Trong suốt quá trình sống, bộ rễ đậu tương phát triển không ngừng và đạt cực đại cả về thể tích lẫn khối lượng vào thời kỳ quả mẩy, sau đó giảm dần và ngừng lại trước khi hạt chín sinh l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÀ THỊ THANH ĐOÀN (CHỦ BIÊN) PGS TS NGUYỄN VĂN TOÀN, ThS NGUYẺN t h ị c a m m ỹ,
ThS PHAN CHÍ NGHĨA, ThS HOÀNG THỊ LỆ THU
Giáo trình
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2- , 0 3 - 5 9
ĐHTN-2017
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Că\' Công nghiệp nhằm cung cấp cho sinh viên những
kiến thức cơ bản và kỳ thuật trồng một số cây công nghiệp chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đáp ứng nhu cầu về tài liệu giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên ngành khoa học cây trồng
Giáo trinh được kết cấu thanh hai phần, chia làm 6 chuơng Các chương cụ thể được phân công biên soạn nhu sau: Chương 1: TS Hà Thị Thanh Đoàn, ThS Nguyễn Thị cẩm Mỹ; Chương 2: ThS Nguyễn Thị Cẩm Mỹ; Chương 3: ThS Hoàng Thị Lệ Thu, TS Hà Thị Thanh Đoàn; Chương 4: ThS Phan Chi Nghĩa; Chương 5: PGS TS Nguyễn Văn Toàn, TS Hà Thị Thanh Đoàn; Chương 6: TS Hà Thị Thanh Đoàn.Giáo trình là sự tồng hợp những kết quà nghiên cứu đạt được ữong thời gian qua của nhóm tác giả Bên cạnh đó, để hoàn thành nội dung giáo trình, chúng tôi đã khai thác, tham khảo tài liệu, cập nhật các kết quả nghiên cứu mới cững nhu tình hình sàn xuất các cây công nghiệp chính trên thế giới và Việt Nam Hy vọng giáo trình không chi cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ữong trường mà còn có thể giúp ích cho các nhà nghiên cứu, ngirời sản xuất và độc giả quan tâm
Trong quá trình bicn soạn giáo trinh, các tác giả nhận được sự chỉ
đạo và giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vuơng, sự tham gia tích cực và những gợi ý khoa học rất quý báu cùa tập thể bộ môn Trồng trọt, các nhà khoa học trong và ngoài trường Giáo trình đuợc hoàn thành với sự nỗ lực lớn cùa tập thể tác giả, nhưng chắc chắn không ừánh khỏi những thiếu sót, rất mong được sụ đóng góp ý kiến của bạn đọc ữong quá trinh sừ dụng tài liệu này
Tập thể tác giả
Trang 4PHẦN I CÂY CÔNG NGHIỆP NGẮN NGÀY
C hư ơ ng 1
CÂY ĐẬU TƯƠNG
1.1 Giá trị kinh tế, tình hình sản xuất đậu tưong trên th ế giói và Việt Nam
1.1.1 Giá trị kinh tế của cây đậu tương
Đậu tương (Glycine max (L) Merr.) còn gọi là đậu nành là một cây
ữồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Đậu tương được coi là cây trồng chiến lược của thời đại, là cây đứng đầu trong các loại đậu đỗ làm thức ãn cho người và gia súc Sản xuất đậu tương mang lại lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế nông nghiệp của các quốc gia Vì thế cây đậu tương được gọi là "Ông hoàng trong các loại cây họ đậu"
Đậu tương là một loại hạt giàu protein, glucid, lipid, muối khoáng và vitamin Do đó trong công nghiệp thực phẩm, đậu tương được xem là một nguyên liệu quan ữọng để sản xuất dầu thực vật và các sản phẩm lên men.Đậu tương là nguyên liệu chế biến dầu thực vật, làm bánh kẹo, sửa đậu nành, làm rương, đồng thời cũng là nguyên liệu quan trọng để chế biến thức ăn chăn nuôi
Trong đậu tuơng có hợp chất tuơng tự như kích thích tố nữ estrogen
mà nhiều nghiên cứu khoa học cho biết là có hiệu quà trong việc ngừa và trị một số bệnh Đó là hợp chất isoílavones Nhiều nghiên cứu cho thày 4
Trang 5đậu tương chứa nhiều isoílavone và được coi là thực phẩm gia tăng nữ tính và bảo vệ phụ nữ giảm các chứng bệnh như: Tim mạch, rối loạn tiền mân kinh, ung thư và loãng xương vì vậy đậu tương còn được mệnh danh là “thần dược” của phụ nừ.
Trong hạt đậu còn chứa sắt, canxi, phốt pho và các thành phần chất
xơ tốt cho tiêu hóa Vitamin trong đậu tương có nhiều nhóm B, đặc biệt
là vitamin B], B2 B3, B6, vitamin A, vitamin E, vitamin K, vitamin D, vitamin c Từ hạt đậu tuơng người ta chế biến ra nhiều loại thực phẩm khác nhau (trên 600 loại) như giá, đậu phụ, sữa đậu nành, tương, xi dầu, bánh, kẹo, patê, Hạt đậu tương chứa nhiều đạm nên được coi như “thịt không xương” ở nhiều quốc gia Á châu Tại Nhật Bản, Trung Quốc 60% đạm tiêu thụ hàng ngày đều do đậu tương cung cấp
Trong công nghiệp, dầu đậu tương còn được sử dụng làm xi, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo, len nhân tạo, thuốc trừ sâu, nhưng chủ yếu đậu tương được dùng để ép dầu Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tồng lượng dầu thực vật
Trong chăn nuôi, từ hạt và khô dầu đậu tương được dùng làm thức
ăn gia súc, chiếm 60% giá trị toàn bộ thức ăn có đạm Đối với sản xuất nông nghiệp, cây đậu tuơng là cây trồng có ý nghĩa ừong hệ thống canh tác, luân canh tăng vụ và cải tạo đất Thân, lá đậu tương có hàm lượng
đạm cao (trong thân chiếm 0,05%, trong lá 0,19%, N guyễn Danh Đông,
1982) Các nghiên cứu cho thấy sau mỗi vụ trồng, đậu tương để lại trong đất khoảng 30kg đạm urê và từ 5 - 8 tấn chất hữu cơ Ngoài ra đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột, làm thức ăn tốt cho những người mắc bệnh tiểu đường, thấp khớp, người mới ốm dậy
Trang 6Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong lOOg hạt đậu tương
Chì tiêu Hàm lưọng
dinh dưỡng Chỉ tiêu
Hàm lượng dinh dưỡng
Chất béo bão hoà 11,255 g Nuớc 8,540 gđa
Trang 71.1.2 Tĩnh hình sản xuất cây đậu tương trên thế giới
Đậu tương là cây ừồng lấy dầu quan ttọng bậc nhất trên thế giới, v ề mặt diện tích đậu tương đứng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô Với khã năng thích ứng rộng và có giá trị kinh tế cao nên đậu tương được trỏng rộng rãi khắp các châu lục Hiện nay có 78 nước trong đậu tương nhưng chù yếu tập trung ờ Châu Mỹ (73,03%), Châu Á (23,15%)
Bảng 1.2 Tinh hình sản xuất đậu tương trên thế giới giai đoạn 2010 - 2014
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng
1.1.3 Tinh hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Cây đậu tuơng được trồng ở nước ta từ rất sớm, qua mấy nghìn năm
nó luôn gắn liền với nền sàn xuất nông nghiệp Cho đến nay, đậu tương vẫn giữ một vai trò quan trọng, đứng thứ 3 sau lúa và ngô về diện tích
Trang 8Thời gian gần đây, duới áp lực nhập khẩu đậu rương với số lượng lớn có giá thành thấp và thuận lợi trong vận chuyển Diện tích đậu tương cùa Việt Nam bị sút giảm nghiêm trọng Năm 2012, diện tích đậu tương Việt Nam chi đạt 119,6 nghìn ha, năng suất 14,4 tạ/ha, sản lượng 168,2 nghìn tấn; so với năm 2010 diện tích gieo trồng cà nước bị giảm gần 80 ngàn ha, và sản lượng giảm 130,4 ngàn tấn (Niên giám thống kê, 2013).
Bảng 1.3 Tinh hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 201 s
Năm Diện tích
(nghìn ha) Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
ricng khô dầu đậu tương đa có 2,7 triệu tấn (tucnig đương 5,4 triệu tấn
hạt, cao gấp 15 lần so với sản lượng sản xuất đuợc tại Việt Nam) chủ yếu
từ Mỹ và Arghentina
1.2 C ơ sở sinh vật học và yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
1.2.1 Nguồn gốc, phân loại
1.2.1.1 Nguồn gốc
Cây đậu tương (đậu nành) là một loại cây trồng đã có từ lâu đời, nguồn gốc từ Đông Á Căn cứ vào “Thần nông bản thảo kinh” và một số8
Trang 9di tích cổ như hỉnh khắc trên đá, mai rùa thi cây đậu tương được con người biết đến cách đây khoãng 5000 năm.
Dựa vào sự đa dạng về hình thái của hạt, Fukuda (1933) và nhiều nhà khoa học đã thống nhất rằng cây đậu tương có nguồn gốc từ vùng Mân Châu (Trung Quốc) xuất phát từ một loại đậu tương dại, thân mảnh,
dạng dây leo, có tên khoa học là Glycile Soja Sieb và Zucc Từ Trung
Quốc đậu tương được lan truyền dần ra khắp thế giới Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản vào khoảng 200 năm trước công nguyên, đậu tương được đưa vào Triều Tiên và sau đó phát triển sang Nhật Đến giữa thế kỳ
17 đậu tương đuợc nhà thực vật học người Đức Engellbert Caempler đua
về Châu Âu và đến năm 1954 đậu tương mới được du nhập vào Hoa Kỳ
Màu sắc hoa: Có 2 nhóm hoa trắng và hoa tím
Lông ừên thân: Có 2 loại là lông ứắng và lông vàng nâu
Hình dạng hạt: Hình tròn hoặc hình thon
Màu sắc hạt: Có 5 loại là vàng, xanh, nâu, đen và đốm
Độ lớn của hạt: Căn cứ vào trọng lượng và độ lớn của hạt để phân biệtMàu sắc rốn hạt: Rốn nâu hay đen, cùng màu hay khác màu vói hạtHinh dạng lá chét: Có hình trứng, thon, dài, nhọn, luỡi mác
1.2.2 Đặc điểm thực vật học
1.2.2.1 Bộ rễ và sự hình thành nốt sần
Rễ đậu tuơng thuộc loại rễ cọc gồm có một rễ chính và các rễ bên
Rễ chính ăn nông, đặc biệt trong điều kiện tầng canh tác dày, tơi xốp và khô ráo, bộ rễ đậu tương có thể ăn sâu tói 150cm Rễ chính xuất hiện sau
Trang 10ữồng từ 1 - 2 ngày, đến ngày thứ 4 - 5, từ vị trí cách đầu rễ chính khoảng 4
- 5cm sẽ phát sinh các rễ phụ còn gọi là các rễ bên Rễ bên tiếp tục phân nhánh thành nhiều cấp tạo nên một mạng lưới rễ dày đặc Rễ bên phân nhánh theo chiều ngang, trong điều kiện thuận lợi có thể phát triển rộng ra
4 phía xung quanh
Quá trình phát triển của bộ rễ có thể phân ra làm 2 thòi kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất: Phát triển lớp rễ đầu tiên, thời kỳ này rễ cái và
rễ phụ đầu tiên phát triển mạnh kéo dài ra và sinh nhiều rễ con Thời kỳ này thường kéo dài từ 30 - 40 ngày sau mọc
- Thời kỳ thứ hai: Lớp rễ đầu tiên phát triển chậm dần, rễ con không nhú ra nữa thậm chi có một số rễ con khô đi Lúc này gốc thân gần cổ rễ các rễ phụ nhỏ kéo dài ra và phát triển cho tới khi gần thu hoạch, số lượng có thể 30 - 40 rễ phụ ăn ờ phía gần mặt đất Lớp rễ này có nhiệm
vụ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của thân, lá và làm quả Trong kỹ thuật ừồng nên chú ý thòi kỳ này, cần vun đất sao cho lớp
rễ này phát triển mạnh
Trong suốt quá trình sống, bộ rễ đậu tương phát triển không ngừng
và đạt cực đại cả về thể tích lẫn khối lượng vào thời kỳ quả mẩy, sau đó giảm dần và ngừng lại trước khi hạt chín sinh lý Bộ rễ phát triển mạnh hay yếu tuỳ thuộc vào đặc tính giống, tính chất đất, kỹ thuật làm đất, lượng phân bón, loại phân bón,
Một đặc điém hết sức quan ừọng cần lưu ý là ữên trên rề cây đậu
tương có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn Rhizobium japonicum có khả năng
cố định đạm của không khí tạo thành đạm dễ tiêu Trong một nốt sần có khoảng 3 - 4 tỷ vi sinh vật, mà ta chi có thể nhìn thấy chúng qua kính hiển vi phóng đại 600 - 1000 lần (Ngô Thế Dân, 1999) Vi sinh vật thuờng có dạng hình cầu hoặc hình que
Nốt sần ở rễ đậu tương thường tập trung ờ tầng đất 0 - 20cm, từ 20 - 30cm nốt sần ít dần và nếu sâu hơn nữa thì có ít hoặc không có
10
Trang 11Ban đầu, vi khuẩn nốt sần tồn tại trong đất Khi có rễ đậu tương, rễ tiết ra một số chất như đường Glactoza, axít Ưronic có tác dụng hấp dẫn
vi khuân Vi khuân xâm nhập qua màng lông hút, đến nội bì, chúng sinh sản làm cho tế bào rễ phân chia mạnh và phình to ra tạo nên nốt sần Nốt sần bắt đầu được hình thành khi cây có 2 - 3 lá thật (sau trồng 1 0 - 1 5 ngày) và đạt đinh cao ờ thời kỳ ra hoa Nốt sần tập trung chủ yếu ờ tầng đất mặt, càng xuống sâu càng ít Tại đây diễn ra quá trinh cố định đạm, nitơ phân ÚT cua không khí được khử thành NH3 nhờ sử dụng năng lượng
hô hấp các sản phẩm quang hợp chuyển từ lá vào nốt sần NH3 tò nốt sần được chuyển lên lá và các bộ phận quan trọng khác đặc biệt là quả, hạt Quá trình từ khi vi khuẩn nốt sần xâm nhập đến khi nốt sần bat đầu có khà năng cố định đạm diễn ra trong vòng 30 ngày và tiếp tục cố định N2 ừong vòng 20 - 30 ngày tiếp theo cho đến khi nốt sần bắt đầu thoái hoá,
vỡ ra, trả lại vi khuẩn nốt sần và đạm cho đất
Nốt sần có hai loại là nốt sần hữu hiệu và nốt sần vô hiệu Nốt sần hữu hiệu là những nốt sần to, bên trong có chứa dịch màu hồng hoặc nâu
đỏ mới có khả năng cổ định đạm Dịch màu hồng đó có tên là Leghemoglobin chất này có vai ừò vận chuyển, cung cấp oxi cho quá trình cố định đạm Sự cố định đạm cùa nốt sần đáp úng được 40 - 70% nhu cầu đạm của cây
Tuy nhiên giai đoạn vi khuẩn mới xâm nhập vào rễ (khi cây có 2 - 3
lá thật) vi khuẩn mang tính chất ký sinh vỉ chúng chưa đồng hoá được đạm do đó cây non có thể bị dừng sinh trưởng hoặc có biểu hiện lá vàng
và yếu đi, cần phải bổ sung đạm cho cây ờ giai đoạn này
1.2.2.2 Thân, cành, ì á
Các loài đậu tương ữồng ừọt đều thuộc loại thân thảo, một số dạng đậu tương hoang dại có thể có dạng thân bò, leo Thân có tiết diện ừòn, khi còn non, thân có màu xanh hoặc tím, màu sẳc thân có tương quan chặt chẽ với màu sắc hoa, thân xanh hoa ữắng, thân tím hoa tím Trên thân có nhiều lông tơ, có tác dụng hỗ trợ quá trình thoát hơi nước và ngăn chặn sâu, bệnh xâm nhập
Trang 12Trên thân có nhiều lóng và đốt, tại mỗi đốt mang nhiều mầm Tại các mầm có thể phát triển thành mầm cành, lá và mầm hoa Tại vị trí nách lá có thể có cả cành, lá, hoa và sau này phát triển thành quà.
Chiều cao thân chính, số đốt và khả năng phân cành biến động lớn tuỳ theo đặc tính di truyền, điều kiện ngoại cảnh và điều kiện kỹ thuật chăm sóc Các giống khác nhau, chiều cao thân chính, số đốt và khả năng phân cành khác nhau
Cành đậu tương mọc ra từ các đốt ứên thân, tại vị trí nách lá Sau khi trồng 20 - 30 ngày đậu tương phân cành, tập trung ở các đốt 2, 5, 6 cành mọc khoé nhất, số cành trên thân phụ thuộc vào giống, mật độ và thời vụ trồng Giống chín sớm gieo vụ xuân chi có 1 hoặc 2 cành, giống chín muộn gieo vụ hè có thể có từ 4 đến 10 cành Phân cành là phương thức tự điều chinh mật độ của cây đậu tuơng, trong trường hợp quần thể thiếu cây hoặc cây non bị mất ngọn do sâu hại thì 2 cành ờ nách lá mầm
sẽ phát triển thành 2 thân mới làm cho năng suất đậu tương không bị ảnh hưởng nhiều
Lá đậu tương gồm 3 loại: Lá mầm, lá đơn và lá kép (lá thật)
Lá mầm (lá song tử diệp), xuất phát từ hạt mầm, có tác dụng hút nước kích thích hạt nảy mầm và quang hợp nuôi cây trong giai đoạn mọc mầm, lúc đầu lá mầm có màu trắng, sau chuyển sang màu xanh lục, rồi vàng và teo rụng
Lá đơn (lá nguyên) gồm 2 lá mọc đối xứng nhau ở đốt thứ 2, đây là các lá thật chưa hoàn chinh, chi có một lá chét Lá đơn có khả năng quang hợp và bổ sung sản phẩm dinh dưỡng từ quang hợp cho cây Lá đơn to, xanh, bóng biểu hiện về sau cây sinh trường khoè
Lá kép (lá thật): Mỗi lá kép có 3 lá chét, cá biệt có 4, 5 lá chét Lá kép mọc so le, mặt lá thường có nhiều lông ừắng Lá có nhiều hình dạng khác nhau tuỳ theo giống, những giống lá nhỏ và dài chịu hạn khòe nhưng thường cho năng suất thấp Những giống lá to chống chịu hạn kém nhưng thường cho năng suất cao hcm số lượng lá kép nhiều hay ít, diện
Trang 13tích lá to hay nhò chi phối rất lớn đến năng suất và phụ thuộc vào thời vụ gieo ữồng Các lá nằm cạnh chùm hoa nào giữ vai trò chủ chủ yếu cung cấp dinh dưỡng cho chùm hoa ấy Nếu vì điều kiện nào đó làm cho lá bị
úa vàng thì quả ở vị trí đó thường bị rụng hoặc lép
1.2.2.3 Hoa, qua, hạt
Hoa đậu tương thường mọc thành từng chùm ờ nách lá hoặc ngọn, mỗi nách lá mang một chùm hoa mỗi chùm từ 2 - 5 hoa, hoa có màu tím hoặc màu ừắng Hoa đậu tương rất bé, dài từ 6 - 7 mm, thuộc loại hoa lưỡng tính tự thụ, tỷ lệ tạp giao tự nhiên thấp 0,5% Quá trình thụ phấn được tiến hành trước khi hoa nở vì vậy mà đậu tương rất khó bị thoái hoá giống Hoa nở từ 8h sáng đến 12h trưa, mùa hè nở sớm hơn mùa đông.Quả đậu tương thuộc loại quà giáp, hơi cong, bên ngoài có nhiều lông bao phủ số quả ứên cây tuỳ thuộc theo giống, điều kiện ngoại cảnh
và điều kiện chăm sóc, mỗi cây có từ 10 - 500 quả thường từ 30 - 50 quả Mỗi quả có từ 1 - 4 hạt, trung bình 2 - 3 hạt, khi chúi quả tự mở, làm hạt rơi xuống đất Quả đậu tương khi mới hình thành có màu xanh, khi chín quà chuyển sang màu vàng tươi hoặc màu vàng xám, cuối cùng quả mang màu sắc đặc trưng cho giống, có thể có màu vàng rơm, vàng đậm, nâu nhạt hoặc nâu đen Trên quả cũng có lông, có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập cùa sâu, bệnh hại
I lạt đậu lưưng có nhiều màu sắc kliác Iiỉiau nhu: Màu vàng, xanh,
đen hoặc nâu Hình dạng hạt, kích thước hạt và khối lượng hạt cũng khác nhau, hạt có thể hình bầu dục, hình tròn dẹt,
Hạt đâu tương gồm vỏ hạt, hai lá mầm và phôi, hai lá mầm chiếm 90% trọng lượng hạt, ừên vỏ hạt có lỗ thông khi gọi là rốn hạt, rốn hạt càng lớn hạt càng khó bảo quản và dễ mất sức này mầm Rốn hạt có nhiều màu sắc khác nhau: Màu trắng, màu nâu đậm, nâu đen hay hồng nhạt Hạt có thể nhăn hay ứơn, hạt có thể nứt vò, hay không nứt vỏ đều phụ thuộc vào giống
Trang 141.2.3 Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây đậu tương
Sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương được chia thành 2 giai đoạn lớn là giai đoạn sinh tnrờng sinh dưỡng (V) và giai đoạn sinh trường sinh thực (R)
Giai đoạn V lại được chia thành các thời kỳ nhò: VE, VC, VI, V2, V3, V(n) Ờ giai đoạn V, sau thời kỳ v c là các thời kỳ còn lại được đánh số thứ tự của lá ữên cùng đã phát triển đầy đủ Một lá được coi là phát triển đầy đủ khi phía trên nó, ờ đinh sinh trường đã xuất hiện lá non thường không bao giờ dài hơn lá trường thành Những thời kỳ V mới xuất hiện cứ sau 5 ngày một từ v c đến V5 và khoảng 3 ngày một từ V5 đến R5, sau đó sự phát triển diễn ra nhanh chóng khi số lá đạt mức tối đa Thời kỷ cuối cùng của giai đoạn V được ký hiệu là V(n), trong đó n là số
lá cuối cùng đặc trưng cho giống, n sẽ giao động tuỳ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh
Bảng 1.4 Các giai đoạn phát triển của cây đậu tương
Giai đoạn sinh trường sinh dưỡng Giai đoạn sinh trưởng sinh thực
Vn Lá thật thứ n R8 Quả chín hoàn toàn
14
Trang 151.2.3.1 Thời kỳ nay mầm - mọc
Đây là thòi kỳ đầu tiên ữong chu kỳ sống của cây Hạt đậu tương bắt đầu này mầm khi nó hút được một lượng nước bàng khoảng 50% ừọng lượng hạt Khi hạt hút nước trương lên, mầm phôi được phát động sinh trường, sau đó mầm mọc lên khôi mặt đất nhờ sự duỗi ra của vòng cung của trục dưới lá mầm, lá mầm xoè ra Thời kỳ này cây con sống chù yếu nhờ vào nguồn dinh dưỡng dụ trữ trong 2 lá mầm, khi hết chất dinh dưỡng lá mầm chuyển sang màu vàng rồi teo rụng đi Thời kỳ này kéo dài từ 5 - 7 ngày trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp Trong điều kiện nhiệt độ thấp và khô hạn, thời kỳ này kéo dài từ 10 - 15 ngày
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống liên quan nhiều tói mật độ thực tể vì vậy ứong thời kỷ này cần chú ý áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt
Đất cần làm tơi xốp, sạch cỏ dại, nhưng không quá mịn dễ dẫn tới hiện tượng bí, dí khi gặp mưa
Độ sâu gieo hạt tuỳ ẩm độ đất Đa số các trường hợp đậu tuơng thường gieo ờ độ sâu 2,5 - 3,0 cm Vụ xuân hạt giống cần được gieo sâu, lấp đất chặt đảm bảo độ ẩm, nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm, nếu khô hạn, khi gieo cần tưới nước Vụ hè thu và vụ đông do đầu vụ thường
có mua, cần gieo nông để tránh gây thối hạt
Bón lót đầy đủ đặc biệt là ưong vụ xuân, không nên bón phân quá gần hạt giống có thể ảnh hưởng tới sức nảy mầm
1.2.3.2 Thời kỳ cây con (VI - V6)
Được tính từ khi lá thật đầu tiên xuất hiện đến khi ra hoa đầu tiên, tương ứng với các thời kỳ từ VI - V6 Ờ thòi kỳ V2, rễ bên phát triển mạnh, nhanh chóng đạt đến độ dài 15 cm và bắt đầu có sự cộng sinh với
vi khuẩn Rhizobium japonicum và hình thành nốt sần Ờ một số điều
Trang 16kiện, sự hình thành nốt sần có thề diễn ra ngay sau VE, nhưng sự cố định đạm sẽ chi bắt đầu ở thời kỳ V2 - V3.
Buớc sang thòi kỳ V5, trên cây có khoảng 5 lá thật, bắt đầu có hiện tượng phân hoá để hình thành các mầm hoa từ các chồi nách ữên các đốt thân Trong tự nhiên, chồi nách ngăn cản sinh trường chồi ngọn, tuy nhiên chồi này có thể phát triển thành cành, chùm hoa, từ đó tạo thành quả hoặc nó có thể tồn tại ở ữạng thái ngủ Cây ờ thời kỳ V6 lá mầm và
lá đơn có thể bị hoá già và rụng Mất 50% lá ờ thời kỳ V6 làm giảm 3% năng suất
Thời kỷ này dài hay ngắn tuỳ thuộc từng giống, thời vụ và điều kiện ngoại cảnh, trung bình kéo dài từ 30 - 40 ngày
Trong thời kỳ này, nếu khô hạn cây sinh trưởng kém, lá nhò, cây thấp Nếu độ ẩm quá cao, thiếu oxi, rễ hoạt động kém Ánh sáng yếu, lóng vươn dài, cành ít, thân có xu hướng leo, năng suất thấp Vì vậy phải xới xáo kịp thời, cung cấp oxy cho vi khuẩn hoạt động Bón thúc phân sớm khi cây được 2 - 3 lá thật, cung cấp đầy đủ độ ẩm, ánh sáng Giai đoạn cây con thuờng mắc bệnh bệnh lờ cổ rễ, sâu đục thân, giòi đục thân, sâu ăn lá, cần chú ý phòng trừ kịp thời
1.2.3.3 Thời kỳ ra hoa, làm quả và hình thành hạt (Rl - R6)
Thời kỳ ra hoa của cây đậu tương được bắt đầu kể từ khi hoa đầu tiên đến khi hoa cuối cùng xuất hiện trên cây Khác vói một số cây khác, cây đậu tương khi đã ra hoa các bộ phận khác vẫn tiếp tục sinh trướng và phát triển
Thời kỳ bắt đầu ra hoa (R l) tuơng đương với thời kỳ V7 - V10 (ừên cây có 7 - 10 lá đã phát triển đầy đủ) Quá trình nở hoa bắt đầu từ đốt thứ
3 - đốt thứ 6 của thân chính, phụ thuộc vào thời kỳ V ở thời điểm ra hoa
và diễn biến ra hoa để từ đó sự ra hoa hướng lên hay huớng xuống Sự nở hoa ữên cành bắt đầu nở hoa muộn hơn vài ngày so với thân chính Sự ra hoa và tạo quả hầu hết xuất hiện ờ chùm sơ cấp Chùm hoa thứ cấp có thể phát triển bên cạnh chùm hoa sơ cấp ữong cùng 1 nách lá
16
Trang 17Giữa thời kỳ R2 - R3 xuât hiện nhiều hoa kém sức sống và việc ra hoa hoàn tất ơ R5 ơ thời kỳ RI tốc độ tăng trương cua rễ theo chiều thane dime tăng lẽn một cách nhanh chóng, sự tănẹ trương này ơ mức tương đối cao vào thời kỳ R4 - R5 Giai đoạn này diễn ra cùng VỚI quá trình phát triẻn theo chiều neans cua rễ thứ cấp và lône hút troniz phạm vi
từ 0 - 25cm
Thời kỳ ra hoa rộ (R2), thuộc thòi kỳ V8 - V12 cua giai đoạn phát triẻn thân lá ơ thời kỳ này, cây chi tích luỹ được 25% tông lượng chất khỏ và tạo ra khoảng 50% tổng số lá trươne thành Nó cũng đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ tích luỹ một tỳ lệ chất khô và dinh dưỡng nhanh và đều đặn cho tới cuối thời kỳ R6 Sự tích luỹ lúc đầu diễn ra ờ các bộ phận dinh dưỡng (thân, lá, cuống lá và rễ) Nhưng sau đó vật chất chuyển vào quả và hạt để chửng tăng trường, lúc này cây kết thúc sinh trường thân lá Trong thời hoa rộ, tốc độ cố định đạm của nốt sần cũng tăng lên nhanh chóng ờ R2
Thời kỳ kết thúc nờ hoa và hình thành vỏ quà (R3), thuộc giai đoạn
V I 1 - V I7 Thòi kỳ này diễn ra cùng lúc các quá trình phát triên vỏ quả, hoa bị héo, hoa nở và quá trình hình thành nụ Quá trình phát triển ờ những đốt thấp, nơi mà những hoa đầu tiên nờ Những điều kiện bất thuận nhu: Nhiệt độ cao, thiếu hụt ẩm độ ứong thời kỳ này đều sẽ làm giảm đáng kề năng suất
Tông thời gian ra hoa có thê kéo dài 20 - 30 ngây tuỳ vào giống,
vào thời kỷ nở hoa rộ (R2) có thể đạt 5 - 7 hoa/cây/ngày, thời kỷ cuối có thể nở 1- 2 hoa/cây/ngày Đậu tương ra hoa sớm hay muộn tuỳ thuộc vào giống, mùa vụ, vĩ độ (chủ yếu là độ dài ngày) Nở hoa ữong thời gian dài
là đặc tính có lợi cúa cây đậu tương Vì khi hoa nở gặp những điều kiện không thuận lợi làm rụng hoa thi những đợt hoa sau có khâ năng bồ sung Tuy nhiên hoa nờ vào đợt hoa rộ cho số hoa hữu hiệu cao Giống chín sớm trong vụ hè sau mọc 30 ngày ra hoa, giống chín muộn 45 - 50 ngày mới ra hoa Vụ hè thời gian nờ hoa dài nhất 20 - 30 ngày, vụ đông thời
Trang 18gian nở hoa ngắn nhất 1 2 - 2 0 ngày, vì vậy vụ đông cần trồng và chăm sóc ngay sau khi cây ra lá thật.
Có 2 nhóm ra hoa là ra hoa hữu hạn và ra hoa vô hạn:
Nhóm ra hoa hữu hạn, hoa thường nỡ từ những đốt giữa thân lên ữên rồi xuống dưới, khi ra hoa cây ngừng sinh trường về chiều cao, tận cùng đinh là một chùm hoa
Nhóm ra hoa vô hạn, hoa nở tù duới lẽn ữên khi ra hoa cây vẫn tiếp tục sinh trường về chiều cao, quả của nó phân bố tương đối đều ữên thân.Sau thụ phấn thụ tinh khoảng 5 - 7 ngày, quả được hình thành, lúc này tại một trong bốn lóng trên cùng của thân chính xuất hiện những chùm quả đầu tiên cùng với một lá kèm đã phát triển hoàn chinh, bắt đầu thời kỳ làm quả kết hạt (R4 - R6), quả mới hình thành có độ dài 0,5 -0,7cm Thời kỳ này tương đương với thòi kỳ V13 - V20 và được đặc trung bời việc tăng nhanh cùa quả, hạt bắt đầu phát triển
Thời kỳ từ R4 - R5 là thời kỳ tích luỹ chất khô nhanh chóng vào quả Một vài quả riêng lẻ ở những đốt quả phía duới trên thân chính đạt kích thước đầy đủ, nhưng nhiều quả sẽ đạt kích thước này ở thời kỳ R5 Quá trinh nờ hoa diễn ra sau cùng ở đinh của thân, ờ đó xuất hiện một chùm hoa Chùm hoa này gồm nhiều hoa hợp lại và chúng không tách rời, quá trình nở hoa của các nhánh diễn ra sau cùng
Thời kỳ R4 đánh dấu sự bắt đầu một thòi kỳ thiết yếu ữong sự phát triển của cây ữồng để hình thành nên năng suất Sự khủng hoảng: Thiếu hụt độ ẩm, ánh áng, dinh dưỡng, sương giá, rụng lá, xuất hiện từ R4 đến R6 sẽ làm giảm năng suất nặng hơn so với khủng hoảng xảy ra ở những thời kỳ khác Năng suất giảm ở thời điểm này là kết quả của việc giảm tổng số quả trên cây cùng với việc số quả đậu ít hom
Bước sang thời kỳ hình thành hạt (R5), tương đương với thời kỳ V15 - V23 Đặc trưng của thời kỳ này là sự tăng trường nhanh của hạt, chất dinh dưỡng được cung cấp cho hạt tăng trường Giữa thòi kỳ R5 và
R6 có có một vài sự kiện xuất hiện gần như diễn ra đồng thời Khoảng
Trang 19cuối R5 cây đạt cực đại về chiều ca, số đốt và diện tích lá; sự cố định nitơ
ở múc cao bắt đầu giảm dần; hạt bắt đầu thời kỳ tăng trường nhanh, đều đặn đồng thời diễn ra quá trình tích luỹ chất khô và dinh dưỡng Ngay sau thời kỳ này, chất khô và dinh dưỡng tích luỹ ở lá, cuống lá, thân cây đạt mức cực đại và sau đó bắt đầu chuyên dần tới hạt Thòi kỳ này diễn
ra nhanh và đều đặn, hạt tích luỹ chất khô cho tới cuối R6, suốt quá trinh
đó khoảng 80% tổng lượng chất khô vủa hạt được thu nhận Điều kiện khùng hoàng trong thời kỳ này cũng có thể làm giảm 70% năng suất.Thời kỳ quả may (R6), nam trong thời kỳ V16 - V25 Thời kỳ này quà có màu xanh lục và đặc trưng bời độ rỗng cùa lỗ hổng trong quả, đồng thời quà có nhiều kích cỡ khác nhau Tốc độ tăng truờng của quả và toàn
bộ cây vẫn còn rất nhanh Tốc độ tích luỹ chất khô và dinh dưỡng bắt đầu chậm lại sau R6 Cuối thời kỳ này chất khô được tích luỹ vào hạt và đạt tối
đa ờ giai đoạn R7 Ngay sau R6 lá bất đầu úa vàng nhanh và rụng
Thời kỳ ra hoa làm quả là thời kỳ đặc biệt quan trọng với cây đậu tương, mọi khủng hoảng đều diễn ra trong thời kỳ này và gây thiệt hại nghiêm trọng tới nàng suất Trong thời kỳ này cần chú ý:
- Đảm bảo đủ ẩm độ tối thích cho cây sinh trường, thiếu nước cần tưới bổ sung ngay
- Bón phân thúc sớm vào thời kỳ trước có ý nghĩa quan trọng trong thòi kỳ này Bón sớm và đầy đủ giúp cân bàng hai quá trình sinh trường sinh dường và sinh trương sinh thực, cây S1IÜ1 truớng tốt, ra hoa, kết qua tập trung, tỷ lệ quả chắc lớn, năng suất cao Nếu bón quá muộn, bón không đầy đù, cây chậm kết thúc sinh trưởng thân lá, cạnh tranh dinh dưỡng giữa sinh trường sinh dưỡng và sinh trường sinh thực trở nên gay gắt, hoa nở rải rác, quả chúi không tập trung, quả lép nhiều, năng suất giảm
- Thời kỳ này thân chính sinh trưởng mạnh, cần v\m cao chống đồ cho cây đặc biệt ữong vụ hè, nếu thân chính sinh trưởng quá mạnh, có thể bấm ngọn để hạn chế sinh truởng sinh dưỡng, giúp cây nhanh ra hoa đồng thời tăng khả năng chống đổ
Trang 20- Thường xuyên theo dõi, phòng trừ sâu, bệnh kịp thời đặc biệt là các đối tượng sâu bệnh hại quả.
1.2.3.4 Thời kỳ chín (R7 - R8)
Được tính từ khi lá và quả chuyển màu vàng đến khi chín khô (thu hoạch) Vào thời kỳ này, cùng với sự biến đổi hình thái bên ngoài của quả và hạt, thi bên trong hạt có sự biến đồi về mặt sinh lý, sinh hoá theo
Độ ẩm ữong hạt giảm nhanh từ 90% xuống khoảng 20%, lúc này lá khô, quả khô vàng; hàm Iuợng đạm, glucoza giảm dần ừong quá trình chúi, đồng thòi protein và lipid được tích luỹ, đạt tối đa vào lúc thu hoạch Trong thòi kỳ này yêu cầu ẩm độ đất giảm xuống còn 60% để đậu tương chín nhanh và thuận lợi cho quá trình thu hoạch quả
1.2.4 Yêu cầu sinh thái
1.2.4.1 Nhiệt độ
Là yếu tố khi hậu ảnh hường sâu sắc đến quá trình sinh trường và phát triển của cây đậu tương Đậu tương có nguồn gốc ôn đới nhưng không chịu được rét, nó đòi hòi nhiệt độ khá cao Nhiệt độ thích hợp là
22 - 28°c với tổng tích ôn biến động từ 1.700 - 3.000°c tuỳ vào giống và thòi vụ gieo trồng Tuy nhiên ở từng thòi kỳ khác nhau, đậu tương yêu cầu nhiệt độ khác nhau
Thời kỳ mọc mầm nhiệt độ thích hợp từ 25 - 30°c, nhiệt độ thấp 15 - 18°c làm giảm tỳ lệ mọc, thời gian mọc mầm kéo dài Nhiệt độ thấp duới 10°c phải ngừng gieo đậu tương, do mầm hình thành sẽ bị chết rét Nhiệt
độ cao trên 30°c bắt đầu có ảnh hường tới khả năng nảy mầm của hạt Nhiệt độ trên 40°c, đặc biệt kèm theo điều kiện khô hạn, hạt đậu tương rất
dễ mất sức nảy mầm, rễ mầm mới hình thành có thể bị thui chột trong quá trình phát triển
Thời kỳ cây con cây đậu tương có khả năng chịu rét khá, ờ giai đoạn lá đơn, có thể chịu đuợc nhiệt độ dưới 0°c Tuy nhiên nếu nhiệt độ thấp kéo dài, cây con sẽ sinh trường chậm hom, ra hoa muộn hơn
20
Trang 21Sự sinh trường của cây ữong thời kỳ trước ra hoa tương quan chặt chẽ với nhiệt độ Nhiệt độ cao ữên 40°c ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành đốt, sinh trương lóng, phân hoá hoa và vận chuyển chất dinh dưỡng về quả, hạt làm chất lượng hạt kém Ờ nhiệt độ thích hợp từ 22 - 27°c, cây có nhiều đốt, cành, qua đó tăng số lượng quả và năng suất.Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều ảnh hường tới quá trinh ra hoa
và tạo quả ở đậu tương Nhiệt độ thấp làm giảm tỷ lệ đậu quả, nhiệt độ thấp dưới 10°c ngăn cản quá trình phân hoá hoa, dưới 15°c làm cho quả không đậu Nhiệt độ cao trên 30°c cũng dẫn đến hoa rụng nhiều,
tỷ lệ đậu quả ít Nhiệt độ thích hợp cho ra hoa, đậu quả của đậu tuơng
là 20 - 25°c
Nhiệt độ ảnh hương tới quá trình quang hợp của cây Cây quang hợp tốt nhất ở nhiệt độ 25 - 30°c Quang hợp tăng cùng vói sự tăng cùa nhiệt độ từ 25 - 40°c và sau đó bắt đầu giảm dần, ữong khi đó hô hấp thường tăng ành huờng tới khả năng tích luỹ chất khô Nhiệt độ thấp hơn
20°c cây giảm quang hợp, tuy nhiên hoạt động của nốt sần là tốt nhất
Nếu nhiệt độ cao trên 30°c, hoạt động của vi khuẩn Rhizobium japonicum bị hạn chế Nhiệt độ thấp dirói 20°c nốt sần hình thành ít.
Nhiệt độ còn liên quan đến khả năng hút nước, dinh dưỡng và khả năng vận chuyển các chất trong cây Nhiệt độ thấp làm giảm sự hút nước cùa rễ, gây ra thiếu nước và giảm tốc độ ra lá Các quá trinh này sẽ tiến
hành thuận lọi khi nhiệt độ trên 15°c, dưới 15°c các quá trình này bị
đình ữệ
Nhiệt độ tối ưu cho quá trinh chín của quả là 25°c vào ban ngày và 15°c vào ban đêm Nhiệt độ quá cao trong quá trinh chín làm giảm chất lượng nảy mầm của hạt Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến chất luợng hạt trong quá trinh bảo quản Nhiệt độ cao hạt hô hấp mạnh làm tiêu hao nhiều dinh dưỡng, hạt nhanh mất sức nảy mầm
Có thể tóm tắt các yêu cầu nhiệt độ của cây đậu tương qua các thời
kỷ sinh trưởng như sau:
Trang 22Bàng 1.5 Yêu cầu nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng cùa cây đậu tuvng
Thòi kỳ Nhiệt độ thích hợp
(°C)
Nhiệt độ tối thấp(°C)
Nhiệt độ tối cao (°C)
Phản ứng với ánh sáng của đậu tương thể hiện ờ hai mặt là độ dài chiếu sáng trong ngày và cường độ chiếu sáng
- v ề độ dài chiểu sáng: Đậu tương thuộc cây ngày ngắn điển hình chi ra hoa được khi độ dài chiếu sáng ttong ngày cùa vùng ừồng nhỏ hơn trị số giới hạn của giống Nếu thời gian chiếu sáng ữong ngày ít hơn 12 giờ thì mọi giống sau khi mọc 25 - 30 ngày đều ra hoa Tuy nhiên các giống khác nhau phản ứng với độ dài chiếu sáng khác nhau Các giống thuộc nhóm chín muộn phản ứng chặt chẽ với độ dài chiếu sáng Trong điều kiện ngày dài của miền Bắc nước ta các giống này sẽ không ra hoa Các giống thuộc nhóm chín sớm, chín trung bình thường phản ứng ít chặt chẽ hơn với độ dài ngày so với các giống chúi muộn Giai đoạn trước khi22
Trang 23ra hoa gặp ánh sáng ngày ngắn làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trường, giảm chiều cao cây và số đốt Neu sau khi ra hoa gặp điều kiện ánh sáng ngày dài nhiệt độ không khí cao, đậu tương rụng quả ít hạt Trong thực tế vẫn có thể ữồng đậu tương được 3 vụ/năm và trồng được nhiều noi là do có tập đoàn giống phong phú thích ứng với từng vùng và mỗi vụ có tập đoàn giống khác nhau.
- v ề cường độ chiếu sáng: Đậu tương thuộc cây C3, cây đạt bão hoà ánh sáng ờ cường độ 23.680 lux (20% ánh sáng mặt Ười buổi trưa) Quá trinh phân hoá mầm hoa khi cường độ ánh sáng đat ữên 1.076 lux Chất lượng ánh sáng ảnh hương nhiều đến sinh truờng cùa cây Cuờng độ ánh sáng mạnh, cây sinh trương tốt cho năng suất cao Các kết quả nghiên cứu cho thấy, cường độ ánh sáng giảm 50% so với binh thường làm giảm
số cành, đốt mang quả và năng suất giảm 50% Trong điều kiện thiếu ánh sáng, cây bị che bóng (trồng xen), cây thường vươn lóng dài, cây có xu hướng leo, phân hoá ít hoa, ít quả Vì vậy trong trường hợp ứồng xen, không nên trồng với mật độ quá dày
1.2.4.3 Âm độ và lượng mưa
Lượng mưa và độ ẩm là yếu tố hạn chế chủ yếu đối với sản xuất đậu tuơng Theo Tô cẩm Tú và Nguyễn Tất Cảnh (1998) giữa lượng chất khô tích lũy của đậu tương Đông và lượng nước bốc hơi có liên quan tuyến tính rất chặt (r = 0,89 - 0,98)
a) Ẩm độ đất và lượng mua
Đậu tương là cây ữồng cạn, có khả năng chịu hạn, nhu cầu lượng mưa không lớn Để tổng hợp đuợc 1 đon vị chất khô cày đậu tuơng tiêu thụ khoảng 250 - 300 đơn vị nước, ữong khi đó lúa mì lấy đi từ 300 - 600 đơn vị nước, lúa 500 - 800 đơn vị nước, hướng dương 500 - 600 đơn vị nước Trong suốt quá trình sinh trường, cây cần lượng mưa 350 - 600mm
và tập trung vào thời kỳ ra hoa làm quả Thời kỳ này chiếm 2/3 tổng luợng nước cây cần trong suốt chu kỳ sống của minh
Trang 24Trong mỗi thời kỳ sinh trưởng, cây đậu tương đòi hòi những giói hạn độ ẩm thích hợp khác nhau.
Thời kỳ nảy mầm và mọc mọc mầm: Đây là thời kỳ quan trọng mang tính chất quyết định tới các thời kỳ sinh trường của cây về sau Đất
đủ ẩm cây mọc đều và đảm bào mật độ gieo ữồng, ngược lại nếu khô hạn hoặc ngập úng rất dễ dẫn đến hiện tượng thối hạt và thiếu cây Độ ẩm thích hợp cho đậu tương nảy mầm và mọc mầm tốt nhất nằm trong giới hạn 70 - 80%
Thời kỳ cây con: Đây là thời kỳ diễn ra nhiều quá trình biến đổi sinh lý đặc biệt quá trình phân hoá mầm hoa, do đó ảnh hưởng tới số hoa nở Thời kỳ này, cây đậu tương có khả năng chịu hạn tốt Độ ẩm thích hợp cho cây sinh trường cân đối là 60 - 65% độ ẩm tối đa đồng ruộng Đất bị hạn hoặc ngập úng đều làm cho tốc độ sinh trưởng của cây chậm lại
Thời kỳ ra hoa làm quả: Đây là thời kỳ khủng hoàng nước của cây đậu tương, thiếu nước ứong giai đoạn này gây ảnh hưởng nghiêm ữọng tới năng suất Ờ thòi kỳ này, ứong cây diễn ra hai quá trình sinh trường (sinh tnrờng sinh dưỡng và sinh trường sinh thực), cây cần rất nhiều nước
và chất dinh dưỡng Do đó cần đáp ứng đầy đủ phân bón và nước tưới cho cây Nếu hạn (độ ẩm đất dưới 60%) hoặc úng (độ ẩm đất trên 90%) ừong thời kỳ này cũng rất dễ dẫn đến rụng hoa, tỷ lệ đậu quả thấp, quả rung nhiều Độ ẩm thích hợp là 70% - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng.Thời kỳ chúi: Lúc này hạt đậu tương tích luỹ đủ dinh dưỡng và bước vào trạng thái chín sinh lý, lượng nước trong quả và hạt giảm dần Trong thời kỳ này, độ ẩm đất ảnh hưởng lớn tới quá trình chín quả Độ
ẩm 60 - 70% ữong thòi kỳ này sẽ giúp quả chín nhanh và thu hoạch thuận lợi
b) Độ ẩm không khí
Khi đậu tương ra hoa nếu gặp thời tiết khô ráo, không có mua lớn, không có gió tây nóng thì quá trình thụ phấn thụ tinh diễn ra thuận lợi tỷ24
Trang 25lệ đậu quà cao Thời kỳ tạo quả yêu cầu độ âm không khí tăng lên tạo điều kiện cho quá trình vận chuyển vật chất từ thân lá về quà, hạt làm cho quà ữòn căng, trọng lượng hạt tăng, năng suất cao Thời kỳ chín ẩm độ không khí giàm, thuận lợi cho quá trình chín và thu hoạch.
“Hoa khô, quà ẩm ăn to Quà khô, hoa ẩm thì vò lấy cây”
Như vậy trong 3 vụ thì vụ xuân thuận lợi hơn cả, vụ hè bấp bênh
do mua bão và có gió nóng, vụ đông cần gieo sớm, nếu gieo muộn năng suất thấp
1.2.4.4 Đất trồng đậu tương
Đậu tương là cây trồng không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất có kết cấu khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất cát pha, phù sa trẻ ven sông Những loại đất chặt, đất bị đóng váng hay các loại đất nặng mất kết cấu nhu đất sét, đất thịt nặng đều có thể làm giảm khả năng mọc mầm và năng suất.Đậu tương chịu mặn và chịu chua kém hơn nhiều cây ừồng khác,
độ pH đất 5,5 - 6,5 thích họp nhất cho cây sinh trường tốt, đây cũng là giá trị thích hợp cho vi khuẩn nốt sần hoạt động và hình thành nhiều, thuận lợi cho quá trình cố định đạm Các loại đất chua cần phải bón vôi
để cải tạo Với đất bạc màu, cần bón đầy đủ phân hữu cơ, lân và vôi Với
vùng đất cát ven biến, có die trồng đậu tương đạt năng suất khá V ới đất
phù sa ven sông, trồng đậu tương cho năng suất cao Vùng đất đồi thấp ở trung du Bắc Bộ, nếu ữồng đậu tương phải bón thêm vôi, lân và cải tạo tốt vẫn có thể trồng đậu tương cho năng suất khá Vùng đất bazan rất phù hợp cho cây đậu tương sinh trường, phát triển, trồng đậu tuơng sẽ cho năng suất rất cao
1.2.4.5 Dinh dưỡng khoáng cần thiết đoi với đậu tương
Có 16 nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của cây đậu tương Trong đó 3 nguyên tố c , H và 0 là thành phần chù yếu ứong chất
Trang 26khô và được hấp thụ dưới dạng C 0 2, H20 và 02 tự do ưong không khi Những nguyên tố cần thiết khác là N, p, K, Ca, Mg, s, Fe, Mn Mo, Cu,
B, Zn và Cl Bên cạnh đó Co là nguyên tố có ích cho cố định N và cũng được coi là nguyên tố cần thiết (Ngô Thế Dân, 1999) Các nghiên cứu về sự hấp thụ NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh trường vô hạn cho thấy kiểu hấp thụ N, p và K ở trong cây giống nhau và sự tích luỹ tối đa của nó xảy ra ờ giai đoạn chúi sinh lý (Ngô Thế Dân, 1999) Với các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn, cho thấy
tỷ lệ hấp thụ các chất khoáng N, p, K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt Tỷ lệ hấp thụ tối đa tương ứng của chứng là 7,7,0,41, 0,46; 2,4 và 0,77 kg/ha (Ngô Thế Dân, 1999)
Cây đậu tương phản ứng ít đối với phân đạm, tuy nhiên bón phân đạm vẫn làm tàng năng suất, tỷ lệ đạm ừong hạt và hàm lượng protein chứng tỏ cố định N2 không đủ để cung cấp cho cây
Lân đóng vai trò quan trọng hình thành và phát triển nốt sần ở đậu tương Kali (K) tích lũy ừong lá, đỉnh sinh trưởng và hạt táng lên khi bón kali tăng, kali (K) rất cần cho sự phát triển của nốt sần Đối với đậu tương tỷ lệ Ca: P: K tối thích là 2: 1: 1,5 Đậu tương có thể hấp thụ lân của các photphat khó tan như AIPO4, FeP04 Đậu tương có nhu cầu cao với s, vi vậy bón thêm s sẽ tăng năng suất đậu (Đỗ Ánh, 1965)
Trên nền đất chua, bón vôi là cần thiết Bón vôi có tác dựng giảm nồng độ các chất độc hại như: sắt (Fe), nhôm (Al), mangan (Mn) đồng thòi cung cấp dinh dưỡng caxi cho cây
Vai trò của các nguyên tổ vi lượng thường thể hiện rõ hay không tùy thuộc vào đặc tính đất Trên đất giàu caxi (Ca) có hiện tượng thiếu sắt (Fe), phun phân bón lá có chứa các chất vi lượng hòa tan ờ dạng chellat có thể bổ sung sự thiếu hụt này, mangan cũng rất cần cho cây đậu tương nhưng nếu ừong đất dư thừa hoặc bón quá nhiều sẽ có hiện tượng ngộ độc mà cụ thể là lá biến dạng, màu vàng và có những mô bị chết.26
Trang 271.3 Kỹ thuật trồng trọ t
1.3.1 Giống đậu tưững
1.3.1.1 Lựa chọn giong theo kha năng thích hợp
Giống đậu tương ở Việt Nam rất phong phú gồm các giống địa phương, giống nhập nội, giống chọn tạo trong nước bằng các phương pháp di truyền như lai hữu tính, đột biến thực nghiêm, do vậy có những giống thích hợp cho vụ lạnh (thu đông, đông xuân), có những giống thích hợp cho vụ nóng (hè, hè thu), trong các năm gần đây đã chọn tạo được bộ giống thích ứng rộng có thể trồng được 3 vụ/năm
a) Nhóm giống chịu lạnh
Gồm các giống nhập nội như V74 (ĐT74), AK02, AK03, AK04, AK05, VX92, VX93, giống chọn tạo trong nước: DN42, ĐT92, TLA57, 98-04, ĐT2000, ĐT26, Đ2101 , ngoài ra còn có các giống địa phương như: Vàng xanh Hà Giang, Vàng Mường Khương, Xanh Bắc Hà)
c) Nhóm giống trung tính
Đây là nhóm giống thích hợp 3 vụ/năm, có khả năng thích úng rộng, có thể trồng cả trong vụ nóng và vụ lạnh, phản ứng yếu với ánh sáng, thich ứng rộng với nhiều vùng sinh thái từ Bắc vào Nam, cho năng
Trang 28suất cao, ổn định, thời vụ không đòi hoi nghiêm ngặt, chống chịu sâu bệnh khá, dễ đề giống, phù hợp với tập quán tăng vụ, tận dụng đất của nông dân.
Các giống thuộc nhóm này là: DT84, DT90, DT94, DT95, DT96, DT99, DT12, DT2001, DT2008, ĐVN6, ĐVN10, AK06, ĐT93 Các giống đậu tương 3 vụ điển hình như DT84, DT96, DT99, ĐT12, DT2001, DT2008 có chung các đặc điểm: Thích ứng rộng, năng suất cao khá ồn định tại các vùng sinh thái cả nước
1.3.1.2 Lựa chọn giống theo thời gian sinh trương
Đe bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, cần lựa chọn giống có thời gian sinh trường phù hợp Có thể chia ra làm 3 nhóm giống:
- Giống ngắn ngày: Có thòi gian sinh truờng duới 75 ngày, gồm các giống: DT99, ĐT12, Cúc Lục ngạn Các giống này thích hợp với các
cơ cấu đất tăng vụ, đặc biệt đất 4 vụ như ở một số tình như Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc
- Giống trung ngày: Có thời gian sinh trưởng 76 - 100 ngày gồm các giống DT84, DT90, DT96, DT2001, ĐVN5, ĐVN6, ĐVN9, ĐT26, MTD176, HL02 Các giống này thích hợp cơ cấu cây trồng 2 - 3 vụ/năm như 2 vụ lúa + 1 đậu tương đông (gieo đến 5/10 ờ phía Bắc, gieo tháng 1, 2 ở phía Nam), 2 vụ ngô đông và xuân + 1 vụ đậu tương hè, 1 vụ ngô + 1 vụ đậu tương hè thu ờ miền núi
- Giống dài ngày: có thời gian sinh trường >100 ngày gồm một số giống như: DT2008, ĐT2000, Đậu Lạng , các giống này cho năng suất cao phù hợp cơ cấu đất 2 vụ, riêng DT2008 có thể ữồng vụ Xuân sớm hơn các giống khác tới 30 ngày do kháng được bệnh, chịu hạn, rét, có thể
bố trí trên đất ruộng cao hạn vụ xuân gieo 25/1 - 10/2
1.3.1.3 Lựa chọn giống theo mục đích sứ dụng
Tùy theo mục đích sử dụng lựa chọn các giống phù hợp Hiện nay
có 4 loại giống đậu tuơng gồm:
28
Trang 29- Giống đậu tương ăn hạt: Phổ biến có vỏ màu vàng, xanh, được ữồng phô biến đê thu hoạch hạt già dùng chế biến các sàn phẩm đậu tương thông dụng như tương, đậu phụ, bột đậu tương, dầu đậu tuơng, thức ăn gia súc Hạt thường có kích thước nhỏ <300g/1000 hạt, đặc điểm chính của hạt thuộc nhóm này có tỳ lệ protein, lipit cao, khi hầm nấu hoặc luộc ăn thường dai, không bở.
- Giống đậu tương rau: Trồng để ăn quả xanh (non) thu vào giai đoạn quả chín sừa R6, thường là các giống hạt to 300 - 400 g/1000 hạt, màu hạt khô thường xanh, vàng hoặc đen, hạt sau khi luộc thường bờ hơn, ít chất đạm, nhiều chất đường bột, gồm một số giống như: DT02, DT08 do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo, các giống AGS346, AGS398 do Viện Nghiên cứu Rau quả tuyền chọn, tại các tinh phía Nam phổ biến các giống nhập nội như Kaoshung 75, số 6 , ữồng đậu tương rau thường đem lại lợi nhuận cao hơn đậu tương ăn hạt
- Giống đậu tương hạt màu, giàu chất béo Omega-3: Dùng làm thực phẩm chức năng Đặc điểm của các giống này có các màu đen, nâu đen, nâu đỏ, kích thước hạt rất khác nhau dao động từ kích thước hạt từ nhỏ đến rất lớn 40 - 350 g/1000 hạt, loại hạt này dùng làm bột đậu tương, thuốc chừa bệnh, rau mầm
- Giống đậu tương để thu hoạch chất xanh dùng cho chăn nuôi, thủy sản, cải tạo đất: Đây là giống đậu tương ăn hạt dài ngày, phát triển khỏe,
có lượng chất xanh cao nhu các giống DT2008, DT95, AK04, Santamaría, Đậu Lạng cho năng suất chất xanh 40 - 60 tấn/ha, phục vụ làm bột dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi (thu ở giai đoạn quả chúi sữa, sấy khô, nghiền thành bột giàu protein), làm thức ăn xanh ủ chua, hoặc thức
ăn trực tiếp cho chăn nuôi, đặc biệt cho bò sữa, thức ãn nổi cho cá Các giống đậu loại này có thể dùng để ép xanh, cải tạo đất, tạo thêm mùn, chống cỏ dại khe ưồng xen với các cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày
Trang 301.3.2 Thời vụ gieo trồng
Cây đậu tương mẫn cảm với điều kiện thời tiết Thời vụ không những ảnh hưởng tới sinh trường phát triển của cây, tới năng suất, phẩm chất của hạt mà còn ảnh huờng cả với những cây ừồng tiếp sau trong hệ thống luân canh (Trần Đình Long, 2001) Ở nước ta có thể trồng nhiều vụ ữong năm, nhưng xác định được thời vụ chính cho từng vùng là điều cần thiết cho sàn xuất
C ữ sử đ ể xác định th ò i vụ
Đất đai: Tuỳ theo chân ruộng thấp hay cao thoát nước hay không,
mà phải gieo trồng đúng thời vụ, tránh lúc ra hoa và làm quà gặp mưa bị úng, rụng hoa, rụng quả nhiều
Căn cứ vào chế độ canh tác: Tuỳ theo chế độ canh tác cùa từng nơi, luân canh hoặc trồng xen, gối mà bố trí thời vụ gieo ừồng đảm bảo năng suất cây trồng trước và cây trồng sau
Căn cứ vào giống: Tuỳ theo giống chúi sớm, trung bình hay chín muộn, để bố trí thời vụ gieo ứồng thích hợp nhất
Căn cứ vào điều kiện khí hậu: Đây là yếu tố chủ yếu nhất để bố trí thời vụ, hay phải căn cứ vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng để gieo trồng đúng thời vụ, tạo điều kiện cho đậu tương sinh trường thuận lợi nhất, biểu hiện khi gieo ừồng gặp hạn không bị rét khi ra hoa và chúi
có ẩm đô và nhiệt đô thích hợp khi thu hoach ầm đô phải khô
Ờ nuớc ta có thể gieo ừồng nhiều vụ trong năm, nhưng ở miền Bắc
Trang 31nóng và thu hoạch trước lụt tiểu màn (lụt tiêu mãn có 2 cao điẻm: 10/5 - 15/5 và 25/5 -10/6).
Vụ xuân trên đất cấy giống lúa chín sớm và trung bình Thời vụ gieo thích hợp nhất cho vùng miền núi phía Bẳc là: 15/2 - 10/3; Đồng bàng: 1'2 -15/2, Bắc Trung Bộ: 10/1 - 10/2 Bên cạnh vụ xuân là chính, còn có
vụ xuân hè gieo từ tháng 10/3 - 10/4
* Vụ hè
Hầu hết các giống có thể trồng được trong vụ hè, do điều kiện thuận lợi có thê eieo khắp nơi, nhưng tập trung nhiều ờ các tinh miền núi, ờ các chân ruộng đồi bãi, phù sa Thuận lợi lúc gieo chua mưa to, nhưng lúc ấy ngô chưa chúi nên gieo gối vào lúc ngô thâm râu tránh những vùng bị ngập do nước sông dâng vào tháng 7 Thời vụ gieo trồng từng giống như sau:
* Vụ đông
Đưa đậu tương vào vụ đông sẽ tạo ra nhiều thay đồi ừong cơ cấu cây trồng ờ vùng ừọng điểm lúa Vụ đông thường thường gặp rét, hạn và cây sống ừong điều kiện ánh sáng ngày ngắn nên năng suất không cao Thời vụ gieo sớm cuối tháng 9 - đầu tháng 10, nói chung càng sớm càng tốt, cố gắng kết thúc trước 20/10 Khó khăn trong vụ đông khi làm đất gieo hạt gặp mưa, cuối vụ khi thu hoạch về cũng bị mưa phùn khó ra hạt
Trang 32Ờ miền Nam, điều kiện khí hậu ấm áp, đậu tương gieo từ 20/12 đến tháng 1, vụ hè thu gieo tháng 4 - 5, vụ thu đông gieo tháng 7- 8
1.3.3 Mật độ, khoảng cách trồng
Hạt trước khi gieo cần được phơi một vài nắng nhẹ (không nên phơi trên nền xi măng) vỉ nếu ờ nhiệt độ cao sự hoạt động của các men trong hạt bị giảm Xử lý thuốc diệt nấm bệnh, có thể gây nhiễm khuẩn
Rhizobium cho hạt truớc khi gieo trồng nhằm tăng khả năng hình thành
nốt sần để tăng khả năng cố định đạm khí trời của cây
Các \'ếu tố cẩu thành năng suất cây đậu tương
Năng suất cây đậu tuơng gồm 4 yêu tố tạo thành và được tính theo công thức:
Năng suất = Mật độ X số quà chắc/ cây X số hạt chắc/quả X M 1.000 hạtNăng suất quan hệ với các yếu tố cấu thành năng suất là quan hệ toán học Nhưng giữa các yếu tố cấu thành năng suất ừong một quần thể lại có quan hệ sinh học thông qua mối quan hệ quần thể và cá thể Mối quan hệ này thể hiện tính mâu thuẫn và thống nhất Nếu ta trồng dày quá thi số cây trên đơn vị diện tích nhiều vì thế diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp và cây sẽ thiếu dinh dưỡng và thiếu ánh sáng do vậy ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá bị rụng nhiều, số hoa ít số quả/cây ít và khối lượng 1.000 hạt nhò, ngược lại nếu ữồng thưa quá, diện tích dinh dưỡng cùa cây rộng nên cây phân cành nhiều, số hoa và số quả trên cây
nhiều khối lượng 1.000 hạt tăng nhưng mật độ thấp nên năng suất không
cao (Nguyễn Thị Vân, 2001; Mayer, 1991)
Cơ sở để xác định mật độ
- Căn cứ vào đặc tính của giống: Giống chín sớm, thấp cây,
phân cành ít trồng dày, với giống chúi muộn, cây cao, cành nhiều phải trồng thưa
- Căn cứ vào thời vụ: Vụ xuân và vụ đông trong điều kiện nhiệt độ thấp hay bị khô hạn cây sinh trường kém thi ta trồng dày hơn so với vụ
hè và hè thu nóng ẩm
32
Trang 33- Căn cứ vào đất đai: Đất tốt nhiều màu ta trồng thưa, đất xấu ít màu ta trồng dày.
- Căn cứ vào mức độ thâm canh: Đầy đủ phân bón, chăm sóc tốt thì trồng thưa, ừái lại ít phân chăm sóc kém thì phải ưồng dày
M ật độ gieo cụ thế
- Giống chín sớm: Đảm bào 50 - 60 cây/m2, khoảng cách cụ thể:
hàng cách hàng 30 - 35cm, cây cách cây 5 - 6cm, hoặc khóm cách khóm 20cm/2 - 3cây
- Giống chín trung bình: Đảm bảo 40 - 50 cây/m2, khoảng cách
cụ thể là hàng cách hàng 35 - 40 cm, cây cách cây 7 - 8 cm, hoặc khóm cách khóm 20 cm/2 - 3 cây
- Giống chín muộn: 1 5 - 2 0 cây/m2, khoảng cách cụ thể là hàng
cách hàng 40 - 45cm, cây cách cây 12 - 15 cm, hoặc khóm cách khóm
25 cm/ 2 cây
1.3.4 Phăn bón
Đậu tirơng cần đầy đù các yếu tố dinh dirỡng cần thiết để sinh trường, phát triển bình thường Neu thiếu hoàn toàn hoặc thiếu bất cứ một yếu tố nào đều ảnh hường đến sự sinh trường và phát triển của cây Đe phát huy đầy đù tác dụng của các loại phân bón cho đậu tương, cần phải hiểu rõ đặc tính lý hoá và thành phần dinh dưỡng của đất, đặc điẻm tính chát cua loại phàn bón, đặc điẻm dinh dưỡng cùa cày đặu tương Đậu tương cảm ứng với muối khoáng hơn các loại cây trồng khác Do đó khi bón phân cho đậu tương, không nên rắc tập trung mà nên vãi đều ừên bề mặt để không ảnh hường đến sự nảy mầm của hạt Trong tnrờng hợp đất nghèo dinh dưỡng hoặc lượng phân ít buộc phải bón tập trung thì nên rắc phân cách hàng 8 - 1 3 cm, lấp sâu 8 - 10 cm Không nên rắc phân ngay dưới hàng hạt, rễ sẽ ăn sâu thẳng xuống mà không phát triển bề rộng Bón phân tập trung gần hạt, làm rễ mầm bị cháy, không bảo đảm mật độ cây
Trang 34* Phân đạm
Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất cùa cây đậu tương Trong cây, đạm được tích luỹ nhiều ở thời kỳ đầu nhưng nhu cầu đạm tăng nhiều nhất vào thời kỳ ra hoa làm quả, đặc biệt từ ra hoa rộ đến khi hạt mẩy Thếu đạm lá chuyển thành màu xanh vàng, dễ bị rụng, phiến lá nhỏ hẹp, cây còi cọc Thời kỳ ra hoa tạo quả nếu thiếu đạm, tỷ lệ đậu hoa, đậu quả giảm nhiều, hạt lép, năng suất giám thấp
Đậu tương là cây họ đậu có khả năng cố định đạm từ khi trời để cung cấp cho cây, do vậy người ta thường bón ít phân N cho đậu tương Khả năng cố định N của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố Harper (1974) thấy rằng việc cố định N 2 và sử dụng nitrate (NO3) có
tầm quan trọng để thu đuợc năng suất tối đa (Ngô Thế Dân, 1999) Tuy nhiên, ông thấy nếu NO3 dư thừa có hại tói năng suất vi lúc đó sự cố định N2 bị ức chế hoàn toàn Nhiều tác giả cho thấy, bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều N, hoặc bón không đúng thời kỳ sẽ ức chế sự hình thành, phát triển và hoạt động của vi khuẩn nốt sần Trên các đất giàu dinh dưỡng, đáp ứng đủ nhu cầu NO3 cho cây đậu tương thì bón đạm không có tác dụng tăng năng suất Tuy nhiên trên đất nghèo chất hữu
cơ, kém thoát nước và rất chua thì bón phân đạm với lượng 50 - 60N cho một ha sẽ có tác dụng tăng năng suất
* Phân lân và vôi
Lân là một trong ba nguycn tố đa lượng có ảnh hưởng lớn tới sinh
trường của cây đậu tương Lân có tác dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần, cũng như các cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt, ) Bón phân lân cho cây giảm tỳ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng năng suất rõ rệt (Trần Văn Điền, 2001) Lân làm tăng hoạt động cố định đạm cùa vi khuẩn nốt sần Tuỳ theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần lân có sẵn ừong đất để xác định mức bón lân hợp lý Nhưng lượng phân lân thường được bón từ 30 - 100 kg P2O5 cho 1 ha, bón lót cùng với phân hữu cơ Bón vôi cho đất chua để đạt pH khoảng 6 - 6,5 là yếu tố quan ửọng để sản xuất đậu tương có hiệu quả Đất có độ
Trang 35kiềm cao, pH > 7,5 có ảnh hường không tốt tới sản xuất đậu tương, nhưng không kinh tế khi ta cố gắng giảm pH đất Trên các đất này, hàm lượng các nguyên tố vi lượng như Fe, Mn, Cu, B, Zn thường giảm Như vậy, đối với loại đất này, phải chọn các giống có tính chống chịu cao và bón nhiều phân vi lượng.
* Phân kali
Kali là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng, đứng thú hai sau đạm Kali có vai trò quan ừọng ứong trao đổi đạm, chuyển hoá gluxit cũng như hàng loạt các phàn úng khác ữong cây Kali đóng vài trò quan trọng ữong việc điều hoà cân bàng nước, tổng họp protein, tăng khả năng hình thành các mô cơ giới, tăng tính chống chịu bệnh và chống đổ
Cây hút Kali ừong suốt quá trinh sinh trưởng, nhưng nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa Thòi kỳ cuối kali chuyển từ thân lá về hạt Thiếu kali mép
lá bị cháy trong khi gân lá vẫn xanh Thiếu kali trầm trọng ở thời kỳ quả chín sẽ làm cho thân có màu xanh lục và vẫn còn tuơi khi quả chúi, láxanh vẫn tồn tại trên cây, hình thành quả không hat, thời gian thu hoạchkéo dài Thiếu Kali nốt sần khó hình thành và phát triển, cây không cố định được đạm, mầm bệnh dễ xâm nhập làm cho cây yếu
Luợng phân kali bón thích hợp là 40 - 70 K20 , chia làm 2 lần; bón lót 50% kết họp với 1/2 số phân đạm và bón thúc số phân còn lại khi cây
Trang 36Cách bón:
- Bón toàn bộ vôi trước lúc bừa lần cuối cùng
- Bón lót vào rành hoặc hốc toàn bộ phân chuồng cộng toàn bộ lân
và một nửa số đạm và số phân kali Sau khi bón lót phân chuồng và phân
vô cơ cần dùng đất nhò lấp kín toàn bộ phân dày 2 - 3 cm, tránh để phân tiếp xúc với hạt làm giảm tỉ lệ nảy mầm Khi đất quá ướt (độ ẩm đất >90%) hoặc quá khô thi không nên bón lót phân đạm và kali mà để phân N và K lại tập trung cho bón thúc sớm khi cây có lá thật (lá kép),
để phân không ảnh hường đến tỉ lệ nảy mầm
- Bón thúc: Bón 1/2 lượng phân đạm và kali còn lại vào lúc cây có
3 - 5 lá kép Bón cách gốc 3 - 5 cm sau đó xới vun lấp toàn bộ phân
1.3.5 Chăm sóc đậu tương
1.3.5.1 Dặm, tia cây
Dặm cây nhằm đảm bảo số cây ữên đơn vị diện tích, cần tiến hành dặm vào lúc cây có 2 lá đom, nếu dặm muộn cây sinh trường không đều hoặc dùng hạt giống cùng giống để gieo dặm vào chỗ không mọc ngay sau khi hạt mọc mầm
Tia cây trong tmờng hợp mật độ quá dày để đảm bảo mật độ, khoảng cách, ừánh hiện tượng tranh chấp ánh sáng, dinh dưỡng, c ầ n tỉa sớm lúc cây có một lá thật
Trang 37- Xói vun lần 1: Thời kỳ 2 - 3 lá, làm đất tơi xốp, kết hợp bón thúc lần 1, trừ cò dại và vun nhẹ chống đổ cho cây.
- Xới vun lần 2: Trước khi đậu tuơng ra hoa, sau lần 1 khoảng 15 -
20 ngày Xới nặng tay, sâu 5 - 7cm, kết hợp vun cao chống đồ, trừ cỏ dại
- Tuỳ theo tình hình cụ thể như mưa nhiều, đất đóng váng có thề xớilần 3
1.3.5.3 Điểu tiết nước
Tưới đủ nước cây đậu tương sẽ sinh trương, phát triển tốt và cho năng suất cao Tưới nước cần căn cứ vào nhu cầu của cây ở từng giai đoạn, từng thời kỳ sinh trương Nhìn chung cần đám bảo đủ nước tưới thời kỳ mọc, thời kì ra hoa và quà mẩy
Tuới nước cũng cần căn cứ vào từng thòi vụ: Vụ xuân thường khô hạn vào đầu vụ, vụ đông cuối vụ và thời kì ra hoa đến làm quả cũng gặp hạn Vụ hè, lượng mưa nhiều, cần chú ý thoát nước kịp thời, nếu ngập úng lâu cây vàng héo, hoa quà rụng nhiều, dẫn đến năng suất thấp Nhìn chung tiến hành tuới nước khi độ ẩm đất giảm xuống đến 55 - 60% độ
ẩm tối đa đồng ruộng Tưới nước cho đậu tương tốt nhất là tưới theo rãnh sau đó tháo ngay, khoảng 800 mVha
1.3.5.4 Bấm ngọn
Bấm ngọn có tác dụng điều tiết được dinh dưỡng và điều khiển được tán cây cho sự phát triển cân đối, để tập trung dinh dưỡng cho mầm hoa phát tnên, quả nhiều Cây sinh trương kém hay trong vụ xuân và vụ đông thì không bấm ngọn Chi bấm ngọn với những giống sinh truờng vô hạn và gieo trong vụ hè sinh trường mạnh Khi bấm phải đúng lúc, bấm quá sớm (5 lá kép) thì cây sẽ ít đốt, ít cành, nhưng bấm muộn quá (9 lá) cành đã dài thêm cao thì hiệu quả bấm cành thấp, cho nên bấm tốt nhất là
lúc 6 - 8 lá.
1.3.5.5 Khừ ì á đậu tương trước khi thu hoạch
Khi cây đậu tương có 85 - 90% số quả chín (vỏ quả chuyển từ màu vàng sang vàng sẫm), đù có thể thu hoạch được Lúc này trên cây, lá cây
Trang 38đậu tương đã vàng úa kém tác dụng, nhung vẫn chưa rụng rời khỏi cây
Bộ lá này vẫn có thể bám dính trên thân cành một thời gian dài, kê cà khi quả ừên cây đã chúi khô Lá không rụng gây khó khăn việc thu hoạch, vận chuyển và tách hạt Có thể khử lá đậu tương trước khi thu hoạch bàng nhiều cách:
- Dùng 0,5 - 0,7kg phân Kali hoặc muối ăn (NaCl), hoà với 16 lít nước phun kỹ trên mặt lá, phun 2 binh/sào, sau 3 - 5 ngày lá rụng hết, có thể nhổ hoặc cắt cây đậu tương mang đi phơi
- Những noi có hệ thống tưới tiêu chủ động, tháo nước vào ruộng sâu
tà 10 - 15cm trước thu hoạch 5 - 7 ngày (không cho nước ngập quả đậu tương) Sau 2 ngày ngâm nước, thi rút sạch nước, lá sẽ rụng gần hết, rồi cắt cây mang về Phương pháp này chi sử dụng cho nhũng ruộng đậu tương không bị đổ ngã
- Dùng Ethrel 40% pha nồng độ 0,1% phun kỹ lẽn lá, chi 3 - 5 ngày sau cây sẽ rụng hết lá, không làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt đậu tuơng
1.3.5.6 Biện pháp giàm sự rụng hoa, quà và quà lép
* Đặc điểm của sự rụng hoa và quả
- Hoa rụng chủ yếu là những hoa ra trước hoặc sau đợt hoa rộ
- Giống sinh trưởng về sau mạnh thì rụng nhiều, giống sinh trường
vô hạn thì tì lệ rụng hoa nhiều hơn giống sinh trưởng hữu hạn
- Hoa quả ờ đình và ờ gốc rụng nhiều hon ở giữa, quả ờ cành rụng hơn nhiều ớ thản
- Hoa thường rụng từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 7 sau khi hoa nở
* Nguyên nhân cùa rụng hoa và quả
- Do đặc tính di truyền của giống: Các giống khác nhau thi ti lệ
rụng hoa, quả lép khác nhau, tức là rụng hoa quả là một đặc tính di truyền của các giống đậu tương
- Do các nguyên nhân sinh lý: Ti lệ rụng hoa quà ờ đậu tương cao do thiếu dinh dưỡng
38
Trang 39- Giống sinh trường hữu hạn ít rụng hoa hơn giống sinh trường vô hạn là vì giống sinh trường vô hạn thân lá phát triển nhiều, nên dinh dường tập trung cho thân lá làm cho hoa thiếu dinh duỡng, do vậy hoa sẽ
bị rụng nhiều
- Hoa ờ đỉnh và những hoa ờ phía gốc rụng nhiều hơn ở phần giữa
là do lá ờ phía dưới bị che phủ, còn lá ở phía ữên phát triển chưa hoàn chinh, mặt khác diện tích các lá gốc và ngọn thấp hơn tầng lá giữa cho nên quang hợp kém hơn các lá ở giữa, cho nên rụng hoa quả nhiều hơn tầng lá giữa
- Do điều kiện đất đai: Các loại đất khác nhau thì ti lệ rụng hoa khác nhau, ta thấy đất tốt tỷ lệ rụng hoa thấp hơn đất xấu, do đất xấu không cung cấp đù dinh duỡng cho cây nên hoa bị rụng nhiều Dinh dưỡng không cân đối hoa quà cũng bị rụng nhiều
- Do điều kiện khí hậu: Đậu tương ra hoa cần nhiệt độ cao 25 - 28(lc , khi chín cần nhiệt độ 21 - 23°c, ẩm độ khoảng 80% Nếu cả nhiệt
độ và ẩm độ đều quá cao hoặc quá thấp, quá trình thụ phấn và thụ tinh
sẽ không được xẩy ra bỉnh thường hoa quà sẽ rụng nhiều và quả lép tăng lên
- Các nguyên nhân khác:
+ Các biện pháp kỹ thuật: Các biện pháp kỹ thuật như mật độ và thời vụ gieo trồng không thích hợp hoặc bón phân không cân đối, đầy đủ
thì tì lệ rụng hoa và rụng quả trên cây đậu tirơng sẽ cao.
+ Sâu bệnh: Sâu chủ yếu hại bộ lá rồi phá trực tiếp đến quả non Bệnh chủ yếu phá hại bộ lá và các mạch dẫn ờ lá cũng nhu thân Cho nên khả năng tạo thành và vận chuyển chất hữu cơ từ thân lá về cơ quan sinh sản kém làm tăng tỷ lệ rụng hoa quả
* Nguyên nhăn quả lép
- Dinh dưỡng: Chủ yếu là do chất dinh dưỡng vì ừờ ngại nào đó
không vận chuyển liên tục đến hạt Có thể do dinh dưỡng không đù như thiếu lân và kali thì đạm vận chuyển về hạt kém nên bị quả lép
Trang 40- Do giống: Giống thấp cây, thưa cành, thời gian sinh trường ngắn thi
- Gieo trồng với mật độ hợp lý
- Với những giống sinh trường vô hạn có thể bấm ngọn kịp thời
để phân cành sớm tập trung dinh dưỡng nuôi hoa, quả
- Gieo trồng đúng thời vụ, khi ra hoa không gặp mua và gặp gió nóng, khi gặp hạn cần phải tưới kịp thòi
- Kịp thời phòng trừ sâu bệnh, phòng là chính phun theo dự tinh
40