1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)

33 745 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá Ngát (Plotosus canius Hamilton, 1822)
Tác giả Nguyễn Văn Viếng
Người hướng dẫn Nguyễn Bạch Loan
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Luận văn đại học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 857,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phân chia bậc thang thành thục ra nhiều giai đoạn cho phép phân chia khá chính xác mức độ thành thục của các cá thể trong cùng một loài hay giữa các loài cá khác nhau.. Bậc thang thàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN VĂN VIẾNG ANH

TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

SINH SẢN CÁ NGÁT

(Plotosus canius Hamilton, 1822)

LUẬN VĂN ĐẠI HỌC

Cần thơ, 2009

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Nguyễn Bạch Loan đã hướng dẫn tận tình và đóng góp ý kiến quý báo giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Xin được gửi lời cảm ơn đến:

Thầy Nguyễn Văn Thường, thầy Trần Đắc Định, thầy Vũ Ngọc Út đã tạo điều kiện để thuận lợi để luận văn tốt nghiệp em được hoàn thành

Qúy thầy cô, cán bộ Khoa Thủy sản đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của anh Nguyễn Bá Quốc trong quá trình thực hiện

đề tài, cảm ơn những lời động viên tinh thần của các bạn cùng lớp trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng xin cảm ơn Ba, Mẹ đã dạy dỗ, tạo mọi điều kiện để con có cơ hội học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát ngoài tự nhiên Mẫu cá được thu tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng dọc theo tuyến sông Hậu từ các ngư dân và các chợ địa phương

Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Ngát (Plotosus canius) có sự tương quan chặt

chẽ giữa sức sinh sản tuyệt đối và tọng lượng cá theo phương trình có dạng y=2.3003x0.9514 với hệ số tương quan R2=0.809 Độ béo của cá biến đổi trong các tháng quan sát như sau: Độ béo Fulton thay đổi từ (0.16-3.52%) và độ béo Clack thay đổi từ (0-3.34%) Độ béo tăng cao nhất vào khoảng tháng 11 Hệ số thành thục (GSI) trung bình của cá thấp thay đổi từ (0.145-3.55%) thấp nhất vào khoảng tháng 9 Sức sinh sản trung bình tuyệt đối của cá Ngát là 2125 trứng/cá thể và sức sinh sản tương đối là 1692 trứng/Kg Đường kính trứng trong bình của cá dao động từ 0.37-0.68 cm, lớn hơn nhiều so với các loài cá khác

Trang 4

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một trong những nước có diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) lớn nhất Thế giới (Hanafi và Admad, 1999) Theo Bộ thủy sản Việt nam tính đến 14/11/08 kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam xấp xỉ 4 tỷ USD, trong

10 tháng đầu năm xuất khẩu đat 1.054.600 tấn, tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái Qua đó, cho thấy được vai trò quan trọng của thủy sản đối với nền kinh

tế của đất nước Hơn nữa sản phẩm thủy sản còn cung cấp nguồn đạm rất cần thiết cho người nghèo và là sản phẩm tốt cho sức khỏe cộng đồng Trên Thế giới, tiêu thụ sản phẩm thủy sản 5-9.7 (Kg/người /năm) ở Việt Nam là 13-15 (Kg/người/năm), riêng ở ĐBSCL là 30 (Kg/người/năm) Thủy hải sản lại có hệ

số chuyển hóa thức ăn thấp hơn gia súc và gia cầm (Lê Xuân Sinh, 2005) Tuy nhiên nguồn lợi thủy sản tự nhiên thì có hạn mà nhu cầu của con người thì tăng lại càng tăng nhất là những loài cá có thịt thơm ngon như cá Trê vàng, cá

Chạch lấu, nhất là cá Ngát Cá Ngát (Plotosus canius Hamilton, 1822), một

trong những loài cá da trơn có kích cỡ thương phẩm tương đối lớn, trung bình

cá 2 năm tuổi có trọng lượng từ 2- 3 kg/con Cá ngát có giá trị thịt thơm ngon Hiện nay trên thị trường, cá có trọng lượng trên 1kg được bán với giá từ 40.000

- 50.000 đồng.(Google, 2008)

Do có giá trị kinh tế cao nên nhiều ngư dân đã khai thác tích cực đối tượng này dẫn đến sự cạn kiệt dần nguồn cá ngoài nhiên Trên cơ sở điều tra của Trung Tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản An Giang, bước đầu có thể nhận định cá Ngát hoàn toàn có thể nuôi được trong các lồng bè đặt nơi có dòng chảy tốt và đây có thể được xem là một đối tượng nuôi mới rất hiệu quả trong tương lai Nhưng những nghiên cứu về đối tượng này còn rất ít và qui trình sản xuất giống chưa ổn định để đáp ứng nhu cầu trong tương lai Chính vì vậy Lê Thái Nguyên (2008) đã tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh học sinh sản của cá Ngát nhưng thời gian thực hiện chỉ mới từ tháng 1-5 Xuất phát từ tình hình trên được sự phân công của Khoa thủy sản, Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, đề tài

“Tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát (Plotsus canius)

được tiến hành

Trang 5

1.1 Mục tiêu của đề tài

Góp phần hoàn chỉnh những dẫn liệu về sinh học sinh sản nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp về sản xuất giống nhân tạo loài cá Ngát

(Plotosus canius Hamilton, 1822)

1.2.5 Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối

1.2.6 Tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức sinh sản và kích cỡ cá

Ngát thành thục sinh dục

Trang 6

PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Họ cá Plotosidae được phát hiện đầu tiên trong thủy vực thuộc vùng cửa sông,

vùng đầm phá, thỉnh thoảng bắt gặp trong các con sông ở các quốc gia phụ cận khu vực hạ lưu Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và sự đa dạng thành phần loài của họ cá này cũng tập trung chủ yếu ở khu vực này: từ bờ biển phía tây và phía nam Ấn Độ, chạy về phía đông Sri Lanka đến bờ biển Bangladesh and Myanmar, xuyên qua Châu Úc (Indo-Australian Archipelago) and Philippines (Fishbase, 2008)

Hình 1: Bản đồ phân bố của cá Ngát trên Thế giới

2.1 Đặc điểm hình thái phân loại cá Ngát

2.1.1 Vị trí phân loại

Theo dẫn liệu từ Fishbase (2008) và Itis (2008) hệ thống phân loại của cá Ngát được xác định như sau:

Giới: Animalia Linnaeus, 1758 - animals

Ngành: Chordata Bateson, 1885 - chordates

Lớp: Osteichthyes Huxley, 1880 - bony fishes

Bộ: Siluriformes - catfishes

Họ: Plotosidae - eeltail catfishes

Giống: Plotosus La Cepède, 1803

Loài: Plotosus canius Hamilton, 1822

Cá Ngát Plotosus canius còn có các đồng danh sau (Fishbase ,2008):

+ Plotosus canius Hamilton, 1822

+ Plotosus horridus Bleeker, 1846

Trang 7

+ Plotosus multiradiatus Bleeker, 1846

+ Plotosus unicolor Valenciennes, 1840

+ Potosus viviparus Bleeker, 1846

Hiện nay tên Plotosus canius Hamilton, 1822 của cá Ngát được nhiều tác giả sử dụng phổ biến trên thế giới (Fishbase, 2008 và Itis, 2008)

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) và Rainboth (1996) họ Plotosidae chỉ có một giống Plotosus Theo Itis (2008) và Fishbase (2008) họ Plotosidae có 10 giống cá với tên khoa học như sau:

Do có giá trị kinh tế cao, thịt ngon, kích thước lớn nên loài cá Ngát Nanh hay

cá Ngát Chó (Plotosus canius) được nhiều người nghiên cứu Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993, ở ĐBSCL chỉ có một loài Plotosus canius

Hamilton, 1822, được mô tả như sau:

Dài chuẩn / Dài đầu = 5,2 (4,8 - 5,5)

Dài đầu / Khoảng cách hai mắt = 2,9 (2,6 – 3,3)

Dài chuẩn / Cao thân = 6,5 (5,9 – 7,6)

Dài đầu / Đường kính mắt = 10,9 (9,5 – 11,9)

Hình2: Hình dạng ngoài cá Ngát

Trang 8

Đầu to, rộng, dẹp bằng Miệng dưới nằm trên mặt phẳng nằm ngang, không co

duỗi được Môi dày, mềm, có viền rua Răng hình quạt, cứng chắc Răng vòm

miệng xếp thành một đám có dạng hình lưỡi liềm, răng xếp thành 4 hàng

ngang, các hàng sau thô hơn các hàng trước Có 4 đôi râu to: Một đôi râu mũi

(kéo dài qua khỏi mắt), một đôi râu mép nhưng hơi lệch về phía hàm trên, hai

đôi râu hàm dưới Mắt cá nhỏ, hoàn toàn nằm ở mặt lưng của đầu, gần chót

mõm hơn gần cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt rộng Mấu xương chẩm

nhỏ, hình tam giác đều Hai màng mang dính nhau một phần và dính với eo

mang

Thân dài, phần trước tròn, phần sau dẹp bên, mỏng và mềm mại Đường bên

hoàn toàn chạy từ mép trên lỗ mang đến điểm giữa gốc vi đuôi Cá có hai vi

lưng, gốc vi lưng thứ nhất ngắn, có gai độc, gốc vi lưng thứ hai và vi hậu môn

nối liền với vi đuôi nhỏ Vi đuôi không chẻ hai Vi ngực có gai độc Gai độc

trước các vi ngực và vi lưng rất nhọn, cạnh trước và sau có răng cưa sắc Cơ ở

gốc vi phát triển và da ở vi dày

Mặt lưng của thân và đầu có màu nâu đen đến nâu đỏ nhạt dần xuống bụng

Bụng cá và mặt dưới của đầu có màu trắng sữa Mặt trên của vi ngực, vi bụng

màu xám, mặt dưới màu trắng sữa Râu mép và râu mũi sậm hơn râu hàm dưới

2.2 Phân bố và môi trường sống

2.1.1 Thế giới

Bộ Siluriformes phân bố rất rộng người ta đã tìm thấy chúng ở Bắc, Trung,

Nam Phi, Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á…Ngoại trừ 2 họ (Aridae và

Plotosidae) phân bố ở nước lợ nhưng di cư vào nước ngọt để tìm mồi (Google,

2008)

Cá Ngát phân bố rộng ở vùng nhiệt đới, vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương

(Fishbase, 2008; Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006), xuất hiện

nhiều ở các cửa sông, hồ, vịnh, đầm phá nước lợ, biển, chúng cũng có thể sống

ở cả những vùng nước ngọt sâu trong nội địa (Fishbase, 2008) Chúng được tìm

thấy ở các nước: Úc, Bangladesh, Brunei Darsm, Campuchia, Ấn Độ,

Indonesia, Lào , Malaysia, Papua Guin, Myanmar, Philippines, Singapore, Sri

Lanka, Thái Lan, và Việt Nam (Fishbase, 2008)

Loài cá Ngát chó (Plotosus canius) sống đáy, vùng nước ngọt, nước lợ và nước

mặn, phân bố chủ yếu ở: vùng ven biển các nước Bangladesh, Myanmar, Thái

Lan, Sundaland, Sulawesi, Moluccas, Ấn Độ, và bên trong hạ lưu sông

Mekong

2.1.2 Việt Nam

Trang 9

Ở nước ta có 2 loài cá thuộc giống Plotsus là:

Loài Plotosus canius tìm thấy ở Nam Bộ và sông MêKông (Nguyễn Hữu

Phụng và Nguyễn Nhật Thi, 2004; Google, 2008)

Loài Plotosus linaetus được tìm thấy ở Vịnh Bắc Bộ và Miền Trung Việt Nam;

kích thước trung bình 15-20 cm, lớn nhất 90 cm Trên thế giới cá Ngát sọc phân bố ở biển và cửa sông, Đông Phi, Mandagascar, Hồng Hải, Ấn Độ, Úc, Malaysia, Philippines, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam

Theo kết quả khảo sát của Lâm Văn Minh, 2000 cho biết cá Ngát có thể sống nơi có các chỉ tiêu môi trường như sau:

Trung bình các điểm thu Yếu tố môi trường

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu môi trường tại các điểm thu của Lâm Văn Minh 2000

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản

2.3.1 Đặc điểm đinh dưỡng

Cấu tạo và chức phận của các cơ quan bắt mồi và tiêu hóa có liên hệ chặt chẽ với sự khác biệt về thức ăn của cá Theo (Nikolxki, 1964) cá ăn thịt với đặc điểm là miệng rộng, răng sắc trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Chiều dài của ruột có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm dinh dưỡng của cá, những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có chỉ số Li/LO (tỷ lệ chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài thân) ≤1, cá ăn tạp có Li/LO =1-3 và cá ăn tạp có Li/LO

≥ 3

Ngoài ra, để xác định tính ăn của cá người ta còn căn cứ trên lược mang, cấu tạo của dạ dày, răng hầu, …Theo Nikolxki, 1964 cá ăn thịt có lược mang ngắn, thưa, dạ dày to, manh tràng và răng hầu phát triển

Tính ăn của cá thay đổi theo kích thước cơ thể Lúc còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) cá dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng, khi cá hấp thu hết chuyến sang ăn thức

ăn bên ngoài nhưng chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ Theo Vahta; Nguyễn Văn Kiểm, (1997) cá Trơn ở giai đoạn cá con thức ăn gồm: giáp xác nhỏ, rotifer, phytoplankton,… Số ngày tuổi càng tăng thì tỉ lệ giáp xác nhỏ càng

Trang 10

giảm trong khi giáp xác lớn càng tăng Ngoài ra cá Trơn cũng có thể ăn thức ăn đáy như giun ít tơ, ấu trùng Chironomus

Theo Nguyễn Bạch Loan (2000), cá Ngát là loài ăn tạp thiên về động vật với phổ thức ăn rộng (Mùn bã hữu cơ, động vật phù du, cá con, thực vật thủy sinh, thực vật phù du, giáp xác, nhuyễn thể, giun)

Hầu hết các loài cá Ngát ăn động vật thân mềm, giáp xác, cá có vẩy, động vật đáy, mùn bã hữu cơ, giun nhiều tơ và một số loại thức ăn khác (Fishbase, 2008)

Theo Lâm Văn Minh (2000), phân tích theo phương pháp tần suất xuất hiện cho thấy thức ăn trong ruột cá Ngát có 6 loại là: Mùn bã hữu cơ; phiêu sinh thực vật; Giáp xác; Động vật hai mãnh vỏ; thực vật thượng đẳng và cá con Trong đó, mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh xuất hiện với tần số cao nhất là (100%) kế đến là cá con (72%) Còn thực vật thượng đẳng; giáp xác và động vật hai mãnh vỏ xuất hiện với tần số lần lượt là: 28%; 32%; 32%

Như vậy, trong 6 nhóm thức ăn thì giáp xác và động vật hai mãnh vỏ có cùng tần số xuất hiện (32%) Mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh tuy bắt gặp ở đoạn đầu ống tiêu hóa của cá nhưng cũng hiện diện ở ruột sau, với lược mang của cá Ngát ngắn, thưa, ruột cá lại ngắn, các cấu tạo này hoàn toàn không thích hợp cho các loài cá ăn mùn bã hữu cơ và phiêu sinh thực vật Bên cạnh đó các loài thức ăn ở đáy như: động vật hai mãnh vỏ, giáp xác cao cho thấy mùn bã hữu cơ

bị cá Ngát ăn vào cùng với các loại thức ăn ở đáy Các loại thức ăn như: sò, cua, tép xuất hiện ở đoạn đầu ống tiêu hóa với tần số khá cao nhưng ở đoạn sau chỉ thấy còn lại phần vỏ Điều đó cho thấy các loại thức ăn này được cá thường

ăn và tiêu hóa tốt

Tương tự, thực vật thượng đẳng xuất hiện ở đoạn đầu của ống tiêu hóa không cao và ở phần ruột sau lại không thấy Điều đó cũng cho thấy loại thức ăn này

cá không ăn thường xuyên nhưng cũng được cá tiêu thụ tốt Kết quả này dự đoán cá Ngát là loài ăn tạp

Theo kết quả phân tích phổ thức ăn của Lâm Văn Minh (2000) cho thấy: Cá con vẫn chiếm ưu thế nhất, giáp xác chiếm thứ hai, động vật hai mãnh vỏ đứng thứ ba, thấp nhất là mùn bã hữu cơ và thực vật thượng đẳng Cho thấy phổ thức

ăn của cá phong phú phù hợp với hình thái cấu tạo ống tiêu hóa của cá

Trang 11

những đặc điểm khác biệt có thể nhận biết được bằng mắt thường Bậc thang thành thục cho phép đánh giá nhanh mức độ thành thục và khả năng sinh sản của một số lượng lớn cá thể

Rất nhiều tác giả đã đưa ra các bậc thang thành thục của cá (Qasim, 1957; Kesteven, 1960; Nikoxki, 1963; Laevastu, 1965; Crosland, 1977; Beumer, 1979) Các tác giả này đã chia bậc thang thành thục ra nhiều giai đoạn (4-5 giai đoạn thậm chí nhiều hơn: 7-8 giai đoạn) Sự phân chia bậc thang thành thục ra nhiều giai đoạn cho phép phân chia khá chính xác mức độ thành thục của các cá thể trong cùng một loài hay giữa các loài cá khác nhau Tuy nhiên, đánh giá nhanh bằng mắt chỉ có thể phân chia một cách tương đối số lượng trung bình của mẫu vật quan sát Cho nên không thể sử dụng bậc thang thành thục có quá nhiều giai đoạn Bậc thang thành thục có ít hơn 8 giai đoạn được xem là thích hợp cho việc đánh giá hầu hết các loài cá (Holden và Raitt, (1974) trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Các bậc thang thành thục còn được sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng thành thục của tuyến sinh dục trong điều kiện ít trang thiết bị khảo sát và cho phép khảo sát một lượng lớn mẫu ngoài hiện trường Nhìn chung, có 2 bậc thang thành thục sinh dục thường được sử dụng:

Bậc thang thành thục 7 giai đoạn dành cho các loài cá đẻ trứng một lượt Các loài đẻ trứng một lượt có buồng trứng phát triển đồng nhất và tất cả các loài trứng đều rụng cùng một thời điểm Xác định giai đoạn thành thục các loài cá này thường không khó, vì hầu hết các tế bào trứng đều phát triển với cùng một giai đoạn trong cùng một thời điểm

Bậc thang thành thục 5 giai đoạn dành cho các loài đẻ trứng nhiều đợt Việc xác định giai đoạn thành thục ở các loài cá này là vấn đề khá khó khăn vì thời gian sinh sản của cá kéo dài và cá đẻ thành nhiều đợt Buồng trứng của các loài này có nhiều lứa trứng với các giai đoạn thành thục khác nhau

Bảng 2.2: Bậc thang thành thục của cá đẻ trứng một lượt (theo Kesteven (1960), trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

I Chưa thành thục Tuyến sinh dục chưa phát triển, còn rất nhỏ

nằm sát vào cột sống Tinh sào và noãn sào

là 2 sợi dây dài hẹp không màu hoặc màu xám Tế bào trứng không phân biệt được

Trang 12

đẻ trứng cũng được xếp vào giai đoạn này

Tuyến sinh dục mờ đục, màu hơi đỏ với nhiều mạch máu chiếm khoảng ½ thể tích xoang bụng Buồng trứng chứa đầy những hạt trứng nhỏ, màu trắng đục và có thể nhận biết được bằng mắt thường

Tinh sào có màu đỏ nhạt đến trắng, không

có sẹ lỏng chảy ra khi ấn nhẹ vào Buồng trứng có màu vàng (cam) hơi đỏ Các hạt trứng có màu đục và có thể phân biệt rõ từng hạt trứng Tuyến sinh dục chiếm khoảng 2/3 thể tích xoang bụng

Tuyến sinh dục chiếm gần hết thể tích xoang bụng Tinh sào có màu trắng, có sẹ trắng chảy ra khi ấn vào Hạt trứng lớn, tròn, một số trứng số trứng bắt đầu trong và chín

Trứng và sẹ chín muồi, khi ấn nhẹ vào bụng các trứng và sẹ chảy ra từng tia Nếu nhấc ngược cá lên và lắc nhẹ, trứng và sẹ chảy ra tự do Tất cả trứng trở nên trong suốt chỉ còn một vài trứng màu trắng đục sót lại trong buồng trứng

Tuyến sinh dục trở nên mềm nhũn, co lại

và có màu đỏ sẫm Xoang bụng hầu như trống rỗng, thường trong buồng trứng còn sót lại một ít trứng nhỏ, các trứng này sẽ

Trang 13

chuyển biến và thoái hóa Sau đó buồng trứng trở về giai đoạn II

Bảng 2.3 Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolxki (1963); trích bởi:

Cá thể non chưa thành thục sinh dục

Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy hạt trứng

Giai đoạn thành thục Bằng mắt thường nhìn thấy những hạt trứng Khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt

Giai đoạn chín muồi Tuyến sinh dục có kích thướt lớn nhất, nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra

Giai đoạn đẻ trứng Các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng cá Khối lượng tuyến sinh dục

từ đầu đến cuối giảm đi rất nhanh

Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được phóng thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng

2.3.2.2 Phương pháp xác định mức độ thành thục theo chiều dài cơ thể:

(trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Trong những trường hợp thực tế, việc thu mẫu để xác định mức độ thành thục sinh dục rất khó thực hiện Có một mối liên hệ khá chặt chẽ giữa giai đoạn thành thục và chiều dài cơ thể và cá chỉ thành thục sinh dục sau khi đạt một chiều dài nhất định Do vậy, xác định thang thành thục theo chiều dài cơ thể sẽ rất hữu ích trong việc đánh giá mức độ thành thục của một quần thể cá Khi đã

Trang 14

xác định được thang thành thục theo chiều dài cơ thể, tỉ lệ thành thục (%) tại một thời điểm nhất định có thể ước tính được dựa trên số đo chiều dài của cá Mối quan hệ giữa sức sinh sản và các chỉ tiêu sinh học khác (trích bởi: Phạm thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Nhiều tác giả (Bhatnagar, 1964; Rao, 1972; Varghese, 1973) cho rằng sức sinh sản của cá có liên quan với lập phương của chiều dài cơ thể (chiều dài lũy thừa 3), một số tác giả khác thì quan sát thấy sức sinh sản của cá thì tăng theo tỉ lệ của bình phương chiều dài cơ thể

Tương tự, có sự tồn tại của tương quan giữa sức sinh sản và trọng lượng cơ thể theo mối tương quan đường thẳng và đã được chứng minh bởi một số tác giả như Pillay (1958), Bridger (1961), Varghese (1973), Yuen (1955) đã tìm thấy mối tương quan giữa sức sinh sản và trọng lượng cơ thể là một mối tương quan theo đường cong và cho rằng sức sinh sản có liên quan nhiều với trọng lượng

cơ thể hơn là chiều dài điều này cũng đã được chứng minh bởi Manooch (1976)

Trọng lượng cơ thể cơ thể thường có mối liên quan chặt chẽ với lập phương của chiều dài, khi đó mối liên quan giữa sức sinh sản và trọng lượng được biểu diễn bằng một phương trình trong đó hệ số b tương đương 3 (Baxter, 1959; Bridger, 1961)

F = a WbTrong đó: W: Trọng lượng cá

F : Sức sinh sản của cá

a : Hằng số

Trọng lượng của buồng trứng phụ thuộc chủ yếu vào số lượng trứng có trong buồng trứng Nhiều tác giả đã khẳng định sự tăng sức sinh sản với sự gia tăng trọng lượng của buồng trứng Bagenal, 1963; Bhatnagar, 1964; Varghese, 1980) Tuy nhiên, ở hầu hết các loài cá có số lượng trứng không thay đổi khi vào mùa sinh sản, sự gia tăng khối lượng buồng trứng là do sự tăng khối lượng nước và các vật chất hữu cơ nhận được từ thức ăn (Bagenal, 1967)

Mối tương quan giữa sức sinh sản với chiều dài, trọng lượng cơ thể hay trọng lượng buồng trứng sẽ tạo ra một đồ thị với sự phân bố rãi rác các điểm Khi

đó mối tương quan giữa sức sinh sản (F) với mỗi chữ số của các biến số độc lập

Trang 15

khác (X1) thường được biễu diễn bằng phương trình tổng quát sau (Bagenal,

1967)

F = a X1b

Đồ thị của mối tương quan giữa log của sức sinh sản với log của mỗi chỉ số

độc lập khác sau đó sẽ được vẽ lên và đường biểu diễn mối tương quan thích

hợp nhất sẽ được xác định bằng phương pháp phân tích hồi qui bình phương

nhỏ nhất Phương trình của đường hồi qui này có dạng:Log F = log a – b log Xi

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Mẫu cá Ngát dùng trong nghiên cứu được thu mua

từ các thủy vực tự nhiên như: sông, cửa sông và biển ven bờ, thông qua các ngư

cụ khác nhau như: cào đáy, câu, đăng,…

b Dụng cụ và hóa chất:

- Formol công nghiệp 38%

-Thước bàn, thước cây,

- Khai nhựa, cal nhựa, chai nhựa, ống nhỏ giọt

-Găng tay, kính nhựa, khẩu trang

- Kính lúp sinh vật, trắc vi thị kính, lame, lamell, nước cất

- Pen, dao mổ, kéo giải phẩu

- Thùng bảo quản lạnh

- Cân điện, cân đồng hồ

3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện

-Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2008-05/2009

-Điểm thu mẫu: Mẫu được thu định kỳ ở 3 điểm dọc theo tuyến sông Hậu như:

An Giang, Cần Thơ, cửa sông Trần Đề (Sóc Trăng)

- Địa điểm thực hiện: phòng mẫu vật thuộc bộ môn Thủy sinh học ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ

Hình 3: Địa điểm thu mẫu cá Ngát

An Giang Cần Thơ

Trần Đề

Trang 16

Hình 4: Các địa điểm thu mẫu cá Ngát

3.3 Phương pháp thu và bảo quản mẫu

Cá Ngát được thu mua từ các ngư dân đánh bắt ở các thủy vực tự nhiên ở An Giang và Cần Thơ đại diện cho mẫu cá sống ở nước ngọt, cửa sông Trần Đề ở Sóc Trăng để đại diện cho vùng nước lợ mặn Mỗi đợt thu ít nhất 30 mẫu với các kích cỡ từ nhỏ cho đến lớn trên mỗi điểm thu Để mẫu cá thu được một cách ngẫu nhiên nên mẫu được thu từ: cào đáy, lưới đăng, câu và thu mẫu ở chợ địa phương

Mẫu thu được rửa sạch, trữ lạnh và mang về phòng thí nghiệm Nguồn lợi Trường Đại học Cần Thơ để phân tích, sau đó mẫu được bảo quản dung dịch formol 5-6%

3.4 Phương pháp xử lý mẫu

3.4.1 Giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

Quá trình phát triển của tuyến sinh dục cá Ngát ngoài tự nhiên được đánh giá dựa trên cơ sở quan sát hình dạng, kích cỡ, màu sắc tuyến sinh và xác định bằng thang thành thục sinh dục với 6 bậc của Xakun và Buskaia (1968), trích bởi Nguyễn Bạch Loan, 2008)

I

II

III

Cá thể non chưa thanh thục sinh dục

Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy hạt trứng

Giai đoạn thành thục Bằng mắt thường nhìn thấy những hạt trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt

Ngày đăng: 22/02/2014, 16:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ phân bố của cá Ngát trên Thế giới - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 1 Bản đồ phân bố của cá Ngát trên Thế giới (Trang 6)
Hình2: Hình dạng ngoài cá Ngát - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 2 Hình dạng ngoài cá Ngát (Trang 7)
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu môi trường tại các điểm thu của Lâm Văn Minh. 2000 2.3  Đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu môi trường tại các điểm thu của Lâm Văn Minh. 2000 2.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản (Trang 9)
Bảng 2.3 Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolxki (1963); trích bởi: Phạm Thanh Liêm  và Trần Đắc Định, 2004) - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Bảng 2.3 Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolxki (1963); trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) (Trang 13)
2.3.2.2 Phương pháp xác định mức độ thành thục theo chiều dài cơ thể: - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
2.3.2.2 Phương pháp xác định mức độ thành thục theo chiều dài cơ thể: (Trang 13)
Hình 3: Địa điểm thu mẫu cá Ngát - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 3 Địa điểm thu mẫu cá Ngát (Trang 15)
Hình 4: Các địa điểm thu mẫu cá Ngát - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 4 Các địa điểm thu mẫu cá Ngát (Trang 16)
Nỗn sào cá Ngát có hình ống hơi bầu, có màu vàng nhạt đến màu vàng rơm. Bên trong noãn sào có vách ngăn ngang (tấm trứng), có nhiều mạch máu - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
n sào cá Ngát có hình ống hơi bầu, có màu vàng nhạt đến màu vàng rơm. Bên trong noãn sào có vách ngăn ngang (tấm trứng), có nhiều mạch máu (Trang 20)
sữa, phần sau buồng tinh có các thùy màu xanh ngọc. (Hình 12) - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
s ữa, phần sau buồng tinh có các thùy màu xanh ngọc. (Hình 12) (Trang 22)
Hình 12: Giai đoạn IV - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 12 Giai đoạn IV (Trang 22)
Hình 13: Hệ số thành thục của cá qua các tháng thu mẫu - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 13 Hệ số thành thục của cá qua các tháng thu mẫu (Trang 23)
Kết quả theo dõi sự thành thục ở 214 mẫu cá Ngát qua các tháng (Hình 13) cho thấy  hệ  số  thành  thục  trung  bình  của  cá  Ngát  tương  đối  thấp  bởi  vì  vào  thời - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
t quả theo dõi sự thành thục ở 214 mẫu cá Ngát qua các tháng (Hình 13) cho thấy hệ số thành thục trung bình của cá Ngát tương đối thấp bởi vì vào thời (Trang 23)
Kết quả từ và Hình 14 cho thấy, cá Ngát có tuyến sinh dục ở giai đoạn IV vẫn xuất hiện ở các tháng 12, 1 - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
t quả từ và Hình 14 cho thấy, cá Ngát có tuyến sinh dục ở giai đoạn IV vẫn xuất hiện ở các tháng 12, 1 (Trang 24)
Hình 14: Biến động giai đoạn của cá theo thời gian - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
Hình 14 Biến động giai đoạn của cá theo thời gian (Trang 24)
Kết quả từ (Bảng 3.2) và (Hình 15) cho thấy giá trị độ béo của cá biến động từ 0,16% - 3,52% đối với độ béo Fulton và độ béo Clack biến động từ 0% - 3,34% - tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)
t quả từ (Bảng 3.2) và (Hình 15) cho thấy giá trị độ béo của cá biến động từ 0,16% - 3,52% đối với độ béo Fulton và độ béo Clack biến động từ 0% - 3,34% (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w