1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình cây dược liệu phần 1

97 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình cây dược liệu phần 1
Tác giả Lê Quang Ưng, Trần Trung Kiên, Bùi Lan Anh, Trần Đình Hà
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Trồng trọt, Nông nghiệp Công nghệ cao
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần Đại cương trình bày khái quát về vai trò, vị trí của cây dược liệu trong sản xuất, trong y học và các ngành kinh tế khác, cùng quá trình phát triển của ngành dược liệu Việt Nam; giớ

Trang 1

TS Lê Quang Ưng (Chủ biên)

TS Trần Trung Kiên, TS Bùi Lan Anh, TS Trần Đình Hà

GIÁO TRÌNH CÂY DƯỢC LIỆU

NHÀ XUẤT BẢN BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 2

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam

Giáo trình cây dược liệu / B.s.: Lê Quang Ưng (ch.b.), Trần Trung Kiên, Bùi Lan Anh, Trần Đình Hà - H : Bách khoa Hà Nội, 2021 - 192tr : hình vẽ, bảng ; 27cm

1 Cây thuốc 2 Giáo trình

633.880711 - dc23

BKH0121p-CIP

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo trình Cây dược liệu là tài liệu dùng cho dạy học lý thuyết về cây dược liệu

trong chương trình đào tạo sinh viên chuyên ngành trồng trọt, nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời là tài liệu tham khảo cho các ngành học khác thuộc lĩnh vực nông – lâm nghiệp Giáo trình được cấu trúc thành hai phần: Đại cương và Chuyên khoa

Phần Đại cương trình bày khái quát về vai trò, vị trí của cây dược liệu trong sản xuất, trong y học và các ngành kinh tế khác, cùng quá trình phát triển của ngành dược liệu Việt Nam; giới thiệu thành phần và vai trò của các nhóm hợp chất tự nhiên chính có trong cây dược liệu; các cây dược liệu có tác dụng chữa bệnh theo từng nhóm, là cơ sở cho việc nghiên cứu, phát triển các bài thuốc chữa bệnh, ứng dụng trong đời sống thực tiễn; những kiến thức cơ bản về kỹ thuật trồng trọt, thu hái, phơi sấy, chế biến sơ bộ và bảo quản dược liệu theo tiêu chuẩn GACP

Phần Chuyên khoa trình bày kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và chế biến 12 cây dược liệu thông dụng và có giá trị ở Việt Nam Với mỗi cây dược liệu cụ thể được giới thiệu sẽ cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về nguồn gốc, sự phân bố, đặc điểm thực vật học, thành phần hóa học chính cũng như công dụng của chúng trong phòng và chữa bệnh, cùng với kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến và tiêu chuẩn dược liệu

Tập thể tác giả biên soạn cuốn giáo trình này: TS Lê Quang Ưng, chủ biên và biên soạn chính tất cả các chương; TS Trần Trung Kiên, TS Bùi Lan Anh, TS Trần Đình Hà tham gia biên soạn kỹ thuật trồng trọt các cây dược liệu ở chương 5

Tập thể tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp bổ ích từ bạn đọc để có

thể bổ sung, chỉnh lý Giáo trình Cây dược liệu hoàn thiện hơn, nhằm phục vụ có hiệu quả

cho việc học tập, nghiên cứu và tham khảo của sinh viên các ngành nông – lâm nghiệp

Các tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

PHẦN ĐẠI CƯƠNG Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY DƯỢC LIỆU 11

1.1 Các định nghĩa và khái niệm cơ bản 11

1.2 Phân loại cây dược liệu 11

1.2.1 Phân loại theo dược lý học hiện đại 11

1.2.2 Phân loại theo nhóm bệnh lý 12

1.2.3 Phân loại theo vị trí địa lý 12

1.2.4 Phân loại theo nhóm thực vật 12

1.2.5 Phân loại theo thành phần hóa học chính 13

1.3 Đặc điểm của cây dược liệu 13

1.3.1 Đa dạng về chu kỳ sống 13

1.3.2 Đa dạng về dạng cây 13

1.3.3 Đa dạng về phân bố 14

1.3.4 Đa dạng về bộ phận sử dụng 15

1.4 Vai trò và giá trị của cây dược liệu 15

1.4.1 Vai trò cây dược liệu trong phòng và chữa bệnh theo Y học cổ truyền 15

1.4.2 Vai trò cây dược liệu trong ngành công nghiệp dược, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm 16

1.4.3 Giá trị kinh tế ngành dược liệu 17

1.5 Lịch sử hình thành và phát triển dược liệu học Việt Nam 18

1.6 Tình hình khai thác, nghiên cứu cây dược liệu tại Việt Nam 21

Chương 2 CÁC HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TỪ CÂY DƯỢC LIỆU 24

2.1 Giới thiệu chung về hóa học các hợp chất tự nhiên 24

Trang 5

2.2 Phân loại các hợp chất thiên nhiên 24

2.2.1 Hợp chất sơ cấp 24

2.2.2 Hợp chất thứ cấp 26

Chương 3 CÂY DƯỢC LIỆU VÀ VỊ THUỐC CHỮA BỆNH 46

3.1 Các cây thuốc và vị thuốc chữa tê thấp, đau nhức 46

3.1.1 Các cây thuốc và vị thuốc dùng theo đường uống 46

3.1.2 Các cây thuốc và vị thuốc dùng ngoài 48

3.2 Các cây thuốc và vị thuốc chữa gút 49

3.3 Các cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh tiểu đường 52

3.4 Các cây thuốc và vị thuốc chữa đau dạ dày, đại trực tràng 54

3.5 Các cây thuốc và vị thuốc chữa mẩn ngứa, dị ứng 55

3.5.1 Các cây thuốc và vị thuốc dùng theo đường uống 56

3.5.2 Các cây thuốc và vị thuốc dùng ngoài 57

3.6 Các cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh gan 57

3.7 Các cây thuốc và vị thuốc chữa ho, hen 60

3.8 Các cây thuốc và vị thuốc lợi tiểu, tán sỏi 62

3.9 Các cây thuốc và vị thuốc an thần 64

3.10 Các cây thuốc và vị thuốc bổ, tăng cường hệ miễn dịch 65

Chương 4 THỰC HÀNH TỐT GIEO TRỒNG VÀ THU HÁI DƯỢC LIỆU 68

4.1 Điều kiện trồng cây dược liệu 68

4.1.1 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cây dược liệu 68

4.1.2 Điều kiện trồng cây thuốc theo GACP 69

4.2 Hạt giống và nguyên liệu nhân giống 69

4.2.1 Chọn giống 69

4.2.2 Lai lịch giống cây 69

4.2.3 Nguyên liệu nhân giống 70

4.3 Trồng trọt 70

4.3.1 Chọn địa điểm 70

4.3.2 Môi trường sinh thái và tác động xã hội 70

4.3.3 Khí hậu 71

Trang 6

4.3.4 Đất trồng 72

4.3.5 Kỹ thuật nhân giống 73

4.3.6 Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc cây dược liệu 74

4.4 Thu hoạch cây dược liệu 78

4.4.1 Nguyên tắc thu hoạch cây dược liệu 78

4.4.2 Kỹ thuật thu hái cây dược liệu 79

4.5 Nguyên tắc, tiêu chuẩn khai thác dược liệu tự nhiên 81

4.5.1 Lập kế hoạch khai thác 81

4.5.2 Chọn dược liệu để khai thác 82

4.5.3 Khai thác 82

4.6 Sơ chế, đóng gói, bảo quản, vận chuyển dược liệu sau khi thu hoạch và khai thác 83

4.6.1 Cơ sở chế biến 83

4.6.2 Kiểm tra và phân loại dược liệu 83

4.6.3 Sơ chế dược liệu 83

4.6.4 Đóng gói và dán nhãn hàng chờ đóng gói 87

4.6.5 Bảo quản và vận chuyển 88

4.6.6 Bảo đảm chất lượng 89

4.7 Hồ sơ tài liệu 89

4.8 Nhân sự và vệ sinh 90

4.8.1 Nhân sự và đào tạo 90

4.8.2 Vệ sinh và vệ sinh môi trường 90

4.9 Đặc chế và chế biến dược liệu 91

PHẦN CHUYÊN KHOA Chương 5 KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT MỘT SỐ CÂY DƯỢC LIỆU 98

5.1 Cây Actiso 98

5.1.1 Nguồn gốc và phân bố 98

Trang 7

5.1.2 Giá trị kinh tế 98

5.1.3 Thành phần hóa học và công dụng 99

5.1.4 Đặc điểm thực vật học 100

5.1.5 Điều kiện sinh thái 101

5.1.6 Kỹ thuật trồng trọt 101

5.1.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 105

5.1.8 Tiêu chuẩn dược liệu 105

5.2 Cây Ba kích 106

5.2.1 Nguồn gốc và phân bố 106

5.2.2 Giá trị kinh tế 106

5.2.3 Thành phần hóa học và công dụng 106

5.2.4 Đặc điểm thực vật học 107

5.2.5 Điều kiện sinh thái 107

5.2.6 Kỹ thuật trồng trọt 108

5.2.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 111

5.2.8 Tiêu chuẩn dược liệu 112

5.3 Cây Bạch truật 112

5.3.1 Nguồn gốc và phân bố 112

5.3.2 Giá trị kinh tế 112

5.3.3 Thành phần hóa học và công dụng 113

5.3.4 Đặc điểm thực vật học 114

5.3.5 Điều kiện sinh thái 114

5.3.6 Kỹ thuật trồng trọt 115

5.3.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 119

5.3.8 Tiêu chuẩn dược liệu 120

5.4 Cây Đương quy Nhật Bản 121

5.4.1 Nguồn gốc và phân bố 121

5.4.2 Giá trị kinh tế 121

Trang 8

5.4.3 Thành phần hóa học và công dụng 121

5.4.4 Đặc điểm thực vật học 121

5.4.5 Điều kiện sinh thái 122

5.4.6 Kỹ thuật trồng trọt 123

5.4.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 128

5.4.8 Tiêu chuẩn dược liệu 129

5.5 Cây Giảo cổ lam bảy lá 129

5.5.1 Nguồn gốc và phân bố 129

5.5.2 Giá trị kinh tế 129

5.5.3 Thành phần hóa học và công dụng 129

5.5.4 Đặc điểm thực vật học 130

5.5.5 Điều kiện sinh thái 130

5.5.6 Kỹ thuật trồng trọt 131

5.5.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 133

5.5.8 Tiêu chuẩn dược liệu 134

5.6 Cây Hà thủ ô đỏ 134

5.6.1 Nguồn gốc và phân bố 134

5.6.2 Giá trị kinh tế 134

5.6.3 Thành phần hóa học và công dụng 135

5.6.4 Đặc điểm thực vật học 135

5.6.5 Điều kiện sinh thái 136

5.6.6 Kỹ thuật trồng trọt 136

5.6.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 139

5.6.8 Tiêu chuẩn dược liệu 139

5.7 Cây Hòe 139

5.7.1 Nguồn gốc và phân bố 139

5.7.2 Giá trị kinh tế 140

5.7.3 Thành phần hóa học và công dụng 140

Trang 9

5.7.4 Đặc điểm thực vật học 141

5.7.5 Điều kiện sinh thái 142

5.7.6 Kỹ thuật trồng trọt 142

5.7.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 145

5.7.8 Tiêu chuẩn dược liệu 145

5.8 Cây Hoài sơn 145

5.8.1 Nguồn gốc và phân bố 146

5.8.2 Giá trị kinh tế 146

5.8.3 Thành phần hóa học và công dụng 146

5.8.4 Đặc điểm thực vật học 147

5.8.5 Điều kiện sinh thái 148

5.8.6 Kỹ thuật trồng trọt 149

5.8.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 152

5.8.8 Tiêu chuẩn dược liệu 152

5.9 Cây Sinh địa 152

5.9.1 Nguồn gốc và phân bố 152

5.9.2 Giá trị kinh tế 152

5.9.3 Thành phần hóa học và công dụng 153

5.9.4 Đặc điểm thực vật học 154

5.9.5 Điều kiện sinh thái 156

5.9.6 Kỹ thuật trồng trọt 156

5.9.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 159

5.9.8 Tiêu chuẩn dược liệu 159

5.10 Cây Tam thất 159

5.10.1 Nguồn gốc và phân bố 159

5.10.2 Giá trị kinh tế 159

5.10.3 Thành phần hóa học và công dụng 160

5.10.4 Đặc điểm thực vật học 163

Trang 10

5.10.5 Điều kiện sinh thái 164

5.10.6 Kỹ thuật trồng trọt 164

5.10.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 169

5.10.8 Tiêu chuẩn dược liệu 170

5.11 Cây Thiên môn đông 170

5.11.1 Nguồn gốc, phân bố và các loài 170

5.11.2 Giá trị kinh tế 170

5.11.3 Thành phần hóa học và công dụng 170

5.11.4 Đặc điểm thực vật học 171

5.11.5 Điều kiện sinh thái 172

5.11.6 Kỹ thuật trồng trọt 172

5.11.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 175

5.11.8 Tiêu chuẩn dược liệu 175

5.12 Cây Quế 175

5.12.1 Nguồn gốc và phân bố 175

5.12.2 Giá trị kinh tế 176

5.12.3 Thành phần hóa học và công dụng 177

5.12.4 Đặc điểm thực vật học 177

5.12.5 Điều kiện sinh thái 178

5.12.6 Kỹ thuật trồng trọt 179

5.12.7 Thu hoạch, sơ chế và bảo quản 187

5.12.8 Tiêu chuẩn dược liệu 188

TÀI LIỆU THAM KHẢO 189

Trang 11

PHẦN ĐẠI CƯƠNG

Chương 1

GIỚI THIỆU VỀ CÂY DƯỢC LIỆU

1.1 Các định nghĩa và khái niệm cơ bản

Dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc (Luật Dược năm 2016)

Cây dược liệu là đối tượng nghiên cứu của khoa học thảo dược, bao gồm những loài thực vật có tác dụng phòng bệnh, chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi được sử dụng

Thuốc thảo dược là những nguyên liệu nguồn gốc thực vật có lợi ích trị liệu hoặc những lợi ích cho sức khỏe của con người, bao gồm các nguyên liệu thô hoặc đã chế biến

từ một hoặc nhiều loài thực vật Định nghĩa này không áp dụng khi thành phần hoạt chất đã được xác định và được phân lập hoặc tổng hợp thành thành phần hóa học của sản phẩm thuốc Sản phẩm thảo dược là thành phẩm được dán nhãn dược phẩm ở dạng bào chế có chứa một hoặc nhiều chất sau: nguyên liệu thực vật dạng bột, chiết xuất, chiết xuất tinh khiết hoặc hoạt chất được tinh chế một phần được phân lập từ nguyên liệu thực vật Các loại thuốc có chứa nguyên liệu thực vật kết hợp với các hoạt chất được xác định về mặt hóa học, bao gồm các thành phần biệt dược, được xác định về mặt hóa học của thực vật, không được coi là thuốc thảo dược

1.2 Phân loại cây dược liệu

Theo kinh nghiệm tích lũy từ đời này sang đời khác trong việc sử dụng cây dược liệu, dẫn đến việc phân loại nhằm sắp xếp những kinh nghiệm đó lại thành hệ thống, trở thành quy luật dự đoán cho những cây dược liệu mà con người chưa biết đến Mỗi sự phân loại đều dựa trên quy luật chung Có các cách phân loại dược liệu như sau:

1.2.1 Phân loại theo dược lý học hiện đại

Khoa học công nghệ phát triển, nhiều công trình nghiên cứu về hóa học các hợp chất thiên nhiên và các hoạt động sinh học đã chứng minh và phân chia các vị thuốc, các hợp chất sạch thành các nhóm chức năng chủ yếu khác nhau:

– Nhóm tác dụng chống oxy hóa cao: Đinh hương, Quế, Nghệ tây, Húng Quế, Việt quất, Câu kỷ tử, Hoàng kỳ, Thành ngạnh v.v

Trang 12

– Nhóm tác dụng chống viêm: Hoàng liên, Kim ngân hoa, Sài đất, Bồ công anh v.v – Nhóm tác dụng giảm đau: Độc hoạt, Dây đau xương v.v

– Nhóm tác dụng tăng lực: Nhân sâm, Đinh lăng v.v

– Nhóm tác dụng đối với hệ nội tiết: các dược liệu chữa bệnh tiểu đường như Thìa canh, Dâu tằm

– Nhóm tác dụng đối với hệ miễn dịch: Cát sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật v.v

– Nhóm tác dụng cải thiện công năng các tạng phủ: Sinh địa, Hà thủ ô v.v

1.2.2 Phân loại theo nhóm bệnh lý

Đây là cách phân chia theo tính dược, theo kinh nghiệm cổ truyền đã được xác minh phần nào trên cơ sở khoa học về dược lý, hóa học, sắp xếp theo yêu cầu điều trị hiện nay thành từng nhóm gần giống thuốc tân dược như: thuốc hạ nhiệt, thuốc tẩy sổ, thuốc nhuận gan mật, thuốc ho, thuốc long đờm, thuốc trị tiểu đường, thuốc trị viêm, đau xương khớp, thuốc trị bệnh dạ dày, đại tràng, thuốc trị bệnh trĩ, thuốc trị thần kinh tọa v.v., để tiện cho cán bộ Tây y sử dụng dược liệu làm thuốc theo yêu cầu dược lý trị liệu hiện nay Cách sắp xếp và phân loại theo nhóm bệnh lý được trình bày chi tiết trong chương 3

1.2.3 Phân loại theo vị trí địa lý

Tùy theo vị trí địa lý, các vị thuốc được chia thành hai nhóm: thuốc Nam và thuốc Bắc Thuốc Nam bao gồm các vị thuốc xuất xứ ở phương Nam (Việt Nam), các vị thuốc thuộc nhóm này sinh trưởng ở vùng khí hậu á nhiệt đới và nhiệt đới Thuốc Bắc bao gồm các vị thuốc xuất xứ ở phương Bắc (Trung Quốc), các vị thuốc này sinh trưởng ở vùng khí hậu á nhiệt đới đến ôn đới Phần lớn các vị thuốc bồi bổ sức khỏe là các vị thuốc Bắc

1.2.4 Phân loại theo nhóm thực vật

Các nhà thực vật học đã chia giới thực vật ra thành những bậc phân loại như sau: Ngành và phân ngành

Lớp và phân lớp

Bộ và phân bộ

Họ và phân họ

Tông và phân tông

Chi và phân chi

Tổ và phân tổ Loài và phân loài Thứ và phân thứ hay giống trồng Dạng và phân dạng

Trang 13

Trong các bậc phân loại này, loài là đơn vị cơ bản, xếp các loài vào chi, các chi vào

họ tương ứng Tùy theo hệ thống phân loại của các tác giả mà có sự khác nhau trong tên

gọi (Võ Văn Chi, 2019) Một chi có nhiều loài khác nhau: Giảo cổ lam ba lá, năm lá, bảy lá

và chín lá v.v là các loài khác nhau thuộc chi Gynostemma

1.2.5 Phân loại theo thành phần hóa học chính

– Nhóm cây có tinh dầu: Sả, Hương thảo, Long não v.v

– Nhóm cây có chứa carbohydrat

– Nhóm cây chứa Glycosid: saponin: họ Nhân sâm (Araliaceae), Cam thảo, Cát cánh, Viễn chí, Ngưu tất, Ngũ gia bì chân chim, Thổ phục linh, Mạch môn v.v.; glycosid tim: Hạt Đay, Trúc đào v.v

– Nhóm cây chứa ancaloit: họ Á phiện (Papaveraceae), morphin và codein từ cây

Thuốc phiện, strychnin từ cây Mã tiền, aconitin từ cây Ô đầu (Chu Thị Thơm và cộng sự,

– Cây hai năm: Cát cánh, Bạch truật v.v

– Cây lâu năm: Quế, Hồi, Thiên môn đông, Hà thủ ô trắng, Hà thủ ô đỏ, Tam thất,

Bảy lá một hoa, Ba kích, Kim ngân hoa v.v (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2006)

1.3.2 Đa dạng về dạng cây

– Cây mọng nước: Nha đam, Thủy bồn thảo v.v

– Cây thân thảo: Diếp cá, Mã đề, Lá lốt, Bồ công anh, Kim tiền thảo v.v

– Cây thân leo: Ba kích, Hà thủ ô, Kim ngân, Hoài sơn, Hoàng đằng v.v

– Cây thân bụi: Đinh lăng, Nhân trần, Hoàn ngọc, Đơn mặt trời v.v

– Cây thân gỗ nhỏ: Hoa Hòe, Dâu tằm, Bọ mẩy, Gối hạc v.v

– Cây thân gỗ lớn: Đỗ trọng, Long não, Đơn tướng quân, Vối, Quế, Hồi v.v

(Chu Thị Thơm và cộng sự, 2006)

Trang 14

1.3.3 Đa dạng về phân bố

Việt Nam có nền Y học cổ truyền lâu đời, chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền Y học cổ truyền Trung Quốc Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Cây dược liệu có một vị trí và vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng Cho đến nay, Việt Nam được ghi nhận có 5.117 loài thực vật và

nấm lớn có công dụng làm thuốc (Viện Dược liệu, 2016) Nguồn gen cây thuốc ở Việt Nam

không những đa dạng về thành phần loài, chủng, giống, dưới loài mà còn rất đa dạng theo các vùng sinh thái

Vùng núi cao có khí hậu á nhiệt đới: Sa Pa – Lào Cai, Sìn Hồ – Lai Châu và Đồng Văn, Quản Bạ – Hà Giang có các dược liệu bản địa và nhập nội: Bình vôi, Đảng sâm, Hà thủ ô đỏ, Tục đoạn, Actiso, Đỗ trọng, Độc hoạt, Đương quy, Hoàng bá, Mộc hương, Ô đầu, Tam thất, Xuyên khung v.v

Vùng núi trung bình có khí hậu á nhiệt đới: Bắc Hà – Lào Cai, Mộc Châu – Sơn La, Nguyên Bình – Cao Bằng, Na Rì – Bắc Kạn và Đà Lạt – Lâm Đồng có các dược liệu: Bình vôi, Hà thủ ô, Tục đoạn, Giảo cổ lam, Bảy lá một hoa v.v

Vùng trung du miền núi Bắc Bộ: Thái Nguyên, Bắc Giang, Yên Bái, Quảng Ninh, Lạng Sơn có các dược liệu chính: Chè hoa vàng, Ba kích, Đinh lăng, Địa liền, Gấc, Giảo

cổ lam, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Hồi, Quế, Sả, Sa nhân tím, Thanh hao hoa vàng, Ý dĩ, Hoàng bá nam, Nghệ vàng, Địa hoàng, Thiên môn đông, Mạch môn, Tô mộc, Dây đau xương, Thổ phục linh, Khôi nhung, Dạ cẩm v.v

Vùng Đồng bằng sông Hồng: Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và Thái Bình có các dược liệu: Cúc hoa vàng, Diệp

hạ châu, Địa liền, Đinh lăng, Gấc, Hòe, Hoài sơn, Hương nhu trắng, Tía tô, Kinh giới, Dâu tằm, Râu mèo, Ích mẫu, Thanh hao hoa vàng, Mã đề, Ngưu tất, Bạc hà, Nhân trần, Diếp cá, Cốt khí củ v.v

Vùng các tỉnh Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An có các dược liệu: Ba kích, Nghệ vàng, Diệp hạ châu, Đinh lăng, Hoài sơn, Hương nhu trắng, Hòe, Quế, Sả, Thổ phục linh v.v

Vùng Nam Trung Bộ: Quảng Nam, Khánh Hòa có các dược liệu: Bụp giấm, Diệp hạ châu, Dừa cạn, Hoài sơn, Đậu ván trắng, Sâm Ngọc Linh, Râu mèo, Sa nhân tím, Quế v.v Vùng Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông có các dược liệu: Gấc, Gừng, Hương nhu trắng, Đảng sâm, Nghệ vàng, Sa nhân tím, Sả v.v

Vùng Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ: An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai,

Trang 15

Tây Ninh có các dược liệu: Gừng, Trinh nữ hoàng cung, Nghệ vàng, Nhàu, Rau đắng biển, Hoàn ngọc, Tràm, Xuyên tâm liên, Râu mèo, Kim tiền thảo, Sương sáo, Sương sâm v.v

1.3.4 Đa dạng về bộ phận sử dụng

– Nhóm cây dược liệu khai thác rễ, củ: Sinh địa, Hoài sơn, Tam thất, Thổ phục linh,

Cỏ tranh, Ngưu tất, Đinh lăng, Thiên niên kiện, Địa liền, Hà thủ ô, Gối hạc, Đạm trúc diệp,

Thiên môn đông, Mạch môn, Bạch truật, Thương truật, Bạch thược, Xuyên khung v.v

– Nhóm cây dược liệu khai thác lấy thân, cành: Quế, Long não, Núc nác, Hậu phác,

– Nhóm cây dược liệu khai thác cả thân, lá và rễ: Gối hạc, Đơn mặt quỷ, Bọ mẩy, Xạ

can, Dong riềng đỏ, Dạ cẩm v.v (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2006)

1.4 Vai trò và giá trị của cây dược liệu

1.4.1 Vai trò cây dược liệu trong phòng và chữa bệnh theo Y học cổ truyền

Cây dược liệu giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong nền Y học cổ truyền của nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam v.v Tất cả các lương y, bác sỹ Đông y, các hiệu thuốc gia truyền đều sử dụng sản phẩm từ cây dược liệu trong phòng bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân

Theo dữ liệu năm 2015 của Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc gia Mỹ,

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) báo cáo rằng có khoảng 60% dân số thế giới dùng thuốc thảo dược và khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển dùng thuốc thảo dược và các biện pháp chữa bệnh Y học cổ truyền khác để chăm sóc sức khỏe Các nước trên thế giới đã dùng tới 35.000 loài thảo dược trong phòng và chữa bệnh Không chỉ Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam có truyền thống sử dụng dược liệu với mục đích phòng và chữa bệnh, mà các nước tiên tiến có nền công nghiệp phát triển trên thế giới cũng có một phần tư số thuốc kê trong đơn chứa các hoạt chất trong dược liệu

Việt Nam có hệ thống bệnh viện y dược cổ truyền công lập tuyến Trung ương và tuyến tỉnh gồm 65 bệnh viện Tỷ lệ bệnh viện đa khoa tuyến huyện có khoa, tổ y dược cổ truyền đạt 92,7%; trạm y tế có hoạt động khám chữa bệnh bằng y dược cổ truyền đạt 84,8% Theo thống kê của Cục Quản lý Y Dược cổ truyền, Bộ Y tế, năm 2017, tỷ lệ lượt

Trang 16

khám bệnh bằng Y học cổ truyền hoặc kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại trên tổng

số lượt khám chữa bệnh chung của cả nước đạt 4,1% ở tuyến Trung ương, 11,7% ở tuyến tỉnh, 13,4% ở tuyến huyện và 28,5% ở tuyến xã Việc kết hợp khám chữa bệnh giữa Y học

cổ truyền với Y học hiện đại ở các tuyến luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân

1.4.2 Vai trò cây dược liệu trong ngành công nghiệp dược, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm

Dược liệu Việt Nam đã cung cấp nhiều nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp dược phẩm để sản xuất thuốc Hóa học các hợp chất thiên nhiên trong phát triển thuốc đã phát triển mạnh vào những năm giữa thế kỷ XX Ngày nay, với những kỹ thuật sàng lọc hoạt tính sinh học mới, hiện đại, có tốc độ nhanh, lượng mẫu nhỏ, việc phát hiện các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học mới là rất có triển vọng Sau khi phát hiện ra các hoạt chất có hoạt tính mới, thì việc nghiên cứu chuyển hóa chúng thành các dẫn xuất bằng nhiều con đường trong đó có hóa tổng hợp để thử hoạt tính sinh học vẫn luôn là một lĩnh vực hấp dẫn

Các công ty đa quốc gia đang có xu hướng phát triển các dược phẩm có chứa một hoạt chất từ cây thuốc (tinh chất dược liệu), do các chế phẩm này có giá trị kinh tế lớn hơn nhiều so với các sản phẩm chứa cao thuốc hoặc hợp chất toàn phần chưa xác định được trong các công thức cổ truyền, kinh điển Ở Trung Quốc, giai đoạn 1979 – 1990 có 42 chế phẩm thuốc mới từ cây thuốc được đưa ra thị trường, trong đó có 11 chế phẩm chữa bệnh tim mạch, 5 chế phẩm chữa ung thư, 6 chế phẩm chữa tiêu hóa

Cho đến nay, đã có trên 4.000 bằng sáng chế về thuốc đông dược của Trung Quốc được đăng ký, với 40 dạng bào chế khác nhau, được sản xuất ở 684 nhà máy chuyên về đông dược Từ năm 1990 đến nay là giai đoạn phát triển rất mạnh của lĩnh vực sản xuất thuốc từ dược liệu với hàng trăm chế phẩm mới ra đời Nhật Bản là nước dẫn đầu thế giới

về nghiên cứu các hợp chất có tác dụng sinh học từ cây thuốc, chiếm 60% bằng phát minh trên thế giới về lĩnh vực này trong 5 năm (1990 – 1995) Trong giai đoạn 2000 – 2005, các công ty dược phẩm đa quốc gia đã có 23 sản phẩm thuốc mới từ nguồn gốc tự nhiên được phép đưa ra thị trường để điều trị bệnh ung thư, bệnh thần kinh, bệnh nhiễm trùng, bệnh tim mạch, các bệnh liên quan đến hệ miễn dịch, chống viêm v.v

Với sự phát triển của các kỹ thuật phân tích hiện đại, nhiều hoạt chất được tách chiết

từ dược liệu, nghiên cứu xác định cấu trúc và tác dụng dược lý Kết hợp với công nghệ bào chế, các nhà sản xuất đã cho ra đời những dạng thuốc thuận tiện cho người sử dụng như viên nén, viên nang, cốm thuốc, trong đó nguyên liệu đầu vào là tinh chất hoặc cao dược

Trang 17

liệu chuẩn hóa có hàm lượng hoạt chất chính xác Điển hình trong nhóm này là các chế

phẩm viên nén, viên nang cao Bạch quả (Ginkgo biloba), chứa các hoạt chất ginkgo flavon

glycosid, terpen lacton, bilobalid, ginkgolid A, ginkgolid B, ginkgolid C; viên tỏi chứa

dịch chiết tỏi có hoạt chất chính là allicin, viên nén cao Kế sữa (Cardus marianus) chứa

hoạt chất chính là silymarin v.v Nhiều hoạt chất chiết xuất từ dược liệu được tinh chế đạt đến độ tinh khiết có thể sử dụng làm nguyên liệu bào chế thuốc tiêm Điển hình trong

nhóm này là các chế phẩm thuốc tiêm chứa flavonoid của Ginkgo biloba (biệt dược Tanakan®, Pháp; thuốc tiêm chứa paclitaxel phân lập từ cây Thông đỏ (Taxus brevifolia) (biệt dược Taxol ®, Mỹ); thuốc tiêm chứa vinblastin phân lập từ cây Dừa cạn (Vinca

rosea) (biệt dược Velbe ®, Pháp) có tác dụng phòng chống ung thư

Nguồn tài nguyên cây cỏ và tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc là cơ sở quan trọng để sàng lọc và tìm ra thuốc mới Hướng nghiên cứu này đang rất được coi trọng ở các nước có nền y học tiên tiến như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế các phân tử thuốc mới, cũng như trong nghiên cứu mối tương quan cấu trúc, hoạt tính đang ngày càng phát triển

Ở Việt Nam, một số thuốc đang được nghiên cứu lâm sàng giai đoạn I, II, III như thuốc viêm lợi Dentonin, thuốc trị lỵ và thương hàn Geranin, thuốc hỗ trợ và điều trị ung thư Panacrin, thuốc điều hòa miễn dịch Angala v.v Nhiều thảo dược được sử dụng trong công nghiệp dược, thực phẩm chức năng để tạo nhiều sản phẩm khác nhau với mục đích hỗ trợ và điều trị bệnh: cây Kim tiền thảo là nguyên liệu chính để sản xuất thuốc chữa sỏi

thận, thuốc Crila được bào chế từ chiết xuất ancaloit của cây Trinh nữ hoàng cung (Crinum

latifolium L var crilae) có tác dụng chữa bệnh u xơ tử cung, cây Thìa canh là nguyên liệu

chính để sản xuất thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường v.v

1.4.3 Giá trị kinh tế ngành dược liệu

Việt Nam sở hữu nhiều dược liệu quý, hiếm, đặc dụng; được đánh giá là quốc gia có tiềm năng, lợi thế lớn để phát triển cây dược liệu Tuy nhiên, sản xuất, thu hái dược liệu trong nước chỉ mới đáp ứng ở mức thấp, khoảng 20 – 25% nhu cầu sử dụng; số còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài Theo Cục Quản lý Y dược cổ truyền (Bộ Y tế), hằng năm, ngành dược liệu Việt Nam sử dụng khoảng 60.000 tấn dược liệu các loại, trong đó có khoảng

80 – 85% dược liệu có nguồn gốc nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc

Ngành dược liệu đóng vai trò quan trọng nhất định trong nền kinh tế Việt Nam đã xếp cây dược liệu vào vị trí cây công nghiệp cao cấp Sản xuất cây dược liệu cho hiệu quả kinh tế cao gấp 3 – 10 lần lúa Nhiều cây dược liệu được lựa chọn để chuyển đổi cơ cấu

Trang 18

cây trồng nông nghiệp truyền thống, tăng giá trị kinh tế nông hộ: Đinh lăng được trồng ở Nam Định, giá trị thu được là 900 triệu/ha; Đương quy cho thu 500 – 900 triệu/ha, sinh địa thu 300 – 400 triệu/ha v.v Thực hiện xây dựng các chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất tới thu hoạch, chế biến và phân phối ra thị trường nhằm phát triển ngành dược liệu theo hướng bền vững là việc cần thiết

Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5, khóa XI đã nêu rõ vai trò của sản xuất, chế biến dược liệu trong nền kinh tế quốc dân: “Một nhiệm vụ cấp bách là khai thác mọi khả năng sẵn có trong nước nhằm tạo ra các nguồn dược liệu, tích cực xây dựng ngành công nghiệp dược phẩm và sản xuất thiết bị y tế, tạo mọi điều kiện để sớm khắc phục tình trạng thiếu thuốc kể cả con đường xuất để nhập”

1.5 Lịch sử hình thành và phát triển dược liệu học Việt Nam

Việt Nam có lịch sử phát triển y dược học từ lâu đời Khoảng từ 4000 năm trước Công nguyên, Thần Nông đã dạy cho người dân cách sử dụng các loại ngũ cốc, thực phẩm

và biết phân biệt thực vật có tác dụng chữa bệnh

Thời kỳ Hồng Bàng (2879 trước Công nguyên), tổ tiên ta đã biết sử dụng nhiều cây

có bột như bột đao, bột báng để ăn, dùng gừng, hành, tỏi làm gia vị hỗ trợ tiêu hóa

và chống lạnh, ăn trầu để bảo vệ bộ răng và giúp da dẻ hồng hào, uống nước vối, nước chè cho dễ tiêu

Theo sử sách ghi chép, dưới thời Nam Việt Giao Chỉ, nhiều vị thuốc đã được phát hiện: Cau, Ý dĩ, Long nhãn, Vải, Gừng gió, Quế, Trầm hương, Quả giun (sử quân tử), Hương bài Trong thời kỳ Bắc thuộc (207 trước Công nguyên đến 905 sau Công nguyên), người Trung Quốc đô hộ thường lấy các loại thuốc quý hiếm từ nước ta đem về nước họ và cũng trong thời kỳ này, nền y dược của ta bắt đầu giao lưu với Trung Quốc

Dưới các triều Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý, nước ta đã có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp chữa bệnh cho dân và trong triều đình đã tổ chức Ty Thái Y có nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ cho hoàng gia Đời nhà Lý có một vị danh y nổi tiếng là nhà sư Nguyễn Minh

Không (Phạm Xuân Sinh, 2002)

Đến thế kỷ thứ XIV dưới đời nhà Trần (1225 – 1399), nền y dược học nước ta mới bắt đầu phát triển Viện Thái Y có nhiệm vụ chữa bệnh cho vua quan trong triều và trông nom cả việc cứu tế cho người dân, có mở khoa thi tuyển chọn lương y Sau đây là những vị danh y đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe người dân và xây dựng nền y dược học nước ta:

Trang 19

– Phạm Công Bân, dưới triều vua Trần Anh Tông (1293 – 1314), ngoài nhiệm vụ ở Viện Thái Y, về nhà còn chữa bệnh cho người dân Ông đề cao tinh thần trách nhiệm đối với tính mạng bệnh nhân, không phân biệt sang hèn, bệnh nguy chữa trước và tận tụy phục

vụ bệnh nhân, không quản ngại khó khăn Phạm Công Bân là một tấm gương sáng cho nền

y học nước nhà (Phạm Xuân Sinh, 2002)

– Chu Văn An là một danh y nổi tiếng dưới thời vua Trần Dụ Tông (1341) Ông đã biên soạn cuốn “Y học yếu giải tập chú di biên” tổng kết các nguyên nhân của bệnh, phân tích cơ chế bệnh lý với phương pháp chẩn đoán và biện chứng luận trị Ông chính là người

đã có công nghiên cứu để bước đầu xây dựng cơ bản nền y học của nước ta

– Tuệ Tĩnh, có tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh (đi tu lấy pháp danh là Tuệ Tĩnh), quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) Khi còn nhỏ, Tuệ Tĩnh đã nghiên cứu về cây cỏ Việt Nam, đồng thời sưu tầm những bài thuốc giản dị thường dùng trong dân gian kết hợp với kinh nghiệm trị bệnh của Trung y, từ đó xây dựng một sự nghiệp có tính chất dân tộc, đại chúng và sáng tạo trong thời kỳ mà thuốc Bắc rất thịnh hành Tuệ Tĩnh đã

để lại hai tác phẩm có giá trị là “Hồng Nghĩa giác tư y thư” và “Nam Dược thần hiệu” Bộ

“Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển, quyển đầu nói về dược tính của 499 vị thuốc Nam,

mười quyển sau, mỗi quyển nói về một khoa trị bệnh (Phạm Xuân Sinh, 2002)

Dưới thời nhà Minh đô hộ (1407 – 1427), nhà Minh chủ trương đồng hóa dân tộc ta

và thủ tiêu văn hóa nước ta, nên trong thời kỳ này, chúng ta không có trước tác y học Những thế kỷ tiếp theo (Y học dưới triều Lê, 1428 – 1788), nước ta xuất hiện nhiều danh y: thế kỷ XV có danh y Phan Phù Tiên và Nguyễn Trực; thế kỷ XVI có danh y Hoàng Đôn Hòa; thế kỷ XVII có danh y Lê Đức Vọng, Nguyễn Đạo An, Bùi Công Chính, Lý Công Tuân; thế kỷ XVIII, nước ta có danh y Nguyễn Quỳnh, Ngô Lâm Đáp, Trịnh Đình Ngoạn, Nguyễn Hữu Đạo v.v và đặc biệt là đại danh y nổi tiếng Hải Thượng Lãn Ông Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác (1720 – 1791), sinh ở xã Liêu Xá, huyện Yên

Mỹ, tỉnh Hưng Yên ngày nay (xưa thuộc trấn Hải Dương) Ông đã kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh trong việc sử dụng thuốc Nam cho người Việt Ông nghiên cứu sâu lý luận Trung y, nhưng kết hợp với thực tế để đúc kết ra kiến thức Y học cổ truyền dân tộc Tác phẩm nổi tiếng của Hải Thượng Lãn Ông là bộ sách

“Hải Thượng Y tông tâm lĩnh” xuất bản năm 1884, gồm 28 tập, 66 quyển về y lý và dược

liệu (Phạm Xuân Sinh, 2002)

Dưới thời Tây Sơn (1788 – 1802), vì chiến tranh liên tiếp, tình hình y dược học không có gì đổi mới Danh y thời bấy giờ có tiến sĩ Nguyễn Gia Phan đã có công dập tắt được nhiều vụ dịch, cứu sống nhiều người, ông đã biên soạn cuốn “Liệu dịch phương pháp

Trang 20

toàn tập” Danh y Nguyễn Quang Tuân biên soạn cuốn “La Khê phương dược” gồm 13 quyển và cuốn “Kim ngọc quyển” viết bằng chữ Nôm ghi lại nhiều phương thuốc gia truyền

Dưới thời triều Nguyễn có Trần Nguyệt Phương viết cuốn “Nam Bang thảo mộc”, trong đó viết nhiều cây thuốc theo kinh nghiệm

Dưới thời Pháp thuộc (1885 – 1945), thực dân Pháp tổ chức nền y tế theo lối Tây y, hạn chế Đông y Tuy nhiên, nước ta trong thời kỳ này vẫn có nhiều tập sách có giá trị – Đinh Nho Chấn và Phạm Văn Thái biên soạn “Trung Việt dược tính hợp biên” gồm 16 cuốn viết công dụng, cách chế biến 1655 vị thuốc Bắc và Nam

– Nguyễn An Nhân với tập “Y học tùng thư” gồm 16 cuốn viết bằng tiếng Việt – Phó Đức Thành với tập “Việt Nam Dược học” gồm 5 cuốn bằng tiếng Việt

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, ngành

Y tế đã xuất bản nhiều sách về dược liệu như “450 cây thuốc Nam” của Phó Đức Thành;

“Thuốc Nam thường dùng” của Đỗ Tất Lợi (1969); Danh mục “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1962), cùng hàng loạt sách về dược liệu do Bộ Y tế, các viện, các trường y xuất bản dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, học tập về Dược liệu học Nước ta đã thành lập Viện Nghiên cứu về Đông y (1957), Viện Dược liệu (1961), có các vườn thuốc ở Văn Điển (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Sa Pa (Lào Cai), thành lập các công ty Dược ở Trung ương và các công ty, trạm nghiên cứu Dược liệu

ở các tỉnh, thành phố làm nhiệm vụ nghiên cứu nuôi trồng, kinh doanh các cây con làm thuốc để giữ gìn, kế thừa và phát triển nguồn dược liệu phong phú của Việt Nam

Trong những năm kháng chiến bảo vệ Tổ quốc (1954 – 1975), Bộ Y tế, các trường đại học như Đại học Dược, Đại học Lâm nghiệp, Viện Dược liệu, các trạm nghiên cứu Dược liệu v.v đã tiến hành điều tra sưu tầm cây thuốc, tổ chức khai thác, bảo vệ tái sinh và nuôi trồng dược liệu có hiệu quả làm thuốc, đồng thời sưu tầm các bài thuốc, phương pháp bào chế, chế biến và sử dụng các bài thuốc đó trong y học Thời kỳ này, nước ta đã di thực được hầu hết các cây thuốc Bắc như Đương quy, Bạch chỉ, Bạch truật, Xuyên khung, Sinh địa, Ngưu tất v.v từ Trung Quốc về trồng trọt ở Việt Nam Có thể nói, đây là thời kỳ hoàng kim của ngành dược liệu Việt Nam Ngành dược Việt Nam đã cung cấp được nhiều thuốc cho quân và dân ta ở chiến trường, hậu phương và cho xuất khẩu

Từ khi thống nhất đất nước (1975) đến nay, do thuốc Bắc tràn vào Việt Nam, nên việc trồng trọt cây thuốc bị hạn chế Nhiều địa phương không còn hạt giống và cây giống

để trồng trọt Hầu hết các tỉnh đã bỏ các trạm nghiên cứu dược liệu Do đó, tình trạng thiếu thuốc Đông dược trở nên rất nghiêm trọng Trước tình hình đó, năm 2002, Chính phủ đã có

Trang 21

Quyết định số 108/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược

phát triển ngành dược giai đoạn đến 2010”, trong đó có đoạn: “Mục tiêu chiến lược phát

triển ngành dược giai đoạn từ nay đến 2010 đã ghi rõ: từng bước đáp ứng nguồn nguyên liệu làm thuốc và sản xuất nguyên liệu làm thuốc có thế mạnh, đặc biệt là dược liệu”

Ngày 30 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1976/QĐ-TTg

về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Trong Quyết định này đã nêu rõ bốn quan điểm: (i) Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái (ii) Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu (iii) Nhà nước

hỗ trợ đầu tư về nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong việc bảo tồn nguồn gen, khai thác dược liệu tự nhiên, trồng trọt, chế biến dược liệu và các sản phẩm

từ dược liệu (iv) Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trồng dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu, góp phần tăng dần

tỷ trọng của ngành công nghiệp dược trong tổng sản phẩm nội địa (GDP)

Sau khi Quyết định được ban hành, ngành dược liệu Việt Nam ngày càng lớn mạnh Diện tích trồng thảo dược tăng đáng kể, nhiều cơ sở, hợp tác xã sản xuất thuốc gia truyền được thành lập Ngày 17/3/2017, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 852/QĐ-BNV cho phép thành lập Hội Nam y Việt Nam Nhiệm vụ chính của Hội là bảo tồn, quảng bá, giới thiệu và phát huy giá trị của nền Y học bản địa trong công tác khám, chữa bệnh cho cộng đồng trong và ngoài nước Bên cạnh đó, Hội còn là nơi tập hợp những người đang hoạt động trong lĩnh vực thuốc Nam, các thầy thuốc Nam, những người sản xuất thuốc Nam, thực hiện sàng lọc phổ cấp ứng dụng trong chữa bệnh và sản xuất thuốc nhằm nghiên cứu xác minh hiệu quả, đồng thời xây dựng thương hiệu thuốc Nam Hiện nay, Hội đã và đang dần lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng Nhiều trung tâm được hình thành: Trung tâm Dược liệu Hoàng Anh tại Xuân Mai, huyện Mỹ Đức và Trung tâm Phát triển cây thuốc Việt Nam tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

1.6 Tình hình khai thác, nghiên cứu cây dược liệu tại Việt Nam

Với những tiềm năng về địa hình và khí hậu, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nguồn tài nguyên dược liệu đa dạng, phong phú, được xếp hạng thứ ba trên toàn thế giới Theo kết quả khảo sát của Viện Dược liệu, Việt Nam có khoảng 5.117 loài

Trang 22

thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc, trong đó có 206 loài cây thuốc còn khả năng khai thác, 144 loài cây thuốc quý hiếm như Sâm Ngọc Linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng liên, Bách hợp, Hoàng tinh hoa đỏ, v.v có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn Trong những năm gần đây, Việt Nam đang đứng trước thực trạng khai thác dược liệu

tự nhiên một cách quá mức, gây cạn kiệt nguồn gen dược liệu quý Nhiều loài dược liệu bị khai thác theo kiểu tận thu, nhổ cả gốc mà không được trồng lại, không có biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững, nên đã cạn kiệt nhanh chóng ở các tỉnh vùng cao như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai v.v Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú hoàn toàn bị phá

bỏ Vùng núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai) vào những năm 1972 – 1973 đều là rừng rậm, có nhiều loài cây thuốc quý như Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng liên gai v.v., song đến năm 1985 đã bị phá gần hết để trồng ngô và các loại cây khác Cao nguyên An Khê thuộc Gia Lai và Bình Định trước kia vốn là trung tâm phân bổ lớn nhất Việt Nam của cây Vàng đắng, hiện đã nằm dưới lòng hồ chứa nước thủy điện Vĩnh Sơn Vùng phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc quý như Sâm Ngọc Linh, Thiên niên kiện, Cốt khí củ, Ba kích, Đẳng sâm, Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim v.v cũng bị thu hẹp do nạn phá rừng và mất rừng Một số vùng trồng cây thuốc truyền thống đã biến mất v.v

Cây Vàng đắng vào những năm 1980 – 1990 còn khai thác được từ 1.000 – 2.500 tấn/năm, từ năm 1995 đến nay gần như không còn Các loại dược liệu như Ba kích, Đẳng

sâm, các loài Hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và Polygonatum, Bình vôi v.v vốn phân

bố rất nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng hiện nay đã được đưa vào Sách đỏ và Danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam Từ một nước xuất khẩu dược liệu vào những thập niên

1960 – 1970, hiện Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào nguyên dược liệu nhập khẩu để sản xuất thuốc chữa bệnh tới 85%, thậm chí cả Đông y cũng phải mua dược liệu

Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, các viện nghiên cứu và doanh nghiệp dược trong cả nước đã đầu tư nghiên cứu nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng và thuốc từ dược liệu Một số công trình nghiên cứu tạo ra sản phẩm tiêu biểu như:

nghiên cứu thuốc Eupolin chữa bỏng từ cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum) của Viện Bỏng

quốc gia Lê Hữu Trác; nghiên cứu điều chế thuốc tiêm rotundin sulfat từ củ Bình vôi

(Stephania spp.) của Học viện Quân y; nghiên cứu sản xuất viên nang điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt từ Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) của Công ty Dược liệu

Trung ương II; nghiên cứu và sản xuất thuốc Crila chữa bệnh u xơ tử cung cũng từ dược liệu này của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã được Bộ Y tế Việt Nam công nhận; nghiên

cứu sản xuất Embin làm thuốc tẩy sán từ loài Chua ngút (Embelia scandens) và Ampelop

từ Chè dây (Ampelopsis cantonensis) điều trị viêm loét dạ dày – hành tá tràng của Công ty

cổ phần Traphaco; nghiên cứu sản xuất viên nang Uphamorin từ rễ và thân cây Nhàu

Trang 23

(Morinda citrifolia) làm thuốc tăng cường miễn dịch và sức đề kháng của Đại học Y

Hà Nội; nghiên cứu chiết suất Artemisinin chữa bệnh sốt rét xuất khẩu sang các nước châu Phi từ cây Thanh hao hoa vàng và thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng Ampelop, thành phần chính từ cao Chè dây được thực hiện bởi các nhà khoa học của Trường Đại học Dược Hà Nội; công trình chiết xuất nguyên liệu mangiferin đạt độ tinh khiết 98% – 101%, xuất khẩu sang Nga cả nguyên liệu và thuốc thành phẩm đạt trị giá khoảng 1 triệu USD/năm do Công

ty BV Pharma thực hiện

Viện Dược liệu có công trình nghiên cứu về tác dụng chống trầm cảm và cải thiện trí nhớ của cây Đinh lăng Hiện nay, trên thị trường có các sản phẩm cải thiện tuần hoàn não

từ Đinh lăng như: hoạt huyết dưỡng não, cebraton nang mềm của Traphaco v.v

Nghiên cứu sản xuất thuốc nhỏ mũi Agerhinin từ cây Ngũ sắc (Ageratum

conyzoides) điều trị viêm xoang; nghiên cứu thuốc chữa u xơ tuyến tiền liệt từ Náng hoa

trắng (Crinum asiaticum); thuốc hỗ trợ điều trị ung thư từ nấm cổ Linh Chi (Ganoderma

applanatum); thuốc điều trị thương hàn và lỵ trực khuẩn Geravina từ Lão quan thảo

(Genanium nepalense var thunbergiii); thuốc điều trị thiểu năng tuần hoàn não Ligustan từ Xuyên khung (Ligusticum wallichii), Đương quy (Angeliaca sinensis) và Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis); Abivina từ Bồ bồ của Viện Dược liệu; Kim tiền thảo của Công ty

cổ phần dược phẩm OPC; v.v

Ngoài ra, còn có hàng nghìn sản phẩm khác dưới dạng thực phẩm chức năng được nghiên cứu và sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường có nguồn gốc dược liệu dưới dạng chè nhúng, chè tan, v.v như: Giảo cổ lam, Diệp hạ châu, Nhàu, Actiso, Hoa cúc, Tam thất, Hà thủ ô, Tỏi, Gừng, Mướp đắng

Trang 24

Chương 2

CÁC HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TỪ CÂY DƯỢC LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về hóa học các hợp chất tự nhiên

Hợp chất thiên nhiên (hay hợp chất tự nhiên, natural products) là các chất hóa học

có nguồn gốc từ thiên nhiên hoặc được con người tách ra từ các loài động vật, thực vật trong tự nhiên, có thể có hoạt tính sinh học hoặc có tác dụng dược học dùng để làm thuốc Ngành hóa học chuyên nghiên cứu để chiết tách và chuyển hóa các hợp chất tự nhiên gọi là ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên (hay hóa học các hợp chất tự nhiên)

Hóa học các hợp chất thiên nhiên hình thành từ cuối thế kỷ XIX Đối tượng nghiên cứu là các lớp chất hóa học của sinh vật Nhiệm vụ của hóa học các hợp chất tự nhiên bao gồm phân lập, nhận dạng, xác định đặc điểm; xác định cấu trúc; tổng hợp các hợp chất phân tử nhỏ; nghiên cứu hoạt tính sinh học

2.2 Phân loại các hợp chất thiên nhiên

2.2.1 Hợp chất sơ cấp

2.2.1.1 Carbohydrat

Định nghĩa: Carbohydrat (tiếng anh: Carbohydrate) hay gluxit (tiếng Pháp: glucide)

là chất hữu cơ có chứa ba nguyên tố: cacbon (C), oxy (O) và hydro (H) Đa số có công thức chung: Cn(H2O)m

Phân loại: Carbohydrat là các aldehyd polyhydroxy, xeton, rượu, axit, các chất dẫn

xuất đơn giản của chúng và polyme của chúng có sự liên kết của các acetal Chúng được phân loại theo mức độ trùng hợp và có thể được chia thành ba nhóm chính ban đầu, cụ thể

là các loại đường (thực phẩm), oligosaccharide và polysaccharide

Đường thực phẩm bao gồm ba phân nhóm: Monosaccharide (glucose, galactose, fructose), disaccharide (sucrose, lactose, maltose, trehalose), polyol (sorbitol, mannitol) Nhiều dược liệu chứa đường: mạch nha chứa maltose

Oligosaccharide: là những carbohydrat bao gồm maltodextrin, raffinose, stachyose,

fructo-oligosaccharide, khi thủy phân cho từ 2 – 5 đường đơn Các đường đơn (glucose, fructose, ribose v.v.) thường tập trung ở hoa, quả, vì vậy, chúng được sử dụng làm thuốc, nước giải khát, rượu vang v.v

Trang 25

Polysaccharide: Polysaccharide được cấu tạo bởi nhiều monosaccharides, có khi tới

hàng trăm, hàng nghìn monosaccharides như tinh bột (tinh bột lúa mỳ, tinh bột gạo, tinh bột khoai tây, tinh bột sắn v.v.), cellulose, pectin, chất nhầy

Tinh bột: Tinh bột được cấu tạo bởi hai loại polysaccharide là amylose (chiếm 20%)

và amylopectin (chiếm 80%)

Tinh bột được giữ lại ở các bộ phận của cây như củ, rễ, quả, hạt, thân với hàm lượng

từ 2 – 70% Trong cây mầm, tỷ lệ tinh bột chiếm tới 70 – 80% Tinh bột được tích lũy nhiều trong củ (Hoàng tinh, Hà thủ ô đỏ, Hoài sơn, Sắn dây, Bạch truật, Thương truật, Đương quy, củ Súng, ngó Sen v.v.), trong hạt (Ý dĩ nhân, hạt Sen v.v.), trong lá tinh bột thường không quá 1 – 2%

Tinh bột ở dạng hạt có kích thước và hình dạng khác nhau, không tan trong nước lạnh, đun với nước thì dần dần bị hồ hóa và độ nhớt của dung dịch cũng tăng lên Với dung dịch iod, tinh bột cho màu xanh tím đặc trưng

Tinh bột là thành phần chính trong lương thực Trong ngành dược, tinh bột được dùng làm tá dược thuốc viên nén, là nguyên liệu để sản xuất glucose, ethanol, làm chất chỉ thị màu trong phép đo iod

2.2.1.2 Lipid

Lipid là một nhóm các hợp chất hữu cơ có trong tự nhiên, thường có trong động vật, thực vật và có thành phần cấu tạo khác nhau, thường là este của rượu và axit béo

Tính chất của lipid

Lipid có tính chất chung là không hòa tan được trong nước, tan trong dung môi hữu

cơ (benzen, ether, clorofom v.v.), không bay hơi ở nhiệt độ thường, có độ nhớt cao, nhỏ lên giấy thì tạo thành vết và vết đó không bị mất khi hơ nóng Khác với tinh dầu, khi nhỏ một giọt tinh dầu lên giấy, nếu hơ nóng, tinh dầu sẽ bay hơi hết, không để lại vết mờ trên giấy

Ở cây dược liệu, lipid thường tích lũy nhiều trong hạt và bề mặt vỏ quả Phân loại và công dụng của lipid (chất béo) như sau:

Trong y học thường sử dụng bốn nhóm lipid đơn giản, đó là: triglycerid, cerid, lecithin và phytin

Dầu mỡ thường hòa tan được nhiều hoạt chất có tác dụng phòng và chữa nhiều bệnh quan trọng cho con người như:

Trang 26

– Dầu có trong màng đỏ bao quanh hạt Gấc chín chữa bệnh khô mắt, quáng gà do thiếu vitamin A, hàm lượng licopen chứa nhiều trong Gấc tốt cho nhu mô ruột, giúp hạn chế các triệu chứng đại tràng kích thích

– Dầu thầu dầu dùng chữa bệnh ngoài da, làm thuốc nhuận tràng

– Dầu hạt cây Đại phong chứa axit béo gynocacdic chữa hủi

– Các dầu chứa axit béo không no như axit linoleic, arachidonic (các axit béo này gọi là vitamin F) được dùng trong điều trị các bệnh về da, tóc, thị giác Đó là những axit béo rất cần thiết cho cơ thể, chỉ đưa vào bằng nguồn thức ăn, khi thiếu các axit béo không

no này sẽ xảy ra rối loạn chức năng về da

– Dầu mỡ có tác dụng bảo vệ, làm mềm da, giúp nhanh lên da non ở các vết thương, vết bỏng, làm giảm kích ứng khi mắc bệnh vảy nến, eczema Dầu mỡ còn được dùng làm

tá dược thuốc mỡ, thuốc đạn, thuốc cao dán và làm dung môi pha chế thuốc tiêm dầu

(b) Cerid

Cerid là este của axit béo với rượu có phân tử lượng cao Cerid là thành phần chính của sáp (sáp ong, lanolin) Sáp được dùng làm tá dược điều chế thuốc bôi xoa, thuốc mỡ, son

(c) Lecithin

Lecithin là chất béo phức tạp, có nhiều trong hạt Đậu tương, chúng được dùng làm thuốc bổ dưỡng cho cơ thể

Lecithin làm tăng khả năng hấp thụ thức ăn, là môi trường hòa tan tốt các vitamin A,

D, E, K Lecithin tinh chiết từ đậu nành là một loại phospholipid góp phần tạo nên vị béo đặc trưng của sữa đậu nành nhưng không phải là hương của đậu nành Lecithin tham gia cấu tạo màng tế bào, tại ruột, Lecithin nhũ tương hóa giúp hấp thu chất béo và các vitamin

A, D, E, K Lecithin còn là nhân tố kích thích sinh trưởng và giải độc tốt

(d) Phytin

Phytin là chất béo phức tạp có trong các bộ phận dự trữ của cây như hạt, rễ củ, nhưng thường tập trung ở vỏ hạt như cám gạo, vỏ ngô, đậu nành Phytin được dùng làm thuốc bổ, chống còi xương và kích thích quá trình sinh trưởng của cơ thể, nhất là đối với trẻ em

2.2.2 Hợp chất thứ cấp

2.2.2.1 Terpenoid

Terpenoid, còn được gọi là isoprenoid, là một nhóm lớn và đa dạng của các hợp chất hữu cơ tự nhiên có nguồn gốc từ hợp chất 5 cacbon isopren và các polyme isopren được gọi là tecpen Hầu hết các terpenoid là cấu trúc đa vòng với các nhóm chức chứa oxy Khoảng 60% các sản phẩm tự nhiên được biết đến là terpenoid Công thức tổng quát là (C5H8)n

Trang 27

Monoterpen không vòng (có ba liên kết đôi): myrcen trong tinh dầu cây (Myrcia acris); ocimen trong tinh dầu Húng Quế (Ocimum basilium); garaniol, citronellol và nerol

từ tinh dầu hoa Hồng

Hình 2.1 Một số Monoterpen không vòng

Myrcen (7-Metil-3-metilenocta-1,6-dien)

Trang 28

Monoterpen một vòng có hai liên kết đôi, monoterpen hai vòng có một liên kết đôi

Limonen Limonen -Terpinen Terpinen -Terpinen Terpinen Y-Terpinen-Terpinen

Terpinolen -Phelandren -Phelandren

Hình 2.2 Một số Monoterpen một vòng

Từ α-pinen là thành phần chính có trong tinh dầu thông, cũng được tìm thấy trong tinh dầu hương thảo, có thể điều chế α-terpineol, cis-terpin-1,8, Cineol-1,8 và camphor α-pinen là một chất chống viêm, kháng khuẩn Nó thể hiện hoạt động như một chất ức chế acetylcholinesterase, hỗ trợ trí nhớ

Trang 29

-pinen

Sesquiterpen C 5 H 24: Sesquiterpen có thể có dạng vòng hoặc chứa các vòng, bao gồm nhiều kết hợp độc đáo: Không vòng có bốn liên kết đôi, một vòng có ba liên kết đôi, hai vòng có hai liên kết đôi, ba vòng có một liên kết đôi Ví dụ một số chất thuộc nhóm Sesquiterpen: α-farnesen trong tinh dầu sả, β-selinen trong tinh dầu cần tây

-farnesen -selinen

Hình 2.3 Một số sesquiterpen

Các terpenoid thực vật được sử dụng vì chất lượng thơm và đóng vai trò trong các bài thuốc thảo dược truyền thống Terpenoid góp phần tạo nên hương thơm của Bạch đàn, Hương Quế, Đinh hương và Gừng, màu vàng trong hoa Hướng dương và màu đỏ trong Cà chua Các terpenoid điển hình bao gồm citral, tinh dầu Bạc hà, Long não, salvinorin A

được tìm thấy trong Cần sa, ginkgolid và bilobalid được tìm thấy trong Bạch quả (Ginkgo

biloba), curcuminoid có trong Nghệ vàng và hạt Mù tạt Trong nhóm terpenoid có phân

nhóm triterpenoid; cây dược liệu chứa triterpenoid như lá cây Long nha thảo (Agrimonia

pilosa ledeb) (Le, Q U và cộng sự, 2018b)

Một số nghiên cứu trong ống nghiệm, tiền lâm sàng và lâm sàng đã xác nhận rằng nhóm hợp chất này thể hiện một loạt các đặc tính dược lý rất quan trọng Sự tập hợp đa dạng của cấu trúc và chức năng terpenoid đã làm gia tăng sự quan tâm đến việc sử dụng chúng cho mục đích thương mại, dẫn đến một số ứng dụng y học đã được thiết lập và đăng

ký làm thuốc trên thị trường Ví dụ, terpenoid taxol được sử dụng như một loại thuốc chống ung thư

Trang 30

OOH

a) Glycosid tim

Glycosid tim là những glycosid steroid thiên nhiên, có tác dụng đặc biệt lên tim

Ở liều điều trị có tác dụng cường tim, làm chậm và điều hòa nhịp tim Ở liều cao gây độc đối với tim: làm ngừng tim ở thì tâm thu đối với động vật máu lạnh (ví dụ ếch), ở thì tâm trương đối với động vật máu nóng

Cấu tạo:

Glycosid tim có cấu tạo như những glycosid khác, bao gồm hai phần:

– Phần đường: ngoài những đường thông thường như các glycosid khác (glucose, rhamnose, galactose) thì còn có đường đặc biệt là đường 2,6-desoxy

– Phần không đường gọi là aglycon hay genin có cấu trúc gồm một nhân steroid nối với một mạch nhánh là vòng lacton không no Các glycosid tim thường gặp là:

+ Neriolin (oleandrin) được chiết xuất từ lá Trúc đào

+ Strophantin (K-strophantin, G-strophantin (ouabain)) được chiết xuất từ các loài

Sừng dê (Srophanthus kombe hay S.gratus L.)

Trang 31

+ Digitoxin được chiết xuất từ các loài dương Địa hoàng (Digitalis lanata,

D purpurea họ hoa mõm chó Scrophulariaceae)

b) Saponin

Saponin là những hợp chất hữu cơ thiên nhiên, thường tồn tại dưới dạng glycosid (saponosid) Khi lắc mạnh dịch chiết dược liệu trong nước được nhiều bọt như xà phòng, bền sau 15 phút Saponin thường kết hợp với cholesterol tạo thành phức ít tan trong nước Một số saponin gây độc cho sinh vật máu lạnh (cá) và côn trùng ở nồng độ cụ thể

Có hai loại saponin: saponin triterpenic và saponin steroid

Tính chất:

– Saponin thường tan trong nước, trong cồn methylic, ethylic nóng hoặc sôi, khi nguội, saponin sẽ kết tủa Saponin không tan trong clorofom, aceton, ethylic, ether dầu hỏa, benzen v.v

– Saponin làm giảm sức căng mặt ngoài, do vậy, saponin có nhiều bọt, có tác dụng nhũ hóa mạnh Đó là lý do giải thích tính chất hòa tan máu của saponin và tác dụng lên sự thấm của tế bào

Tác dụng sinh học của saponin:

– Saponin có tác dụng long đờm chữa ho, là hoạt chất chính trong các dược liệu chữa ho như: Mạch môn, Thiên môn, Cam thảo bắc, Cam thảo dây, Cát cánh, Viễn trí v.v – Một số dược liệu chứa saponin có tác dụng thông tiểu: Rau má, Tỳ giải, Mạch môn, Thiên môn đông

– Saponin có mặt trong một số dược liệu có tác dụng bổ dưỡng cơ thể như Nhân sâm, Tam thất và một số cây thuộc họ Nhân sâm khác Nhân sâm Việt Nam (Sâm Ngọc Linh) có nhiều saponin quý tốt cho sức khỏe: notoginsenosid R1, ginsenosid (Rg1, Re, Rb1, Rc, Rb2 và Rd); majonosid R1, 2, ginsenosid Rh1, quinquenosid R1; vina-ginsenosid (R1, R2, R12, R14), pseudoginsenosid Rs1 và gypenosid XVII [10a]; vina-ginsenosid (R15-R24); ginsenosid (Rk3, Rh4, Rg5), 20 (S)-ginsenosid Rg3 và 20

(R)-ginsenosid Rg3; vina-ginsenosid (R1, R2) và majonosid R2; vina-ginsenosid

(R1-R14), ginsenosid Rb3, notoginsenosid-Fa, 20-gluco-ginsenosid-Rf, notoginsenosid

(R1, R6), pseudo-ginsenosid-RT4, 24(S)-pseudo-ginsenosid-F11, ginsenosid-Ro và

hemslosid-Ma3 Trong các hợp chất này, majonosid R2 là một saponin đáng chú ý với tỷ lệ

5,29% trong Nhân sâm Việt Nam mà không tồn tại trong các loài sâm khác (Le, Q U và

cộng sự, 2018a)

Trang 32

Hình 2.5 Cấu trúc hóa học của saponin majonosid R2 trong Nhân sâm Việt Nam

(Panax vietnamensis)

– Một số saponin có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư trên thực nghiệm – Một số dược liệu chứa saponin có tác dụng khử lọc chất độc cho cơ thể (Thổ phục linh, Nhân sâm, Cam thảo)

– Một số saponin có tác dụng chống viêm, giảm đau, chống loét, nhanh làm lành vết thương; được dùng chữa viêm loét dạ dày (Cam thảo, Tam thất), chữa mụn nhọt, thấp khớp, đau lưng (Ngưu tất, Tỳ giải, Thổ phục linh), làm thuốc chóng lành sẹo trong các vết thương, vết mổ, vết bỏng, loét v.v (Rau má, Cam thảo), kháng khuẩn, kháng nấm, ức chế virus

– Một số saponin có tác dụng hạ cholesterol trong máu: Ngưu tất, Cát cánh

Trang 33

– Saponin steroid có tác dụng kích thích sự tổng hợp axit nucleic và chống viêm như corticoid, được dùng làm nguyên liệu bán tổng hợp các thuốc steroid: Tỳ giải, Thổ phục linh – Một số được dùng làm nước tẩy rửa: quả bồ hòn có tới 18% saponin, hoạt tính bề mặt mạnh, giúp làm sạch các bề mặt

2.2.2.3 Ancaloit

Khái niệm: Ancaloit là những hợp chất hữu cơ có chứa N, đa số có nhân dị vòng, có

phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật, đôi khi trong động vật

Trong cây, ancaloit ít khi ở trạng thái tự do (ancaloit bazơ), mà thường tồn tại ở dạng muối của các axit hữu cơ (citrat, lactat, malat, oxalat, acetat v.v.) hay axit vô cơ (ít gặp hơn) tan trong dịch tế bào Một số cây ancaloit kết hợp với tanin hoặc axit đặc biệt của cây

đó hoặc kết hợp với đường tạo ra dạng glucoancaloit

Tác dụng sinh học:

Tác dụng của ancaloit rất khác nhau:

– Nhiều ancaloit có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương:

+ Kích thích hệ thần kinh trung ương như strychnin, cafein

+ Ức chế thần kinh trung ương như morphin, reserpin v.v

– Nhiều ancaloit tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm, phó giao cảm, hạch giao cảm: + Kích thích thần kinh giao cảm như ephedrin, hordenin

+ Làm liệt giao cảm như ergotin, yohimbin

+ Kích thích phó giao cảm như pilocarpin, eserin

+ Làm liệt phó giao cảm như atropin, hyoxyamin

+ Phong bế hạch giao cảm như nicotin, spartein

– Có ancaloit làm tăng huyết áp như ephedrin, hydrastin Có chất làm hạ huyết áp như reserpin, yohimbin

– Một số ít ancaloit có tác dụng gây tê tại chỗ như cocain

– Một số ít ancaloit tác dụng trên tim như quynidin, ajmalin được dùng làm thuốc chữa loạn nhịp tim

– Một số ancaloit có tác dụng diệt ký sinh trùng, được dùng: trị sốt rét (quynin), chữa lỵ amip (emetin, conexin), trị sán (arecolin, isopelletierin)

Trang 34

2.2.2.4 Hóa hợp chất phenolic

a) Phenolic thiên nhiên

Yếu tố đặc trưng cho phenolic là có mặt ít nhất một nhân benzen (vòng thơm) liên kết với ít nhất một hoặc nhiều nhóm thế OH và được sắp xếp từ các phenolic đơn giản (chất đơn giản nhất của phenolic là phenol) đến các hợp chất polyme hóa cao Do sự đa dạng về cấu trúc, nhóm hợp chất này cũng được gọi là polyphenol

Hầu hết các hợp chất phenolic có trong tự nhiên hiện diện dưới dạng liên hợp với mono hoặc polysaccharide và cũng có thể xuất hiện dưới dạng các dẫn xuất như este và metyl este

Mặc dù có sự đa dạng về cấu trúc như vậy, các hợp chất phenolic về cơ bản có thể được phân loại thành một số lớp được trình bày trong bảng 2.2 Trong số này, phenolic, flavonoid và tannin được coi là những hợp chất phenolic chính có tác dụng dược lý được quan tâm

Bảng 2.2 Phân loại các hợp chất phenolic trong thực vật (Le, Q U 2019)

cơ bản Cấu trúc cơ bản

Acethophenon, axit phenylacetic C6 – C2

Axit hydroxycinamic, các phenylpropanoid

(courmarin, isocoumarin, chromon,

chromen)

Trang 35

Phân loại Khung

cơ bản Cấu trúc cơ bản

và sinapic là phổ biến nhất (hình 2.7) Nhiều loài cây dược liệu chứa các axit phenolic như: Cam thảo đất, Ban sởi, Kim ngân hoa v.v

Trang 36

Axit p-coumaric Axit caffeic

Hình 2.7 Một số axit phenolic thường gặp (Le, Q.U 2019)

c) Flavonoid

Flavonoid là nhóm phenolic lớn nhất, chiếm hơn một nửa trong tổng số 8000 chất tự nhiên Các flavonoid còn được gọi là dẫn xuất của 2-phenyl chroman (flavan) Đó là các hợp chất có trọng lượng phân tử thấp, được cấu tạo khung cacbon C6 – C3 – C6, gồm hai vòng benzen A, B nối với nhau bằng một cầu nối 3 cacbon và một dị vòng C Vòng thơm

A có nguồn gốc từ con đường axetat/malonate, trong khi vòng B có nguồn gốc từ phenylalanin thông qua con đường shikimat Sự biến đổi trong các kiểu thay thế vòng C dẫn đến các nhóm flavonoid chính, tức là flavonoid, flavon, flavanon, flavanol (hoặc catechin), isoflavon, flavanonol và anthocyanidin Trong đó flavon và flavonoid xuất hiện nhiều và đa dạng về cấu trúc nhất Sự thay thế các vòng A và B làm phát sinh các hợp chất khác nhau trong mỗi nhóm flavonoid Những thay thế này có thể bao gồm oxy hóa, alkyl hóa, glycosyl hóa, acyl hóa và sulfat hóa Cấu trúc phân tử cơ bản của flavonoid cho trong hình 2.8

Axit ferulic

Trang 37

6

7

8

1'

Hình 2.8 Cấu trúc cơ bản của flavonoid (Le, Q.U 2019)

Sự phân loại các nhóm flavonoid

Cơ sở của sự phân loại các nhóm flavonoid tùy theo mức độ oxy hóa vòng pyran là

sự có mặt hay không có nối đôi giữa C2 và C3 và nhóm cacbonyl ở C4

* Nhóm flavon và flavonol

Ngày nay, người ta đã biết khoảng 90 hợp chất của nhóm flavon và flavonol Chúng

có công thức cấu tạo chung như sau:

Flavon Flavonnol

(3-hydroxy flavon)

Hình 2.9 Cấu trúc cơ bản của flavon và flavonol

Sự đa dạng của nhóm chất này là do số lượng và vị trí nhóm hydroxy liên kết với các nguyên tử cacbon của khung Các nhóm hydroxy này có thể bị ankyl hóa tạo ra các dẫn xuất khác nhau

* Nhóm flavanon

Các flavanon thường xuất hiện với nhiều nhóm hydroxy hoặc metoxy và được phân lập từ các hoa màu trắng Chúng có một trung tâm không trùng vật ảnh (nguyên tử cacbon bất đối xứng C2) nên có tính quang hoạt và luôn có một cân bằng hỗ biến

Trang 38

* Nhóm flavanonol

Flavanonol-3 hay còn gọi là flavanon-3-ol hoặc dihydroflavonol Flavanonol gần giống như flavanon, chỉ khác là có nhóm hydroxy ở vị trí C3 Flavanonol có hai nguyên tử cacbon bất đối xứng ở C2 và C3 nên chúng có tính quang hoạt Flavanonol dễ bị oxy hóa để cho flavonol tương ứng, người ta biết đến khoảng 30 hợp chất thuộc nhóm này, phần lớn ở dạng aglycon, chỉ có vài chất ở dạng glycosid

Flavanonol (Flavanon-3-ol, dihydroflavonol)

Trang 39

* Nhóm chalcon

Chalcon khác với các loại flavonoid khác là phân tử bao gồm hai vòng benzen A và

B nối với nhau bởi một mạch hở gồm ba cacbon

Chalcon thường có màu vàng sẫm, đỏ da cam đến đỏ tía Đối với phản ứng màu cyanidin, chalcon thường cho màu rõ rệt

* Nhóm anthocyanin

Anthocyanin thường gặp trong tự nhiên ở dạng glycosid dễ tan trong nước Khi đun anthocyanin trong môi trường axit (HCl 20%) thì phần đường gắn vào bị cắt ra và cho ta phần aglycon là anthocyanidin Anthocyanidin có cấu trúc 2-phenylbenzopyrilium, hay còn gọi là cation flavylium

Trang 40

Anthocyanidin Màu sắc của anthocyanin thay đổi theo pH Trong dung dịch axit vô cơ, anthocyanin cho muối oxoni có màu ít nhiều đỏ, còn ở môi trường kiềm, chúng tạo thành các anhydrobazơ với một nhóm quinoit cho màu xanh

Đỏ Xanh

Tuy nhiên, sự xuất hiện các màu khác nhau của cùng một anthocyanin ở trong các cây khác nhau lại do sự tạo thành các chelat kim loại khác nhau Ví dụ, cyanidin clorua tạo thành màu đỏ của hoa hồng, trái lại, một phức cyadino nhôm sắt (III) cho màu xanh của hoa mua

* Nhóm leucoanthocyanin

Leucoanthocyanin còn gọi là flavan-3,4-diol

Leucoanthocyanidin Khi đun sôi với nước hoặc ethanol có mặt axit HCl, leucoanthocyanin sẽ chuyển hóa thành anthocyanin

Ngày đăng: 29/08/2023, 12:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Một số hợp chất nhóm terpenoid - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 2.1. Một số hợp chất nhóm terpenoid (Trang 27)
Hình 2.2. Một số Monoterpen một vòng. - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Hình 2.2. Một số Monoterpen một vòng (Trang 28)
Hình 2.4. Hợp chất terpenoid taxol có tác dụng chống ung thư. - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Hình 2.4. Hợp chất terpenoid taxol có tác dụng chống ung thư (Trang 30)
Hình 2.5. Cấu trúc hóa học của saponin majonosid R2 trong Nhân sâm Việt Nam - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Hình 2.5. Cấu trúc hóa học của saponin majonosid R2 trong Nhân sâm Việt Nam (Trang 32)
Bảng 2.2. Phân loại các hợp chất phenolic trong thực vật (Le, Q. U. 2019) - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 2.2. Phân loại các hợp chất phenolic trong thực vật (Le, Q. U. 2019) (Trang 34)
Hình 2.7. Một số axit phenolic thường gặp (Le, Q.U. 2019). - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Hình 2.7. Một số axit phenolic thường gặp (Le, Q.U. 2019) (Trang 36)
Hình 2.9. Cấu trúc cơ bản của flavon và flavonol. - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Hình 2.9. Cấu trúc cơ bản của flavon và flavonol (Trang 37)
Hình 2.8. Cấu trúc cơ bản của flavonoid (Le, Q.U. 2019). - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Hình 2.8. Cấu trúc cơ bản của flavonoid (Le, Q.U. 2019) (Trang 37)
Bảng 3.1. Các cây thuốc và vị thuốc được sử dụng theo đường uống để điều trị bệnh - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 3.1. Các cây thuốc và vị thuốc được sử dụng theo đường uống để điều trị bệnh (Trang 47)
Bảng 3.4. Các cây thuốc và vị thuốc chữa đau dạ dày và đau đại tràng - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 3.4. Các cây thuốc và vị thuốc chữa đau dạ dày và đau đại tràng (Trang 54)
Bảng 3.5. Các cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh ngoài da theo đường uống - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 3.5. Các cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh ngoài da theo đường uống (Trang 56)
Bảng 3.7. Các cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh gan - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 3.7. Các cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh gan (Trang 58)
Bảng 3.9. Những cây thuốc và vị thuốc lợi tiểu, tán sỏi - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 3.9. Những cây thuốc và vị thuốc lợi tiểu, tán sỏi (Trang 63)
Bảng 3.11. Cây thuốc và vị thuốc bổ, tăng hệ miễn dịch - Giáo trình cây dược liệu phần 1
Bảng 3.11. Cây thuốc và vị thuốc bổ, tăng hệ miễn dịch (Trang 66)
w