Tình hình khai thác, nghiên cứu cây dược liệu tại Việt Nam

Một phần của tài liệu Giáo trình cây dược liệu phần 1 (Trang 21 - 24)

Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY DƯỢC LIỆU GIỚI THIỆU VỀ CÂY DƯỢC LIỆU

1.6. Tình hình khai thác, nghiên cứu cây dược liệu tại Việt Nam

Với những tiềm năng về địa hình và khí hậu, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nguồn tài nguyên dược liệu đa dạng, phong phú, được xếp hạng thứ ba trên toàn thế giới. Theo kết quả khảo sát của Viện Dược liệu, Việt Nam có khoảng 5.117 loài

thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc, trong đó có 206 loài cây thuốc còn khả năng khai thác, 144 loài cây thuốc quý hiếm như Sâm Ngọc Linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng liên, Bách hợp, Hoàng tinh hoa đỏ, v.v. có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang đứng trước thực trạng khai thác dược liệu tự nhiên một cách quá mức, gây cạn kiệt nguồn gen dược liệu quý. Nhiều loài dược liệu bị khai thác theo kiểu tận thu, nhổ cả gốc mà không được trồng lại, không có biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững, nên đã cạn kiệt nhanh chóng ở các tỉnh vùng cao như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai v.v.. Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú hoàn toàn bị phá bỏ. Vùng núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai) vào những năm 1972 – 1973 đều là rừng rậm, có nhiều loài cây thuốc quý như Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng liên gai v.v., song đến năm 1985 đã bị phá gần hết để trồng ngô và các loại cây khác. Cao nguyên An Khê thuộc Gia Lai và Bình Định trước kia vốn là trung tâm phân bổ lớn nhất Việt Nam của cây Vàng đắng, hiện đã nằm dưới lòng hồ chứa nước thủy điện Vĩnh Sơn. Vùng phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc quý như Sâm Ngọc Linh, Thiên niên kiện, Cốt khí củ, Ba kích, Đẳng sâm, Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim v.v. cũng bị thu hẹp do nạn phá rừng và mất rừng.

Một số vùng trồng cây thuốc truyền thống đã biến mất v.v..

Cây Vàng đắng vào những năm 1980 – 1990 còn khai thác được từ 1.000 – 2.500 tấn/năm, từ năm 1995 đến nay gần như không còn. Các loại dược liệu như Ba kích, Đẳng sâm, các loài Hoàng tinh thuộc chi DisporopsisPolygonatum, Bình vôi v.v. vốn phân bố rất nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng hiện nay đã được đưa vào Sách đỏ và Danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam. Từ một nước xuất khẩu dược liệu vào những thập niên 1960 – 1970, hiện Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào nguyên dược liệu nhập khẩu để sản xuất thuốc chữa bệnh tới 85%, thậm chí cả Đông y cũng phải mua dược liệu.

Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, các viện nghiên cứu và doanh nghiệp dược trong cả nước đã đầu tư nghiên cứu nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng và thuốc từ dược liệu. Một số công trình nghiên cứu tạo ra sản phẩm tiêu biểu như:

nghiên cứu thuốc Eupolin chữa bỏng từ cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum) của Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác; nghiên cứu điều chế thuốc tiêm rotundin sulfat từ củ Bình vôi (Stephania spp.) của Học viện Quân y; nghiên cứu sản xuất viên nang điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt từ Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) của Công ty Dược liệu Trung ương II; nghiên cứu và sản xuất thuốc Crila chữa bệnh u xơ tử cung cũng từ dược liệu này của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm đã được Bộ Y tế Việt Nam công nhận; nghiên cứu sản xuất Embin làm thuốc tẩy sán từ loài Chua ngút (Embelia scandens) và Ampelop từ Chè dây (Ampelopsis cantonensis) điều trị viêm loét dạ dày – hành tá tràng của Công ty cổ phần Traphaco; nghiên cứu sản xuất viên nang Uphamorin từ rễ và thân cây Nhàu

(Morinda citrifolia) làm thuốc tăng cường miễn dịch và sức đề kháng của Đại học Y Hà Nội; nghiên cứu chiết suất Artemisinin chữa bệnh sốt rét xuất khẩu sang các nước châu Phi từ cây Thanh hao hoa vàng và thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng Ampelop, thành phần chính từ cao Chè dây được thực hiện bởi các nhà khoa học của Trường Đại học Dược Hà Nội; công trình chiết xuất nguyên liệu mangiferin đạt độ tinh khiết 98% – 101%, xuất khẩu sang Nga cả nguyên liệu và thuốc thành phẩm đạt trị giá khoảng 1 triệu USD/năm do Công ty BV Pharma thực hiện.

Viện Dược liệu có công trình nghiên cứu về tác dụng chống trầm cảm và cải thiện trí nhớ của cây Đinh lăng. Hiện nay, trên thị trường có các sản phẩm cải thiện tuần hoàn não từ Đinh lăng như: hoạt huyết dưỡng não, cebraton nang mềm của Traphaco v.v..

Nghiên cứu sản xuất thuốc nhỏ mũi Agerhinin từ cây Ngũ sắc (Ageratum conyzoides) điều trị viêm xoang; nghiên cứu thuốc chữa u xơ tuyến tiền liệt từ Náng hoa trắng (Crinum asiaticum); thuốc hỗ trợ điều trị ung thư từ nấm cổ Linh Chi (Ganoderma applanatum); thuốc điều trị thương hàn và lỵ trực khuẩn Geravina từ Lão quan thảo (Genanium nepalense var. thunbergiii); thuốc điều trị thiểu năng tuần hoàn não Ligustan từ Xuyên khung (Ligusticum wallichii), Đương quy (Angeliaca sinensis) và Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis); Abivina từ Bồ bồ của Viện Dược liệu; Kim tiền thảo của Công ty cổ phần dược phẩm OPC; v.v..

Ngoài ra, còn có hàng nghìn sản phẩm khác dưới dạng thực phẩm chức năng được nghiên cứu và sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường có nguồn gốc dược liệu dưới dạng chè nhúng, chè tan, v.v. như: Giảo cổ lam, Diệp hạ châu, Nhàu, Actiso, Hoa cúc, Tam thất, Hà thủ ô, Tỏi, Gừng, Mướp đắng.

Chương 2

Một phần của tài liệu Giáo trình cây dược liệu phần 1 (Trang 21 - 24)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(97 trang)