương tác

A Là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì

đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm

Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E), bao gồm 2 thành phần là Eg và Es, do đó E được biểu diễn qua công thức:

E = Eg + Es

- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental Deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một cách lâu dài Đó là các yếu tố thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tác động lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29]

Trang 21

- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental Deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt trong nhóm vật nuôi hoặc một vài bộ phận riêng của một cá thể nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn và không thường xuyên (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [29]) Như vậy, giá trị kiểu hình có một tính trạng nào đó chi phối bởi từ 2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau:

P = G + E = A + D + I + Eg + Es

Từ những phân tích trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở dê cũng như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống, đặc biệt là các yếu tố khí hậu, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản

lý Vì thế trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con vật

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới

Chăn nuôi dê là một nghề đã được hình thành từ lâu đời Đến nay đã hình thành các hình thức chăn nuôi dê chuyên dụng sữa, thịt, lông hoặc nuôi kiêm dụng: thịt - sữa, lông - thịt, sữa - lông tuỳ theo điều kiện kinh tế, kỹ thuật, điều kiện địa lý và tập quán mỗi vùng, mỗi nước Nuôi dê chuyên dụng được phát triển nhiều ở nhiều nước Châu Âu, Australia tại đó nuôi các giống dê chuyên dụng năng suất cao đã được tiến hành đồng thời với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật đồng bộ như: chọn giống, xây dựng tiêu chuẩn khẩu phần ăn, nuôi dưỡng riêng từng cá thể hoặc theo nhóm có cùng năng suất, áp dụng rộng rãi thụ tinh nhân tạo, vắt sữa bằng máy do đó đã khai thác tối đa hiệu quả kinh tế và năng suất của phẩm giống

Trang 22

Ở Nam Phi và các nước Trung Đông người ta thường áp dụng chăn nuôi dê

theo các phương thức bán thâm canh đối với các giống dê chuyên dụng cũng như

kiêm dụng Ở đây bằng phương pháp lai tạo giữa dê địa phương và dê cao sản nhập

nội người ta đã tạo ra các giống dê thích hợp với khí hậu và điều kiện chăm sóc,

quản lý của vùng Riêng phương thức chăn nuôi dê chăn thả quảng canh mà bãi

chăn thả thường là rừng, đồi, bãi còn rất phổ biến ở các nước Châu Á và các nước

chậm phát triển Việc nuôi dê lấy thịt, da chủ yếu là tận dụng khả năng cho thịt của

giống dê địa phương kiêm dụng và lai tạo giữa chúng với nhau, phát triển dựa trên

cơ sở thức ăn tự nhiên là chính, vì vậy năng suất đạt thấp Số lượng dê trong một

số năm gần đây như sau:

Số lượng dê trên thế giới và các khu vực từ năm 2001 – 2003 (con)

- Các nước đang phát triển 706.177.234 718.849.562 732.860.875

3 Phân bổ theo Châu lục

- Châu Phi 217.614.386 219.399.142 219.736.486

- Châu Mỹ La Tinh và Caribe 34.804.839 36.496.508 36.713.150

Nguồn : Trần Trang Nhung và cộng sự, 2005 [22]

Qua đó cho thấy, số lượng dê của thế giới tăng dần qua các năm và đến năm

2003 đạt 764.510.558 con Trong đó đàn dê tập trung chủ yếu ở các nước đang

phát triển với số lượng 732.860.875 con (chiếm 95,86% so với các nước phát triển)

và Châu Á có nhiều dê nhất với số lượng 478.588.456 con dê (chiếm 63,78 % tổng

Trang 23

đàn dê trên toàn thế giới) Tiếp theo là Châu Phi có 219.736.486 con (chiếm 28,74% tổng đàn) Châu Mỹ và Caribe có số lượng dê đứng thứ 3 với 36.713.150 con (chiếm 4,8 % tổng đàn) Ở các nước phát triển, mặc dù số lượng dê ít hơn nhưng chăn nuôi với quy mô đàn lớn hơn, sử dụng các phương thức chăn nuôi tiên tiến với mục đích lấy sữa và pho mát, do đó có hiệu quả kinh tế cao

Ở Châu Á, nước nuôi nhiều dê nhất là Trung Quốc (172.957.208 con), sau

đó là Ấn Độ (124.500.000 con); Pakistan (52.800.000 con); Việt Nam có 780.331 con

Theo Trần Trang Nhung và cộng sự, 2005 [22] cho biết: trong năm 2003, sản lượng thịt các loại của toàn thế giới đạt 249.851.017 tấn Trong đó, sản lượng thịt dê đạt 4.091.190 tấn (chiếm 1,64% tổng sản lượng) Khu vực các nước đang phát triển là nơi sản xuất nhiều thịt dê nhất với số lượng 3.903.357 tấn (chiếm 73,42% tổng sản lượng), trong đó tập trung ở các nước Châu Á (3.003.742 tấn), nước sản xuất nhiều thịt dê nhất là Trung Quốc (1.518.081 tấn), sau đó là Ấn Độ (473.000 tấn), Pakistan (373.000 tấn) Sản lượng sữa các loại trên toàn thế giới đạt 600.978.420 tấn, trong đó sữa dê là 11.816.315 tấn (chiếm 1,97%) Cũng như thịt

dê, sữa dê chủ yếu do các nước đang phát triển sản xuất (9.277.942 tấn - chiếm 78,52% tổng sản lượng) Các nước Châu Á cung cấp phần lớn lượng sữa này (6.291.364 tấn - chiếm 53,24% tổng sản lượng), trong đó đứng đầu là Ấn Độ (2.610.000 tấn), sau đó là Bangladesh (1.312.000 tấn) đến Pakistan (640.000 tấn)

và Trung Quốc (242.000 tấn)

Ngoài ra, chăn nuôi dê cũng đã cung cấp một khối lượng khá lớn sản phẩm

về lông da, sản lượng trong các năm 2001, 2002, 2003 tương ứng là 864.055 tấn, 894.934 tấn và 898.960 tấn

Về số lượng các giống dê thế giới có 150 giống dê đã được biết đến và được miêu tả cụ thể, trong số các giống dê trên có 63% là giống dê hướng sữa, 27% là giống dê hướng thịt và 10% là giống dê kiêm dụng Trong các giống dê trên có 42% là dê Châu Á, các nước có nhiều giống nhất là: Pakistan 25 giống, Trung Quốc 25 giống, Ấn Độ 20 giống

Trang 24

Ấn Độ là nước có ngành chăn nuôi dê rất phát triển Công tác nghiên cứu về chăn nuôi dê được Chính phủ đặc biệt quan tâm chú ý Nước này đã thành lập Viện nghiên cứu chăn nuôi dê, Viện sữa quốc gia, một số trường đại học và trung tâm nghiên cứu về dê

Ở Philippine với tổng số dê hiện nay là 6,25 triệu con, tốc độ tăng đàn trong 10 năm qua là 1,2%/năm Việc nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê đã được Chính phủ rất quan tâm chú ý, nhiều chương trình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê quốc gia đã được xây dựng Hiện họ đã và đang tiến hành một chương trình nghiên cứu toàn diện về con dê nhằm thúc đẩy mạnh ngành chăn nuôi dê trong những năm tới

Ở Trung Quốc, từ năm 1978 Chính phủ đã bắt đầu quan tâm đến chăn nuôi

dê, do đó tốc độ phát triển đàn dê khá nhanh Hiện tại Trung Quốc có 12 trại dê giống sữa, giống Ximong – Saanen là giống dê phổ biến ở đây Trung Quốc đã sử dụng giống dê này lai với dê địa phương, con lai cho năng suất sữa tăng lên từ 80 – 100% ở thế hệ thứ nhất, 200% ở thế hệ thứ hai Hiện nay có tới 95% dê sữa Trung Quốc là giống Ximong – Saanen và các thế hệ con lai của chúng Trung Quốc là nước đã sử dụng kỹ thuật cấy truyền hợp tử trên dê

Để hội tụ các nhà khoa học cùng tham gia nghiên cứu và tổ chức trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê trên toàn thế giới, Hội chăn nuôi dê thế giới đã được thành lập từ năm 1976 (International Goat Association) và 4 năm họp một lần

Khu vực châu Á cũng thành lập tổ chức chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ (Small Ruminant Production System Network for Asia) có trụ sở tại Indonexia với mục đích góp phần đẩy mạnh trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển chăn nuôi

dê cừu trong khu vực

Trang 25

Một số giống dê cao sản trên thế giới

Khối lượng trưởng thành (kg)

TT Giống dê Vùng nuôi chủ yếu

Con đực Con cái

Năng suất sữa bình quân/ngày (kg)

1 Saanen

Pháp, Bỉ, Thụy

Sỹ, Úc, Bắc Phi, Châu Mỹ

Trang 26

Khi nghiên cứu về chất lượng thịt xẻ, các nhà khoa học nước ngoài đã kết luận: thịt dê có thành phần hóa học không khác lắm so với thịt các loại gia súc nhai lại, thịt dê ít bị nhiễm ký sinh trùng, có mùi vị đặc trưng, thơm ngon, hấp dẫn và ít dai hơn thịt khác Ngoài ra người ta cũng đã xác định được khối lượng giết mổ thích hợp ở một số giống dê trên thế giới

Các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của dê đã xác định được nhu cầu năng lượng, protein tiêu hóa cho duy trì, phát triển và tiết sữa Theo M.Bazan và cộng sự,

1993 [50] nhu cầu dinh dưỡng của dê mẹ thay đổi từ 101 - 102 Kcal, ME/WP

0,75

kg/ngày cho duy trì và có chửa, nhu cầu protein cho dê có chửa từ 6,97 - 9,8 g/WP

0,75

kg/ngày Khả năng sinh sản của dê cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu và được trình bày ở bảng sau:

Khả năng sinh sản của dê Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị Giá trị Tác giả và năm công bố

I Nikolov và M Semkov, 1987

I Frand Jev, 1982 Tuổi phối giống

dục lại sau đẻ

Tuần 5 - 6 ESE Hafez và MR Jainudeen, 1987

Khoảng cách

giữa 2 lứa đẻ

Tháng 8 (6-13) ESE Hafez và MR Jainudeen, 1987

Nguồn tài liệu: Trần Trang Nhung, 2000 [21]

Trang 27

là gia súc thích khô ráo như dê cừu

Ở Việt Nam, nghề chăn nuôi dê đã có từ lâu đời nhưng theo phương thức quảng canh, tự cung tự cấp Theo số liệu của Cục Thống kê tới năm 2000 tổng đàn

dê của cả nước là 525.000 con, trong đó chủ yếu là giống địa phương, được phân

bố tập trung ở các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc Riêng đàn dê của miền Bắc chiếm 72,5% tổng đàn, miền Nam 27,5% (trong đó Tây Nguyên chiếm 12,3%, Duyên hải miền Trung chiếm 8,9%; Đông Nam bộ 2,1% và Tây Nam bộ 3,8%) Đàn dê của các tỉnh vùng núi phía Bắc chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc và 48% tổng đàn dê cả nước

Theo Trần Trang Nhung và cộng sự, 2005 [22], năm 2003 tổng đàn dê của nước ta là 780.354 con, đã sản xuất ra được 6.000 tấn thịt, tuy nhiên sản lượng sữa còn thấp và chỉ đạt khoảng 120 tấn

Nhiều năm qua, ngành chăn nuôi dê của nước ta chưa được quan tâm, chú ý Người dân nuôi dê chủ yếu theo phương thức quảng canh, tận dụng đồi bãi chăn thả, thiếu kiến thức kỹ thuật Giống dê Việt Nam chủ yếu là giống dê địa phương nuôi lấy thịt, có nhiều màu sắc lông da khác nhau và bị pha tạp nhiều, dê có tầm vóc bé nhỏ, hiệu suất chuyển hoá thức ăn thấp, hiện tượng suy thoái cận huyết cao, nuôi dưỡng kém, bệnh tật phát sinh nhiều, ở một số nơi tỷ lệ chết của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi khá cao, lên tới 40% tổng số dê con sinh ra (Từ Quang Hiển

và cộng sự, 1996) [12]

Năm 1993, Nhà nước bắt đầu giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê trong cả nước cho Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây thuộc Viện

Trang 28

Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ đó đến nay nhiều công trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi dê về giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y, chế biến sản phẩm đã được tiến hành và đã thu được những kết quả bước đầu rất phấn khởi Trong đó, công trình nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của giống dê Bách Thảo (1991 - 1995) đã thành công tốt đẹp Kết quả nghiên cứu cho thấy đây là giống dê nội kiêm dụng sữa - thịt có khả năng sản xuất sữa và thịt, đặc biệt là có khả năng sinh sản cao hơn rất nhiều so với dê cỏ Do đó giống dê này đã được đưa ra sản xuất đại trà trong cả nước và được người chăn nuôi ở nhiều nơi hoan nghênh tiếp nhận

Năm 1994, ba giống dê sữa Ấn Độ là : Beetal, Jumnapari và Barbari đã được nhập về nước ta với số lượng 500 con Sau 4 năm theo dõi, đánh giá khả năng thích nghi ba giống dê này đã được Nhà nước công nhận thích nghi và cho phép đưa ra phát triển, nuôi đại trà ở các vùng trong cả nước Việc sử dụng dê đực Bách Thảo

và dê Ấn Độ để lai cải tạo, nâng cao tầm vóc và năng suất giống dê cỏ đã thu được kết quả rất tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Vì vậy chương trình này đã trở thành một trong những chương trình khuyến nông quan trọng nhằm chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi dê cho cả nước trong 2 giai đoạn 1996 – 2000 và 2001 – 2005 Chương trình này đã góp phần đưa ngành chăn nuôi dê tham gia vào chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập cho người dân Nhất là dân nghèo ở các vùng trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa

Năm 2001, chương trình giống dê quốc gia giai đoạn 2001 – 2005 đã được Nhà nước phê duyệt và đầu tư Năm 2002 chương trình nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo giống dê sữa - thịt cấp quốc gia giai đoạn 2002 – 2005 và 2006 – 2010 đã được phê duyệt Trong năm 2002, ba giống dê cao sản nhất thế giới là Boer chuyên thịt

và Saanen, Alpine chuyên sữa đã được Nhà nước đầu tư và cho nhập từ Mỹ nhằm mục đích nhân thuần và lai tạo để tạo ra các giống dê sữa, thịt của Việt Nam

Trang 29

Diện tích tự nhiên, số lượng và phân bố dê tại các vùng ở Việt Nam

31,1 15,5 3,8

11,5 10,3 17,4

327,1 124,3 58,5

48,5 18,4 8,7

17,8 9,8 7,6 14,5

6,8 4,4 12,6 16,7

32,3 47,6 120,6 70,0

4,8 6,09 15,5 8,9

Nguồn : Trần Trang Nhung và cộng sự, 2005 [22]

Với các chương trình nghiên cứu và đầu tư phát triển của Nhà nước như

trên, trong 10 năm qua ngành chăn nuôi dê của nước ta đã có được những bước

phát triển mạnh Đặc biệt là việc thành lập Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ, đây

là một trung tâm nghiên cứu tầm cỡ quốc gia và khu vực đã và đang hoạt động đạt

hiệu quả tốt Cho đến nay số lượng dê cả nước đã tăng từ 320.000 con (trong đầu

những năm 1990) lên 780.000 con, gấp gần 2,5 lần Chất lượng đàn giống cũng đã

hoàn toàn thay đổi, đến nay hầu như các giống dê tốt nhất của thế giới chúng ta đã

có và đang được nuôi nhân ra tại Việt Nam

1.2.2.2 Một số đặc điểm của dê nội

Các giống dê Việt Nam chưa được phân loại kỹ, hầu hết số lượng dê nuôi ở

nước ta là dê địa phương, song cũng có vùng nuôi dê lai do nhập giống dê của

Trung Quốc, Mông Cổ hoặc như ở miền Nam còn có sự lai tạo với giống dê của

Pháp, vì vậy việc đặt tên cho từng loại dê ở các vùng khác nhau cũng chưa rõ ràng

Trang 30

Hiện nay dựa vào đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất mà phân chia ra làm 2 giống dê chính:

- Dê địa phương: Còn gọi là dê cỏ được nuôi phổ biến ở nhiều vùng tầm vóc

loại dê này nhỏ, cao 50 - 55 cm, sừng dài vừa phải cong về phía sau và chĩa sang hai bên, sừng có cả ở con đực và con cái, hoạt động linh hoạt, khả năng sản xuất

sữa thấp, sữa chỉ đủ để nuôi 1 dê con Trong giống dê địa phương có nhóm dê

được nuôi ở vùng cao có số lượng lớn tập trung ở các tỉnh phía Bắc như: Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Lạng Sơn Dê có ngoại hình chắc khoẻ và có tầm vóc to cao hơn cả: dê đực trưởng thành 42 - 48 kg, cao 60 - 65 cm; dê cái 37 - 42 kg, cao 58 - 60

cm, chúng mang đặc điểm ngoại hình cho thịt

- Dê Bách Thảo: Có nguồn gốc từ dê Ấn Độ Kết cấu ngoại hình theo hướng

sản xuất sữa, dê có tầm vóc lớn, đặc điểm ngoại hình đặc trưng nhất là sống mũi dài, miệng rộng và thô, phần lớn cả con đực và con cái không có râu cằm, tai to cúp xuống, ít cử động, đầu cổ thanh chắc, móng hở, vú hình bát úp, núm vú dài Số lượng giống dê này rất ít

Hiện nay ở nước ta có một số giống dê nhập ngoại có nguồn gốc từ Châu Âu như: Dê Alpine của Pháp, dê Anglo Nubian của Anh, dê Saanen của Thụy Sỹ và một số giống dê khác từ Ấn Độ như : Beetal, Jumnapari và Barbari là những giống

dê có sản lượng sữa cao, chúng ta đã và đang nghiên cứu để phát triển các giống dê này trên diện rộng, đồng thời cho lai tạo giữa các giống dê với nhau

Nhìn chung dê Việt Nam có khả năng tăng trọng thấp, khối lượng dê ở các

độ tuổi: sơ sinh 1,6 - 1,8 kg, 6 tháng tuổi 9 - 11 kg, 12 tháng tuổi 16 - 18 kg, 24 tháng tuổi 25 - 30 kg Về tăng trọng: năm thứ nhất bình quân 40 - 70 gr/ngày, năm thứ 2 bình quân 30 - 40 gr/ngày, năm thứ 3 bình quân 16 - 20 gr/ngày

Mặc dù nghề nuôi dê có sự đóng góp rõ rệt về kinh tế cho người nông dân nhưng nghề nuôi dê hiện nay theo cách chăn nuôi cổ truyền đã cho tốc độ sinh trưởng chậm và năng suất sinh sản kém, các yếu tố ngoại cảnh tác động lớn làm cho tỷ lệ nuôi sống của dê còn thấp và làm cho khả năng tăng đàn chậm Bên cạnh

Trang 31

biệt

K lượng

sơ sinh (kg)

Chiều cao (cm)

Khối lượng (kg)

Nguồn: Đặng Xuân Biên, 1985 [7]

1.2.3 Một số nghiên cứu về sức sản xuất của dê

1.2.3.1 Khả năng sinh sản của dê cái

Tuổi động dục lần đầu của dê vào khoảng thời gian từ 5 - 7 tháng tuổi Tuy nhiên sự mang thai sớm ảnh hưởng có hại đến cơ thể con vật, bởi vậy tuổi phối giống lần đầu cho dê còn phụ thuộc vào khối lượng cơ thể tương ứng ở thời điểm đó

Dê thành thục về tính dục sớm tức là tuổi động dục lần đầu sớm Những dê khỏe mạnh, sinh trưởng tốt thường có tuổi động dục lần đầu sớm, vì vậy tuổi phối giống cũng sớm và ngược lại, những dê còi cọc thì tuổi phối giống lần đầu muộn

Trang 32

và muộn hơn nhiều so với những dê sinh trưởng bình thường (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1993) [27]

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy: tuổi thành thục của dê

cỏ thường sớm hơn dê sữa Dê cỏ có tuổi thành thục tính dục ở 5 - 6 tháng tuổi, khối lượng cơ thể đạt 11,53 kg Các giống dê sữa thường động dục ở 6 - 7 tháng tuổi và muộn hơn là các giống dê sữa cao sản thường động dục ở 7 - 9 tháng tuổi như: dê Beetal, Jumnapari (Nguyễn Thiện, Đinh Văn Hiến, 1993 [27], Lê Văn Thông và Lê Viết Ly, 1996 [32], Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1996 [5],

Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995 [11])

Nguyễn Đình Rao và cộng sự, 1979 [24] cho biết: dê thành thục về tính khi được 5 - 7 tháng tuổi trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và hệ thực vật không thay đổi theo mùa rõ rệt

Những cá thể nào, giống nào có khả năng chống chịu với ngoại cảnh tốt, có sức sống cao thì trong các điều kiện ngoại cảnh bất lợi như khí hậu khắc nghiệt, thức ăn thiếu thốn chúng vẫn giữ được khả năng sinh sản, còn những cá thể, giống nào kém chịu đựng với thời tiết khí hậu khắc nghiệt sẽ dẫn đến rối loạn nội tiết liên quan đến khả năng sinh sản và tuổi thành thục của chúng

Dê là loài gia súc có chu kỳ động dục khá ổn định, bình quân 21 ngày/chu

kỳ, biến động từ 16 - 26 ngày (Lê Văn Thông và Lê Viết Ly, 1996) [32] Ở trên dê Bách Thảo chu kỳ động dục là 16 - 43 ngày và tập trung tới 72% với thời gian 18 -

24 ngày (Đinh Văn Bình, 1994) [3]; Trung bình là 21 ngày dao động từ 16 - 24 ngày (Nguyễn Thiện, Đinh Văn Hiến, 1993) [27]; Từ 18 - 20 ngày chiếm trên 83% của Nguyễn Thị Mai, 1992 [17], và bình quân 20 ngày/chu kỳ của Nguyễn Ngọc Hùng và cộng sự, 1992 [13]; Kết quả nghiên cứu của Đặng Xuân Biên, 1985 [7] về chu kỳ động dục của dê cỏ là 17 - 19 ngày Nguyễn Đình Rao và cộng sự, 1979 [24] cho biết chu kỳ động dục của dê dài 17 - 19 ngày, dao động từ 14 - 26 ngày

Trang 33

Thời gian động dục biến động phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và thường biến động từ 16 - 36 giờ ở dê cỏ, 18 - 43 giờ ở dê Bách Thảo, 14 - 42 giờ ở dê lai (cỏ x Bách Thảo) (Lê Văn Thông và Lê Viết Ly, 1996) [32] Tác giả Nguyễn Đình Rao và cộng sự, 1979 [24] cho biết: các giống dê

ở Châu Âu có thời gian động dục kéo dài 36 giờ

Các tác giả: Brackel, A.von, W.Holtz, A.van, 1989 [43] đã làm thí nghiệm xác định ảnh hưởng của các nhân tố như: chu kỳ ánh sáng, sự thay đổi mùa vụ tới tính nhạy cảm phân tiết hormone của Hypothalamus dưới tác động của Oestrogen tới khả năng sinh sản của dê vì các hormone này có thể làm tăng hoặc giảm quá trình động dục trong mùa phối giống

Chửa đẻ là những hoạt động sinh lý, sinh sản tiếp theo sau khi dê cái động dục và được phối giống có kết quả Những hoạt động sinh lý này ở dê cái nhằm đảm bảo hiệu quả sự sinh sản, sinh ra đời những dê con mang đầy đủ các đặc điểm

di truyền từ bố và mẹ Thời gian chửa của mỗi loài gia súc có khác nhau và có sự biến động giữa các giống trong cùng một loài, các cá thể trong cùng một giống, phụ thuộc vào số lần chửa của con cái, mức độ nuôi dưỡng, số con đẻ ra trên lứa

Kết quả nghiên cứu của Đặng Xuân Biên, 1985 [7] cho biết: dê có chửa 150 ngày, biến động từ 147 - 153 ngày Nguyễn Thiện, Đinh Văn Hiến, 1993 [27] cho biết dê Bách Thảo có thời gian mang thai trung bình là 150 ngày, dao động trong khoảng 146 - 157 ngày Đinh Văn Bình, 1994 [3] nghiên cứu trên dê Bách Thảo cho biết thời gian chửa là 148,1 ± 1,24 ngày Nếu dê chửa đa thai thì thời gian chửa rút ngắn lại: dê đẻ 2 con/lứa thời gian chửa là 147,56 ngày, đẻ 3 con/lứa thời gian chửa là 146,68 ngày và 4 con/lứa thời gian chửa là 145,5 ngày Lê Văn Thông

và Lê Viết Ly, 1996 [32] cho biết: dê cỏ, dê Bách Thảo, dê lai có thời gian mang thai tương ứng là 142 - 150 ngày, 143 - 151 ngày, 142 - 151 ngày Nguyễn Đình Rao và cộng sự, 1979 [24] cho biết các giống dê Châu Âu có thời gian mang thai

Trang 34

trung bình là 150 ngày Trần Cừ và cộng sự, 1975 [8] cho biết thời gian chửa của

dê là 140 - 159 ngày

Phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu, thức ăn, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng Đinh Văn Bình, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Quang Sức, 1997 [6] cho biết: khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của dê là 222,3 đến 258,4 ngày Theo các tác giả Lê Văn Thông và Lê Viết Ly, 1996 [32] thì khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 225 ± 6 ngày trên dê cỏ và 218 ± 5 ngày trên dê Bách Thảo, 220 ± 7 ngày trên dê lai Đặng Xuân Biên, 1985 [7] cho biết khoảng cách lứa đẻ trên dê cỏ trung bình là 9 tháng, biến động từ 6 - 12 tháng

Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và cho biết tuổi đẻ lứa đầu của một

số giống dê như sau:

Tuổi đẻ lứa đầu của một số giống dê trong và ngoài nước

TT Giống dê (vùng) Nước

Tuổi đẻ lứa đầu (tháng)

Tác giả nghiên cứu

Dê địa phương

Dê địa phương

Ấn Độ

Ấn Độ Israel Israel

11 11,9 - 14 10,9 - 13,9 11,5

11 - 12 12,4 9,3

16 22,3

Nguồn tài liệu: Trần Trang Nhung, 2000 [21]

Trang 35

Ở miền núi chăn nuôi theo phương thức quảng canh, đàn dê được nuôi trong các hộ gia đình, chăn thả tự do theo kiểu bầy đàn (không có sự ghép đôi giao phối ) đã tạo điều kiện thuận lợi để dê giao phối tự do, vì thế dê cái hậu bị có thể mang thai ngay từ lần giao phối đầu tiên hoặc sau một chu kỳ động dục Như vậy tuổi đẻ lứa đầu của dê cái xảy ra rất sớm Dê cũng như các loài gia súc khác, tuổi

đẻ lứa đầu của dê đều mang tính di truyền và nó ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của dê, thời gian sử dụng con cái và hiệu quả chăn nuôi

Là khoảng thời gian cần thiết sau khi đẻ để dê mẹ phục hồi lại hoàn toàn trạng thái sinh lý bình thường và sự ổn định của một trạng thái cân bằng nội tiết thuận lợi cho sự hình thành và chín của bao noãn giúp cho sự động dục trở lại Đinh Văn Bình, 1994 [3] nghiên cứu trên dê Bách Thảo cho biết sau khi đẻ 30 - 60 ngày dê động dục lại và ở lứa đẻ thứ 2 tới lứa đẻ thứ 6 thì thời gian động dục trở lại của dê ngắn hơn lứa đẻ 1 và lứa đẻ 7 Lê Văn Thông và cộng sự, 1996 [32] cho biết thời gian động dục lại sau đẻ trên dê cỏ ở Thanh Hóa là 68 ± 7 ngày, dê Bách Thảo và dê lai là 60 ngày Thời gian động dục lại sau đẻ còn phụ thuộc vào mùa sinh đẻ của dê, trong điều kiện hoang dã, mùa vụ liên quan mật thiết đến nguồn dinh dưỡng mà dê kiếm được cùng nhiều nhân tố ngoại cảnh khác ảnh hưởng tới thời gian động dục lại sau đẻ Vì vậy trong chăn nuôi gia súc cần chú ý tác động các biện pháp kỹ thuật: chọn lọc cá thể, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý để gia súc cái nhanh chóng động dục lại sau đẻ

Số lứa đẻ/năm của dê ảnh hưởng bởi thời gian chửa và thời gian động dục lại sau đẻ, tỷ lệ phối đạt, các tính trạng này tỷ lệ nghịch với nhau Số lứa đẻ/năm liên quan đến công tác chọn giống, phối giống và chăm sóc nuôi dưỡng Dê Bách Thảo nuôi ở Ba Vì (Hà Tây) có số lứa đẻ bình quân là 1,5 - 1,7 lứa/năm (Đinh Văn Bình, 1994) [3]

Trang 36

Nhiều tác giả nghiên cứu cho biết: hầu hết dê cỏ đẻ lứa đầu chỉ đẻ 1 con/lứa chiếm tới 92 % Từ lứa thứ 2 trở đi dê đẻ 2 con/lứa chiếm 60%, số dê đẻ 3 con/lứa chiếm tỷ lệ thấp và tỷ lệ đẻ 3 con/lứa tăng dần từ lứa đẻ thứ 3 trở đi Các tác giả Phan Đình Thắm và cộng sự, 1997 [26]; Đặng Xuân Biên, 1985 [7] cho biết dê cỏ chỉ có thể đẻ 1,27 con/lứa Nhìn chung dê sữa đẻ nhiều con hơn dê cỏ và dê lai Dê Bách Thảo ở Ba Vì đẻ trung bình 2,09 con/lứa, ở Ninh Thuận đẻ 1,86 con/lứa (Đinh Văn Bình, 1994) [3] Nguyễn Đình Rao, 1979 [24] cho biết mức đẻ của dê Angola cũng không cao, ở Mỹ cứ 100 dê cái chỉ đẻ được 100 - 110 dê con

Trong công tác giống, để nâng cao năng suất sinh sản của dê cái cần phải coi trọng việc chọn lọc, cải tạo Có thể kết hợp giữ việc chọn lọc về tính đẻ nhiều con với việc chọn lọc các cặp tính trạng cơ bản khác nhau như năng suất sữa, năng suất thịt, khả năng sinh trưởng phát triển để nâng cao năng suất, chất lượng và sản phẩm chăn nuôi ở địa phương

Tỷ lệ nuôi sống của dê con sau khi sinh là một tính trạng phản ánh sức sống, khả năng thích nghi với những biến đổi của ngoại cảnh, khả năng chống đỡ bệnh tật đồng thời tỷ lệ này còn phụ thuộc vào sức sống của bố mẹ (thế hệ trước) như: tuổi đẻ, quan hệ huyết thống Ngoài ra, các yếu tố ngoại cảnh khác như: môi trường, thức ăn, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng đều ảnh hưởng đến tỷ

lệ nuôi sống

- Ảnh hưởng của mùa vụ: nhiều tác giả nghiên cứu cho rằng tính mùa vụ của

dê rất cao, dê sinh sản tập trung vào hai mùa vụ chính là vụ xuân hè từ tháng 2 đến

Trang 37

tháng 5 và vụ thu đông từ tháng 8 đến tháng 10 Dê sinh ra ở vụ thu đông có tỷ lệ chết cao hơn vụ xuân hè do thời điểm này khí hậu khắc nghiệt, thiếu thức ăn thô xanh trên bãi chăn, dê mẹ ít sữa, dê con còn non phải vận động nhiều theo mẹ tìm kiếm thức ăn làm cho dê con yếu sức, phát sinh bệnh tật nhiều mà chết

- Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh và số con/lứa: các tác giả L.A.Mtenga

và cộng sự, 1994 [48] cho biết khi theo dõi trên giống dê Đông Phi (SEA) và dê lai (BOE x SEA) những dê có khối lượng sơ sinh nhỏ hơn 1,5 kg/con có tỷ lệ chết trước cai sữa cao hơn dê có khối lượng sơ sinh lớn hơn 2,6 kg/con Những dê sinh đôi có tỷ lệ chết trước cai sữa cao hơn dê sinh một con, tỷ lệ chết tương ứng là 48,1% và 38,5% Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như: số con đẻ/lứa cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống Tác giả Đinh Văn Bình, 1994 [3] cho biết: trên dê Bách Thảo thì những dê mẹ đẻ 1 con/lứa tiết 1057,8 ml sữa/ngày, đẻ 2 con/lứa tiết 1098,9 ml sữa/ngày và đẻ 3 con/lứa tiết 1216,4 ml sữa/ngày Đây là một thích ứng sinh học để đáp ứng nhu cầu nuôi con, tuy nhiên lượng sữa tiết ra không tỷ lệ thuận một cách tương xứng với số dê con đẻ ra như khi đẻ 1 con, nhất là trên các giống

dê nuôi thịt ở địa phương Kết quả là dê con thiếu sữa sẽ chậm lớn, dễ còi cọc, sức

đề kháng kém và dễ bị chết

- Ảnh hưởng của thức ăn và chế độ chăm sóc quản lý: việc nuôi dưỡng kém, chăm sóc quản lý và kiểm tra bệnh tật thiếu chu đáo là những lý do cản trở việc phát huy đặc tính di truyền về sức sống của dê con Vì thế việc cung cấp thêm thức

ăn cho dê mẹ là rất cần thiết, nhất là thức ăn tinh sẽ làm tăng được tỷ lệ thụ thai ở

dê mẹ và giảm tỷ lệ chết ở dê con (M.Cissce, M.Baye, T.Sane, A.Correa, 1994) [45] Ảnh hưởng của dinh dưỡng và quản lý chăm sóc tới tỷ lệ chết trước cai sữa của dê con còn được các tác giả nghiên cứu giữa 2 phương thức nuôi nhốt hoàn toàn bằng lá cắt về và chăn thả hoàn toàn bằng cỏ địa phương trên bãi ở Indonesia cho thấy: tỷ lệ chết ở vùng nuôi nhốt Majene là 29,4%, ở vùng chăn thả hoàn toàn Jeneponto là 54,5% Nếu được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì dê địa phương Indonesia có thể đẻ 3,5 con/năm và tăng trọng bình quân của dê con là 100gr/ngày

Trang 38

- Ảnh hưởng của mức độ cận huyết: phương thức chăn nuôi quảng canh theo kiểu bầy đàn, tự do giao phối đã làm gia tăng mức độ cận huyết và đây được coi là nguyên nhân nội tại lớn nhất làm giảm tỷ lệ nuôi sống của dê con, tăng tỷ lệ dị hình, làm giảm sức sống của đời con, dê con sinh trưởng chậm, giảm sức sinh sản

và khả năng sản xuất nói chung Theo Trần Đình Miên và cộng sự, 1995 [19], mức

độ suy hóa cận huyết cũng phụ thuộc vào hệ số di truyền của tính trạng đó cao hay thấp, tính trạng nào có hệ số di truyền thấp sẽ có mức độ suy hóa cận huyết cao và ngược lại Tuy nhiên tình trạng suy hóa phẩm giống do cận huyết còn phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng Điều kiện nuôi dưỡng càng kém thì mức độ suy hóa càng tăng và nuôi dưỡng tốt sẽ hạn chế được biểu hiện suy hóa cận huyết (Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt, 1994 ) [18]

Thực tế ở miền núi, mức độ cận huyết ở các đàn dê tương đối cao bởi các yếu tố giao phối cận huyết trong một quần thể nhỏ, ở nhiều nơi địa hình hiểm trở càng hạn chế khả năng dê giao phối giữa các đàn với nhau Dê đực và cái giống được tuyển ngay ở trong đàn, chọn lọc cá thể ít được chú ý đến Vì thế cần đề ra một số biện pháp trong công tác quản lý giống, cần chủ động chọn lọc, ghép đôi giao phối, xây dựng kế hoạch luân chuyển đực giống giữa các đàn là rất cần thiết

để từng bước nâng cao số lượng và chất lượng đàn dê

Ngoài các biện pháp kỹ thuật trên, để nâng cao tiến bộ di truyền, nâng cao năng suất chăn nuôi dê, các nhà khoa học đã sử dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật như : thụ tinh nhân tạo, đông lạnh và bảo quản tinh dịch giống tốt, gây siêu bài noãn để cấy truyền phôi, sử dụng kích tố nội tiết để tăng khả năng sinh sản

Qua phân tích các chỉ tiêu di truyền về hoạt động sinh sản của dê cái cho thấy vai trò của con cái đối với hoạt động sinh sản ảnh hưởng lớn tới năng suất chăn nuôi nói chung Nhưng theo di truyền thì cả 2 tính biệt đực và cái đều đóng vai trò quan trọng trong di truyền cho thế hệ sau, vì thế trong hoạt động sinh sản thì

dê đực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng

Trang 39

1.2.3.2 Khả năng sinh sản của dê đực

Dưới tác động của thần kinh thể dịch, dê đực khi sinh trưởng đến một mức

độ nào đó thì bước vào giai đoạn hoạt động tính dục hay đã thành thục về tính dục Khi đó trong dịch hoàn, các ống sinh tinh có khả năng sinh tinh trùng, đồng thời các tế bào kẽ của dịch hoàn cũng bắt đầu phân tiết hormone sinh dục Testosterol tác động lên toàn bộ cơ thể làm phát sinh các biểu hiện của đặc tính sinh dục thứ cấp, khi đó con đực có khả năng hoạt động sinh dục

- Tuổi bắt đầu phối giống của dê đực

Dê đực sau khi thành thục về tính dục thì cơ quan sinh dục của nó đã phát triển đầy đủ, tinh trùng được sinh ra ở dịch hoàn đã có khả năng thụ thai

Tuổi phối giống lần đầu ở dê cỏ Thanh Hóa là 165 ± 6,7 ngày (biến động trong khoảng 120 - 180 ngày) và có khối lượng đạt 13,8 ± 0,6 kg Ở dê Bách Thảo

là 175 ± 7,5 ngày (biến động từ 150 - 210 ngày), khối lượng cơ thể đạt 19,5 ± 0,6

kg cùng thời điểm (Lê Văn Thông và Lê Viết Ly, 1996) [32] Trong thực tế người

ta không cho dê đực phối giống sớm để tránh tình trạng hao mòn sức khỏe, làm giảm tuổi sử dụng Trong điều kiện nuôi tập trung, có sự quản lý dê đực cỏ Thanh Hóa có tuổi đưa vào sử dụng phối giống là 245 ngày (biến động từ 210 - 340 ngày), khối lượng cơ thể tương ứng là 18,55 kg Một số giống dê nuôi ở Ba Vì có tuổi và khối lượng cơ thể khi đưa vào sử dụng phối giống như sau: dê cỏ 211,5 ngày; dê Bách Thảo 241,3 ngày; dê Barbari 264,3 ngày; dê Beetal 301,5 ngày; dê Jumnapari 325 ngày Khối lượng tương ứng là: 14,2 kg; 28,7 kg; 21,1 kg; 32,6 kg

và 29,9 kg (Nguyễn Thiện và Đinh Văn Hiến, 1993) [27] Đối với dê đực giống hướng sữa có thể cho phối giống lúc 7 - 8 tháng tuổi, với dê giống hướng thịt tuổi bắt đầu phối giống của dê đực là 5-6 tháng tuổi và khối lượng cơ thể đạt 15-16 kg

- Khả năng phối giống của dê đực

Khả năng phối giống của dê đực được biểu hiện là khả năng mà dê đực có thể phối với một số dê cái nhất định mà vẫn đảm bảo tỷ lệ thụ thai và hiệu quả sinh sản Những nghiên cứu về khả năng phối giống trên dê đực còn rất ít tác giả đề cập

Trang 40

đến Theo một số tài liệu nước ngoài cho biết tiêu chuẩn phẩm chất tinh dịch ở dê

có thể chấp nhận làm giống là : V ≥ 0,3 ml, A ≥ 80%, C ≥ 0,3 tỷ/ml, tỷ lệ kỳ hình 10% Vì vậy ở dê đực non thì nồng độ tinh trùng (C) và hoạt lực (A) còn thấp chưa đạt được yêu cầu trên, do đó không nên đưa vào làm giống

Khả năng phối giống của dê đực phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, tuổi, mùa vụ, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng trong điều kiện chăn thả tự do rất khó xác định khả năng này Tuy nhiên sự theo dõi về tỷ lệ đực/cái trong đàn, cơ cấu trong đàn dê đực, dê cái theo tuổi và tính biệt Hiệu quả sinh sản của dê cái thể hiện ở một số lứa đẻ/năm, tổng số dê con sinh ra/năm/cái sinh sản từ đó rút ra cơ cấu và tỷ lệ ghép đàn hợp lý nhằm khai thác tốt nhất khả năng phối giống của con đực Đây là một vấn đề nghiên cứu cần phải được đặt ra

1.2.3.3 Khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng được đánh giá qua quá trình tăng sinh về khối lượng và kích thước các chiều của cơ thể Đây là một tính trạng chịu ảnh hưởng lớn các yếu tố di truyền và nhiều yếu tố ngoại cảnh khác Do có sự tương tác giữa kiểu di truyền và ngoại cảnh mà sự tăng khối lượng và kích thước các chiều diễn biến có tính quy luật đảm bảo cho sự phát triển cơ thể đạt tỷ lệ hài hòa cân đối Sau đây là sự đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của dê

- Ảnh hưởng của dòng giống

Trong chăn nuôi gia súc, dòng, giống có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển, đời con sinh ra mang đặc tính di truyền của bố mẹ, của dòng, của giống đó Tính di truyền về khả năng sinh trưởng có ảnh hưởng lớn tới năng suất vật nuôi Nhiều tác giả khẳng định trên cùng loài dê, ở các giống khác nhau cho thấy sự khác biệt về khối lượng là rất lớn Tác giả Trần Kiên và cộng sự, 1995 [14]; Lê Thanh Hải, Nguyễn Ngọc Hùng và cộng sự, 1994 [10] cho biết khối lượng

sơ sinh và khối lượng 3 tháng tuổi ở một số giống dê như sau:

Ngày đăng: 29/04/2016, 22:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân An, Dương Thanh Liêm và cộng sự (11/1992), Kết quả sử dụng cây lá lạc ủ chua, phơi khô làm thức ăn cho dê sữa, Hội thảo "Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê sữa ở Việt Nam" tại Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê sữa ở Việt Nam
2. Nguyễn Anh, Trịnh Thị Kim Thoa (1999), Tạp chí sinh học, Tập 21 - Số 2,6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí sinh học
Tác giả: Nguyễn Anh, Trịnh Thị Kim Thoa
Năm: 1999
3. Đinh Văn Bình (1994) Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê Bách Thảo, Luận án PTS Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê Bách Thảo
4. Đinh Văn Bình, Lê Viết Ly và cộng sự (1/1994), Kết quả bước đầu gìn giữ gen dê Bách Thảo, Kết quả nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990 - 1993, Bộ KHCN&MT, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu gìn giữ gen dê Bách Thảo, Kết quả nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990 - 1993
5. Đinh Văn Bình, Nguyễn Quang Sức, Phạm Văn Bảo, Phạm Kim Lan, Chu Đình Khu và cộng tác viên (11/1996), Kết quả nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê sữa gia đình năm 1991 - 1995 ở Việt Nam, Hội thảo quốc gia về khoa học và phát triển chăn nuôi đến năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê sữa gia đình năm 1991 - 1995 ở Việt Nam
6. Đinh Văn Bình, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Quang Sức và cộng tác viên (1997), Kết quả nghiên cứu nuôi dưỡng ba giống dê sữa Ấn Độ qua hơn hai năm nuôi tại Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây, Tạp chí "Người nuôi dê", tập II, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nuôi dê
Tác giả: Đinh Văn Bình, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Quang Sức và cộng tác viên
Năm: 1997
7. Đặng Xuân Biên (1985), Kết quả kiểm tra giống dê, cừu. Kết quả nghiên cứu khoa học năm 1969 - 1979, Viện Chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả kiểm tra giống dê, cừu
Tác giả: Đặng Xuân Biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1985
8. Trần Cừ, Cù Xuân Dần, Lê Thị Minh (1975), Sinh lý học gia súc, Nhà xuất bản Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Trần Cừ, Cù Xuân Dần, Lê Thị Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông thôn
Năm: 1975
9. Cù Xuân Dần và cộng sự (8/1991), Xác định một số chỉ tiêu hính thái và sinh lý máu lợn Edel nuôi tại nông trường An Khánh, Tạp chí KHKT Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số chỉ tiêu hính thái và sinh lý máu lợn Edel nuôi tại nông trường An Khánh
10. Lê Thanh Hải, Nguyễn Ngọc Hùng, Trần Văn Tịnh, Nguyễn Thị Mai (1994), Kỹ thuật nuôi dê sữa, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi dê sữa
Tác giả: Lê Thanh Hải, Nguyễn Ngọc Hùng, Trần Văn Tịnh, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1994
11. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), Thức ăn và dinh dưỡng gia súc, Giáo trình cao học nông nghiệp - Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Năm: 1995
12. Từ Quang Hiển và cộng sự (1996), Điều tra dê cỏ Bắc Thái và lai tạo giữa dê đực Bách Thảo với dê cái địa phương, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trọng điểm, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dê cỏ Bắc Thái và lai tạo giữa dê đực Bách Thảo với dê cái địa phương
Tác giả: Từ Quang Hiển và cộng sự
Năm: 1996
13. Nguyễn Ngọc Hùng, Trần Văn Tịnh (1992), Kết quả nghiên cứu một số tính năng sản xuất của dê sữa Bách Thảo ở Miền Nam, Tạp chí Viện khoa học kỹ thuật Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số tính năng sản xuất của dê sữa Bách Thảo ở Miền Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Trần Văn Tịnh
Năm: 1992
14. Trần Kiên, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Chí Trung (1995), Nuôi dê và phòng trị bệnh cho dê, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi dê và phòng trị bệnh cho dê
Tác giả: Trần Kiên, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Chí Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
15. Lê Viết Ly (1993), Đặc điểm sinh học của dê và vấn đề kết hợp nông - lâm nghiệp, Hội thảo "Chăn nuôi dê và bò sữa - thịt", Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi dê và bò sữa - thịt
Tác giả: Lê Viết Ly
Năm: 1993
16. Lê Viết Ly (1994), Con dê và sự phát triển nghề nuôi dê ở Việt Nam, Tạp chí thế giới mới, số 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con dê và sự phát triển nghề nuôi dê ở Việt Nam
Tác giả: Lê Viết Ly
Năm: 1994
18. Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt (1994), Di truyền học động vật, Giáo trình cao học nông nghiệp, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
19. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995), Chọn và nhân giống vật nuôi, Giáo trình cao học nông nghiệp, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn và nhân giống vật nuôi
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1995
20. Đặng Quang Nam (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của dê lai ở 1 số vùng tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của dê lai ở 1 số vùng tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đặng Quang Nam
Năm: 1996
21. Trần Trang Nhung (2000), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của dê nội nuôi ở một số tỉnh trung du và miền núi vùng Đông Bắc Việt Nam, Luận án tiến sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của dê nội nuôi ở một số tỉnh trung du và miền núi vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Trang Nhung
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 : Biến động số lượng đàn dê qua 5 năm (2001 - 2005) - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.1 Biến động số lượng đàn dê qua 5 năm (2001 - 2005) (Trang 56)
Bảng 3.2: Tình hình nuôi dê và quy mô đàn dê ở các địa phương - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.2 Tình hình nuôi dê và quy mô đàn dê ở các địa phương (Trang 58)
Bảng 3.3: Cơ cấu đàn dê theo tính biệt - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.3 Cơ cấu đàn dê theo tính biệt (Trang 59)
Bảng 3.4: Cơ cấu đàn dê cái sinh sản theo tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.4 Cơ cấu đàn dê cái sinh sản theo tuổi (Trang 60)
Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu sinh lý máu dê - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu sinh lý máu dê (Trang 63)
Bảng 3.7: Tỷ lệ đực/cái của đàn dê - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.7 Tỷ lệ đực/cái của đàn dê (Trang 65)
Bảng 3.8: Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn dê - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn dê (Trang 67)
Bảng 3.9 : Tỷ lệ nuôi sống của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.9 Tỷ lệ nuôi sống của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi (Trang 70)
Bảng 3.10: Khối lượng cơ thể dê ở các độ tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.10 Khối lượng cơ thể dê ở các độ tuổi (Trang 73)
Đồ thị 3.1: Sinh tr−ởng tích luỹ của dê qua các tháng tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
th ị 3.1: Sinh tr−ởng tích luỹ của dê qua các tháng tuổi (Trang 74)
Bảng 3.11 : Sinh trưởng tuyệt đối của dê qua các giai đoạn - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối của dê qua các giai đoạn (Trang 75)
Bảng 3.12 : Sinh trưởng tương đối của dê qua các tháng tuổi (%) - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.12 Sinh trưởng tương đối của dê qua các tháng tuổi (%) (Trang 77)
Bảng 3.13: Kích thước một số chiều đo chính của dê - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.13 Kích thước một số chiều đo chính của dê (Trang 79)
Bảng 3.15: Kết quả mổ khảo sát dê địa phương ở Vị Xuyên (n=4) - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.15 Kết quả mổ khảo sát dê địa phương ở Vị Xuyên (n=4) (Trang 83)
Bảng 3.16: Thành phần hóa học của thịt dê ở 2 giai đoạn giết mổ - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang
Bảng 3.16 Thành phần hóa học của thịt dê ở 2 giai đoạn giết mổ (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w