THU HÁI DƯỢC LIỆU
4.5. Nguyên tắc, tiêu chuẩn khai thác dược liệu tự nhiên
– Trước khi đi thu hái, cần xác định sự phân bố địa lý và mật độ quần thể của loài dược liệu cần thu hái. Cần xét đến các yếu tố như khoảng cách từ cơ sở đến nơi thu hái và chất lượng hiện có của các dược liệu cần thu hái. Khi đã xác định được địa điểm thu hái, cần phải xin giấy phép thu hái của địa phương theo quy định hiện hành
– Cần thu nhập các thông tin cần thiết về dược liệu cần thu hái (như phân loại, phân bố, sinh khí hậu học, tính đa dạng di truyền, sinh học sinh sản, thực vật dân tộc học) và các dữ liệu về điều kiện môi trường, bao gồm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu và thực bì tại địa điểm dự định thu hái.
– Cần có các thông tin về: ảnh sao chụp; những hình minh họa khác của dược liệu cần thu hái lấy từ tài liệu và mẫu tại các đơn vị lưu mẫu dược liệu; các thông tin về phân loại thực vật (tên thường gọi hay tên địa phương, tên khoa học); các đặc điểm thực vật để nhận dạng dược liệu, tránh việc tìm thấy những loài cùng họ hoặc không cùng họ nhưng có đặc trưng hình thái tương tự, ở chung một nơi.
– Cần phải sắp xếp trước các phương tiện vận chuyển để nhanh chóng vận chuyển các dược liệu đã thu hái, công nhân thu hái, thiết bị thu hái về khu vực tập kết một cách an toàn và hiệu quả.
– Cần có kế hoạch để định kỳ cập nhật kiến thức, kỹ thuật thu hái, vận chuyển và xử lý thiết bị. Phải có văn bản xác định trách nhiệm của tất cả những người tham gia công tác thu hái. Tất cả những thành phần tham dự, nhất là nhà sản xuất, cơ sở mua bán và chính quyền đều có trách nhiệm bảo tồn và quản lý các loài dược liệu cần thu hái.
– Cần phải khảo sát tác động xã hội của việc thu hái trên thực địa đối với cộng đồng địa phương và theo dõi tác động sinh thái của các hoạt động thu hái trên thực địa theo thời gian. Phải làm sao cho bảo đảm được sự ổn định các môi trường sống tự nhiên và duy trì được những quần thể bền vững của loài được thu hái trong (các) khu vực thu hái.
4.5.2. Chọn dược liệu để khai thác
– Cần phải xác định đúng loại dược liệu đã được nêu trong Dược điển Việt Nam hoặc Dược điển các nước khác trên thế giới, hay các tài liệu khoa học khác.
Trong trường hợp các loại dược liệu mới được du nhập, cần phải xác định và lập hồ sơ cụ thể bao gồm: tên địa phương, tên khoa học, đặc điểm thực vật, đặc điểm mô tả trong nền Y học cổ truyền ở các nước xuất xứ.
– Cần phải gửi các mẫu dược liệu thu hái đến Viện Dược liệu để chứng nhận loài (ghi rõ tên chuyên gia đã thẩm định, chứng nhận). Phải giữ lại các mẫu trong đúng khoảng thời gian theo yêu cầu và bảo quản mẫu trong điều kiện thích hợp.
4.5.3. Khai thác
– Cần xác định mật độ của loài sẽ khai thác trong quần thể và không được thu hái những loài quý hiếm theo quy định. Phải bảo đảm giữ lại được số lượng các dược liệu phù hợp để giúp sự tái sinh trong quần thể.
– Cần xác định thời điểm khai thác dược liệu để bảo đảm chất lượng tốt nhất có được của cả nguyên liệu và thành phẩm.
– Không nên khai thác các dược liệu ở trong hay gần những khu vực như lề đường, mương thoát nước, quặng thải, bãi rác và các cơ sở công nghiệp có thể thải ra những chất độc hại để tránh nguy cơ có nồng độ thuốc bảo vệ thực vật cao hoặc những chất ô nhiễm khác. Ngoài ra, cần tránh thu hái dược liệu ở trong và xung quanh những nơi đang chăn thả súc vật, gồm cả bờ sông vùng hạ lưu của các bãi chăn thả, để tránh ô nhiễm vi khuẩn từ phân súc vật.
– Trong thời gian khai thác, cần loại bỏ những bộ phận không cần dùng và tạp chất, nhất là các loại cỏ dại có độc, các dược liệu bị phân hủy.
– Dược liệu đã khai thác cần được đặt trong giỏ sạch, bao lưới, các loại đồ đựng thông thoáng hoặc vải lót. Không nên để dược liệu đã khai thác tiếp xúc trực tiếp với đất.
Nếu dùng các bộ phận dưới mặt đất (như rễ cây), thì cần loại bỏ bùn đất dính vào ngay khi khai thác. Nếu cần khai thác nhiều bộ phận dược liệu, thì phải thu gom riêng từng loại dược liệu và vận chuyển trong những đồ đựng riêng.
– Những dụng cụ như dao, kéo, cưa và những công cụ cơ khí, cần được giữ sạch sẽ và bảo quản trong điều kiện thích hợp. Những bộ phận nào trực tiếp tiếp xúc với các dược liệu được thu hái, không được dính dầu mỡ thừa và các chất ô nhiễm khác.
4.6. Sơ chế, đóng gói, bảo quản, vận chuyển dược liệu sau khi thu hoạch và khai thác
4.6.1. Cơ sở chế biến
Khi xây dựng cơ sở chế biến dược liệu, cần lưu ý các đặc điểm:
– Địa điểm: tốt nhất là nằm trong khu vực thuộc phạm vi vùng trồng cây dược liệu và không bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây ô nhiễm.
– Đường giao thông: cơ sở chế biến nên nằm gần hoặc tiếp giáp với đường giao thông để thuận tiện cho vận chuyển.
– Nhà xưởng: phải đảm bảo về mặt kết cấu hạ tầng và đảm bảo về vấn đề vệ sinh.
Lựa chọn vật liệu xây dựng nhà xưởng không làm ảnh hưởng tới chất lượng của dược liệu.
Nhà xưởng cần đảm bảo:
+ Có đủ không gian làm việc và nhà kho nhằm thực hiện được tất cả các hoạt động.
+ Có thể làm vệ sinh dễ dàng, triệt để và tạo điều kiện giám sát vệ sinh một cách dễ dàng, thích hợp.
+ Có thể khống chế nhiệt độ và ẩm độ theo yêu cầu của từng loại dược liệu.
+ Cách ly với các tác nhân gây ô nhiễm: khói bụi, khí thải hóa học.
+ Cửa ra vào nhà xưởng có lắp đặt hệ thống kiểm soát các tác nhân ngoại cảnh ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu.
+ Ngăn sự xâm nhập và ẩn nấp của các loài có hại, thú nuôi và gia súc.
4.6.2. Kiểm tra và phân loại dược liệu
Có quy định rõ về tự kiểm tra, kiểm soát trong quá trình triển khai các khâu kỹ thuật của quy trình và tư liệu hóa theo tiêu chuẩn GAP. Cần có phòng kiểm tra chất lượng để thực hiện việc quản lý và kiểm tra chất lượng toàn bộ quá trình sản xuất. Trước khi đóng gói, cần tiến hành kiểm tra chất lượng dược liệu theo tiêu chuẩn quốc gia. Các biên bản tự kiểm tra và báo cáo kiểm tra dược liệu được lưu hồ sơ.
Nguồn dược liệu cần được kiểm tra và phân loại trước khi sơ chế, công tác kiểm tra bao gồm:
– Kiểm tra bằng cảm quan để loại tạp chất.
– Đánh giá theo cảm quan về mức độ hư hỏng, kích cỡ, màu sắc, mùi, vị khả dĩ có.
4.6.3. Sơ chế dược liệu
4.6.3.1. Các nguyên tắc chung trong sơ chế dược liệu
– Các dược liệu được thu hoạch hay khai thác cần được bốc dỡ hoặc tháo ra khỏi bao bì ngay khi đến cơ sở chế biến. Trước khi chế biến, cần phải bảo vệ dược liệu khỏi bị ảnh hưởng của mưa, hơi ẩm và bất cứ điều kiện nào có thể làm giảm phẩm chất của chúng. Chỉ
đem phơi dược liệu trực tiếp dưới ánh nắng khi có yêu cầu cụ thể phải làm theo phương pháp này.
– Các loại dược liệu phải tưới nước thì cần được thu hái và vận chuyển càng nhanh càng tốt đến cơ sở chế biến để ngăn sự lên men do vi khuẩn (có thể bảo quản trong điều kiện đông lạnh, trong bình, lọ, hộp cát, hoặc bảo quản bằng enzym hay những biện pháp bảo quản thích hợp khác). Nên vận chuyển ngay đến người sử dụng. Cần tránh dùng chất bảo quản. Nếu có dùng các chất bảo quản thì phải theo đúng các quy định hiện hành.
– Các loại dược liệu phải sử dụng tươi thì cần được giữ đông lạnh, để trong bình, lọ, hộp cát, hoặc bảo quản bằng enzym hay những hiện pháp bảo quản thích hợp khác và vận chuyển đến người sử dụng cuối cùng càng nhanh càng tốt. Cần tránh dùng chất bảo quản.
Nếu có dùng các chất bảo quản thì phải theo đúng các quy định hiện hành.
– Tất cả các dược liệu đã sơ chế cần được bảo vệ khỏi bị nhiễm bẩn và phân hủy, tránh để côn trùng, loài gặm nhấm, chim và các loài có hại khác hay thú nuôi và gia súc làm hư hỏng.
4.6.3.2. Lựa chọn dược liệu a) Mục đích
– Loại bỏ những bộ phận không dùng, không đủ tiêu chuẩn làm thuốc.
– Loại bỏ những bộ phận gây ra những tác dụng không mong muốn.
– Tạo ra sự đồng đều về mặt kích thước giúp cho chế biến.
b) Kỹ thuật và ứng dụng chế biến
– Bỏ rễ phụ: chế biến Thạch xương bồ, Thủy xương bồ, Hương phụ, Cẩu tích, Cốt toái bổ v.v..
– Bỏ đầu rễ: chế biến Nhân sâm, Ngưu tất, Đảng sâm v.v..
– Bỏ lõi rễ: chế biến Viễn chí, Mạch môn, Tang bạch bì, Mẫu đơn bì, Địa cốt bì v.v..
– Bỏ lông: dùng bàn chải bằng lông hay giẻ mềm chải sạch lớp lông bên ngoài (chế biến Tỳ bà diệp, Lá hen) hoặc bên trong vị thuốc (Kim anh) v.v..
– Bỏ lớp bần: chế biến Quế nhục, Hậu phác, Mẫu đơn bì, Tang bạch bì, Tang chi v.v..
– Bỏ rễ, bỏ đốt: chế biến Ma hoàng v.v..
4.6.3.3. Phương pháp làm sạch dược liệu
Yêu cầu dược liệu sau khi làm sạch: sản phẩm sạch, biểu hiện rõ màu, mùi, vị đặc trưng của sản phẩm. Làm sạch dược liệu bằng một trong các cách sau:
– Rửa: làm sạch, làm mềm dược liệu để thuận lợi cho việc bào, thái dược liệu. Giảm tác dụng bất lợi, định hình cho vị thuốc cổ truyền. Thường hay áp dụng với dược liệu là phần dưới mặt đất hoặc sát mặt đất (Cam thảo, Sinh địa, Đẳng sâm, Mạch môn v.v.) để loại
bỏ đất đá, sỏi, cát, nhưng cần rửa nhanh, không ngâm lâu trong nước. Tùy từng loại dược liệu, có thể rửa vài lần (1 – 3 lần).
– Sàng, sẩy: với các dược liệu là hoa, hạt, cành nhỏ không chạm đất (Cúc hoa, hạt Tía tô, Mạn kinh tử, hạt Muồng thanh v.v.), không nên rửa, chỉ cần chọn lọc hay sàng, sẩy để loại bỏ tạp chất.
– Chải, lau: dùng bàn chải bằng lông hay giẻ mềm chải sạch lớp lông bên ngoài (Tỳ bà diệp) hoặc bên trong vị thuốc (Kim anh), hoặc dùng vải mềm, giấy bản lau sạch đối với dược liệu không rửa được.
4.6.3.4. Phương pháp ủ mềm dược liệu
Phương pháp ủ mềm có thể áp dụng với các dược liệu có thể chất cứng, chắc, cần thái phiến như: Sa sâm, Cát cánh, v.v.. Chất lượng dược liệu sau khi ủ cần đảm bảo mềm, không còn lõi đục, cứng, có mùi đặc trưng của dược liệu.
Dược liệu rửa sạch, cho vào thùng, chậu nhôm bằng nhựa hoặc inox. Dùng vải tẩm ẩm phủ kín. Trong quá trình ủ phải đảo đều, có thể phun thêm nước đến khi đạt theo yêu cầu riêng. Sau đó lấy ra, để ráo nước.
Thời gian ủ tùy thuộc vào từng loại dược liệu và thời tiết. Loại dược liệu rắn chắc ủ lâu hơn; mùa đông ủ lâu hơn mùa hè.
4.6.3.5. Phương pháp ngâm dược liệu
Một số dược liệu cứng cần ngâm cho mềm để dễ bào thái, hoặc dược liệu có độc tính, có tác dụng phụ cần ngâm vào dung dịch phụ liệu thích hợp để giảm độc tính, giảm tác dụng phụ (Bán hạ, Mã tiền, Hoàng nàn, Hoài sơn, Bạch truật, Bạch thược, Hà thủ ô đỏ v.v.). Ngâm dược liệu đã rửa sạch ngập trong nước cho đến khi đạt yêu cầu riêng. Thường để nước thấm vào dược liệu khoảng 3/10 dược liệu. Thời gian ngâm tùy thuộc tính chất, mục đích riêng của từng vị thuốc cổ truyền v.v. nếu ngâm qua ngày phải thay nước. Sau khi ngâm, lấy ra, để ráo nước.
4.6.3.6. Phương pháp thái dược liệu
Mục đích là để phân chia dược liệu đến kích thước thích hợp. Tùy theo thể chất của dược liệu và mục đích sử dụng, dược liệu được thái, chặt thành phiến có độ dài, ngắn, dày mỏng khác nhau. Dược liệu có thể chất dai, rắn chắc thì thái mỏng; dược liệu có thể chất giòn thì thái dày hơn. Dược liệu phải được thái dọc. Sử dụng các dụng cụ thái, chặt để phân chia thành khúc, đoạn ngắn (Lạc tiên, Kim ngân) hoặc thái thành phiến (Thổ phục linh, Kê huyết đằng, Bạch truật, Tỳ giải) để tiện cho việc chế biến hoặc sử dụng.
Với dược liệu có gai móc, vỏ cứng hoặc có lớp rễ tơ bên ngoài (Hương phụ, Thương nhĩ tử, Bạch tật lệ), thường được giã để loại bỏ phần bên ngoài không có tác dụng hoặc để công đoạn chế biến tiếp theo đạt hiệu quả.
4.6.3.7. Làm khô
– Khi dược liệu đã sơ chế để sử dụng ở dạng khô, thì cần phải đạt tiêu chuẩn độ ẩm theo quy định.
– Có thể làm khô dược liệu bằng một số cách: âm can (phơi gió ở chỗ trống và râm, tránh nắng); rải lớp mỏng trên khung phơi, trong phòng hay nhà có lưới chắn; phơi nắng trực tiếp, nếu thích hợp; sấy trong lò/phòng và máy sấy dùng năng lượng mặt trời; sấy bằng lửa gián tiếp; nướng; đông khô; sấy bằng lò vi sóng hoặc thiết bị sấy hồng ngoại.
– Cần khống chế nhiệt độ trong quá trình làm khô để tránh làm hỏng các hợp phần có hoạt tính hóa học. Lưu hồ sơ về phương pháp và điều kiện làm khô.
– Nên tránh phơi dược liệu trực tiếp trên nền đất không che phủ. Nếu dùng một bề mặt bê tông hay xi măng để phơi thì phải đặt dược liệu trên một tấm vải nhựa hoặc một loại vải hay tấm trải khác thích hợp. Các khu vực phơi dược liệu cần cách xa các loài côn trùng, loài gặm nhấm, chim và những loài có hại khác, cũng như thú nuôi và gia súc.
– Nếu sấy khô trong nhà thì cần xác định thời gian, nhiệt độ sấy, độ ẩm và các điều kiện khác căn cứ theo từng bộ phận sử dụng (như lá, rễ, thân, vỏ, hoa v.v.) và các hoạt chất dễ bay hơi, như tinh dầu.
– Có thể áp dụng các phương pháp như: lột bỏ vỏ của rễ và căn hành, luộc, hấp, tẩm, ngâm giấm, chưng cất, xông hơi, sao, cho lên men tự nhiên, xử lý bằng vôi và thái thành miếng nhỏ, xử lý kháng khuẩn bằng chiếu xạ để bảo quản dược liệu.
* Phơi dưới ánh nắng mặt trời
– Áp dụng đối với những bộ phận cây hay cây dược liệu không bị ánh sáng trực tiếp của mặt trời làm hỏng.
– Dược liệu sau khi thái mỏng được phơi nắng trên sân phơi sạch sẽ có trải tấm liếp, phên hoặc để dược liệu trong khay, nong, nia. Không nên để dược liệu trực tiếp xuống đất.
– Dược liệu có thể được phơi nắng trên giá, kệ cao cách đất, thường áp dụng với dược liệu quý hiếm; hoặc có thể có thêm vải màn phủ lên trên để tránh ruồi nhặng, áp dụng với các dược liệu có đường: Long nhãn, Thục địa.
– Phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả các dược liệu, trừ dược liệu có tinh dầu.
Khi phơi dược liệu phải trải mỏng, thường xuyên xới đảo để dược liệu nhanh khô và khô đều. Thời gian phơi có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày theo lượng nước chứa trong dược liệu và tùy theo thời tiết. Yêu cầu chất lượng dược liệu sau khi phơi: dược liệu khô và giữ được mùi thơm đặc trưng của từng dược liệu.
* Phơi trong râm (phơi âm can)
– Áp dụng đối với dược liệu dễ biến màu, hoạt chất dễ bị biến đổi bởi ánh nắng trực tiếp của Mặt Trời; dược liệu có tinh dầu như Bạc hà, Kinh giới, Tía tô, Ngải cứu v.v..
– Tùy từng dược liệu mà có thể trải mỏng trên các tấm liếp, phên, khay, nong, nia đặt trên các giá hoặc buộc thành từng bó nhỏ treo trên dây cho khô dần.
– Việc làm khô được tiến hành trong các lều thoáng gió, xung quanh không có vách chắn. Các giá và dây phơi phải cách đều nhau sao cho không khí có thể lưu thông một cách dễ dàng.
– Yêu cầu chất lượng dược liệu sau khi phơi: dược liệu khô hoặc gần khô, không bị mất mùi, biến màu.
* Sấy dược liệu
Sấy dược liệu là phương pháp làm khô dược liệu chủ động bằng không khí nóng trong buồng kín và có lỗ thông hơi. Biện pháp này có ưu điểm: không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, rút ngắn thời gian làm khô, bảo vệ được một số dược liệu khỏi bị biến đổi bởi tia UV, làm khô nhanh nên giảm tác động của enzym. Chủ động điều chỉnh được nhiệt độ sấy phù hợp với từng loại dược liệu và ở từng giai đoạn sấy.
Trước khi sấy, cần tiến hành làm sạch và phân loại riêng từng loại dược liệu. Cho dược liệu cần sấy vào các khay và tiến hành sấy trong tủ sấy. Tùy từng loại dược liệu, nhiệt độ sấy từ 40 – 70 oC, ở những nhiệt độ này, các loại enzym không bị phá hủy mà chỉ ngừng hoạt động do không đủ tỷ lệ nước cần thiết. Khi dược liệu bị ẩm lại, các enzym lại hoạt động trở lại bình thường.
Nhiệt độ sấy khoảng 50 – 60 °C với dược liệu chứa tinh dầu. Đối với dược liệu chưa phơi thì nên sấy ở nhiệt độ thấp (40 – 50 °C), sau đó tăng dần nhiệt độ để đạt được tới độ ẩm theo quy định, rồi giảm dần nhiệt độ, để nguội.
Quá trình sấy thường chia thành ba giai đoạn:
– Giai đoạn đầu sấy: ở 40 – 50 oC;
– Giai đoạn giữa sấy: ở 50 – 60 oC;
– Giai đoạn cuối sấy: ở 60 – 70 oC.
Dược liệu có chứa tinh dầu, chứa hoạt chất dễ bị nhiệt phá hủy, dễ bay hơi, dễ thăng hoa thì nhiệt độ sấy không quá 40 oC.
4.6.4. Đóng gói và dán nhãn hàng chờ đóng gói
– Phải có các biện pháp để đảm bảo việc đóng gói được thực hiện nhanh chóng và giảm thiểu nguy cơ nhiễm chéo hay nhầm lẫn hoặc thay thế đối với các hoạt động dán nhãn và đóng gói. Phải có phân cách cơ học để phòng tránh sự nhầm lẫn của sản phẩm và bao bì đóng gói khi thực hiện việc đóng gói các sản phẩm khác nhau trong khu vực đóng gói. Tên sản phẩm và số lô phải hiển thị ở khu vực đang thực hiện công đoạn đóng gói sản phẩm.