1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chế định kiểm sát trong thi hành án dân sự

19 569 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 65,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm sát việc cấp, gửi bản án, quyết định của tòa án; việc giải thích bản án, quyết định Căn cứ điều 380 BLTTDS thì khi bản án, quyết định của tòa án thuộc trường hợp được thi hành theo

Trang 1

Table of Contents

LỜI MỞ ĐẦU

Thi hành án dân sự (THADS) có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động THA là công đoạn làm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Với vai trò như vậy, việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế là một quá trình rất quan trọng, cần tuân thủ chế định kiểm sát cho đến khi bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác được thi hành xong Do đó chế định kiểm sát trong thi hành án dân sự đóng một vai trò rất quan trọng Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về chế định kiểm sát trong thi hành án dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát Nhân dân, hoạt động kiểm sát của Kiểm sát viên và thấy được thực trạng công tác kiểm sát trong thi hành án dân sự, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Chế định kiểm sát trong thi hành án dân sự” Từ đó, liên hệ với thực tiễn để thấy được thực trạng kiểm sát thi hành án dân sự của nươc ta hiện nay

I Những vấn đề chung về kiểm sát trong thi hành án dân sự.

1 Đối tượng, phạm vi của công tác kiểm sát thi hành án dân sự.

1.1 Đối tượng :

Căn cứ khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự 2008 (Luật THADS) thì Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật Căn cứ khoản 1 Điều 64 Luật THADS thì quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định Hết thời

Trang 2

hạn kháng nghị, Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành

Theo các quy định trên thì đối tượng của công tác kiểm sát Thi hành án dân sự (KSTHA) là việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc ban hành các quyết định thuộc thẩm quyền và việc tuân theo pháp luật về thi hành án; của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật

1.2 Phạm vi :

Căn cứ Điều 4 Qui chế KSTHA thì phạm vi của Công tác KSTHA được thực hiện từ khi các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo qui định của pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp… cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong

2 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thi hành án dân sự.

Yêu cầu Toà án nhân dân, Cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án; ra quyết định thi hành án; quyết định ủy thác thi hành án; áp dụng thời hiệu yêu cầu thi hành án; quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án, trả lại đơn yêu cầu thi hành án, quyết định tiếp tục thi hành án theo đúng quy định tại các điều 36, 30, 48, 49,

50, 51, 57, 134, 135, 137 Luật THADS

Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của Cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án Theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (Luật tổ chức VKSND);

Đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; có ý kiến bằng văn bản trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 62 Luật THADS; tham gia phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 63 Luật THADS

Kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 64 Luật THADS; kháng nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định Điều 160 Luật THADS và khoản 5 Điều 24, Điều 25 Luật tổ chức VKSND;

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu huỷ vật chứng, tài sản theo quy định tại Điều 125 Luật THADS; việc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 72 Luật THADS; việc thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 134 Luật THADS;

Trang 3

Kiểm sát việc thực hiện kiến nghị, kháng nghị: Định kỳ 6 tháng, 1 năm Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát việc Cơ quan thi hành án thực hiện kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát Trước khi tiến hành kiểm sát phải có văn bản thông báo nội dung, phương thức kiểm sát cho Cơ quan thi hành án

Yêu cầu khởi tố về hình sự: Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát xem xét yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố về hình sự Báo cáo phải gửi kèm các tài liệu liên quan đến dấu hiệu tội phạm để Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định

3 Hoạt động của kiển sát viên trong thi hành án dân sự.

3.1 Kiểm sát việc cấp, gửi bản án, quyết định của tòa án; việc giải thích bản án, quyết

định

Căn cứ điều 380 BLTTDS thì khi bản án, quyết định của tòa án thuộc trường hợp được thi hành theo quy định tại điều 375 của Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) thì tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành bản án hoặc quyết định đó có ghi “để thi hành” Tòa án phải giải thích cho người được thi hành, người phải thi hành bản án, quyết định về quyền yêu cầu, thời hạn yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật

về THADS

Căn cứ điều 27 Luật THADS thì Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định tại điều 2 của Luật THADS phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “để thi hành”

Thời hạn chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án quy định tại khoản 1, 2, 3 điều 28 luật THADS; khi chuyển giao bản án, quyết định phải gửi kèm biên bản kê biên, tạm giữ tang vật, tài sản các tài liệu khác liên quan (nếu có) quy định tại khoản 4 điều 28 luật THADS; điều 381 BLTTDS

Căn cứ khoản 2 điều 179 Luật THADS, điều 382 BLTTDS thì khi thi hành có điểm chưa rõ trong bản án, quyết định thì yêu cầu của cơ quan thi hành án, của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan tòa án

đó ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ; thời hạn giải thích là 15 ngày

kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, nội dung giải thích phải căn cứ vào biên bản phiên tòa và biên bản nghị án; thẩm quyền giải thích phải do thẩm phán ra quyết định hoặc thẩm phán chủ tọa phiên tòa nếu trường hợp họ không còn là thẩm phán nữa thì

do chánh án tòa án đó ra bản án, quyết định giải thích

3.2 Kiểm sát việc đưa bản án, quyết định dân sự của Tòa án ra thi hành

Khi kiểm sát bản án, quyết định dân sự, Viện kiểm sát cần kiểm sát các hoạt động sau của cơ quan Thi hành án nhằm đảm bảo đúng pháp luật

Việc ra quyết định thi hành án theo đúng quy định tại các điều 7, 30, 35, 36 Luật THADS; điều 377, 383 BLTTDS

Trang 4

Việc thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án đúng thẩm quyền quy định tại điều 35 Luật THADS

Việc thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án trong những trường hợp ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án đúng quy định về quyền yêu cầu tại điều 7, thời hạn ra quyết định khi có đơn yêu cầu tại khoản 2 điều 36 Luật THADS

Việc Thủ trưởng Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án phải tuân theo đúng quy định tại Điều 36 Luật THADS Căn cứ khoản 1 Điều 36 Luật THADS thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành phần bản

án, quyết định sau đây: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Căn cứ để ra quyết định thi hành án: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo đúng quy định tại Điều 2 Luật THADS, Điều 376 BLTTDS;

Nội dung quyết định thi hành án phải đúng nội dung bản án, quyết định của Toà án

3.3 Kiểm sát việc ủy thác thi hành án:

Kiểm sát việc ủy thác thi hành án: Căn cứ Điều 55 Luật THADS thì:

+ Thủ trưởng Cơ quan thi hành án có thẩm quyền uỷ thác cho Cơ quan thi hành

án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, nơi có tài sản hoặc nơi có trụ sở ra quyết định thi hành án

+ Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác thi hành án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành

án để thi hành phần nghĩa vụ của họ

+ Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó

+ Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc

có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

+ Việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của

Trang 5

Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc uỷ thác phải thực hiện ngay sau khi có căn cứ uỷ thác

Kiểm sát thẩm quyền uỷ thác thi hành án bảo đảm ủy thác thi hành án của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quân khu quy định tại Điều 56 Luật THADS

Kiểm sát về thủ tục ủy thác thi hành án bảo đảm theo đúng quy định tại Điều 57 Luật THADS Trước khi khi ủy thác, cơ quan thi hành án dân sự phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên tại địa bàn có liên quan đến khoản uỷ thác Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án và ra quyết định ủy thác cho nơi có điều kiện thi hành… Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác; quyết định uỷ thác phải được gửi cho Toà án đã chuyển giao bản án, quyết định, VKSND cùng cấp, VKSND nơi nhận uỷ thác, người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan

3.4. Kiểm sát việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án quyết định khôi phục thời hiệu thi hành

án:

Căn cứ Điều 38 Luật THADS thì Quyết định thời hiệu thi hành án phải gửi cho VKSND cùng cấp Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp với Cơ quan thi hành án cùng cấp để nắm các bản án, quyết định cần ra quyết định thi hành án, có biện pháp yêu cầu Cơ quan thi hành án thực hiện việc ra quyết định thi hành án, nếu phát hiện vi phạm của cơ quan này thì có thể trực tiếp yêu cầu hoặc ra văn bản kháng nghị đối với

vi phạm pháp luật trong việc ra quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan thi hành án huỷ bỏ quyết định đó

Căn cứ Điều 30 Luật THADS thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án có thẩm quyền quyết định thi hành án xem xét, ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án

Kiểm sát viên cần chú ý đến việc xác định các trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định 58/2009/NĐ-CP, theo đó sẽ xác định được việc có vi phạm hay không của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án khi xác định thời hịêu thi hành án Trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng mà đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn đó là:

+ Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa;

+ Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức, phải điều trị nội trú hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành

Trang 6

án dân sự hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa xác định được tổ chức,

cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật

+ Đối với trường hợp xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc do đương sự chết

mà chưa xác định được người thừa kế hay do trở ngại khách quan khác xảy ra tại địa phương nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú Đối với trường hợp do phải chữa bệnh nội trú nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận hoặc giấy nhập viện, xuất viện của tổ chức y tế cấp huyện trở lên Đối với trường hợp do yêu cầu công tác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử đi công tác của cơ quan, đơn vị đó Đối với những trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan khác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác để chứng minh Xác nhận của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn

+ Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan,

sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì thời gian có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng đó không được tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án Đối với trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án

Căn cứ Điều 383 BLTTDS thì thời hiệu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; trường hợp bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay thì thời hiệu cũng được tính từ ngày bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn; đối với bản án, quyết định của Tòa án thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn

Thời hiệu thi hành án chỉ áp dụng đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu; người phải thi hành án có quyền chứng minh thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết 3.5. Kiểm sát việc xác minh điều kiện thi hành án

VKSND phải kiểm sát việc thực hiện trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của Cơ quan thi hành án thông qua kiểm sát việc tổ chức, phân công trách nhiệm cho Chấp hành viên tổ chức, thực hiện bản án, quyết định của Cơ quan thi hành án; việc phân loại án có điều kiện, không có điều kiện, qua việc thường xuyên, định kỳ xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên được phân công thụ lý hồ sơ; việc xác định về điều kiện thi hành án (có điều kiện, chưa có điều kiện) theo đúng quy định tại

Trang 7

Điều 44 Luật THADS Người được thi hành án có quyền chứng minh việc người phải thi hành án có tài sản để thi hành án

Người phải thi hành án chỉ được coi là chưa có điều kiện thi hành nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp sau:

+ Không có thu nhập hoặc thu nhập thấp chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho nguời phải thi hành án và gia đình; không có tài sản tại thời điểm xác minh hoặc tuy

có tài sản nhưng tài sản có giá trị nhỏ không đủ hoặc chỉ đủ để chi phí về thi hành án, tài sản mà theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc tài sản không bán được, tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án;

+ Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài

do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra;

Căn cứ khoản 2 Điều 44 Luật THADS thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay Việc xác minh phải được lập thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh

Việc xác minh tài sản dự định kê biên của Chấp hành viên phải đảm bảo đúng các quy định tại thông tư 07/TT-BTP ngày 9/10/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thông báo việc kê biên tài sản thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản kê biên tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng ký Quốc gia về giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp

3.6. Kiểm sát việc cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi hành án dân sự Kiểm sát viên căn cứ quy định tại Điều 48 Luật THADS để kiểm sát về thẩm quyền, căn cứ, thủ tục, thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án dân sự:

Thẩm quyền ra quyết định hoãn thi hành án phải là Thủ trưởng Cơ quan thi hành án;

Căn cứ ra quyết định hoãn thi hành án phải bảo đảm đúng một trong các quy định sau:

+ Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định;

+ Người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án Việc đồng ý hoãn phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của các bên

Trang 8

Trong thời gian hoãn thi hành án do có sự đồng ý của người được thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án;

+ Người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc

có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên;

+ Tài sản kê biên có tranh chấp đã được Tòa án thụ lý để giải quyết;

+ Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản

2 và khoản 3 Điều 179 của Luật THADS

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết

+ Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì

cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án

+ Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được

+ Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án

Thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án: là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn

cứ hoãn thi hành án Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật THADS thì phải

ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án

3.7 Kiểm sát việc cơ quan thi hành án tạm đình chỉ thi hành án dân sự.

Khi người phải thi hành án đang chấp hành bản án họ có thể được tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó trong một thời hạn nhất định KIểm sát viên phải căn

Trang 9

cứ quy định tại Điều 49 Luật THADS để kiểm sát về thẩm quyền, căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án

Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là: Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; Thủ trưởng Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án

Căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trong những trường hợp sau đây:

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành

án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây: Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị; Quyết định của Toà án

về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án phải gửi cho các bên đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và người ra kháng nghị

3.8. Kiểm sát việc cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự

Kiểm sát viên kiểm sát việc đình chỉ thi hành án nhằm bảo đảm việc đình chỉ thi hành án đúng thẩm quyền, đúng căn cứ và thời hạn quy định tại Điều 50 Luật THADS, cụ thể:

Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc thi hành án là Thủ trưởng Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án;

Căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án bao gồm:

+ Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho

ngư-ời thừa kế;

Trang 10

+ Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;

+ Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

+ Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ;

+ Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;

+ Có quyết định miễn hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án;

+ Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;

+ Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên

Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án

3.9. Kiểm sát việc cơ quan thi hành án trả lại đơn yêu cầu

Kiểm sát viên kiểm sát việc trả lại đơn yêu cầu thi hành án nhằm bảo đảm việc trả lại đơn yêu cầu phải đúng thẩm quyền, đúng căn cứ, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người được thi hành án, khắc phục tình trạng trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành án của người phải thi hành án Khi kiểm sát việc trả lại đơn yêu cầu, Kiểm sát viên yêu cầu chủ thể bị kiểm sát làm rõ các nội dung có liên quan trực tiếp đến quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án:

Thẩm quyền ra quyết định ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;

Căn cứ trả lại đơn thi thi hành án bao gồm:

+ Người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án;

+ Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình;

+ Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án;

+ Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được mà đương sự không có thoả thuận khác

Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều

Ngày đăng: 11/06/2014, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w