1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI

53 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÙ THỊ LỪU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÙ THỊ LỪU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG

CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG

NUÔI TẠI LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2007

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÙ THỊ LỪU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG

NUÔI TẠI LÀO CAI

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và

chưa từng được sử dụng được bảo vệ một học vị nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đã được cám ơn và

các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Người viết cam đoan

- Thầy giáo TS.Hoàng Toàn Thắng, cô giáo TS.Trần Trang Nhung

là người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo trong suốt quá trình làm đề tài

- Khoa Sau Đại Học trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

- Ban chủ nhiệm khoa và các thầy giáo khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã góp ý để việc làm đề tài thuận lợi

- Ban lãnh đạo Trạm Thú y, cán bộ các xã và bà con nhân dân của huyện Mường Khương

- Tất cả bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ Một lần nữa tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới mọi sự giúp đỡ đó

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2007

Tác giả

Lù Thị Lừu

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn 4

1.1.1.1 Nguồn gốc các giống lợn nhà 4

1.1.1.2 Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới việc hình thành giống lợn 4

1.1.2 Cơ sơ khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài lợn 5

1.1.2.1 Đặc điểm về di truyền 5

1.1.2.2 Đặc điểm về về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá 7

1.1.2.3 Lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng, năng suất thịt cao và phẩm chất thịt tốt 8

1.1.2.4 Lợn là loài gia súc có khả năng thích nghi cao, dễ huấn luyện 8

1.1.2.5 Đặc điểm sinh học về sự sinh sản của lợn 9

1.1.2.6 Tập tính sinh sản của lợn 9

1.1.2.7 Cơ sở khoa học nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý máu 10

1.1.3 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn 12

1.1.3.1 Sự sinh trưởng, phát dục của lợn 12

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng sản xuất thịt của lợn 14

1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn 17

1.1.4.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 17

1.1.4.2 Khả năng sinh sản của lợn 22

1.2 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Mường Khương - nơi hình thành nên giống lợn Mường Khương 27

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 30

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 31

1.3.2.1 Đặc điểm một số giống lợn Việt Nam 33

1.3.2.2 Một số đặc điểm giống và kết quả nghiên cứu về lợn Mường Khương 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đối tượng nghiên cứu 41

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 41

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 41

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 41

2.3 Nội dung nghiên cứu 41

2.4 Phương pháp nghiên cứu 41

2.4.1 Phương pháp điều tra 41

2.4.2 Phương pháp khảo sát 42

2.4.3 Phương pháp thí nghiệm trên lợn nuôi thịt 42

2.4.4 Phương pháp mổ khảo sát lợn thịt và các chỉ tiêu khảo sát 44

2.4.5 Phương pháp phân tích thành phần hoá học thịt nạc 45

2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 46

2.5.1 Chỉ tiêu điều tra tình hình chăn nuôi lợn của huyện Mường Khương 46

2.5.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của lợn Mường Khương 46

2.5.3 Chỉ tiêu sinh sản của lợn cái Mường Khương 46

Trang 4

2.5.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng của lợn con, lợn thịt nuôi thả rông và

lợn thí nghiệm nuôi thịt 48

2.5.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu bổ sung thức ăn cho lợn thí nghiệm 49

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 50

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 51

3.1 Kết quả đều tra tình hình chăn nuôi lợn ở huyện Mường Khương 51

3.1.1 Diễn biến đàn lợn của huyện Mường Khương qua các năm 51

3.1.2 Cơ cấu đàn lợn Mường Khương trong một số xã điều tra 54

3.2 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của lợn Mường Khương 56

3.2.1 Đặc điểm sinh học về màu sắc lông 56

3.2.2 Đặc điểm sinh học về sinh sản của lợn Mường Khương 58

3.2.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái Mường Khương 58 3.2.2.2 Khả năng sinh sản của lợn nái Mường Khương 60

3.2.3 Đặc điểm sinh học về khả năng sinh trưởng của lợn Mường Khương 64

3.2.3.1 Sinh trưởng của lợn con theo mẹ giai đoạn bú sữa 64

3.2.3.2 Sinh trưởng của lợn thịt trong điều kiện nuôi thả rông 69

3.2.3.3 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thịt nuôi thả rông 70

3.2.3.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn Mường Khương trưởng thành nuôi thịt 73

3.2.3.5 Sinh trưởng của lợn thịt trong điều kiện nuôi thí nghiệm 75

3.3 Kết quả mổ khảo sát lợn thịt thí nghiệm nuôi từ 3 - 7 tháng tuổi 81

3.4 Kết quả phân tích thành phần hoá học thịt lợn 84

3.5 Kết quả của biện pháp tác động thức ăn cho lợn Mường Khương nuôi thịt từ 3 - 7 tháng 85

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Đề nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ được viết tắt Chữ viết tắt

Follicte Stimulating Hormone FSH

Nhà xuất bản nông nghiệp NXBNN Nhà xuất bản giáo dục NXBGD

Phát triển nông thôn PTNT

Somato trophin Hormone STH

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 42

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn đậm đặc 6688 43

Bảng 2.3 Giá trị dinh dưỡng khẩu phần nuôi lợn thí nghiệm 43

Bảng 3.1 Diễn biến đàn lợn qua các năm 51

Bảng 3.2 Cơ cấu đàn lợn Mường Khương trong một số xã điều tra 54

Bảng 3.3 Tỷ lệ màu sắc lông của lợn Mường Khương 56

Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái Mường Khương 59

Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Mường Khương 61

Bảng 3.6 Khối lượng lợn con từ ss - 8 tuần tuổi (kg/con) 65

Bảng 3.7 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn giai đoạn bú sữa 67

Bảng 3.8 Khối lượng qua các tháng tuổi của lợn thịt Mường Khương nuôi thả rông 69

Bảng 3.9 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thịt nuôi thả rông 71

Bảng 3.10 Kết quả xác định chỉ tiêu sinh lý máu 73

Bảng 3.11 Sinh trưởng tích luỹ của lợn thịt từ 3 - 7 tháng tuổi 75

Bảng 3.12 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thịt 78

Bảng 3.13 Kết quả mổ khảo sát lợn thịt (n = 6 con) 81

Bảng 3.14 Các chỉ tiêu khảo sát nội tạng 83

Bảng 3.15 Thành phần hoá học của lợn thịt Mường Khương 84

Bảng 3.16 Hiệu quả của biện pháp tác động thức ăn 86

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ Đồ thị 3.1 Sinh trưởng tích luỹ của lợn con từ SS - 8 tuần tuổi 66

Đồ thị 3.2 Sinh trưởng tích luỹ của lợn thịt nuôi thả rông 70

Đồ thị 3.3 Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm từ từ 3 - 7 tháng tuổi 77

Biểu đồ 3.1 Sinh trưởng đối của lợn con từ SS - 8 tuần tuổi 67

Biểu đồ 3.2 Sinh trưởng tương đối của lợn con từ SS - 8 tuần tuổi 67

Biểu đồ 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn nuôi thả rông 72

Biểu đồ 3.4: Sinh trưởng tương đối của lợn nuôi thả rông 72

Biểu đồ 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm từ 3 - 7 tháng tuổi 80

Biểu đồ 3.3 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm từ 3 - 7 tháng tuổi 80

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Bản đồ Vị trí địa lý huyện Mường Khương 29

Ảnh 1: Hình thức giao phối tự do giữa đực con, mẹ và đàn con sinh ra 55

Ảnh 2: Màu sắc lông và phương thức nuôi lợn 58

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia

súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một nguồn thực

phẩm chiếm tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người Ngoài ra còn

cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và một số sản

phẩm phụ cho công nghiệp chế biến như da, mỡ…

Sở dĩ con lợn có những vị trí quan trọng như trên là nhờ có nó đặc

điểm sinh học ưu việt như: Khả năng sinh sản, khả năng cho thịt, mỡ cao,

ăn tạp, chi phí thức ăn trên một kg tăng khối lượng thấp Mặt khác thịt lợn

có giá trị dinh dưỡng cao, phẩm chất tốt, tỷ lệ tiêu hoá của con người đối

với thịt lợn là 95%, đối với mỡ lợn là 97% và phù hợp với khẩu vị của đa số

người tiêu dùng Vì vậy lợn được nuôi rộng rãi ở hầu khắp các nước trên

thế giới

Để cải tiến giống lợn và nâng cao năng suất chăn nuôi chúng ta đã

nhập các giống lợn ngoại như: Đại bạch, Landrace, Yorkshire, New

Hampshire, Pietrain… để lai kinh tế với một số giống lợn nội tốt như: Lợn

Móng Cái, lợn Ỉ và hiệu quả của các cặp lai này đã được nhiều tác giả thông

báo Năm 1981, Viện Chăn Nuôi đã tạo được giống lợn ĐBI - 81, (Hoàng

Gián và CS, 1985) [12]: Edel x Lang Hồng cho tỷ lệ nạc 43,14% Tuy nhiên

ở các cộng đồng dân cư Việt Nam vẫn có nhiều giống lợn nội tốt như: Lợn

Mẹo ở vùng Tây Nghệ An, lợn Ba Xuyên ở Nam Bộ, lợn Mường Khương ở

Lào Cai Các giống lợn này đều có chung đặc điểm là thích nghi tốt với

điều kiện tự nhiên, chịu đựng kham khổ tốt, thành thục sớm, ăn tạp, khéo

nuôi con… Lợn Mường Khương là một giống lợn bản địa được nuôi nhiều

ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt - Trung trong đó

có nhiều nhất là ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai Đây là một giống

lợn nội tốt, tầm vóc to, sinh trưởng nhanh hơn so với một số giống lợn nội

khác Hơn nữa, lợn Mường Khương có khả năng cho nhiều nạc, ngon thịt lại chịu đựng kham khổ và thích ứng rất tốt với tập quán chăn nuôi còn lạc hậu Trong những năm 1960 - 1970 các số liệu cơ bản về giống lợn Mường Khương đã được cục Chăn nuôi gia súc nhỏ tổ chức điều tra, đánh giá và thông báo để làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy Trải qua mấy chục năm các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều biến đổi, vì vậy

sự đánh giá một cách toàn diện về giống lợn này cần được đặt ra Hiện nay

vị trí của giống lợn Mường Khương trong cơ cấu giống lợn nuôi ở khu vực thay đổi như thế nào? Các đặc điểm sinh vật học và các chỉ tiêu sản xuất như sức sinh trưởng, sinh sản của giống lợn này thay đổi ra sao? Nhiều vấn

đề khoa học và thực tiễn đặt ra xung quanh giống lợn này hiện vẫn là những vấn đề chưa sáng tỏ

Mặt khác, trong xu thế tiêu dùng hiện nay thịt lợn nội nói chung, lợn Mường Khương nói riêng đang rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản”

có giá trị trên thị trường bởi ưu thế về chất lượng Điều này đã được khẳng định trong các kết quả nghiên cứu quỹ gen vật nuôi Việt Nam, lợn Mường Khương được xác định là một giống quý của quốc gia cần phải giữ gìn, bảo

vệ để khai thác các gen tốt của giống lợn này cho việc phát triển chăn nuôi lợn ở nước ta Tuy nhiên, sự phát triển chăn nuôi lợn Mường Khương còn

bị hạn chế bởi đặc điểm năng suất thấp Hầu như người dân không chú ý đến các biện pháp kỹ thuật mà chủ yếu chăn nuôi theo phương thức quảng canh Do vậy, để nâng cao sức sản xuất thịt của giống lợn này cần có các giải pháp kỹ thuật như tác động thức ăn nhằm tăng năng suất thịt đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của người dân tại địa phương Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nói trên chúng tôi tiến hành làm đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất và tác động của việc bổ sung thức ăn nhằm nâng cao sức sản xuất thịt của giống lợn Mường Khương nuôi tại Lào Cai”

Trang 7

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống

lợn Mường Khương

- Bước đầu xác định hiệu quả biện pháp kỹ thuật tác động thức ăn để

nâng cao sức sản xuất thịt của giống lợn này

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các nghiên

cứu khoa học tiếp theo về giống lợn Mường Khương

- Có cơ sở thực tiễn để khuyến cáo sử dụng biện pháp tác động thức

ăn nhằm tăng khả năng sản xuất thịt của giống lợn Mường Khương

Giống lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt

nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại Đó là lợn rừng Châu Âu (Sus scrofa ferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus sus vittatus) được

con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành Căn cứ vào hình dáng của tai, người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ Châu Âu và Châu Á

thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn

Giống lợn lai cổ đại là do giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu và nguyên thuỷ Châu Á tạp giao mà thành Giống lợn này được nuôi chủ yếu tại các nước dọc theo Địa Trung Hải Trong đó lấy giống lợn lông xoăn La Mã và lợn ở bán đảo Ban Căng lai với lợn Trung Quốc là giống thành thục sớm, phẩm chất thịt ngon, mềm, ở đời sau cho tự giao và hình thành giống lợn lai

cổ đại Các giống lợn nhà nuôi hiện nay là do các giống lợn Cổ đại trước kia thông qua các phương pháp tạp giao cải lương khác nhau mà dần hình thành nên, (Trần Văn Phùng và CS 2004), [35]

1.1.1.2 Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới việc hình thành giống lợn

Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau dẫn đến việc hình thành các giống lợn khác nhau

Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã cải thiện các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và tạo nên giống lợn nguyên thuỷ Châu Á từ lợn rừng Châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục Ở Châu Âu, cũng do điều kiện

Trang 8

tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc điểm

như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao

Nguyễn Thiện và CS (2005) [50] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn

hoang đã có nhiều thay đổi Điều trông thấy rõ rệt là thân hình bé hẳn đi,

nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời

kỳ Trung Cổ, mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như

tai rủ, mãi về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng

hơn về hình dáng dần dà dài thêm, cao chân, mông phát triển

Vào những thập kỷ 20, trong từng thời kỳ khác nhau, ở cả hai miền

Nam Bắc chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản

Ở Miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống

Berkshire, Yorkshire, Larrge white, lanrace…

Miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn

Tân Kim, Tân Cương… từ Trung Quốc Sau đó toàn quốc vào những năm

70 - 80 đã nhập các giống có tỷ lệ nạc cao như: Landrace, Yorkshire, Larrge

white… và vài chục năm nay nhập các dòng Hybrid, các tổ hợp lai siêu nạc

từ các nước Đông Âu, Tây Âu, Mỹ… để phát triển lợn lai các loại Các giống

lợn cao sản thường được dùng để cho lai với các giống lợn địa phương như:

Đại Bạch x Ỉ, Landerace x Móng Cái, Yorkshire x Ba Xuyên… hoặc để pha

máu cho các loại dòng lợn cao sản khác

1.1.2 Cơ sơ khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của

loài lợn

1.1.2.1 Đặc điểm về di truyền

Cũng như các loài gia súc khác đặc điểm di truyền các tính trạng chất

lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của

Mendel màu sắc lông da như trắng, đen, vàng là những tính trạng chất

lượng… còn tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con

trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ,… Đó là những tính trạng

do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau, (Nguyễn Thiện và CS, 1998) [44]

Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype) Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (geno type) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment) Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E

Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen) Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:

G = A + D + I Trong đó: G : Giá trị kiểu gen

A : Giá trị cộng gộp

D : Giá trị sai lệch trội

I : Giá trị sai lệch tương tác

A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm

Theo J F Lasley (1974) [16] cho biết những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng

có hệ số di truyền trung bình

Trang 9

Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính

trạng có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao

Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao

Từ những kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất

ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di

truyền và các yếu tố môi trường Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay

thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức

ăn Vì thế trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất

lượng cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có

năng suất chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi

dưỡng, chăm sóc đối với con vật

1.1.2.2 Đặc điểm về về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá

Theo Hoàng Toàn Thắng và CS, (2006) [40] cho biết dạ dày lợn là dạ

dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày

đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị

và vùng hạ vị Vùng thực quản không có tuyến, vùng manhnang và thượng

vị có tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl

Theo Nguyễn Thiện và CS, (1998) [45], ruột non của lợn dài gấp 14 lần

chiều dài cơ thể gồm 3 phần: phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng Ruột già

dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng

Hệ tiêu hoá của lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tuỳ

theo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi Lợn nuôi theo hướng mỡ, chăn

thả, quảng canh ăn nhiều thức ăn thô thì bộ máy tiêu hoá to hơn, dài hơn so

với lợn hướng nạc Do đặc điểm cấu tạo tiêu hoá mà lợn có các đặc điểm tạp

ăn, chịu đựng kham khổ và có khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, nhất

là nơi các giống lợn ít được chon lọc Do ăn nhiều thức ăn thô xanh nên ruột

già của lợn tồn tại hệ vi sinh vật có khả năng tiêu hoá một phần celluloza

Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng tiêu hoá thức ăn cao Để sản xuất ra một khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn hết 6 - 10 kg

Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn,

để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn

1.1.2.3 Lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng, năng suất thịt cao

và phẩm chất thịt tốt

Lợn là loài gia súc thành thục sớm, nhất là các giống lợn nội của ta Lợn đực 40 - 50 ngày đã có biểu hiện động dục và có khả năng giao phối cơ quan sinh dục có khả năng sản sinh tinh trùng, lợn cái 3 - 4 tháng tuổi đã biểu hiện động dục

Do khả năng sinh sản của lợn nái cao, một năm một lợn nái có thể sản xuất được 20 - 25 lợn con, nếu đem nuôi vỗ béo thì sau một năm một lợn nái có thể góp phần sản xuất khoảng 2 tấn thịt Lợn không những có khả năng sản xuất thịt cao mà phẩm chất thịt cũng tốt Thịt lợn có nhiệt năng trong 1 kg thịt đạt tới 2680 Kcal, trong khi đó thịt bò có 1710 Kcal Trong thành phần dinh dưỡng của thịt lợn protein chiếm tỷ trọng tương đối cao và

có chứa tất cả các axitamin cần thiết cho cơ thể con người

1.1.2.4 Lợn là loài gia súc có khả năng thích nghi cao, dễ huấn luyện

Lợn có khả năng thích nghi cao với các điều kiện khí hậu khác nhau,

do đó địa bàn phân bố của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới

Khả năng thích nghi của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm tốt này cho đời sau Khi di chuyển từ vùng ôn đới sang nhiệt đới và ngược lại thì lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống

Trang 10

Trong thực tiễn sản xuất người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho

lợn có phản xạ có điều kiện thuận lợi như: tập cho lợn có phản xạ bài tiết

phân, nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn

luyện đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo,

(Trần Văn Phùng và CS, 2004) [33]

1.1.2.5 Đặc điểm sinh học về sự sinh sản của lợn

Sinh sản là hoạt động sinh lý cơ bản của động vật để duy trì nòi

giống, là truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia

thông qua các tế bào sinh dục là tinh trùng và trứng Sự kết hợp giữa tinh

trùng và trứng tạo thành hợp tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra

một thế hệ mới

Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể

dịch của cơ thể điều khiển, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và

ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng ) Trong chăn nuôi

người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao và thành thục

sớm, đẻ dễ dàng, ít gặp khó khăn trong khi đẻ Nhất là các giống lợn nội,

con đực 30 ngày tuổi đã có phản xạ nhảy, 40 ngày tuổi đã có thể có tinh

trùng non, 50 - 60 ngày tuổi cho phối thì con cái đã có thể có chửa Lợn cái

nội 3 - 4 tháng đã động dục và có hiện tượng rụng trứng, đối với con cái

ngoại 5 - 6 tháng tuổi đã động dục Lợn là loài gia súc đa thai như: Lợn

móng cái đẻ 11 - 14 con/lứa, lợn Ỉ đẻ 10 - 12 con/lứa Thời gian chửa đẻ của

lợn ngắn từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và CS, 1998) [45]

1.1.2.6 Tập tính sinh sản của lợn

Trong tự nhiên lợn rừng sống theo bầy đàn, trong giao phối tự nhiên

vào mùa sinh sản của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh giành giật lợn

cái giữa các con đực Lợn nhà thích nghi nhanh với những tập luyện do con

người như hiệu lệnh, đúng giờ ăn, nơi thải phân, nước tiểu và nằm ngủ đúng

1.1.2.7 Cơ sở khoa học nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý máu

Các chỉ tiêu sinh lý máu ở gia súc gia cầm nói chung khá ổn định, ít biến đổi và được di truyền như các tính trạng khác của con vật Việc nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý máu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, dự đoán hoặc có những kết luận chắc chắn hơn về các tính trạng sản xuất của gia súc

- Hồng cầu: Hồng cầu gia súc có hình đĩa, lòm hai mặt, không có nhân, khác với hồng cầu của gia cầm hình bầu dục có nhân

Số lượng và kích thước của hồng cầu thay đổi theo giống tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng, trạng thái cơ thể và sinh lý… Hồng cầu có đường kính từ 7

- 8 micromet, dày 2 - 3 micromet Tổng diện tích bề mặt là 27 - 32m2 trên 1 kg thể trọng, (Hoàng Toàn Thắng và CS, 2006) [40]

Hồng cầu chứa 40% vật chất khô trong đó 90 - 95% là hemoglobin;

3 - 8% các protit khác, 0,5% lencitin, 0,3% Cholesteron, các chất khoáng ở dạng ion tan trong dung dịch, Nguyễn Thị Minh (2001) [32] Hồng cầu có vai trò quan trọng chúng vận chuyển O2 và CO2 trong quá trình hô hấp Tham gia vận chuyển các chất dinh dưỡng, trao đổi chất, duy trì thành phần các ion của máu, điều hoà độ PH của máu

Số lượng hồng cầu thay đổi theo tuổi và giống của gia súc như: lợn lớn có số lượng là 5,0 triệu/mm3

máu, lợn con là 4,7 - 5,8 triệu/mm3 máu, lợn móng cái là 5 - 6 triệu/mm3

máu, lợn Lang hồng 5,2 - 5,8 triệu/mm3máu (Hoàng Toàn Thắng, CS, 2006) [40]

Trang 11

- Bạch cầu: Bạch cầu là những tế bào có nhân và bào tương, có khả

năng di động Số lượng bạch cầu thường ít khoảng 1000 lần so với hồng cầu

được tính theo đơn vị nghìn/mm3

máu Số lượng bạch cầu là một trong những chỉ tiêu để xét đoán phản ứng đề kháng của cơ thể vật nuôi Các đáp

ứng miễn dịch chủ yếu được thực hiện là do hoạt động của các bạch cầu

Các bạch cầu này bao gồm các tế bào lympho B, T, lympho chứa hạt to

trong tế bào chất, các đại thực bào, các tế bào bạch cầu trung tính, bạch cầu

ưa axít, các tế bào phụ trợ, bạch cầu ưa kiềm, các tế bào mast, các tế bào

dạng tấm và một số tế bào của mô, (Đỗ Ngọc Liên, 1999) [26]

Số lượng bạch cầu thường ít ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sinh lý

của cơ thể Số lượng bạch cầu thường tăng sau khi ăn, khi đang vận động, khi

con vật có thai, giảm khi tuổi tăng lên, Hoàng Toàn Thắng và CS (2006) [40]

cho biết số lượng bạch cầu của lợn lớn 20,00 nghìn/mm3

máu, lợn con 15,00 nghìn/mm3 máu Trong trường hợp bệnh lý, bạch cầu tăng mạnh khi

bị viêm nhiễm có sự sung tuỷ, bị nhiễm phóng xạ, tiếp xúc hoá chất bị

nhiễm độc benzen Vì vậy xác định số lượng bạch cầu có ý nghĩa rất lớn

trong chẩn đoán

- Hemoglobin (Hb)- là thành phần chủ yếu của hồng cầu chiếm 90%

vật chất khô của hồng cầu và đảm nhận các chức năng của hồng cầu (huyết

sắc tố)

Hemoglobin là một hợp chất protein phức tạp dễ tan trong nước,

trong thành phần cấu tạo có một phân tử globin (chiếm 96%) kết hợp với 4

phân tử Hem (chiếm 4%) Phân tử globin gồm 4 chuỗi polypeptid trong đó

có 2 chuỗi  và 2 chuỗi  cùng 4 phân tử (Hem) gắn trên lưng 4 chuỗi

polypeptid đó Globin có tính đặc trưng cho từng loài, vì vậy kiểu Hb mang

đặc trưng di truyền của phẩm giống, trong chăn có thể xác định giống qua

kiểu Hb của từng cá thể Ở đây số lượng hồng cầu phản ánh phẩm chất con

giống, số lượng hồng cầu càng nhiều thì sức sống con vật càng tốt

Hoàng Toàn Thắng và CS (2006) [40] cho biết: đối với lợn lớn 11,5 g%, lợn đực giống 12,2g%, lợn con 10,5g% Mỗi 1g Hb có khả năng bão hoà tối đa 1,34ml O2 Từ đó có thể tính được lượng O2 mà máu động vật kết hợp trong quá trình hô hấp khi biết được hàm lượng Hb trong máu

1.1.3 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn

1.1.3.1 Sự sinh trưởng, phát dục của lợn

Theo Trần Đình Miên (1975) [29] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục và sự tích luỹ về chất Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào

ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định

* Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn

Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:

- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi

- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai

Trang 12

Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ

tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày

Trong thực tế sản xuất người ta chia ra lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi

thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ Lợn chửa kỳ II rất quan trọng, ảnh hưởng

rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh

được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II Theo Trương Lăng (1995) [24]

bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng

thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần Nếu lợn

chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh dù nuôi dưỡng tốt vẫn chậm

lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng

xuất chuồng

Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục,

thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi

Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện

nay một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45

ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ.Tuy

nhiên muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao

hơn ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức

ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ

Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây

là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện và CS,

(1998) [45]

Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát

dục của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho

con vật phát triển tốt ngay lúc đó còn là bào thai, nâng cao sức sản xuất và

phẩm chất giống sau này

* Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng

Trong phạm vi ứng dụng có thể đề cập đến các chỉ tiêu sau đây:

- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo tăng lên sau một thời gian sinh trưởng

- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng kích thước của cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiều gam Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể hay kích thước các chiều đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng sản xuất thịt của lợn

Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng sản xuất thịt của lợn gồm hai nhóm: Các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài

* Các yếu tố bên trong

Theo Trần Văn Phùng và CS, (2004) [33] cho biết: Yếu tố di truyền

là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau

Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ

Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của gia súc gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản… đều là tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng ở đó sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ

Trang 13

hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này

chính là nguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Tính

trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên

cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng

trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo… (Trần Đình Miên và CS,

1975) [29]

Ngoài ra quá trình trao đổi chất trong cơ thể cũng là một trong những

yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn Quá trình trao đổi

chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon thuỳ trước tuyến

yên STH là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo Hoàng

Toàn Thắng và CS, (2006) [40]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích

sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích

thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Nguyễn

Thiện và CS, (2005) [47] cho rằng: Giống cũng là yếu tố quan trọng ảnh

hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông

thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống ngoại

nhập nội Lợn Ỉ, móng cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60 kg

Trong khi đó lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể

đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi

* Các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình trưởng và phát triển

cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng và các

yếu tố khác

- Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh

chi phối đến sinh trưởng và sức cho thịt của lợn Trần Văn Phùng và CS,

(2004) [33] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu

không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Một số thí

nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể, ví như chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều protein thì tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng ta cho ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên

Cũng theo các tác giả nói trên thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi dưỡng rất rõ Nuôi dưỡng gia súc mẹ tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp gia súc mẹ nhiều con và gia súc con khoẻ mạnh Thành phần thức ăn

và chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thân thịt của vật nuôi

- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cơ thể Một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng khi nhiệt độ môi trường xuống thấp (dưới 5,50C) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt độ môi trường là 29,50C

Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ

đó ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15 - 180C, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 120C Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%, (Trần Văn Phùng và CS, 2004), [33] Tác giả Nguyễn Thiện và CS, (2005) [46] cho biết ở điều kiện nhiệt

độ và ẩm độ cao lợn phải tăng cường quá trình toả nhiệt thông qua quá trình

hô hấp (vì lợn rất ít có tuyến mồ hôi) để duy trì thăng bằng thân nhiệt Ngoài ra khi nhiệt độ cao sẽ cho khả năng thu nhận thức ăn của lợn hàng ngày giảm Do đó tăng trọng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hóa thức ăn kém dẫn đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn bị giảm

Trang 14

Các tác giả trên đều cho rằng ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng

và phát triển của lợn đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không

đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 1,5% so với lợn con

được vận động dưới ánh sáng mặt trời Ánh sáng mặt trời có thể tăng cường

hoạt động sống và quá trình sinh lý của cơ thể vật nuôi Dưới ánh sáng mặt

trời cơ thể phát sinh những phản ứng bên trong và bên ngoài có lợi, tăng

cường sinh trưởng phát dục, hồi phục cơ thể Tuy nhiên, ánh sáng gay gắt

cũng làm mỡ của những vật nuôi béo bị oxy hoá mạnh Do vậy, khi trời

nóng bức không nên để vật nuôi làm việc nặng dưới trời nắng lâu Ngoài

các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn đã nêu trên còn

có các yếu tố khác như: Chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu

chuồng nuôi Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu

của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng đạt mức tối đa

1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng

sinh sản của lợn

Hoàng Toàn Thắng và CS, (2006) [40] cho biết thành thục về tính là

tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Bộ máy

sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng, con đực

sinh tinh, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai

1.1.4.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

* Tuổi động dục lần đầu

Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động

dục lần đầu tiên.Tuỳ theo giống, tuổi động dục lần đầu tiên có khác nhau

Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động

lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội thuần, Hoàng Toàn Thắng và CS,

(2006) [40] Lợn Ỉ 120 - 135 ngày, Lợn Móng Cái 130 - 140 ngày, lợn Đại

Bạch nhập vào Việt Nam từ 203 - 208 ngày, lợn Landrace từ 208 - 209

ngày Ở lợn nội có tuổi động dục sớm, mà khả năng tăng trọng thấp, khối lượng khi động dục lần đầu đạt từ 20 - 25 kg Vì vậy không nên phối giống

ở thời kỳ này, vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996 [7], Nguyễn Văn Thiện và CS 1998) [45]

Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]

Hiện tượng lợn cái không động dục có thể do nhiều nguyên nhân như: Phát hiện động dục không đúng, stress do thời tiết nóng, động dục thầm lặng, ốm đau, sinh dưỡng thiếu protein hoặc năng lượng (Dwane R.Zimmerman và CS, 1996) [10]

* Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục lần đầu tiên người ta chưa phối giống,

vì ở thời điểm này thể vóc chưa phát triển hoàn chỉnh, số trứng rụng còn ít Người ta thường cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc ba Như vậy tuổi phối giống lần đầu của lợn nội thường bằng tuổi động dục lần đầu cộng thêm thời gian của một hoặc hai chu kỳ động dục nữa Thường phối giống vào lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, đối với lợn ngoại do khối lượng động dục lần đầu lớn, cho nên có thể phối giống từ lần động dục đầu tiên Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới

65 - 70 kg và lợn ngoại phối giống vào lúc 9 tháng tuổi với khối lượng không dưới 80kg

Theo Kiều Minh Lực và Jirawit Rachatanam, (2006) [28] Lợn nái có

số lứa đẻ thấp nhất là 1 lứa và cao nhất 11 lứa Tuổi phối giống đậu thai lần

Trang 15

đầu được tính từ tuổi dẻ lứa thứ 1 trừ cho thời gian mang thai trung bình

115 ngày, năng suất sinh sản đạt cao nhất khi lợn nái được phối giống và

mang thai lần đầu vào lúc 38 tuần tuổi và mức độ lớn hơn trung bình đàn là

5,76% Nếu lợn mang thai lần đầu ở độ tuổi trước 34 tuần tuổi thì năng suất

thấp hơn trung bình là 8,27% và nếu mang thai muộn sau 44 tuần tuổi thì

năng suất thấp hơn trung bình là 1,25% Đặc biệt nếu phối giống đậu thai

lần đầu lúc 30 tuần tuổi thì mức độ thiệt hại trong suốt đời sống sản xuất

của một lợn nái là 17,02%

Vậy tuổi phối giống lần đầu tiên của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần

được quan tâm và phối giống cho đúng thời điểm khi lợn đã thành thục về

tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả năng sinh

sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất đời sau Thực tế đã chứng

minh rằng nếu phối giống quá muộn sẽ gây lãng phí kinh tế, ảnh hưởng đến

sinh trưởng phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó (Nguyễn

Khánh Quắc và CS, 1995) [35]

* Tuổi đẻ lứa đầu

Sau khi phối giống, lợn có chửa 114 ngày (112 - 116 ngày), cộng

thêm số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu Lợn nái nội (Ỉ, Móng

Cái) trong sản xuất, tuổi đẻ lứa đầu thường 11- 12 tháng Lợn nái lai và lợn

nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh, Lưu

Kỷ, 1996) [7] Theo Trần Quang Hân, (2004) [13]: Kết quả cho thấy lợn nái

Trắng Phú Khánh có tuổi đẻ lứa đầu tương đối muộn (436,05 ngày), nhưng

năng suất sinh sản đạt khá cao với số con còn sống, số con cai sữa/lứa tương

ứng là 9,11 và 8,00 con; khối lượng trung bình một lợn con sơ sinh, 21 và 60

ngày tuổi tương ứng là 1,05; 4,29 và 10,55kg, số lứa đẻ /nái/năm là 1,78

* Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau đẻ

Chu kỳ động dục của lợn nái thường kéo dài 18 - 21 ngày, nếu chưa phối giống hoặc phối giống chưa có chửa thì chu kỳ sau sẽ được nhắc lại Lợn nái nuôi con sau khi đẻ 3 - 4 ngày hoặc sau 30 ngày nuôi con thường có hiện tượng động dục trở lại, nhưng không phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều

Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại Cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao, Đối với lợn sau cai sữa từ 3 - 7 ngày thường động dục trở lại, Hội Chăn nuôi Việt Nam, (2006) [19] Trong chăn nuôi công nghiệp có thể gây động dục đồng loạt bằng cách cai sữa đồng thời ở một nhóm lợn mẹ, John

R Diehl và CS, (1996) [55]

Nếu lợn được phối giống ngay lần động dục sau cai sữa, chúng thường dễ thụ thai, trứng rụng nhiều và dễ có số con đông Cần có biện pháp để tránh sự hao mòn của cơ thể mẹ sau khi đẻ Mức độ hao mòn không cho phép vượt quá 20%, không ép phối nếu lợn nái sau khi cai sữa con mà

cơ thể hao mòn, gầy sút nhiều Cần bỏ qua một chu kỳ động dục để lợn nái lại sức và nuôi được lâu bền hơn (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ 1996) [7]

* Đặc điểm động dục của lợn nái

Là sự phát triển mạnh của cơ quan sinh dục lợn cái đặc biệt là buồng trứng và tử cung xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại, 4 - 5 tháng với lợn nội Ở lợn lai khi 15 tuần tuổi mới xuất hiện các nang trứng đầu tiên, khi ở giai đoạn hậu bị trung bình rụng từ 8 - 14 trứng và số lượng đạt cao nhất ở giai đoạn lợn cái cơ bản là 12 - 20 trứng Số lượng trứng rụng còn phụ thuộc vào giống tuổi và cá thể Toàn bộ thời gian động dục của lợn nái

có thể chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn trước chịu đực (bắt đầu): Đặc điểm chung của lợn cái bắt đầu động dục là thay đổi tính nết Thường kêu rít, kém ăn hoặc bỏ ăn, phá

Trang 16

máng, có dáng băn khoăn, nhảy lên lưng con khác, không cho con khác

nhảy Âm hộ sưng, xung huyết, đỏ, hơi phù, bóng ướt, dịch nhầy chảy ra Ở

giai đoạn này không nên cho lợn phối ngay vì sự thụ thai chỉ thể hiện sau

khi có các hiện tượng trên từ 35 - 40 giờ đối với lợn ngoại và 25 - 30 giờ

đối với lợn nội

- Giai đoạn chịu đực (phối giống): Hay còn gọi là giai đoạn mê ì, khi

sờ lên lưng thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân choãi rộng ra, lưng

võng xuống, có hiện tượng đái són, âm hộ chuyển màu sẫm hoặc màu mận

chín và cho con khác nhảy lên lưng

- Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc): Các dấu hiệu động dục giảm dần,

lợn trở lại bình thường, ăn uống như cũ Âm hộ giảm bớt độ mở, se nhỏ,

thâm, niêm dịch chảy ra ít, trắng đục và rất dễ đứt Với lợn nái không được

thụ tinh, lại tiếp tục chu kỳ sinh dục mới Lợn nái đã được thụ tinh thì thể

vàng tồn tại và chu kỳ động dục sẽ mất đi

Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống

đúng thời điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn

Trong khi đó tinh trùng chỉ kéo dài và sống trong tử cung khoảng 45 - 48

giờ Theo các kết quả nghiên cứu, quá trình rụng trứng bắt đầu lúc 30 - 40 giờ

sau khi xuất hiện phản xạ mê ì Như vậy, phải cho lợn cái phối giống 10 - 12

giờ trước lúc rụng trứng, tức là 20 - 30 giờ sau khi bắt đầu chịu đực (Nguyễn

Thiện, Nguyễn Tấn Anh, 1993) [41]

Thời gian động dục của lợn nái nội kéo dài 3 - 4 ngày, lợn nái lai, nái

ngoại 4 - 5 ngày Do vậy thời điểm phối giống tốt nhất là giai đoạn giữa

chịu đực: Nái lai và nái ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày

thứ 4, lợn nái nội cho phối vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3, nếu tính

từ lúc bắt đầu động dục Trong sản xuất, thụ tinh nhân tạo khi lợn có triệu

chứng chịu đực buổi sớm thì buổi chiều cho phối, nếu có triệu chứng vào

buổi chiều thì sớm hôm sau phối, (Phạm Hữu Doanh và CS, 1996) [7]

1.1.4.2 Khả năng sinh sản của lợn

Khả năng sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về sinh lý sinh dục như: Sớm thành thục, chu kỳ động dục, thời gian mang thai, khả năng

đẻ con, nuôi con, số lứa đẻ trong năm, số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, thời gian cai sữa

* Quá trình mang thai và đẻ

Thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói

cụ thể hơn là quá trình đồng hoá giữa trứng (n NST) và tinh trùng (n NST) để tạo thành hợp tử (2n NST) có bản chất hoàn toàn mới và có khả năng phân chia nguyên nhiễm liên tiếp tạo thành phôi Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau (Nguyễn Xuân Tịnh và CS, 1996) [49] Quá trình thụ thai xảy ra ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng, sau đó hợp tử

sẽ di chuyển về sừng tử cung và bám vào nội mạc sừng tử cung, phát triển thành phôi, giữa phôi và tử cung sẽ tạo lên sự liên hệ trao đổi các vật chất dinh dưỡng hình thành nhau thai Sự phát triển của phôi thai gồm 2 giai đoạn chính:

- Giai đoạn phôi: Bắt đầu từ lúc thụ tinh, kết thúc vào phía trên 1/3 ống dẫn trứng là thời kỳ của thời kỳ đầu có chửa là giai đoạn hình thành ba

lá phôi để từ đó hình thành các cơ quan bộ phận của cơ thể

- Giai đoạn thai: Kéo dài từ cuối thời kỳ phôi đến khi đẻ và là thời kỳ sinh trưởng và phát triển của bào thai để hình thành con non (Hoàng Toàn Thắng và CS, 2006) [40]

Trong thời kỳ có chửa trao đổi chất của cơ thể mẹ tăng nhanh, đồng hóa tăng, dị hóa giảm Progesteron trong 10 ngày đầu có chửa tăng nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần chửa Sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục Một hai ngày trước khi đẻ progesteron giảm đột ngột, estrogen trong cuối kỳ chửa khoảng 2 tuần ở lợn bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất

Trang 17

Thời gian chửa được tính từ khi phối giống thụ tinh đến lúc đẻ Thời

gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 - 115 ngày) Khi chửa

thể vàng sẽ tồn tại và tiết ra kích tố progesteron có tác dụng ức chế tuyến

yên tiết ra FSH và LH, vì thế sẽ có tác dụng ức chế sự phát triển của bao

noãn, con vật có chửa sẽ không động dục và không rụng trứng

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp để đưa thai đã thành thục ra

ngoài Trước khi đẻ cơ thể mẹ có nhiều thay đổi như: Dây chằng xương

chậu dãn ra, nút cổ tử cung tan loãng Trước khi đẻ 12 - 48 giờ thân nhiệt

hơi hạ xuống, cổ tử cung mở, bầu vú căng ra, nặn bầu vú có sữa đầu tiết ra

* Số con sơ sinh /lứa

Số con sơ sinh /lứa phụ thuộc vào tính di truyền của giống Trong

điều kiện bình thường mỗi giống có khả năng sinh sản khác nhau Theo Vũ

Kính Trực, (1994) [51]: Lợn Móng Cái xương to có số con trên lứa khá cao

12,8 con sơ sinh, 1 tháng tuổi 8,8 con, 2 tháng tuổi 7,6 con

Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, (1996) [7] đưa ra: Lứa đẻ tốt nhất là lứa

thứ 2 đến lứa thứ 6 - 7 Tuổi sinh sản ổ định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi

thứ 4, sang tuổi thứ 5 lợn có thể đẻ tốt, nhưng con đẻ ra bị còi cọc, chậm

lớn, lợn nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con, như vậy ta cần

thay thế nái hàng năm

Số con sơ sinh/lứa phụ thuộc vào ưu thế lai của lợn mẹ và sự thích hợp

của con đực phối nó Theo Lawrence Evans và CS, (1996) [21]: Giống và ưu

thế lai của con mẹ có ảnh hưởng tới số lượng con đẻ ra Vì thế sự lựa chọn cái

hậu bị từ con mẹ vào dòng bố mắn đẻ sẽ làm tăng số con sơ sinh/lứa Cũng

theo các tác giả trên, đực giống quá tuổi cũng sẽ làm giảm số con sơ sinh/lứa

Phối giống không đúng thời điểm thích hợp, phối quá sớm hoặc quá muộn

cũng làm số con/lứa ít

* Khối lượng sơ sinh/ổ

Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lơn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Thiện và CS, 1998) [45]

Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội (Móng Cái): 0,5 - 0,7kg/con, lợn Ỉ 0,45kg/con Lợn ngoại Yorshise nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5kg/con (Trần Văn Phùng và CS, (2004) [23]

Ngoài ra khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái Vì thế trong giai đoạn lợn nái chửa và nhất là thời gian

20 ngày trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy

đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt Khi khối lượng con sơ sinh cao thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn

* Khối lượng cai sữa/ổ

Trong chăn nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa có một ý nghĩa rất quan trọng vì đó chính là cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn nái sinh sản và nâng cao năng suất chăn nuôi Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng xuất chuồng

Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau Lợn móng cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là

58, 20 - 60,88 kg; lợn F1 (Đại bạch x Móng cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn Thiện và CS, 1998) [45]

Trang 18

Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt hay xấu,

sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm

chất đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này Nuôi dưỡng tốt lợn

con còn là cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt

để con vật có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau

Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm

nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng Vì vậy, để có khối

lượng cai sữa/ổ cao ta phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn có chửa và lợn con

bú sữa, đặc biệt là bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, giúp cho lợn con sinh

trưởng phát triển mạnh, giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm giảm

tỷ lệ lợn con mắc bệnh và chết xuống mức thấp nhất

* Khả năng tiết sữa

Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng

cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại

thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người, (Hoàng Toàng Thắng

và CS, 2006) [40]

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là một chỉ tiêu nói lên đặc điểm của giống

Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau, sự tiết sữa của lợn nái là một

quá trình phản xạ do những kích thích vào bầu vú gây nên, thần kinh giữ vai

trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc bú, những kích thích này

truyền lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng Hypothalamus từ đó các

luồng xung động tác động vào tuyến yên tiết ra kích tố oxytoxin tác động đến

bầu vú kích thích tuyến bào làm cho lợn nái tiết sữa

Sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng

không giống nhau: các vú trước ngược sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các

vú phía sau nhìn chung kém, (Nguyễn Khánh Quắc và CS, 1995) [35] Theo

Trương Lăng (1996) [22], vú trước lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời kỳ

tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa vì

oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước nhiều hơn

Vì vậy, để đảm bảo tính đồng đều toàn ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước, cần tách riêng những lợn con đẻ trước chờ đến khi mẹ

đẻ xong mới chọn lợn và cho cả đàn vào bú Nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau khi đẻ, để lợn con có đủ kháng thể cho 5 tuần đầu của cuộc sống vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa ó globulin giúp cho

cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh

Trong đó Trịnh Văn Thịnh, (1973) [48] cho rằng thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu hơi vàng và đặc tiết ra 2 -3 ngày đầu sau khi đẻ Trong sữa đầu thành phần hóa học đều đậm đặc hơn sữa thường, lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 -18% so với 5 - 6%)

Với Phan Đình Thắm, (1997) [39] thì nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu vì trong sữa đầu có hàm lượng albumin và globulin cao hơn sữa thường đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Nên cần chú

ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu, bảo đảm được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của me

Theo Nguyễn Thiện và CS (1996) [43] cho biết ở lợn không có bể sữa, do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa, mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn mẹ qua khối lượng của đàn, người ta tính khả năng tiết sữa của lợn mẹ bằng công thức:

M = M 1 + M2 Trong đó: M là lượng sữa tiết ra ở cả 2 tháng M1 là lượng sữa tiết ra ở tháng thứ nhất

M 2 là lượng sữa tiết ra ở tháng thứ hai M1 = (W30 - Wss ) x 3

Trong đó: W30 là khối lượng toàn ổ lúc 30 ngày tuổi

Wss là khối lượng toàn ổ lúc sơ sinh

M2 = 4/5.M1

Trang 19

* Số con cai sữa/lứa

Số lợn con cai sữa trên lứa là số lợn con được nuôi sống cho đến khi

cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào tập quán chăn

nuôi, kỹ thuật chăn nuôi và trình độ chế biến thức ăn cho lợn con Ở các

nước tiên tiến người ta cho lợn con tách mẹ ở 21, 28 hoặc 35 ngày tuổi

Mục đích của việc tách con sớm là để cho số lứa đẻ của một nái trên năm

tăng lên đồng thời hạn chế được một số bệnh hay lây lan từ mẹ sang con

Ở Việt Nam số lượng lợn con cai sữa của đàn nái ngoại nuôi tại các

cơ sở giống lợn đạt khoảng 20 con/nái/năm Lúc cai sữa lợn con đạt 6,5

kg/con, như vậy khối lượng lợn giống đạt: 20 con x 6,5 kg = 130 kg/nái (Võ

Trọng Thành, 2007) [38]

Theo các số liệu công bố của Vũ Kính Trực, (1994) [51]: Trước năm 1980

mặc dù lợn Móng Cái có số con đẻ rất cao 11 - 12 con/ổ, nhưng do kỹ thuật chăn

nuôi lợn con bú sữa thấp nên số lợn con cai sữa chỉ đạt 7 - 7,5 con/lứa Ngày nay

số con cai sữa/lứa không ngừng tăng lên, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa có thể

đạt 85 - 95%

Nguyễn Thiện và CS, (1996) [42] cho biết: Thời gian cai sữa lợn ở

nước ta thường là 60 ngày, số lợn con cai sữa trên lứa là một chỉ tiêu kinh tế

kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó

phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo

mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con

Trong một ổ lợn, số lượng con sinh ra nhiều nhưng phải đảm bảo cho

sự phát triển bình thường của lợn con, người ta chỉ để lại một số con nhất

định để nuôi vì tỷ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt

1.2 VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN MƯỜNG

KHƯƠNG - NƠI HÌNH THÀNH NÊN GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG

Huyện Mường Khương là một huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lào

Cai Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông giáp huyện Si Ma Cai và huyện

Bắc Hà, phía Tây và Nam giáp huyện bảo Thắng, cách tỉnh lỵ Lào Cai 65 km

Thời tiết mang tính ôn đới và nhiệt đới, nhiệt độ trung bình là 22,80

C

Địa hình Mường Khương phức tạp, nhiều vực sâu chia cắt xen kẽ với các dải thung lũng hẹp, độ cao trung bình so với mực nước biển 950m, đỉnh cao nhất là 1609m Với 3 tiểu vùng khí hậu khác nhau (á nhiệt đới, nhiệt đới và ôn đới) Chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa đông lạnh kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15 - 180C, tháng 1 lạnh nhất nhiệt độ có thể xuống tới 5 - 60

C, mùa hè mát mẻ nhiệt độ cao nhất cũng không đến 350

C Độ ẩm không khí biến động trong khoảng 80 - 88%

Cùng với đà phát triển kinh tế chung của cả nước trong thời kỳ đổi mới,

từ năm 2003 đến nay nền kinh tế của huyện Mường Khương đã dần đi vào thế

ổn định và có mức tăng trưởng đáng kể Giá trị sản xuất Nông nghiệp - Lâm nghiệp chiếm khoảng 93,3%, có xu thế phát triển tăng đàn gia súc

Dân số Mường Khương trên 48.000 người, bao gồm 14 dân tộc anh

em sinh sống, dân tộc kinh chiếm 12%, dân tộc nùng chiếm 26%, Dáy 3,7%, Tudí 25%, Padí 3,5%, Phù lá 2,2%, còn lại các dân tộc Phù Lao, Tày, Mường, Thái, Hoa, Hán, Xa Phó, (trong đó dân tộc Hmông chiếm tỷ lệ cao nhất 41,78%) Trình độ văn hoá có nhiều mặt hạn chế, từ năm 2003 đến

2005 trình độ dân trí và xã hội phát triển khá ổn định

Hiện nay huyện đã có chủ trương xây dựng một số dự án phát triển chăn nuôi vì Mường Khương có ưu thế về đồi núi, nhiều đồng cỏ tạo điều kiện cho chăn nuôi Về chăn nuôi lợn đã có những tiến bộ đáng kể, nhân dân đã có ý thức được việc tích luỹ, phát triển kinh tế hộ từ chăn nuôi lợn, giống lợn nuôi chủ yếu là giống lợn địa phương Mà điển hình là giống lợn Mường Khương đã được công nhận là giống lợn quốc gia, có tầm vóc to, chịu đựng kham khổ, có sức chống chịu bệnh tật tốt, phù hợp với điều kiện

tự nhiên, khí hậu và tập quán chăn nuôi lâu đời ở địa phương Trong đó giống lợn này chủ yếu tập trung nhiều ở 3 xã là: Cao Sơn, La Pán Tẩn, Tả Thàng Đây là khu vực nằm sâu trong nội địa, giao thông đi lại khó khăn, đồng bào ở đây chỉ đem lợn con giống đi bán, mà không mua giống từ vùng

Trang 20

thấp về nên lợn ở đây có độ thuần cao, (Tổng quan về huyện Mường

Khương, 2006) [50] Dưới đây là bản đồ của huyện Mường Khương minh

hoạ cho những điều mô tả trên

Hình 1.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Mường Khương

Cũng theo Trần Văn Phùng và CS, (2004) [33]: Xét về nguồn gốc và

phân bố, thì lợn Mường Khương có nguồn gốc ở Mường Khương tỉnh Lào

Cai Đây là vùng rừng núi, phần lớn là đồi chọc không có cây to, ruộng đất

ít chia thành các lô, khoảnh nhỏ ở các khe núi hay thung lũng hẹp, khí hậu

lạnh Các đặc điểm khí hậu này cùng với tập quán chăn nuôi của đồng bào

nơi đây đã ảnh hưởng đến những đặc điểm của giống lợn Mường Khương

Đến nay lợn Mường Khương không chỉ có ở Lào Cai mà còn phân bố dọc

theo tỉnh Yên Bái và Phú Thọ đây là một dấu hiệu về sự phát triển của lợn

tỷ lệ cao nhất 24,3 kg/người/năm Mức tiêu thụ thịt bò 19,12 kg/người/năm và thịt gà 12 kg/người /năm Rõ ràng nhu cầu thịt lợn vẫn là nhu cầu lớn nhất hiện nay trên thế giới

Trong các năm qua ngành chăn nuôi lợn ở các nước trên thế giới tăng lên đáng kể Số đầu lợn của năm 1995 là 900480 nghìn con Trong đó số đầu lợn không đồng đều giữa các Châu lục, Châu Á có số đầu lợn cao nhất:506975 nghìn con, Châu Âu 167615 nghìn con, Bắc và Trung Mỹ

69197 nghìn con Nam Mỹ (Mỹ la tinh) 55889 nghìn con, Châu Phi 21541 nghìn con và ít nhất là Châu Đại Dương 4815 nghìn con, (Nguyễn Thiện và

CS, 1998) [45]

Trang 21

Do điều kiện kinh tế, kỹ thuật của từng vùng có khác nhau, nên sự

phân bố và phát triển các giống lợn cũng khác nhau Những nước công

nghiệp phát triển, hầu hết lợn của họ là các giống cao sản (Yorkshire,

Landrace, Duroc, Hampshire, Berkshire, Pietrain…), các nước đang phát

triển phổ biến là các giống lợn địa phương có năng suất thấp, nhất là các

nước vùng Châu Á và Châu Phi, (Lê Thanh Hải và CS, 1997) [16]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong mấy thập niên gần đây tình hình nghiên cứu về chăn nuôi lợn

đã thu được những thành tựu đáng kể đặc biệt là công tác giống Đã tiến

hành điều tra cơ bản ở từng khu vực và cả nước Kết quả của những cuộc

điều tra đã góp phần vẽ nên bức tranh về hiện trạng chăn nuôi lợn trong

nước để các nhà chiến lược về chăn nuôi lợn hoạch định kế hoạch, biện

pháp cải tạo và nâng cao năng suất đàn lợn nội

Trước năm 1964 nghiên cứu điều tra các giống lợn đã xếp giống lợn

Mường Khương có vai trò đứng thứ 3 sau lợn Ỉ và lợn Móng Cái làm nền

lai kinh tế ở miền Bắc

Năm 1964, nhà nước và tỉnh xây dựng trại giống lợn Bát Xát nhằm

nhân giống lợn Mường Khương cung cấp lợn giống trong vùng Sau chiến

tranh biên giới xảy ra (1979) trại bị phá hoại và các tư liệu cũng bị thất lạc

Năm 1997, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lào Cai đã

điều tra nghiên cứu, kết luận giống lợn này phân bố chủ yếu ở 3 xã: Cao

Sơn, Tả thàng, La pán Tẩn

Từ năm 1999, Viện Chăn nuôi phối hợp với Trung tâm Khuyến nông

tỉnh nghiên cứu và bảo tồn quỹ gen tại xã Mường Khương và Nấm Lư

huyện Mương Khương

Năm 1982 đến nay nhiều cơ sở giống phía Nam và phía Bắc đã nhập

giống Yorkshire từ Nhật, Mỹ, Anh, Canada nhằm cải tạo đàn lợn nội trong

nước cũng như làm tươi máu giống lợn Đại Bạch hiện có Đã có nhiều công trình nghiên cứu lai kinh tế giữa các giống lợn như: Ỉ x Móng Cái, Đại Bạch

x Móng Cái, Đại Bạch x Ỉ

Trước sức ép của nhu cầu đời sống, chúng ta đã có nhiều chủ trương phát triển chăn nuôi lợn theo quan điểm chạy theo số lượng mà chưa chú ý đúng mức tới việc khai thác và bảo vệ quỹ gen các giống lợn nội Hiện nay theo báo cáo của chương trình lưu giữ quỹ gen vật nuôi Việt Nam (allat gia súc, gia cầm Việt Nam, 2004) [2], có 5 giống lợn nội của ta đã bị tiệt chủng như dòng Ỉ mỡ Nam Định, giống lợn Lang Việt Hùng, xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Giống lợn Lang Hồng Hà Bắc, giống lợn trắng Phú Khánh, giống lợn Cỏ Nghệ An

Với nguy cơ biến mất của các giống gia súc, gia cầm nội, năm 1989

Bộ khoa học và công nghệ đã chính thức thực hiện: “Đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam” Từ đó đến nay, các bộ khoa học và các cơ quan tổ chức có liên quan đã làm được nhiều việc từ kiểm kê quỹ gen vật nuôi, phát hiện một số giống mới, xây dựng hệ thống lưu giữ quỹ gen, xuất bản 4 đầu sách và tạp chí chuyên đề, đề xuất các chủ trương và biện pháp bảo vệ nguồn gen vật nuôi bản địa

Theo Lê Viết Ly (1999) [27] cho biết: hiện nay đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam đã và đang triển khai tốt chương trình lưu giữ quỹ gen một số giống có nguy cơ biến mất là lợn Mẹo ở Nghệ An, lợn Sóc ở Buôn Mê Thuột và triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để bảo vệ, giữ gìn khai thác nguồn gen đã phát hiện được Riêng với lợn Mường Khương, chương trình đã đề xuất đưa vào danh mục giống lợn quý của quốc gia và cấm xuất khẩu ra nước ngoài Ở Hà Giang, sở Nông nghiệp đã thành lập trại giống lưu giữ quỹ gen lợn Mường Khương

Trang 22

1.3.2.1 Đặc điểm một số giống lợn Việt Nam

Các giống lợn nội Việt Nam rất phong phú, có trên 60 giống khác

nhau và chúng được phân bố khắp các vùng của nước ta, tại mỗi vùng có

những giống đặc trưng của riêng nó Trong đó phổ biến nhất là các giống:

Móng Cái, Ỉ, Lang Hồng nuôi ở vùng đồng bằng là chủ yếu, còn các giống

lợn miền núi phổ biến là: lợn Cỏ, lợn Mẹo, lợn Mường Khương, lợn Táp

Ná, lợn Vân Pa

* Giống lợn Móng Cái

Lợn Móng Cái có tính di truyền tương đối ổn định, sự biến dị không

lớn lắm, nhất là màu lông rất thống nhất Tất cả đầu lợn đen, giữa trán có

một điểm trắng, tất cả đều có cổ khoang chia lợn ra 2 phần Có 2 loại hình

Loại Móng Cái xương to, và loại Móng Cái xương nhỏ Loại xương nhỏ có

tầm vóc nhỏ, đầu nhỏ, mõm hơi dài và thẳng, chân nhỏ đi bàn, lưng hơi

võng Loại hình xương to thì ngược lại, đầu to, mõm dài vừa phải và bè,

trán có nếp nhăn, tai to ngang, chân to, tầm vóc trung bình, có 12 vú trở lên,

thể chất yếu, (Nguyễn Khánh Quắc và CS, 1995) [35]

Theo Vũ Kính Trực, (1995) [52]: Lợn Móng Cái nuôi ở Tràng Bạch

qua 95 lứa đẻ từ năm 1987 - 1991 cho thấy: Trung bình số con sơ sinh đẻ ra

còn sống là 11,64 con, lúc 30 ngày tuổi là 8,65 con, lúc 60 ngày tuổi 8,51

con Những số liệu trên cho thấy rõ tính đẻ sai con của lợn Móng Cái (chắc

chắn nhờ cùng 1 cơ chế di truyền có được từ giống lợn Trung Quốc) Sở dĩ

số lượng con 1 tháng tuổi và 2 tháng tuổi thấp là do chăm sóc nuôi dưỡng

kém Như vậy lợn Móng Cái Việt Nam phải có được giá trị như một nguồn

dự trữ gen, về tính sinh sản cao bằng nhân thuần chủng một cách có hệ

thống, có thể pha thêm máu những lợn giống Thái Hồ của Trung Quốc nhất

là giống Mai Sơn để kế thừa và phát triển tính cao sản của nó Tác giả cho

biết có một lợn Móng Cái ở Quảng Uyên, Quảng Ninh, trong 5 năm lứa nào

cũng đẻ trên dưới 20 con, kỷ lục là 27 con Một lợn Móng Cái khác cũng ở Quảng Ninh qua 3 năm nuôi đẻ 2 lứa/năm và mỗi lứa 17 - 18 con, kỷ lục là

24 con So với lợn Thái Hồ của Trung Quốc kỷ lục 32 con/lứa thì lợn Móng Cái của ta cũng chẳng kém lợn Thái Hồ là mấy

Tóm lại: Lợn Móng Cái có ngoại hình đồng nhất, thành thục sớm, đẻ

nhiều con, nuôi con khéo Có nhiều mặt cải tiến hơn lợn Ỉ, có tầm vóc to hơn và dài mình hơn Có khả năng đẻ 10 con/ổ, khả năng tiết sữa đạt và vượt chỉ tiêu 30 kg, khả năng tiêu hoá và sử dụng thức ăn thô xanh tốt Lợn Móng Cái có nhược điểm như tầm vóc còn nhỏ, thể chất yếu, lưng võng, bụng sệ, chân đi bàn, tăng trọng chậm, mình ngắn, ngực mỏng Do vậy, phương hướng là tăng cường công tác chon lọc và nhân thuần để nâng cao tầm vóc, cải tạo các nhược điểm của lợn mẹ, cho lai tạo với các giống lợn ngoại để nâng cao tầm vóc

* Giống lợn Ỉ

Các tác giả Đỗ Xuân Tăng và CS (1994) [37], Nguyễn Khánh Quắc

và CS, (1995) [35] cho biết: Giống lợn Ỉ được nuôi phổ biến ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, là một trong những giống lợn được nhân dân ta chọn lọc, nhân giống và nuôi dưỡng từ lâu

Về nguồn gốc: Chưa có một tài liệu nào xác định một cách chính xác, đầy đủ và khoa học Nhưng qua một số đặc điểm chủ yếu là địa bàn phân bố của lợn Ỉ, nhiều ý kiến nhận định rằng: Lợn Ỉ bắt nguồn từ Nam Định (cũ) tức là Hà Nam ngày nay, do lợn Ỉ ở đây thuần chưa bị pha tạp

Hiện nay, có thể do khả năng tăng khối lượng thấp, tỷ lệ mỡ cao và sức sinh sản thấp hơn so với giống Móng Cái, dẫn đến hiệu quả nuôi giống lợn này không cao Vì lý do đó giống lợn Ỉ bị giống Móng Cái chiếm chỗ và

số lượng lợn Ỉ bị giảm nhanh và hiện tại có nguy cơ bị mất trong sản xuất Thực tế giống lợn Ỉ chỉ tồn tại với một số lượng ít ở Thanh Hoá và một vài vùng khác, nhưng với độ thuần chủng không cao

Trang 23

Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có lông đen tuyền, đầu nhỏ thô,

mõm ngắn cong, bụng sệ, có 10 vú, chân yếu, lợn có hướng sản xuất mỡ

Lợn ỉ có 2 nhóm là Ỉ pha và Ỉ mỡ

Đặc điểm sinh trưởng phát dục: Lợn Ỉ lúc 2 tháng tuổi đạt 5,0 kg,

lúc trưởng thành đạt 85 kg

Khả năng sinh sản: Lợn Ỉ khả năng thành thục về tính sớm, con cái 3 - 4

tháng tuổi đã có biểu hiện động dục, chu kỳ động dục là 19 - 21 ngày, thời

gian động dục là 3 - 4 ngày, thời gian chửa 110 - 115 ngày, lợn nái có thể

đẻ 9 - 11 con/ổ, tỷ lệ nuôi sống đạt cao 90 - 92%

* Giống lợn Lang Hồng

Đây là giống lợn nổi tiếng ở vùng Bắc Ninh, thuộc nhóm còn có lợn

Lang Lạng Sơn, Thái Bình, Thái Nguyên nhóm lợn Lang này có pha máu

lợn Móng Cái với lợn địa phương, lông da lang từng nhóm trên mình,

không ổn định như lợn Móng Cái

Ngoại hình: Lợn Lang Hồng có ngoại hình tương tự giống lợn Móng

Cái, đầu to vừa phải, mõm bé và dài, tai to cúp về phía trước, cổ ngắn, lưng

võng, bụng to, xệ nên hai hàng vú thường xuyên quyết đất

Màu sắc lông giống như lợn Móng Cái, màu đen, ở giữa trán có điểm

trắng hình tam giác, giữa tai và cổ một dải trắng cắt ngang kéo dài từ bụng

đến chân, lưng và mông có màu đen kéo dài đến khấu đuôi và đùi không

giống yên ngựa như ở giống Móng Cái

Đặc điểm sản xuất có thua kém so với lợn Móng Cái nhưng không

đáng kể Nái sinh sản có 10 - 12 vú trở lên, đẻ 10 con/ổ, khối lượng sơ sinh

0,435 kg/con, 2 tháng tuổi 5,88 - 6,1 kg Lợn nuôi thịt 10 tháng tuổi đạt 58 - 59

kg, tỷ lệ mỡ 41% với tiêu tốn 5,8 - 6,1 kg thức ăn hỗn hợp cho 1kg tăng trọng

Nguyễn Thiện và CS, (2005) [47] cho biết, do giống lợn Lang Hồng là loại

hướng mỡ nên thường được giết thịt khi khối lượng còn nhỏ, khoảng 55 - 60

kg (10 - 12 thang tuổi) Chất lượng thịt xẻ tương đương giống lợn Móng Cái

là: tỷ lệ thịt móc hàm đạt 65 - 68%, tỷ lệ mỡ chiếm khoảng 35 - 37, tỷ lệ nạc là 36 - 40%

* Giống lợn Mẹo

Về nguồn gốc: Giống lợn này được nuôi nhiều ỏ vùng núi cao nơi

có đồng bào người Hmông sinh sống, số lượng được phân bố nhiều ở vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh, ngoài ra giống lợn Mẹo còn được nuôi ở Lào Cai, Yên Bái

Về Ngoại hình: Lợn Mẹo được chia là 3 nhóm: Nhóm lợn đen có 6 điểm trắng, đầu to, mặt hơi gẫy, tai to tròn hơi ngả về phía trước, cổ to và ngăn, ngực nở và sâu, lưng thẳng, mông nở, gốc tai to và dài, bụng gọn Nhìn chung, lợn nhóm này có ngoại hình phát triển tương đối cân đối, tầm vóc to, lông da thưa, chúng thuộc loại hình xương to

- Nhóm lợn màu đen tuyền, đầu nhỏ và ngắn, cổ nhỏ mảnh, vai, ngực, mông kém phát triển, bộ xương nhỏ, thể chất yếu

- Nhóm lợn Mẹo lang ngoại hình tương tự như nhóm lợn đen tuyền, chỉ khác là màu lông lang trắng đen

Khả năng sinh sản: Lợn thành thục sớm, lợn đực 5 tháng tuổi có thể nhảy, lợn cái thành thục muộn vào khoảng 8 -9 tháng tuổi Chu kỳ động dục

là 18 - 21ngày, thời gian động dục 2 - 4 ngày Lợn thường đẻ một năm 1 lứa, khoảng từ 5 - 10 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống thấp 60 - 70%

Khả năng sản xuất: Khối lượng trưởng thành con đực đạt 140 kg,con cái đạt 130 kg Tỷ lệ móc hàm 65 - 80%, tỷ lệ thịt nạc 45 - 65%, tỷ lệ mỡ là15 - 25% Tăng khối lượng trung bình từ 250 - 300g/ngày Giống lợn này chủ yếu được nuôi để khai thác thịt trong vùng có kinh tế và điều kiện chăn nuôi chưa tốt, (Nguyễn Thiện và CS, 2005) [47]

So với giống lợn Mường Khương thì lợn Mẹo sinh trưởng, phát dục tốt hơn, khối lượng sơ sinh của lợn Mẹo là: 0,4 - 0,6 kg, cai sữa 2 tháng tuổi

6 - 7 kg, 12 tháng tuổi 55 kg, lúc 16 - 18 tháng tuổi 100 - 120 kg Tuổi động

Trang 24

dục là 6 - 7 tháng tuổi, chu kỳ động dục là 27 - 30 ngày, thời gian động dục

4 - 5 ngày, thời gian mang thai 116 - 120 ngày, số con/lứa 6 - 8 con Lợn

Mẹo có tầm vóc to lớn, phát triển cân đối, sức sống cao, ăn tạp, dễ nuôi Có

một số nhược điểm là xương to, da dày, lông thô, số lượng vú ít, thành thục

muộn, (Nguyễn Khánh Quắc và CS, 1995) [35]

* Giống lợn Vân Pa

Được sự hỗ trợ của chương trình bảo tồn gen vật nuôi thuộc Viện

chăn nuôi Quốc gia Hà Nội, năm 2001, Trường Trung học Nông nghiệp và

PTNT Quảng Trị đã tiến hành nuôi và bảo tồn giống lợn Vân Pa Theo

phương thức nuôi thả rông, với tổng đàn lợn giống gồm 30 con, trong đó có

25 con lợn nái, 5 con lợn đực, con giống được mua từ các đồng bào dân tộc

ở vùng miền núi Hướng Hoá và Đakrông Qua 4 năm thực hiện mô hình

nuôi bảo tồn cho thấy: Sau một năm, trọng lượng lợn bố mẹ nặng 35 kg và

bắt đầu đẻ con, bình quân mỗi năm một con lợn nái sinh được 2 lứa, 1 lứa

có từ 6 - 8 con

Giống lợn Vân Pa có 2 loại, một là giống lợn màu đen, đầu hơi to, mõm

nhọn, tai nhỏ thân hình ngắn, trong lượng lợn trưởng thành khoảng 30 - 35 kg

Hai là giống lợn khi nhỏ có sọc thưa vàng, lớn lên chuyển thành màu tro hơi

ánh vàng Đây có thể là giống lợn đen được phối với lợn rừng hình thành

con giống này, đầu nhỏ thanh, mõm nhọn, cơ thể cân đối, bụng gọn trọng

lượng trưởng thành 40kg Lợn Vân Pa sinh sản kém: Khối lượng sơ sinh

250 - 300g/con, tuổi phối giống lần đầu 7 - 8 tháng tuổi, 1,5 lứa/năm, khối

lượng lúc 12 tháng tuổi đạt 30 - 35kg, thịt có mùi vị thơm ngon, ít mỡ chủ

yếu được sử dụng làm thuốc, thực phẩm đặc sản và nuôi tại vùng đồi núi,

(Trần Văn Đo, 2004) [8]

* Giống lợn Táp Ná

Nguyễn Văn Đức, Giang Hồng Tuyến, Đoàn Công Tuân, (2002) [9]

cho biết lợn Táp Ná là một giống lợn nội được hình thành và phát triển từ lâu

đời trong điều kiện khí hậu đất đai ở tỉnh Cao Bằng và một số tỉnh lân cận thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam Giống lợn này có nguồn gốc từ một giống lợn địa phương nhưng do điều kiện địa lý đồi núi cao hiểm trở, việc thông thương có nhiều hạn chế, người chăn nuôi ở vùng núi này chỉ giao dịch mua bán tại chợ Táp Ná Chính vì vậy, giống lợn nội này dần dần được nhân dân đặt tên là Táp Ná

Lợn Táp Ná có màu sắc rất đặc trưng: Lông và da màu đen, ngoại trừ 6 điểm trắng ở trán, 4 cẳng chân và chóp đuôi, khác với lợn Móng Cái

là không có dải yên ngựa màu trắng vắt qua vai Lợn cái Táp Ná thường

có 8 - 12 vú, số con sơ sinh sống mỗi lứa từ 4 đến 13 con, nhưng trên 80%

số ổ đạt từ 6 - 9 con/lứa Số con khi cai sữa mỗi lứa của lợn Táp Ná thấp, chỉ đạt trung bình là 6,83 con và biến động trong phạm vi từ 3 - 1 con Khả năng sinh sản lợn Táp Ná không tốt bằng giống Móng Cái, chỉ tương đương với một số lợn nội khác như lợn Cỏ, Mẹo, Ỉ hay Mường Khương Lợn có tuổi đẻ lứa đầu là 13,6 tháng, giá trị này thấp hơn lợn Mẹo nhưng cao hơn lợn Móng Cái Tốc độ sinh trưởng của lợn Táp Ná nằm trong khoảng trung bình của giống lợn nội Việt Nam Khối lượng trưởng thành đạt khoảng 100 kg trong điều kiện nuôi của các nông hộ trung bình và đạt

120 kg ở các hộ nuôi tốt

Hiện nay nguồn gen giống lợn Táp Ná được nuôi thử nghiệm tạo các

tổ hợp lai với giống Móng Cái Các nhóm lợn lai F1(Táp ná x Móng Cái) và F1(Móng Cái x Táp Ná) đang được thử nghiệm vỗ béo để khảo sát khả năng tăng khối lượng và chất lượng thịt xẻ tại Cao Bằng Tỷ lệ móc hàm cao 79,06%, tỷ lệ thịt xẻ cũng khá cao 64,68% so với giống lợn nội ở nước

ta, tỷ lệ nạc đạt không cao chỉ đạt 32,90% và tỷ lệ mỡ đạt 46,82% Khi thử nghiệm luộc thịt thân và thịt 3 chỉ để đánh giá mùi vị của thịt có mùi vị thơm, ngon, mềm tương tự như thịt lợn Móng Cái, (Nguyễn Thiện và CS, 2005) [47]

Trang 25

1.3.2.2 Một số đặc điểm giống và kết quả nghiên cứu về lợn Mường Khương

Là một trong những giống lợn nội to nhất của Việt Nam Khối lượng

trưởng thành con đực và con cái tương ứng là 150 kg và 132 kg

Nguồn gốc: Lợn chủ yếu ở huyện Mường Khương và tập trung nhiều

nhất ở một số vùng như: Cao Sơn, La Pán Tẩn, Tả Thàng, Nậm Chảy và

một số ít ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai

Về đặc điểm ngoại hình: Lợn Mường Khương có thân hình vững

chắc, thô, lông đại đa số là màu đen, có một số ít lông màu nâu, trên nền có

những đốm trắng xuất hiện ở trán và 4 chân (từ móng đến đốt xương bàn)

Lông gáy có con dài 5 - 6 cm, da thô dầy cứng, đầu to vừa phải và dài, mõm

thẳng Trên trán có nếp nhăn thường chạy dọc theo chiều dài sóng mũi dài

khoảng 5 - 8 cm Tai to hơi choãi ngang hoặc có thiên hướng về phía trước,

có con tai to, mềm hơi cúp xuống Thân dài, hẹp ngang, bụng thon gọn, rất

thích nghi với việc chăn thả, bốn chân cao to, tương đối vững chắc, chân

không đi bàn, móng gọn, không có vết nứt, nếu nhìn nghiêng thì có dáng

tiền thấp hậu cao

Về đặc điểm sinh trưởng: Lợn Mường Khương sinh trưởng chậm, từ

4 - 6 tháng tuổi sinh trưởng nhanh Nhưng giai đoạn từ 7 - 9 tháng tuổi sinh

trưởng chậm lại, từ 10 - 14 tháng tuổi sinh trưởng bình thường, từ 18 tháng

tuổi sinh trưởng rất chậm và giảm dần đến 36 tháng tuổi Nguyễn Thiện và

CS, 2005 [47] cho rằng lợn Mường Khương lúc 12 tháng tuổi có khối lượng

trung bình là 70 - 80 kg, nếu được nuôi tốt có thể đạt 90 kg, tăng khối lượng

trung bình là 300 - 340 g/ngày Tỷ lệ móc hàm 74 - 80%, tỷ lệ thịt xẻ 66 - 74%,

tỷ lệ mỡ 33 - 42%, tỷ lệ thịt nạc 40 - 44% lợn có xu hướng nhiều nạc hơn so

với các giống lợn nội khác Khối lượng giết mổ to nhưng tỷ lệ nạc không

thấp và đặc biệt là mầu thịt đỏ sẫm

Về khả năng sinh sản: Lợn Mường Khương là giống lợn thành thục muộn Tuổi động dục của lợn cái khoảng 200 - 300 ngày, tuổi đẻ lứa đầu khoảng 12 tháng, thời gian động dục 5 - 7 ngày, thời gian chửa 115 ngày

Số con sơ sinh và số con cai sữa thấp khoảng 5 - 7 con/lứa, khối lượng sơ sinh 0,6 kg/con, số lứa đẻ bình quân chỉ đạt từ 1,2 - 1,3 lứa/năm (Trần Văn Phùng và CS, 2004) [35]

Đây là giống lợn có hướng mỡ, nạc, nuôi nhiều ở vùng Mường Khương, Bát Xát Lợn khung xương to, mình lép, tai to và rủ che kín mắt Lợn thành thục muộn sinh sản kém, 8 con/ổ, khối lượng sơ sinh 0,547 kg/con, khối lượng 2 tháng tuổi 6,39 kg/con, giết thịt lúc 10 tháng tuổi đạt 75 kg, tỷ lệ

mỡ 42 - 43% Tiêu tốn 6,5 - 6,7kg thức ăn hỗn hợp cho 1kg tăng trọng Lợn thích nghi ở vùng cao nơi các đồng bào dân tộc sinh sống với điều kiện chăn nuôi còn khó khăn và lạc hậu, nên giống lợn này không phổ biến trong sản xuất

Nhận xét chung: Lợn Mường Khương có nhược điểm là thân mình lép, thành thục muộn, số vú ít, khả năng sinh sản thấp Nhưng lợn Mường Khương cũng có nhiều ưu điểm như ngoại hình thuộc loại trường mình, lưng thẳng, bụng gọn, 4 chân chắc chắn, khả năng ăn thức ăn thô xanh cao, chịu đựng kham khổ tốt, phẩm chất thịt thơm ngon Lợn nuôi phù hợp với nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, phương thức chăn nuôi lạc hậu, đó là những đặc tính gen quý hiếm cần được gìn giữ và bảo tồn

Vậy để khắc phục những mặt hạn chế của giống lợn này chúng ta có thể nâng cao khả năng sản xuất của nó bằng nhiều biện pháp như: quản lý, chăm sóc, chọn lọc, lai tạo… Ngoài ra biện pháp tác động thức ăn cũng là một trong những biện pháp làm tăng khả năng sản xuất thịt của lợn mà vẫn giữ được phẩm chất thịt thơm ngon Vì thế bước đầu chúng tôi nghiên cứu biện pháp tác động thức ăn cho lợn Mường Khương nhằm tìm hiểu về khả năng sản xuất thịt của giống lợn này ra sao dưới sự thay đổi phương thức chăn nuôi của địa phương

Trang 26

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đàn lợn Mường Khương nuôi tại một số xã trọng điểm của huyện

Mường Khương

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành tại huyện Mường Khương - tỉnh Lào Cai

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 16/12/2005 đến ngày 16/12/2006

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra số lượng, cơ cấu đàn lợn Mường Khương

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của

lợn Mường Khương

- Xác định ảnh hưởng của biện pháp tác động thức ăn đến khả năng

sinh trưởng lợn Mường Khương

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp điều tra

- Điều tra qua số liệu thống kê hàng năm về tình tình chăn nuôi lợn

của phòng Thống kê huyện Mường Khương

- Điều tra, thống kê màu sắc lông của lợn, mô tả đặc điểm ngoại hình

và minh hoạ bằng ảnh

- Lập phiếu điều tra với các thông tin cần thiết về đặc điểm sinh học

và khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn Mường Khương ở 5 thôn nuôi

nhiều lợn nhất theo phương pháp có sự tham gia của người dân (PRA)

2.4.2 Phương pháp khảo sát

Chọn những gia đình điển hình về nuôi lợn Mường Khương để khảo sát các chỉ tiêu về sinh trưởng của lợn con và sinh sản của lợn mẹ

2.4.3 Phương pháp thí nghiệm trên lợn nuôi thịt

Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của biện pháp tác động thức ăn bổ sung trên lợn Mường Khương nuôi thịt từ 3 - 7 tháng tuổi Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh và đảm bảo mọi yếu tố đồng đều chỉ khác yếu tố thức ăn để so sánh và được thực hiện theo sơ đồ dưới đây:

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm Diễn giải ĐVT Lô đối chứng Lô thí nghiệm

Số lượng Tuổi bắt đầu TN Thời gian TN Khối lượng vào TN

Tỷ lệ đực/cái

Con Tháng Tháng

5

3

4 9,8 3/2

quán địa phương

Bổ sung thức ăn đậm đặc 20% trong khẩu phần

Mô tả thí nghiệm: Chọn 10 lợn Mường Khương sau cai sữa đồng đều

về tuổi xuất chuồng, khối lượng cơ thể để bố trí 2 lô thí nghiệm nuôi trong thời gian 4 tháng để xác định hiệu quả biện pháp tác động thức ăn tới sức sinh trưởng của lợn nuôi thịt

- Lô 1: Lợn nuôi theo tập quán địa phương sử dụng các loại thức ăn thông thường với tỷ lệ ngô là 55%, cám gạo 25%, rau xanh 20% (tính theo vật chất khô)

- Lô 2: Bổ sung thức ăn đậm đặc cho lợn thịt mã số 6688 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Hà Việt sản xuất thức ăn chăn nuôi Với tỷ lệ thức ăn đậm đặc là 20% tong tổng số khẩu phần thức ăn tinh, trong đó ngô là 45%, cám gạo 15%, rau xanh 20% trong khẩu phần (tính theo vật chất khô)

Ngày đăng: 09/08/2016, 23:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Mường Khương - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Hình 1.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Mường Khương (Trang 20)
Bảng 2.3. Giá trị dinh dƣỡng khẩu phần nuôi lợn thí nghiệm - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 2.3. Giá trị dinh dƣỡng khẩu phần nuôi lợn thí nghiệm (Trang 27)
Bảng 3.1. Diễn biến đàn lợn qua các năm - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.1. Diễn biến đàn lợn qua các năm (Trang 31)
Ảnh 1: Hình thức giao phối tự do giữa đực con, mẹ và đàn con sinh ra - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
nh 1: Hình thức giao phối tự do giữa đực con, mẹ và đàn con sinh ra (Trang 33)
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái Mường Khương - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái Mường Khương (Trang 35)
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Mường Khương - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Mường Khương (Trang 36)
Đồ thị 3.1. Sinh trưởng tích luỹ của lợn con từ SS - 8 tuần tuổi - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
th ị 3.1. Sinh trưởng tích luỹ của lợn con từ SS - 8 tuần tuổi (Trang 38)
Bảng 3.6. Khối lƣợng lợn con từ ss - 8 tuần tuổi (kg/con) - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.6. Khối lƣợng lợn con từ ss - 8 tuần tuổi (kg/con) (Trang 38)
Bảng 3.7. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn giai đoạn bú sữa - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.7. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn giai đoạn bú sữa (Trang 39)
Bảng 3.8. Khối lượng qua các tháng tuổi của lợn thịt Mường Khương - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.8. Khối lượng qua các tháng tuổi của lợn thịt Mường Khương (Trang 40)
Đồ thị 3.3. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm từ từ 3 - 7 tháng tuổi - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
th ị 3.3. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm từ từ 3 - 7 tháng tuổi (Trang 44)
Bảng 3.12. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thịt - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.12. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn thịt (Trang 44)
Bảng 3.13. Kết quả mổ khảo sát lợn thịt (n = 6 con) - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.13. Kết quả mổ khảo sát lợn thịt (n = 6 con) (Trang 46)
Bảng 3.14. Các chỉ tiêu khảo sát nội tạng - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.14. Các chỉ tiêu khảo sát nội tạng (Trang 47)
Bảng 3.16. Hiệu quả của biện pháp tác động thức ăn - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG THỨC ĂN NHẰM NÂNG CAO SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GIỐNG LỢN MƯỜNG KHƯƠNG NUÔI TẠI LÀO CAI
Bảng 3.16. Hiệu quả của biện pháp tác động thức ăn (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w