2. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện. Nhận định sai. Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi các chủ thể này thực hiện tội phạm → Đây cũng chính là quan hệ pháp luật hình sự. Khi có hành vi phạm tội được thực hiện trên thực tế, thì phát sinh nhiều quan hệ xã hội như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự,… nên không phải tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện đều là quan hệ pháp luật hình sự.
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN 1
I Trắc nghiệm tự luận: Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
2 Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện.
Nhận định sai
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội khi các chủ thể này thực hiện tội phạm → Đây cũng chính là quan hệ pháp luật hình sự
Khi có hành vi phạm tội được thực hiện trên thực tế, thì phát sinh nhiều quan hệ xã hội như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự,… nên không phải tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện đều là quan hệ pháp luật hình sự
VD:
A đua xe trái phép xe ô tô gây tai nạn dẫn đến 1 người tử vong và 2 người bị thương +A bị Tòa án tuyên phạt 5 năm tù về việc đua xe trai phép dẫn đến tai nạn → Quan hệ pháp luật hình sự (chủ thể là Nhà nước và người phạm tội là A)
+A phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại -> quan hệ bồi thường dân sự
6 Quan hệ pháp luật hình sự chỉ là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người
phạm tội khi có một tội phạm được thực hiện.
Nhận định sai
Chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự một bên là Nhà nước và một bên là người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội vì vậy quan hệ pháp luật hình sự không chỉ là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội mà còn có giữa Nhà nước và pháp nhân thương mại phạm tội
Ví dụ: khoản 2 Điều 2 BLHS 2015 có quy định về cơ sở TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội
13 Một tội phạm chỉ được coi là thực hiện tại Việt Nam nếu tội phạm đó bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam.
Nhận định sai
Hành vi phạm tội được coi là được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam khi hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi đó xảy ra ở trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm cả lãnh thổ
mở rộng) Nghĩa là hành vi phạm tội có thể thực hiện trọn vẹn hoặc chỉ là nơi bắt đầu hoặc kết thúc hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam
Ví dụ: Hành vi vận chuyển chất cấm từ nước ngoài về bán cho người Việt Nam
14 Một số điều luật của BLHS năm 2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
Nhận định đúng
Trang 2Theo điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 thì: “b) Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;”
Có thể thấy pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành không thừa nhận nguyên tắc hồi tố
mà chỉ cho phép vận dụng nguyên tắc này trong một số trường hợp cụ thể theo hướng
có lợi cho người phạm tội, việc quy định và áp dụng hiệu lực hồi tố là nguyên tắc thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của Nhà nước ta
Ví dụ: A thực hiện hành vi Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản vào 1/2016 cụ thể
là gây thiệt hại cho tài sản từ 500 triệu trở lên nếu bị phát hiện sau 1/1/2018 thì áp dụng Điều 178 BLHS 2015 vì so với quy định tại Điều 143 BLHS 1999 thì ở BLHS
2015 đã bỏ đi mức tù chung thân thay vào đó là phạt tù từ 10 – 20 năm
15 BLHS năm 2015 không được áp dụng đối với hành vi phạm tội do người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Nhận định sai
Theo khoản 2 điều 6 BLHS 2015: “Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
Như vậy, BLHS năm 2015 vẫn được áp dụng đối với hành vi phạm tội do người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
II BÀI TẬP
Bài tập 1
1 Quan hệ pháp luật hình sự là: A bị Tòa án tuyên phạt 1 năm tù về việc gây thương tích cho B (Theo quy định tại Điều 134 BLHS)
Vì:
- Hai bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hình sự: một bên là Nhà nước
và một bên là người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội với những quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau
· A: người phạm tội, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Trang 3Tòa án: nhân danh Nhà nước điều tra, truy tố, xét xử, xác định hình phạt, buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt
è Quan hệ giữa A và Tòa án là quan hệ pháp luật hình sự
· Các quan hệ còn lại không có chủ thể tham gia là Nhà nước → không phải là quan hệ phát luật hình sự
2 Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự trong vụ án này là gì?
Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật trong vụ án của A là sự việc A đánh
B do xích mích cá nhân, khiến B bị thương tích với tỉ lệ thương tật 30%
Theo khoản 1, Điều 134 BLHS 2017, A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích, từ đó phát sinh quan hệ hình sự giữa A nà chủ thể Nhà nước
3 A không thể nhờ người khác tham gia quan hệ pháp luật hình sự thay mình, do:
- Trách nhiệm hình sự mang tính cá nhân hóa, trách nhiệm hình sự và hình phạt được
áp dụng đối với chủ thể phạm tội phải tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và phù hợp với nhân thân cũng như hoàn cảnh của chủ thể phạm tội
- Căn cứ khoản 1, Điều 2 BLHS 2017, chỉ cá nhân phạm tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự
4 Quyền và nghĩa vụ pháp lý của A trong quan hệ pháp luật hình sự?
- Quyền của A: Yêu cầu nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của A
- Nghĩa vụ của A: Chấp hành án phạt theo quyết định của Tòa án; Thực việc các nghĩa
vụ liên quan để khắc phục hậu quả
Bài tập 3
1 Quan hệ xã hội là quan hệ pháp luật hình sự là:
b Quan hệ giữa Nhà nước và pháp nhân thương mại A
Vì:
- Ông X không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mà ông chỉ là người đại diện theo pháp luật cho Pháp nhân thương mại A và ông cũng chỉ thực hiện các thủ tục trong quá trình tố tụng
è Không phát sinh quan hệ pháp luật hình sự với ông X
- Pháp nhân thương mại A lại phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm nên khi đó
đã có 1 tội phạm xảy ra giữa Nhà nước và Pháp nhân thương mại A
è Đây là quan hệ pháp luật hình sự
2 Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự trong vụ án này là: Pháp nhân thương mại A đã phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm theo quy định tại Điều 190 BLHS 2015
Trang 4Bài tập 7
1
- BLHS Việt Nam có hiệu lực áp dụng đối với hành vi mua bán người
- Vì Tội buôn bán người là tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Người thực hiện hành vi phạm tội đã coi con người như một món hàng để thực hiện việc mua bán, trao đổi với mục đích là kiếm lợi nhuận Đây là hành vi xâm phạm đến các quyền cơ bản được pháp luật bảo hộ của nạn nhân như quyền con người, quyền tự do
- Căn cứ pháp lý:
· Điều 150 BLHS 2015 về Tội mua bán người
· Điều 151 BLHS 2015 về Tội mua bán người dưới 16 tuổi
=> Khi xem xét tội phạm cần phải làm rõ là người bị hại phải đạt từ đủ mười sáu tuổi trở lên Trường hợp người bị hại dưới mười sáu tuổi thì cấu thành tội mua bán trẻ em Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện xong hành vi mua bán người Nếu việc mua bán người chưa xảy ra thì được coi là phạm tội chưa đạt Tuy nhiên, phạm tội chưa đạt vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội không phụ thuộc vào việc bị hại có biết hay không biết mình bị mua bán
- Trong tình huống được nêu trên nguyên tắc lãnh thổ, cả hai quốc gia đều có thể xác lập thẩm quyền của mình đối với vụ việc: quốc gia nơi hành vi bắt đầu (Việt Nam) và quốc gia nơi hành vi hoàn thành (Trung Quốc)
BLHS Việt Nam có hiệu lực áp dụng đối với hành vi mua bán người của A A là công dân Việt Nam và hành động dụ dỗ phụ nữ đem sang Trung Quốc nhằm mục đích mua bán của A diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, vì vậy ta áp dụng Điều 5 BLHS năm 2015
là mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều được áp dụng BLHS B,C (công dân Trung Quốc) cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 BLHS năm 2015:
“Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
Vậy A, B và C là tội phạm được xem là thực hiện hành vi phạm tội tại Việt Nam cụ thể là dụ dỗ, lôi kéo nạn nhân sang Trung Quốc nhưng hậu quả lại xảy ra ở nước ngoài (bắt đầu ở Việt Nam) Ngoài ra người bị hại có quốc tịch Việt Nam nên nguyên tắc quốc tịch thụ động cũng được áp dụng
2
Trang 5- BLHS Việt Nam có hiệu lực áp dụng đối với hành vi hiếp dâm.
- Vì Hiếp dâm là Hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Khi xem xét tội phạm này, cần lưu ý vấn đề sau:
Bị hại phải từ đủ 16 tuổi trở lên Trường hợp bị hại chưa đủ 16 tuổi thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội Hiếp dâm trẻ em
- Căn cứ pháp lý:
· Điều 141 Tội hiếp dâm
· Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 6 BLHS 2015
Tại Trung Quốc, A cùng B và C đã hiếp dâm các cô gái này, trong đó A là công dân Việt Nam (áp dụng khoản 1 Điều 6 BLHS), theo nguyên tắc quốc tịch chủ động thì Việt Nam có thẩm quyền xét xử đối với A dù A phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam; B
và C là người nước ngoài ( công dân Trung Quốc, áp dụng khoản 2 Điều 6 BLHS)à tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam và được Bộ luật này quy định là tội phạm Đồng thời các cô gái (công dân Việt Nam) đã bị xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên có thể áp dụng nguyên tắc quốc tịch thụ động do đó BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với hành vi hiếp dâm trên
Bài tập 9
1 BLHS năm 1999, thì quy định tại Điều 168 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau:
Hình phạt thấp nhất của BLHS năm 1999 và 2015: đều từ 3 đến 10 năm
Trong khi đó so với BLHS năm 1999, BLHS 2015 đã:
- Bỏ tình tiết định khung hình phạt “Gây hậu quả nghiêm trọng” và bổ sung các tình tiết định khung hình phạt tại khoản 2: phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Bỏ tình tiết định khung hình phạt “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” và bổ sung tình tiết “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh” làm tình tiết định khung hình phạt tại khoản 3
- Bỏ tình tiết định khung hình phạt “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” và bổ sung tình tiết “Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh” làm tình tiết định khung hình phạt tại khoản 4 Đồng thời bỏ hình phạt tử hình tại khoản 4 Điều 168 BLHS
- Bổ sung quy định mới “Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
Trang 6Như vậy có thể thấy BLHS năm 2015 đã thay thế các tình tiết định tội, định khung “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” bằng những quy định cụ thể, tránh việc áp dụng tùy tiện, không thống nhất Đồng thời mức hình phạt cao nhất của BLHS là chung thân (bỏ đi chế tài tử hình) trong khi Khoản 4 Điều 133 BLHS 1999 lại quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình Do đó, Điều 133 BLHS năm 1999
có “hình phạt nặng hơn” (Thông tư liên tịch 02/2000 TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA)
2 BLHS 2015 có hiệu lực bắt đầu từ 1/7/2016, nên theo khoản 1 Điều 7 BLHS
2015 đối với hành vi xảy ra trước ngày 1/7/2016 sẽ áp dụng BLHS 1999 trong quá trình xét xử
Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 về Hiệu lực của BLHS về thời
gian: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình
sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành
vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.”
è Như đã phân tích ở câu 1, Điều 168 BLHS 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn nên trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 1/7/2017 nhưng sau
ngày 1/7/2016 mới đem ra xét xử thì sẽ áp dụng hình phạt theo Điều 168 BLHS
2015 vì nó có lợi hơn cho người phạm tội
BUỔI THẢO LUẬN THỨ 2
I Nhận định
1 Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS năm 2015 là mức hình phạt
do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội.
Nhận định sai
Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS năm 2015 là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và để xác định 4 loại tội phạm này thì sẽ dựa vào mức cao nhất của của khung hình phạt được quy định trong Điều 9 BLHS 2015, tuyệt đối không dựa vào mức hình phạt do Tòa án tuyên để xác định bởi
vì khi tuyên hình phạt Tòa án sẽ dựa vào rất nhiều các căn cứ khác nhau cho nên có những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng nếu có đủ căn cứ thì Tòa án tuyên vài tháng tù cũng sẽ không có vấn đề Chính vì vậy, không được căn cứ vào mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội để làm căn
cứ phân loại tội phạm
2 Những tội phạm mà người thực hiện bị Toà án tuyên phạt từ 3 năm tù trở xuống đều là tội phạm ít nghiêm trọng.
Nhận định sai
Trang 7Để xác định 4 loại tội phạm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng sẽ dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại Điều 9 BLHS 2015, không dựa vào mức hình phạt
do Tòa án tuyên, bởi vì, khi tuyên hình phạt Tòa án sẽ dựa vào rất nhiều các căn cứ khác nhau cho nên có những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng nếu có đủ căn cứ thì Tòa án tuyên vài tháng tù cũng sẽ không có vấn đề VD: Tại khoản 2 Điều 320 BLHS 2015 có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm, nhưng tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và các căn cứ khác mà Tòa án tuyên phạt 02 năm tù Nhưng căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt là 10 năm là thuộc tội phạm rất nghiêm trọng
4 Trong một tội danh luôn có cả ba loại cấu thành tội phạm: cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ
Nhận định sai
CTTP cơ bản là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội - dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Còn CTTP tăng nặng hay giảm nhẹ là CTTP bao gồm dấu hiệu định tội và những dấu hiệu khác phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên đáng kể hay giảm đi đáng kể Vì thế, mỗi tội danh đều phải có CTTP cơ bản và có thể có một hoặc nhiều CTTP tăng nặng hoặc CTTP giảm nhẹ
Một số tội phạm chỉ có cấu thành tội phạm cơ bản và cấu thành tội phạm tăng nặng VD: Điều 168 Tội cướp tài sản
Cũng có một số tội phạm thậm chí chỉ có cấu thành tội phạm cơ bản mà không có cấu thành tội phạm tăng nặng hay cấu thành tội phạm giảm nhẹ VD: Điều 181 Tội cưỡng
ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện
5 Trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ không có dấu hiệu định tội.
Nhận định sai
CTTP giảm nhẹ là CTTP bao gồm dấu hiệu định tội và những dấu hiệu khác phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đi đáng kể (dấu hiệu định khung giảm nhẹ)
VD: Điều 108 Tội phản bội Tổ quốc
6 Một tội phạm mà trên thực tế chưa gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội là tội phạm có cấu thành hình thức.
Nhận định sai
CTTP hình thức là CTTP mà mặt khách quan chỉ có hành vi là dấu hiệu bắt buộc Vì thế, người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã được mô tả trong điều luật phần các tội phạm của BLHS (theo luật định) là đủ để cấu thành tội phạm mà không cần dựa vào việc thực hiện hành vi phạm tội đó có gây ra hậu quả trên thực tế hay không
Trang 8VD: khoản 1 Điều 157 Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; khoản 1 Điều 168 Tội cướp tài sản
II Bài tập
Bài tập 1:
1 Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội gì? Tại
sao?
Loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội phạm nghiêm trọng
A trộm cắp tài sản trị giá 70 triệu đồng nên theo điểm c, khoản 2, Điều 173 BLHS
2015 thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm Có thể thấy mức cao nhất của khung hình phạt là 07 năm tù Do đó căn cứ vào điểm b, khoản 1, điều 9 BLHS 2015 thì loại tội phạm mà A thực hiện là tội phạm nghiêm trọng Ở đây ta không dựa vào mức án 02 năm tù mà Toà án đã tuyên để xác định loại tội phạm mà dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy
2 Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm (CTTP) vật chất hay
CTTP hình thức? Tại sao?
Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có CTTP vật chất
Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mà trong đó có các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại do hành vi gây ra, hay có thể hiểu ngắn gọn là cấu thành tội phạm mà trong đó có dấu hiệu hậu quả thiệt hại
Về tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS 2015: “1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng …” Đây là dấu hiệu hậu quả của hành vi trộm cắp tài sản
Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội trộm cắp tài sản Nếu một người có ý định trộm cắp tài sản của người khác nhưng chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản mà
bị phát hiện thì chưa cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự Nên trong trường hợp này, cấu thành tội phạm của Tội trộm cắp tài sản bao gồm đầy
đủ các hành vi khách quan như trộm cắp tài sản cùng với hậu quả là trộm cắp từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng
=> CTTP vật chất
3 Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng
hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP tăng nặng vì hành vi của A cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo khoản 2, điều 173 BLHS 2015
Theo khoản này, những dấu hiệu định khung tăng nặng được quy định từ điểm a đến điểm g, trường hợp của A thuộc điểm c: “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;” cụ thể là 70.000.000 đồng Có thể thấy, tính chất
Trang 9và mức độ nguy hiểm của hành vi đã tăng lên so với khoản 1 CTTP tăng nặng bao giờ cũng có khung hình phạt nặng hơn so với CTTP cơ bản
Cụ thể:
Khoản 1 Điều 173 BLHS là CTTP cơ bản, mức cao nhất là 03 năm
Khoản 2 Điều 173 là CTTP tăng nặng, mức cao nhất là 07 năm
Bài tập 6:
A 15 tuổi 6 tháng đã thực hiện hành vi được quy định tại khoản 3 Điều 260
BLHS Hãy xác định A có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không.
(Biết rằng tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS) được thực hiện với lỗi vô ý).
- A 15 tuổi 6 tháng => Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
- A vi phạm tội thuộc khoản 3 Điều 260 BLHS (phạt tù từ 7 năm đến 15 năm) => tội rất nghiêm trọng
- Dấu hiệu lỗi của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ là lỗi vô ý do cẩu thả hoặc lỗi vô ý do tự tin Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội rất nghiêm trọng do cố ý Do đó, bạn của bạn
sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
- Hơn nữa căn cứ khoản 2 Điều 12, lỗi A vi phạm không được quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự
=> A không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
=> Theo khoản 2 Điều 92 quy định biện pháp đưa vào trại giáo dưỡng đối với trường
hợp: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.” Do
đó, A sẽ bị áp dụng biện pháp đưa vào trại giáo dưỡng đối với hành vi của mình
Bài tập 7:
1 Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là gì?
Hành vi phạm tội của A là “vô ý gây chết người”
=> Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là Con người (bé Trung)
2 Hành vi của A đã xâm phạm khách thể trực tiếp nào?
- Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật hình
sự bảo vệ và bị một tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại
- Như vậy, hành vi của A đã xâm phạm đến khách thể trực tiếp là quyền được bảo vệ về sức khỏe của bé Hoài Trung (quyền sống, quyền được bảo vệ tính mạng của
bé Hoài Trung), an toàn trong lĩnh vực y tế
3 Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại nào? Tại sao?
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại mối quan hệ
nhân quả kép trực tiếp Vì A kê sai đơn thuốc nhưng lại không kiểm tra lại đơn thuốc
trước khi trao cho người nhà của bé Trung dẫn đến người nhà đến tiệm thuốc mua
Trang 10thuốc cho cháu, H bán thuốc theo toa của A Hậu quả là bé Trung do uống thuốc quá
liều đã dẫn đến tử vong
4 Lỗi của A là loại lỗi gì? Tại sao?
Lỗi của A là lỗi vô ý do cẩu thả vì căn cứ theo Khoản 2 Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu
quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.”
Dấu hiệu chúng minh A có lỗi vô ý do cẩu thả:
Dấu hiệu 1: A không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình gây ra: cụ thể là không biết rằng việc mình kê toa thuốc cho bé Trung theo toa người lớn dẫn đến việc tử vong
Dấu hiệu 2: A phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
Trong trường hợp này, A dù hoàn toàn có thể biết rằng mình đang kê thuốc cho trẻ em
và kiểm tra toa thuốc trước khi giao cho người nhà bé Trung mà sơ suất kê thuốc của người lớn dẫn đến việc bé Trung tử vong Việc kiểm tra lại toa thuốc trước khi giao cho bệnh nhân là một yêu cầu bắt buộc nhưng A đã bỏ qua mà không có sự cẩn trọng cần thiết A tuy phải thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng như vậy và không mong muốn hậu quả xảy ra do vậy đây là lỗi vô ý do cẩu thả
5 H có lỗi trong việc gây ra cái chết của bé Trung không? Nếu có là lỗi gì? Tại sao?
Tương tự, H cũng có lỗi vô ý do cẩu thả trong việc gây ra cái chết của bé Trung vì: Dấu hiệu 1: H không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình gây ra: không biết rằng việc mình kê thuốc theo toa của A sẽ dẫn đến cái chết của bé Trung
Dấu hiệu 2: H phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
Vì H không thận trọng xem lại độ tuổi của bệnh nhân (3 tuổi) để phát hiện sơ suất của
A vì kê nhầm thuốc mà bán thuốc của người lớn theo toa của A H tin rằng A đã kê đúng toa thuốc mặc dù có nghĩa vụ phải thấy trước và có đầy đủ điều kiện để thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi của mình, nhưng không thấy là do không có sự chú ý và cẩn trọng cần thiết nhằm tránh gây ra những thiệt hại cho xã hội trong các
hoạt động chuyên môn nghề nghiệp mà cụ thể ở đây là ngành y học Vì vậy nếu nói H
không có lỗi thì không đúng theo quy định của pháp luật