1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động của viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

127 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 20,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức v

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của: TS Nguyễn Văn Tiến, các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn là trung thực, chính xác, chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào và có trích dẫn nguồn đầy đủ

Tác giả

Đỗ Văn Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 5

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 7

7 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 9

1.1 Khái niệm, ý nghĩa về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 9

1.1.1 Khái niệm về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 9

1.1.2 Ý nghĩa về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 13

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự từ năm 1945 đến nay 16

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 16

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 18

1.2.3 Gia đoạn từ năm 1989 đến năm 1992 20

1.2.4 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2009 21

1.2.5 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay 22

Kết luận chương 1 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 26

2.1 Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án dân sự 26

2.1.1 Kiểm sát thủ tục ban hành quyết định thi hành án dân sự 27

Trang 5

2.1.2 Kiểm sát thẩm quyền và thời hạn ra quyết định thi hành án 33

2.1.3 Kiểm sát việc áp dụng thời hiệu thi hành án 35

2.1.4 Kiểm sát việc áp dụng căn cứ ra quyết định thi hành án 36

2.1.5 Kiểm sát nội dung quyết định thi hành án 39

2.2 Kiểm sát việc thực hiện thủ tục thi hành án dân sự 40

2.2.1 Kiểm sát việc thông báo về thi hành án 40

2.2.2 Kiểm sát việc xác minh điều kiện thi hành án 41

2.2.3 Kiểm sát việc ủy thác thi hành án 43

2.2.4 Kiểm sát việc hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án 44

2.2.5 Kiểm sát việc kết thúc thi hành án 45

2.2.6 Kiểm sát việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước 45

2.3 Kiểm sát việc cưỡng chế thi hành án dân sự 46

2.4 Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự 50

Kết luận chương 2 54

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THI HÀNH HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 55

3.1 Thực tiễn thi hành hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 55

3.1.1 Kết quả công tác thi hành án dân sự từ năm 2010 đến năm 2015 55

3.1.2 Kết quả kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự từ năm 2011 đến năm 2015 56

3.1.3 Nguyên nhân của những khó khăn về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 62

3.2 Những bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 63

Kết luận chương 3 75

KẾT LUẬN 76

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nếu như quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án là đi tìm sự thật khách quan trong vụ án để ra một phán quyết đúng đắn và “thấu tình đạt lý” thì việc thi hành bản án, quyết định chính là quá trình thực thi công lý; một khi phán quyết của Tòa án chỉ dừng lại trên văn bản, giấy tờ mà không được thực hiện trên thực tế thì phán quyết không có ý nghĩa Do đó, việc đưa bản án, quyết định dân sự ra để thi hành có ý nghĩa rất quan trọng, vừa bảo đảm hiệu lực của công tác xét xử, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và củng cố lòng tin của nhân dân đối với bộ máy công quyền

Để bản án, quyết định được thi hành trên thực tế, không chỉ dựa vào công tác giáo dục, thuyết phục để đương sự tự nguyện thi hành mà cần thiết phải có một chế tài đủ mạnh để có thể răn đe, cưỡng chế, buộc người phải thi hành án dù không muốn cũng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định Do tính chất nhạy cảm của việc thi hành bản án, quyết định dân sự, hoạt động thi hành án trên thực tế rất nặng nề, khó khăn, phức tạp

Từ những năm đầu sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ mày Nhà nước nên

đã từng bước ổn định và ngày càng hoàn thiện về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự, xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật

về thi hành án dân sự nhằm tạo điều kiện cho việc thi hành các bản án, quyết định dân sự, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của bộ máy Nhà nước

Để hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện đúng thẩm quyền, trình

tự, thủ tục do pháp luật quy định, cần thiết phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ phía cơ quan Viện kiểm sát nhân dân Về mặt lý luận và thực tiễn,

Trang 7

những thiếu sót, vi phạm trong các quyết định, hành vi về thi hành án dân sự của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự nếu được phát hiện kịp thời thông qua công tác kiểm sát thì mới được chấn chỉnh, khắc phục vi phạm, đưa hoạt động thi hành án dân sự vào khuôn khổ pháp luật Kiểm sát thi hành án dân sự là một trong những công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động

tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án dân

sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan để đảm bảo cho bản án, quyết định được thi hành trên thực tế

Trong những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng để thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án dân sự, kiểm sát chặt chẽ các quyết định, các hành vi của Chấp hành viên và các chủ thể trong hoạt động thi hành án dân sự, kiểm sát việc chuyển giao bản án, quyết định (có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định pháp luật) giữa Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự, đảm bảo việc chuyển giao kịp thời, đúng hạn luật định; việc nhận và trả đơn yêu cầu thi hành án có căn cứ, đúng pháp luật; viêc ra các quyết định về thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định giúp

cơ quan thi hành án dân sự kịp thời khắc phục, sữa chữa vi phạm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ, đặc biệt là chỉ tiêu thi hành án xong về việc và về tiền theo Nghị quyết của Quốc hội đã giao

Tuy nhiên, công tác kiểm sát thi hành án dân sự hiện vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả công tác chưa cao; mặc dù cơ quan thi hành án dân sự còn nhiều thiếu sót, vi phạm trong công tác thi hành án như hoạt động xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp kê biên, cưỡng chế thi hành án chưa đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, nhiều Chấp hành viên có biểu hiện lệch lạc, thậm chí tiêu cực trong công tác nhưng Kiểm sát viên không kịp thời phát hiện để chấn chỉnh, yêu cầu khắc phục; một số Kiểm sát viên làm công tác

Trang 8

kiểm sát thi hành án dân sự chưa làm hết trách nhiệm, còn có biểu hiện nể nang trong quan hệ phối hợp hoặc do năng lực công tác yếu nên không phát hiện được vi phạm trong công tác

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự những năm qua

đã được Nhà nước quan tâm, chú trọng, nhiều văn bản pháp luật được ban hành và ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thực hiện Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ những bất cập, chồng chéo dẫn tới những khó khăn, vướng mắc cho công tác thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự

Để giải quyết những vấn đề trên, cần có sự nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận cũng như thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, làm rõ nguyên nhân, điều kiện dẫn tới thực trạng, đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật về thi hành án nói chung và những quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, đồng thời kiến nghị, đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự Đây chính là lý do khách quan, cấp thiết để tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự” làm đề tài luận văn Thạc sỹ cao học Luật, chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài đã có một số bài viết của các nhà nghiên cứu:

- Hoàng Thế Anh (2015), “Giám sát thi hành án dân sự”, luận án Tiến

sĩ, Trường đại học quốc gia Hà Nội trong luận văn này tác giả đã cơ bản làm

rõ được cơ sở lý luận về công tác thi hành án dân sự và giám sát thi hành án dân sự, đồng thời phân tích, làm rõ nhiệm vụ giám sát của các chủ thể liên quan như: nhân dân, Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng với thực trạng giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay Mặc dù đề tài rất rộng, liên quan đến nhiều đối tượng nghiên cứu nhưng luận án là tài liệu rất tốt cho tác giả nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn;

Trang 9

- Bùi Đức Long (2008), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm sát thi hành án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, (01), tr 21 - 26 Tác giả đã nên lên một số vấn đề lý luận về thi hành án và kiểm sát thi hành án, kết quả thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án dân sự và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát thi hành

án dân sự như: hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành

án dân sự, đổi mới tổ chức và hoạt động trong công tác kiểm sát thi hành án nói chung kiểm sát thi hành án dân sự nói riêng và tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện cho công tác kiểm sát thi hành án dân sự

- Vũ Hùng (2008), “Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động kiểm sát thi hành án trong ngành Kiểm sát nhân dân”, Tạp chí Kiểm sát, (10),

tr 26 - 29 Tác giả đã nêu lên những nội dung trọng tâm về công tác quản lý, chỉ đạo điều hành hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự và thi hành án hình

sự, vai trò tham mưu của Vụ kiểm sát thi hành án, Phòng kiểm sát thi hành án

và đưa ra một số đề xuất như: sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật

về thi hành án, đảm bảo tính đồng bộ của pháp luật, tạo thuận lợi cho các ngành hữu quan thực hiện chức năng nhiệm vụ; lãnh đạo Vi ện kiểm sát các cấp cần chú trọng kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng thêm số lượng cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án và kiện toàn lại hệ thống sổ sách, biểu mẫu nghiệp vụ, thống kê, báo cáo cho phù hợp với thực tiễn

- Trần Thị Nguyệt (2008), “Một số vấn đề về công tác quản lý, chỉ đạo

và tổ chức hoạt động kiểm sát thi hành bản án, quyết định dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, (10), tr.31-33 Tác giả đã nêu lên thực trạng hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự của Viện kiểm sát các cấp; việc phát hiện vi phạm và thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát các cấp và những vướng mắc, bất cập và những vấn đề cần chú ý trong công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

- Nguyễn Hồng Sinh (2011), “Những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát việc bán đấu giá tài sản thi hành án”, Tạp chí Kiểm sát, (23), tr 17-19 Tác giả đã nêu lên một số khó khăn trong công tác kiểm sát việc bán

Trang 10

đấu giá tài sản thi hành án như: chưa có quy định cơ quan thi hành án dân sự phải có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết việc ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản thi hành án với Trung tâm bán đấu giá tài sản, chưa có căn cứ pháp lý cụ thể để tiến hành kiểm sát hồ sơ và quá trình tổ chức bán đấu giá tài sản Từ đó, tác giả đã đề nghị Quốc hội và ngành kiểm sát nhân dân cần sớm sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

và ban hành quy chế về công tác kiểm sát thi hành án dân sự

- Nguyễn Mạnh Hùng (2013), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc thi hành án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, (01), tr 24 - 27 Tác giả

đã nêu lên một số kết quả đã đạt được, những hạn chế trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự Qua đó tác giả đã đưa ra một số việc cần tập trung trong thời gian tới như: tiếp tục quán triệt những nội dung của Luật thi hành án dân

sự và các văn bản hướng dẫn cho cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác, nhận thức đúng về vị trí tầm quan trọng của công tác kiểm sát thi hành án dân sự, đề nghị xây dựng thông

tư liên tịch hướng dẫn luật thi hành án dân sự, đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 về thủ tục thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 14/2010/TTTL-BTP-VKSTC-TATC ngày 26/7/2010 về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự

Nhiệm vụ của tác giả tiếp tục làm sáng tỏ những quy định của luật thi hành án dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự Đồng thời, nêu lên những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác kiểm sát để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm:

- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và những quy định của pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự;

Trang 11

- Làm rõ thực trạng áp dụng quy định của của pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng và những khó khăn, vướng mắc trong công tác

Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài:

- Nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự;

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng quy định của của pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, nêu lên những kết quả đạt được, những thiếu sót, hạn chế và những khó khăn, vướng mắc trong công tác;

- Kiến nghị, đề xuất để xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật

về thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến thi hành án dân sự; cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự,

cụ thể là quy định về vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân và thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thi hành án dân sự, tìm hiểu các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến tồn tại, thiếu sót trong công tác làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động của viện kiểm sát

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích để phân tích, làm rõ khái niệm thi hành án dân

sự và kiểm sát thi hành án dân sự, trong chương 1

Trang 12

- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về các quy định của pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự từ trước đến nay, trong chương 1

- Phương pháp phân tích để phân tích, tổng hợp viết về các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành, qua đó làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát thi hành án dân sự, trong chương 2

- Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê và tổng hợp để phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên những bất cập, tồn tại hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, để từ đó tác giả tổng hợp, khái quát kết quả nghiên cứu làm cơ sở đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành

án dân sự, trong chương 3

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề cơ bản

về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập về kiểm sát thi hành án dân sự

Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong thao tác nghiệp vụ của cán bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự nghiên cứu áp dụng trong thực tiễn

Từ những khó khăn, vướng mắc chỉ ra tác giả đưa ra đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm sát thi hành án dân sự

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm có 03 chương sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

Trang 13

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

Chương 3: Thực tiễn thi hành hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, ý nghĩa về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

- Khái niệm thi hành án dân sự:

Quá trình giải quyết vụ việc dân sự kết thúc bằng một bản án, quyết định không có nghĩa chân lý đã được thực thi, quyền lợi hợp pháp của đương

sự đã được bảo đảm Thực tế đã chứng minh, chỉ khi bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế thì mới khôi phục được các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm phạm Để bản án, quyết định được thi hành trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng có thể trông chờ vào sự tự nguyện của các đương sự mà phải sử dụng sức mạnh của Nhà nước trong việc đôn đốc, cưỡng chế thông qua các cơ quan, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ thi hành án Thi hành án là “hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án”1 Nói cách khác, thi hành án dân sự là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử, nhằm thực hiện mục tiêu chung của quá trình tố tụng là đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế

Thi hành án nói chung bao gồm hoạt động thi hành án dân sự và thi hành án hình sự Trong đó, thi hành án dân sự là “hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án”2

1 Bộ tư pháp (1999), Từ điển Luật học, tr.705

2 Bộ tư pháp (1999), Từ điển Luật học, tr.706

Trang 15

Hoạt động thi hành án dân sự do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để thi hành các phán quyết trong các bản án, quyết định Thi hành án dân sự là hoạt động quan trọng và cần thiết nhằm bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân

Giống như những nước có mô hình thi hành án dân sự công như Nga, Hoa Kỳ, Thái Lan, Philippines, Thụy Điển, Đức, Trung Quốc3 công tác thi hành án dân sự tại Việt Nam do hệ thống cơ quan thi hành án dân sự đảm nhiệm với vai trò trung tâm là Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự Ngoài ra, hiện nay theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại đã quy định cho thừa phát lại được tổ chức thi hành án dân sự trên phạm vi cả nước

Hiểu theo nghĩa rộng, thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực được đưa ra thi hành Hiểu theo nghĩa theo nghĩa hẹp, thi hành án dân sự là hoạt động do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm thi hành các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật do Tòa án ban hành

Như vậy, tham gia vào thi hành án dân sự có nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc từng trường hợp cụ thể, nhưng cơ bản như sau: người được thi hành

án, người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cơ quan thi hành án dân sự, người được Nhà nước giao cho thẩm quyền thi hành án dân

sự, cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự, người

có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án hoặc người có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án Mỗi một chủ thể nêu trên đều có những quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ cụ thể trong thi hành án dân sự theo pháp luật quy định, trong đó cơ quan thi hành án dân sự đóng vai

3 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=114 (truy cập ngày 17/3/2016)

Trang 16

trò trung tâm, được sử dụng quyền lực nhà nước tác động tới người được thi hành án, người phải thi hành án và cơ quan, tổ chức, cá nhân nhân có liên quan để tổ chức thi hành án

Hiện nay ở Việt Nam đang có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu tranh cãi về bản chất pháp lý của thi hành án dân sự Có ý kiến cho rằng, thi hành án là một giai đoạn mang tính hành chính bởi đây là hoạt động chấp hành và điều hành; có ý kiến lại cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố tụng; một số ý kiến lại cho rằng thi hành án là một thủ tục tố tụng đặc biệt, vừa mang tính tố tụng, lại vừa mang tính hành chính, cho nên bản chất của hoạt động thi hành án là hành chính – tư pháp Tác giả đồng tình với ý kiến cho rằng bản chất của hoạt động thi hành án là hành chính – tư pháp, bởi lẽ “xét

xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự"4 Do đó, thi hành án là giai đoạn tố tụng tiếp theo sau giai đoạn xét

xử Thi hành án là hoạt động của cơ quan thi hành án nhằm thực hiện các bản

án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật Mặt khác, thi hành án cũng mang tính chất hành chính, thể hiện ở chỗ nó là dạng hoạt động chấp hành và điều hành Hoạt động thi hành án chỉ được tiến hành trên cơ sở các bản án, quyết định; nhằm thực hiện những nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định và được thực hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật Toàn

bộ quá trình thi hành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau được bắt đầu bằng quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và thực hiện theo đúng nội dung của quyết định thi hành án

Vậy, thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự

có thẩm quyền trong việc thực hiện các thủ tục do pháp luật quy định để thi hành những phán quyết của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền khác nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức

và công dân

4 Nguyễn Công Bình (1998), "Mấy vấn đề về thi hành án dân sự trong việc soạn thảo Bộ luật tố tụng dân sự” Tạp chí Luật học, (05), tr 43-44.

Trang 17

- Khái niệm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

Để đảm bảo cho hoạt động thi hành án dân sự tuân thủ đúng các nguyên tắc, trình tự, thủ tục pháp luật quy định, bản án, quyết định được thi hành kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật, Nhà nước quy định cơ chế kiểm tra, giám sát các hoạt động thi hành án dân sự từ bên ngoài Mặc dù luật thi hành án dân sự quy định cơ quan thi hành án dân sự cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, chỉ đạo việc thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới nhằm kiểm tra giám sát mang tính nội bộ nhưng việc kiểm tra, giám sát từ bên ngoài là rất cần thiết Nhà nước Việt Nam giao chức năng kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động thi hành án cho cơ quan Viện kiểm sát nhân dân

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự và các chủ thể khác nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”5 Nhiệm vụ này được quy định cụ thể tại Điều 28 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong thi hành án dân sự nhằm đảm bảo cho toàn bộ hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự được tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định, đảm bảo cho bản án, quyết được thi hành đầy đủ, kịp thời, đúng pháp luật

Như vậy, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân

sự là tổng hợp những hành vi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của hiến pháp và pháp luật, nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành

5 Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014

Trang 18

viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình tổ chức, thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án và của các cơ quan có thẩm quyền 1.1.2 Ý nghĩa về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành

án dân sự

Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân

sự có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

Thứ nhất, bảo đảm bản án, quyết định được đưa ra thi hành kịp thời, đầy đủ và đúng pháp luật; bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án và của nhà nước

Một trong những nguyên tắc của thi hành án dân sự là cơ quan thi hành

án dân sự và Chấp hành viên phải tổ chức thi hành kịp thời, đúng với nội dung bản án, quyết định của Tòa án Nếu một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật không được thi hành kịp thời thì các quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan không được thực hiện trên thực tế; các quan hệ xã hội bị vi phạm không được khôi phục lại tình trạng ban đầu Do đó, thông qua việc thực hiện chức năng kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân kịp thời tác động để cơ quan thi hành án dân sự kịp thời đưa những bản án, quyết định ra thi hành

Bên cạnh đó, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự sẽ trực tiếp bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án và của Nhà nước Do hoạt động thi hành án dân sự luôn đụng chạm trực tiếp đến tài sản hoặc quyền tài sản của người phải thi hành án nên trong quá trình tổ chức thi hành án Chấp hành viên phải lấy quyền lợi của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và quyền lợi của Nhà nước làm trọng, không được vì mục đích riêng mà có những tác động không đúng pháp luật làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, của Chấp hành viên cũng đạt được những mục đích như mong muốn, mà vẫn có những vi phạm pháp luật xảy ra

Để khắc phục được điều này, kiểm sát thi hành án dân sự có vai trò rất quan trọng, nó trở thành phương tiện đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thi hành

Trang 19

án dân sự, chấp hành viên được thi hành đúng pháp luật Từ đó mà các quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Nhà nước được bảo vệ

Thứ hai, phát hiện sai sót của Tòa án trong các bản án, quyết định để

có phương thức sửa chữa, khắc phục theo quy định của pháp luật

Xuất phát từ mục đích hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự là đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh và thống nhất, do đó hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân

sự không chỉ phát hiện những vi phạm trong các quyết định, hành vi của các chủ thể trong hoạt động thi hành án dân sự mà còn phải phát hiện những sai sót, vi phạm trong các bản án, quyết định của Tòa án Đặc biệt là các bản án, quyết định khó hoặc không thi hành được nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án được nghiêm chỉnh chấp hành Thông qua việc kiểm sát các quyết định về thi hành án dân sự và các hoạt động của

cơ quan thi hành án dân sự (xác minh tài sản, kê biên, định giá, bán đấu giá), Viện kiểm sát nhân dân phát hiện được các vi phạm trong các bản án, quyết định được ra thi hành trên thực tế, như một số bản án tuyên không rõ, tuyên sai số thửa hoặc không tuyên vị trí tứ cận thửa đất, tuyên sai số khung, biển kiểm soát xe dẫn đến khó thi hành; thậm chí có bản án, quyết định tuyên không phù hợp thực tế khách quan của vụ án Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân góp phần đảm bảo cho vụ, việc dân sự được giải quyết đúng pháp luật, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tôn trọng và bảo vệ

Mặt khác, trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có thể kiểm tra lại quá trình xét xử trước đó để rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát xét xử

Thứ ba, góp phần bảo vệ quyền công dân trong hoạt động thi hành án dân sự

Trang 20

Để tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Chấp hành viên phải thực hiện các hoạt động ấn định thời hạn tự nguyên thi hành án, xác minh điều kiện thi hành, áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành

án Những hoạt động này trực tiếp tác động đến quyền công dân cũng như tài sản và các quyền về tài sản của họ Nếu không được kiểm tra, giám sát chặt chẽ sẽ không tránh khỏi sự xâm phạm đến quyền công dân và các quyền lợi hợp pháp của đương sự Thực tế công tác kiểm sát cho thấy đã có nhiều trường hợp Chấp hành viên có hành vi xâm phạm đến quyền của đương sự trong việc tổ chức thi hành án (như thực hiện việc cưỡng chế trong thời gian pháp luật không cho phép như ngày lễ, Tết, kê biên tài sản pháp luật quy định không được kê biên; kê biên tài sản không thuộc sở hữu của người phải thi hành án)

Như vậy, thông qua việc phát hiện và làm rõ các vi phạm pháp luật của các chủ thể trong hoạt động thi hành án, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự không chỉ đảm bảo cho việc thi hành đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ đã xác định trong các bản án, quyết định trên thực tế mà còn bảo vệ được quyền công dân trong thi hành án dân sự, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án, góp phần ổn định trật tự xã hội

Thứ tư, phát hiện những bất cập của pháp luật thi hành án dân sự và đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật

Hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến nhiều văn bản pháp luật của nhiều ngành và nhiều lĩnh vực Trong điều kiện hệ thống văn bản pháp luật của nước ta chưa có tính ổn định cao, thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung thì một số văn bản pháp luật có sự bất cập là khó tránh khỏi Trong quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động thi hành án dân sự, Viện kiểm sát phát hiện những bất cập, hạn chế trong các văn bản pháp luật thi hành án, trên cơ sở đó

có văn bản đến các cơ quan có thẩm quyền để có hướng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn

Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân còn phối hợp với các cơ quan hữu quan tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự nhằm

Trang 21

nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho công dân, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến công tác thi hành án dân sự Thông qua công tác kiểm sát của Viện kiểm sát kịp thời xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật và củng cố sức mạnh của Nhà nước 1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự từ năm 1945 đến nay

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều Sắc lệnh liên quan đến việc hình thành và phát triển của Công tố viện (tiền thân của viện kiểm sát nhân dân) Tại Sắc lệnh số 33A ngày 14/9/1945 (Sắc lệnh đầu tiên hình thành Công tố viện) quy định mỗi khi bắt người phải thông báo ngay cho Biện lý (Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố); tiếp đó, Sắc lệnh số 07/SL ngày 13/01/1946 quy định rõ hơn về trách nhiệm của Biện lý, Chưởng lý dưới sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng Bộ

Tư pháp

Tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành và Hiến pháp năm 1946, hệ thống cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm: “Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các toà

án đệ nhị cấp và sơ cấp”6 Trong thời gian này, Công tố viện nằm trong hệ thống Tòa án Ở Tòa án sơ cấp không có tổ chức công tố riêng; ở Tòa án đệ nhị cấp có một Biện lý và các Phó Biện lý; ở Tòa thượng thẩm có Chưởng lý, các Phó Chưởng lý và các Tham lý Tất cả mọi hoạt động của Công tố viện chịu sự điều khiển và kiểm soát của Chưởng lý trong quản hạt Ở Tòa đệ nhị cấp, Biện lý chỉ đạo mọi hoạt động công tố, chỉ đạo, giám sát hoạt động tư pháp cảnh sát (các Điều 15, 49, 51, 52 Sắc lệnh 13/SL; các Điều 21, 22 Sắc lệnh 51/SL)

6 Điều 63 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 9/11/1946

Trang 22

Theo các Điều 26, 40 của Sắc lệnh số 51/SL, Điều 1 Sắc lệnh số 130/SL, Chưởng lý và Biện lý thuộc Công tố viện có thẩm quyền giám sát việc thi hành án Tại đoạn 4 của Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ

Tư pháp về việc thi hành các án hình và hộ (dân sự) quy định: “Mỗi khi có trở lực trong việc chấp hành, ông Biện lý có bổn phận can thiệp để tỏ rõ nhiệm

vụ làm cho pháp luật được tuân thủ và tôn trọng”

Như vậy, trong những năm đầu cam go dựng nước và giữ nước của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, cơ quan thực hành quyền công tố chưa được thành lập độc lập mà chỉ là một bộ phận (Công tố viện) trực thuộc

cơ quan Tòa án Theo quy định của pháp luật trong giai đoạn này, Tòa án phải thực hiện hai chức năng là xét xử và thi hành án Công tố viện cũng có thẩm quyền trong việc giám sát hoạt động thi hành án giống với hoạt động kiểm sát thi hành án của Viện kiểm sát nhân dân hiện nay nhưng chưa được quy định rõ ràng và đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ cũng như trình tự, thủ tục thực hiện Ngày 29/4/1958 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định lập Tòa án tối cao và hệ thống Tòa án, thành lập Viện công tố Trung ương và hệ thống Công tố, cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ tư pháp Viện công tố Trung ương có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 01/7/1959 Chính phủ ban hành Nghị định số 256/TTg quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố; ngày 2/7/1959 Chính phủ ban hành Nghị định 321/TTg quy định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ quyền hạn của Viện công tố từ Trung ương đến địa phương, theo đó Viện công tố có nhiệm vụ “Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự, dân sự, và giam giữ cải tạo ” So với các quy định trước đây, thẩm quyền của Viện công tố đã được mở rộng thêm một bước là giám sát hoạt động xét xử của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự Đây là một thay đổi quan trọng đối với hoạt động của Viện công tố, làm tiền đề cho sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân

Trang 23

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tổ chức bộ máy Nhà nước cần phải có sự thay đổi cơ bản cho phù hợp với sự phát triển của xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội thông qua,

sự ra đời của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 Kể từ đây, Viện kiểm sát nhân dân chính thức được thành lập với tư cách là một hệ thống độc lập, tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính ở địa phương, chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân”7 Tuy rằng, công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn này vẫn do Tòa án thực hiện theo quy định tại Điều 24 Luật tổ chức Tòa

án nhân dân năm 1960 quy định: “Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự” nhưng theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, công tác kiểm sát thi hành án nói chung và kiểm sát thi hành án dân sự đã bước sang một trang mới, được luật quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân các cấp có chức năng, nhiệm vụ “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét

xử của các Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án”8 Để thực hiện nhiệm vụ này, Viện kiểm sát nhân dân có quyền “Kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của Toà án nhân dân”9

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1980, khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò, đặc biệt nhấn mạnh vai trò thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát

7

Điều 105 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 31/12/1959

8 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hoà khoá thứ

II, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 15 tháng 7 năm 1960

9 Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960

Trang 24

nhân dân Tại Điều 138 Hiến pháp quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình”

Để cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự nói riêng, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 4 tháng 7 năm 1981 Tại các Điều 3, 15, 16, 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự được quy định như sau: “Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo đảm các bản án và quyết định đó được chấp hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời” 10

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự được quy định chủ yếu trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981, là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án, quyết định của Tòa

án Quy định này mặc dù chưa thật sự rõ ràng và cụ thể trong các văn bản pháp luật ở thời gian này nhưng vẫn là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thi hành án dân sự

10 Điều 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 4 tháng 7 năm 1981

Trang 25

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1992

Năm 1989 Pháp lệnh thi hành án dân sự được thông qua, có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/1990 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật

về thi hành án dân sự Lần đầu tiên công tác thi hành án dân sự đã được điều chỉnh bởi một văn bản pháp lý có hiệu lực cao, đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Pháp lệnh thi hành án dân sự đã pháp điển hóa những quy định về thi hành án dân sự, như những bản án, quyết định được đưa ra thi hành, biện pháp thi hành án, thẩm quyền ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án, thủ tục và những vấn đề liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự

Mặc dù bố cục và nội dung còn đơn giản, chưa quy định đầy đủ và chặt chẽ về hoạt động thi hành án dân sự nhưng Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

1989 vẫn dành riêng một điều luật (Điều 8) để quy định về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, theo đó: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, Toà án, cơ quan Nhà nước khác, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhằm bảo đảm các bản án, quyết định của Toà án được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời theo quy định tại các Điều 15, 16 và 17 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân” Như vậy, quy định về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự của Pháp lệnh thi hành

án dân sự năm 1989 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 là thống nhất, tạo cơ sở thuận lợi cho Viện kiểm sát trong việc kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự

Từ năm 1986, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng Quốc hội sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước Trên cơ sở của Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ nhất, thông qua ngày 7 tháng 10 năm 1992 nhưng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong

Trang 26

thi hành án dân sự vẫn không thay đổi, Viện kiểm sát nhân dân vẫn thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân

1.2.4 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2008

Sau 3 năm thực hiện, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp để đáp ứng yêu cầu công tác thi hành án dân sự trong điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước

có nhiều thay đổi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 ra đời đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển của cơ quan thi hành án Từ đây, công tác thi hành án dân sự đã tách khỏi Tòa án và được một cơ quan chuyên trách đảm nhiệm Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự được Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 quy định cụ thể “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành

án, chấp hành viên, cơ quan Nhà nước khác, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhằm bảo đảm việc thi hành án đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời theo quy định tại các Điều 19, 20 và 21 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân” 11

Sau Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, hệ thống cơ quan thi hành

án dân sự đã được hình thành, củng cố và phát triển, đưa công tác thi hành án

đi dần vào nề nếp, hiệu quả thi hành án ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, trong thời kỳ nền kinh tế của đất nước chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

2004 đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua, điều chỉnh một cách cơ bản cả về nội dung và bố cục của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án cũng được pháp lệnh quy định cụ thể hơn: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của đương sự, Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và cơ quan nhà nước khác, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

11 Điều 9 Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21/4/1993

Trang 27

kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật”12

Như vậy, cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, pháp luật về thi hành án dân sự ngày càng hoàn thiện Việc hoàn thiện pháp lệnh thi hành án dân sự đã tạo điều kiện cho công tác thi hành án dân sự đạt được hiệu quả tốt hơn, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội Quy định của pháp luật thi hành án dân sự ngày càng rõ ràng, đầy đủ cũng tạo điều kiện cho công tác kiểm sát thi hành án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân đạt được những kết quả cao hơn, kịp thời phát hiện được những sai phạm của cơ quan thi hành án để yêu cầu khắc phục, sữa chữa

1.2.5 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Năm 2008, Luật thi hành án dân sự ra đời đã quy định đầy đủ, rõ ràng,

cụ thể hơn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành án và các vấn đề liên quan đến việc thi hành án, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho công tác thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự Việc ban hành Luật thi hành

án dân sự về cơ bản đã khắc phục được tình trạng tồn động án kéo dài, nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án, bảo vệ kỷ cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật

Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án ở giai đoạn này được thực hiện theo quy định tại các Điều 23, 24, 25 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và quy định tại Điều 12 Luật thi hành án dân sự năm 2008: “Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án dân

sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành

án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật”13

12 Điều 10 Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 14/01/2004

13 Khoản 2 Điều 12 Luật thi hành án dân sự năm 2008

Trang 28

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật, ngày 10/12/2010 Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết định số 01/QĐ-VKSTC-V9 về việc phân công nhiệm vụ kiểm sát thi hành án, việc thực hiện chức năng nhiệm vụ kiểm sát thi hành án hình sự và kiểm sát thi hành án dân sự trong ngành kiểm sát nhân dân Theo quyết định trên, Vụ kiểm sát thi hành án dân sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phòng kiểm sát thi hành án dân sự cấp tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát thi hành án dân sự; bộ phận kiểm sát thi hành án Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án dân sự và thi hành án hình sự ở địa phương Đến ngày 19/6/2013 Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết định số 255/2013/QĐ-VKSTC-V10 về việc ban hành quy chế công tác kiểm sát thi hành án dân sự Đây là văn bản quy định chi tiết và cụ thể về vị trí, đối tượng, phạm vi, nhiệm

vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự, đồng thời hướng dẫn cụ thể các nội dung của công tác kiểm sát thi hành án dân sự để Viện kiểm sát nhân dân các địa phương thực hiện

Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013 với những nội dung mới, quan trọng về chế định Viện kiểm sát nhân dân; bổ sung, làm rõ hơn những nguyên tắc mới, tiến bộ của tố tụng tư pháp liên quan trực tiếp đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Những nội dung này cần phải được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Mặt khác, qua hơn 10 năm thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, hơn

5 năm thi hành Luật thi hành án dân sự năm 2008, hoạt động Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự đã khẳng định vai trò không thể thiếu của Viện kiểm sát trong việc bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân trong việc bảo vệ công lý Tuy nhiên, Luật thi hành án dân sự năm 2008 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi Vì vậy, ngày 24/11/2014 Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, ngày 25/11/2014 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 Theo đó, quy định về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án

Trang 29

dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn, đầy đủ hơn, đảm bảo cho việc thực hiện quy định này trên thực tế thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, góp phần đảm bảo cho các bản án, quyết định được thi hành trên thực tế

* Một số nhận xét:

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 14/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 13/SL, một trong những văn bản đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành nền tư pháp xét xử của chế độ mới, quy định cách tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Điều thứ 3 Sắc lệnh quy định trách nhiệm của Ban Tư pháp “Thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên” Đây là Sắc lệnh đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức thi hành án dân sự tại Việt Nam, đồng thời cũng khẳng định hoạt động thi hành án dân sự đã sớm trở thành công cụ quan trọng tham gia bảo vệ chính quyền nhân dân ngay từ những ngày đầu của Nhà nước cách mạng

Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự đã trải qua một chặng đường dài, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của ngành thi hành án dân sự Tại các Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989,

1993, 2004 sau này là Luật thi hành án dân sự năm 2008 và Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 luôn có sự kế thừa lẫn nhau, luật ngày càng sửa đổi để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự được quy định trong các Pháp lệnh và sau này là Luật thi hành án dân sự luôn thể hiện là cơ quan kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực thi hành án dân sự Hoạt động này có mục đích đảm bảo cho việc thi hành án được tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, bảo đảm cho bản án, quyết định được thi hành kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của Nhà nước

Trang 30

Kết luận chương 1

Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự nhằm đưa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật được thi hành ngay theo quy định pháp luật ra thi hành trên thực tế

Việc thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế

Để các quyết định, hành vi về thi hành án dân sự của Chấp hành viên,

cơ quan thi hành án dân sự được tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, cần thiết phải có hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình tổ chức thi hành các bản án quyết định Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng để đảm bảo cho công tác thi hành án dân sự được kịp thời, đúng pháp luật và có hiệu quả Cùng với sự phát triển của pháp luật thi hành án dân sự qua những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam, quy định về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự ngày càng được hoàn thiện để làm căn cứ pháp lý cho công tác kiểm sát thi hành án, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất

Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã cố gắng làm rõ một số vấn đề

là cơ sở lý luận về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự; làm rõ vai trò, ý nghĩa hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự, đồng thời làm rõ sự hình thành, phát triển và hoàn thiện của quy định pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự đặt trong bối cảnh hình thành và phát triển của pháp luật thi hành án dân sự; những vấn đề này có mối quan hệ chặt chẽ với chương 2 của luận văn nên nó là cơ sở, là điều kiện để tác giả tiếp tục nghiên cứu, thực hiện chương

2 của luận văn

Trang 31

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự là tổng hợp những hành vi kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể trong hoạt động thi hành án nhằm đảm bảo cho các quyết định, hành vi về thi hành

án dân sự được tuân thủ đúng quy định pháp luật Hoạt động này bao gồm các hoạt động kiểm sát việc ra quyết định thi hành án, thực hiện thủ tục thi hành

án, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế và khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

2.1 Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án dân sự

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, quyết định có nghĩa là “định ra, đề ra và dứt khoát phải làm”14 Theo Từ điển Luật học, quyết định là “hình thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành” Trong đó, “quyết định là văn bản áp dụng pháp luật thường gọi là văn bản cá biệt, do cơ quan và cá nhân có thẩm quyền ban hành để giải quyết công việc hàng ngày của mình”15

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu quyết định thi hành án dân sự là một dạng văn bản áp dụng pháp luật do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành, nhằm đưa các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật (hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật) ra thi hành trên thực tế Quyết định thi hành án dân sự là cơ sở để Chấp hành viên tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự Quyết định thi hành án dân sự cũng có tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án Đó là các đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án), người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động thi hành án, các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong

14 Bộ giáo dục và đào tạo (1999), Đại Từ điển Tiếng Việt, tr.1385

15 Bộ tư pháp (1999), Từ điển Luật học, tr.658

Trang 32

phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành Quyết định thi hành án dân sự được ban hành theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Với ý nghĩa là cơ sở cho hoạt động thi hành án dân sự, quyết định thi hành án dân sự phải đảm bảo tính căn cứ và tính hợp pháp Quyết định thi hành án dân sự hợp pháp là quyết định được ban hành bởi người có thẩm quyền, trong một thời hạn nhất định, đúng thủ tục do pháp luật quy định; nội dung phải phù hợp với bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo đơn yêu cầu thi hành án của đương sự

Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án dân sự là một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong thi hành án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo cho quyết định thi hành án dân sự được ban hành có căn cứ, đúng quy định của pháp luật

2.1.1 Kiểm sát thủ tục ban hành quyết định thi hành án dân sự

Kiểm sát việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án

Kiểm sát việc cấp chuyển giao bản án, quyết định dân sự là bước đầu tiên để kiểm sát việc ra quyết định thi hành án Mục đích của hoạt động kiểm sát là giúp cho Kiểm sát viên nắm được những bản án, quyết định đã chuyển giao, thời gian chuyển giao và thủ tục giao nhận bản án, quyết định có đúng

về thời hạn không Trường hợp không đúng, Kiểm sát viên thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị để chấn chỉnh, khắc phục vi phạm nhằm đảm bảo cho việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định được thực hiện đúng thời hạn, đúng thủ tục luật định

Theo khoản 2 Điều 6 Quy chế kiểm sát thi hành án dân sự (ban hành kèm theo Quyết định số 255/2013/QĐ/VKSTC-V10 ngày 19/6/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nội dung của hoạt động kiểm sát việc chuyển giao bản án, quyết định bản án của Tòa án nhân dân bao gồm:

- Kiểm sát thời hạn cấp, chuyển giao bản án, quyết định, biên bản kê biên, tạm giữ vật chứng, tang vật, tài sản và các tài liệu khác có liên quan kèm theo cho cơ quan thi hành án dân sự; kiểm sát thủ tục nhận bản án, quyết định

Trang 33

của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Điều 29 Luật thi hành án dân sự

- Kiểm sát việc giao và giải thích, sửa chữa và bổ sung bản án, quyết định của Toà án khi có yêu cầu theo quy định tại Điều 179 Luật thi hành án dân sự và các Điều 240, 382 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 (nay là Điều 268, 486 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Khi kiểm sát việc chuyển giao bản án, quyết định, Kiểm sát viên phải xem xét thời hạn chuyển giao và thủ tục chuyển giao bản án, quyết định cho

cơ quan thi hành án dân sự

Theo Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung năm

2014 (nay gọi là Luật thi hành án dân sự) những bản án, quyết định được đưa

ra thi hành bao gồm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao gồm:

- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

- Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

- Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành…

- Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;

- Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;

- Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản16

Những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật bao gồm: “Bản án, quyết định về cấp

16 Khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự

Trang 34

dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”17

Như vậy, các bản án, quyết định được đưa ra thi hành không chỉ là những bản án, quyết định do Tòa án Việt Nam, Trọng tài thương mại Việt Nam ban hành mà còn có các bản án quyết định của Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành; các bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật

Về thời hạn chuyển giao bản án, quyết định dân sự, Điều 28 Luật thi hành án dân sự và Điều 485 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định đối với bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật thì thời hạn chuyển giao bản án, quyết định là 30 ngày kể từ ngày bản án đã có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật thì thời hạn chuyển giao bản án, quyết định là 15 ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định; đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cơ quan ra quyết định phải chuyển ngay cho Cơ quan thi hành án dân sự

Kiểm sát viên xem xét sổ giao nhận bản án, quyết định, đối chiếu với ngày tháng năm trong bản án, quyết định và các tài liệu kèm theo; nếu việc giao nhận thực hiện qua bưu điện thì xem xét con dấu bưu điện trên bì thư để xác định ngày chuyển giao bản án, quyết định đối chiếu với quy định về thời hạn chuyển giao bản án, quyết định như đã nêu trên để xác định vi phạm về thời hạn chuyển giao bản án, quyết định

Kiểm sát việc nhận đơn yêu cầu thi hành án

Quyền yêu cầu thi hành án là quyền tố tụng quan trọng của đương sự trong thi hành án dân sự Trong trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực

17 Khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự

Trang 35

pháp luật mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì người được thi hành án có quyền căn cứ vào nội dung bản án, quyết định để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án nhằm bảo đảm quyền lợi của họ Kiểm sát việc nhận đơn, thủ tục nhận đơn, từ chối nhận đơn được thực hiện theo các quy định tại các Điều 31, 35 Luật thi hành án dân sự

Để xác định quyết định thi hành án dân sự có vi phạm về thời hạn ra quyết định và nội dung của quyết định có đúng với yêu cầu của đương sự cũng như đúng với nội dung bản án, quyết định được đưa ra thi hành, Kiểm sát viên phải kiểm sát đơn yêu cầu thi hành án của đương sự Nội dung của hoạt động kiểm sát là xem xét đương sự có quyền yêu cầu thi hành án hay không, đương sự yêu cầu thi hành nội dung gì, nội dung nào đương sự không yêu cầu thi hành nhưng cơ quan thi hành án dân sự thi hành vẫn phải phối hợp

để thi hành18, thời hiệu yêu cầu thi hành án có còn không, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự hay không?

Về quyền yêu cầu thi hành án, Luật thi hành án dân sự quy định người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền “Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án”19 Để xác định người làm đơn có quyền yêu cầu thi hành án không Kiểm sát viên phải xác định người yêu cầu thi hành án là người được thi hành án, người phải thi hành án hay người được ủy quyền của người được thi hành án

Về hình thức yêu cầu thi hành án, Luật thi hành án dân sự cho phép người yêu cầu thi hành án có quyền lựa chọn một trong các hình thức: trực tiếp nộp đơn, trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện cho cơ quan thi hành án dân sự Dù làm đơn yêu cầu hoặc trình bày trực tiếp thì nội dung đơn yêu cầu phải có đầy đủ các thông tin cần thiết như: “họ tên, địa chỉ người yêu cầu; tên cơ quan thi hành án được yêu cầu; tên, địa chỉ người phải thi hành án; nội dung yêu cầu thi hành án; thông tin về tài sản, điều kiện của

18

Điểm 2 khoản 13 Điều 1 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một

số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh

19 Điểm b khoản 1 Điều 7a Luật Thi hành án dân sự

Trang 36

người phải thi hành án (nếu có), ngày tháng làm đơn”20 Người yêu cầu thi hành án phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự

Kiểm sát viên phải nghiên cứu đơn yêu cầu hoặc biên bản do cơ quan thi hành án dân sự lập, đối chiếu với quy định tại Điều 31 Luật thi hành án dân sự để xác định có hay không có vi phạm trong việc gửi đơn, nhận đơn yêu cầu thi hành án và thông báo cho người yêu cầu

Trước ngày 01/7/2015 (ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành), Luật thi hành án dân sự năm

2008 quy định người được thi hành án khi gửi đơn yêu cầu thi hành án bắt buộc phải kèm theo thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự Quy định này nhằm giảm tải áp lực cho Chấp hành viên và có thể giảm bớt số vụ, việc thi hành án tồn đọng hàng năm Tuy nhiên trong thực tế, quy định này gây khó cho người được thi hành án Vì nhiều lý do, người được thi hành án không thể thu thập được thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án để cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự Do vậy, Luật thi hành án dân sự hiện hành bỏ quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhưng nếu người được thi hành án cung cấp chính xác thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự thì được xem xét miễn giảm phí thi hành án

Về yêu cầu thi hành án, Luật thi hành án dân sự hiện hành quy định người được thi hành án có quyền lựa chọn việc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án Theo Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định, “Cùng một nội dung yêu cầu, cùng một thời điểm người yêu cầu chỉ có quyền làm đơn yêu cầu một Văn

20 Khoản 2 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự

Trang 37

phòng Thừa phát lại hoặc cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án”21

và “Nếu các khoản được thi hành do nhiều người khác nhau có nghĩa vụ thi hành thì người được thi hành án có quyền đồng thời yêu cầu cơ quan thi hành

án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại thi hành riêng đối với từng khoản”22 Như vậy, không phải trường hợp nào đương sự cũng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành toàn bộ các khoản phải thi hành được quyết định trong bản án, quyết định Trừ các khoản chủ động thi hành án, Văn phòng Thừa phát lại có quyền tổ chức các khoản thi hành án theo yêu cầu của đương sự

Để xác định có hay không vi phạm về nội dung quyết định thi hành án dân sự, Kiểm sát viên phải xem xét đơn yêu cầu thi hành án để xác định đương sự yêu cầu thi hành khoản nào trong bản án, quyết định được đưa ra thi hành, sau đó đối chiếu với nội dung của quyết định thi hành án dân sự

Theo quy định tại khoản 13 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 quy định: “Đối với các vụ việc đã được tổ chức thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục thi hành án và yêu cầu Văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành hoặc ngược lại thì nội dung yêu cầu phải nêu rõ kết quả thi hành trước đó, những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành tiếp và nội dung bảo lưu kết quả thi hành trước đó (nếu có) ” Do đó, trong trường hợp bản án, quyết định có nhiều khoản phải thi hành thi Kiểm sát viên phải xem xét những khoản nào đương sự yêu cầu Thừa phát lại thi hành, khoản nào yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành để xem xét sự phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng thừa phát lại trong việc thi hành án theo yêu cầu của đương sự Đối với những khoản đương sự đã yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự (hoặc Thừa phát lại) tổ chức thi hành nhưng sau đó rút đơn yêu cầu thi hành án để yêu cầu Thừa phát lại (hoặc cơ quan thi hành án dân sự) thi hành án, Kiểm sát viên phải xem xét đơn yêu cầu thi hành án Để có cơ

sở kiểm sát nội dung thi hành án, Kiểm sát viên có quyền kiến nghị cơ quan

Trang 38

thi hành án dân sự (hoặc Thừa phát lại) yêu cầu đương sự bổ sung kết quả đã thi hành trước đó và nội dung yêu cầu thi hành tiếp

2.1.2 Kiểm sát thẩm quyền và thời hạn ra quyết định thi hành án

Theo Từ điển Luật học, thẩm quyền là “quyền chính thức được xem xét, kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề”23 Theo cách hiểu này, thẩm quyền thi hành án là quyền xem xét, ra quyết định và tổ chức, thi hành các bản án, quyết định dân sự

Thẩm quyền thi hành án cũng là một trong những nội dung phải xem xét khi kiểm sát quyết định thi hành án Kiểm sát viên kiểm sát thẩm quyền thi hành án đối với bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định tại các Điều 23, 35, 36, 37 Luật thi hành án dân sự

Luật thi hành án dân sự quy định việc xác định thẩm quyền thi hành án dựa trên sự thuận lợi cho đương sự và cơ quan thi hành án dân sự Thông thường, cơ quan thi hành án dân sự có điều kiện tổ chức thi hành án là nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án hoặc nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, có tài sản liên quan đến việc thi hành án hoặc có trụ sở Điều 35 Luật thi hành án dân sự quy định thẩm quyền theo cấp của cơ quan thi hành án đối với bản án, quyết định do Tòa án ban hành liên quan đến nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở Nói cách khác, việc xác định thẩm quyền thi hành bản án, quyết định dân sự căn cứ vào thẩm quyền ban hành bản án, quyết định và sự phân cấp của cơ quan thi hành án dân sự

Kiểm sát việc xác định thẩm quyền thi hành án là hoạt động của Kiểm sát viên nhằm xem xét việc ra quyết định và tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự có đúng quy định về thẩm quyền thi hành án mà pháp luật quy định hay không

Theo quy định tại Điều 35 Luật thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành đối với “bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở

23 Bộ tư pháp (1999), Từ điển Luật học, tr 701

Trang 39

hoặc bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với bản

án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở” Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành đối với các “bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cùng địa bàn; bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao; quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân

sự cấp tỉnh; bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh ” Để làm rõ cơ quan thi hành án dân sự có vi phạm thẩm quyền thi hành án hay không, Kiểm sát viên phải xem xét bản án quyết định được đưa

ra thi hành do cơ quan nào ban hành (nếu là Tòa án ban hành thì Tòa án cấp nào, ở đâu), đối chiếu với quy định trên để xác định cơ quan thi hành án dân

sự đã ra quyết định có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định đã đưa ra thi hành hay không

Về thời hạn ra quyết định thi hành án, căn cứ vào thời hạn quy định tại các Điều 6, 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự và Điều 36 Luật thi hành án dân sự quy định: “trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định hoặc nhận được yêu cầu; trong thời hạn

03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản; đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra quyết định ngay”, để kiểm sát việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền

ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành

Để xác định vi phạm về thời hạn ra quyết định thi hành án, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ điều luật, đối chiếu ngày tháng nhận bản án, quyết định từ cơ quan có thẩm quyền với ngày tháng ra bản án, quyết định (đối với quyết định thi hành án chủ động), đối chiếu ngày nhận đơn yêu cầu với ngày tháng ra quyết định thi hành án (đối với quyết định theo đơn yêu cầu)

Trang 40

2.1.3 Kiểm sát việc áp dụng thời hiệu thi hành án

Kiểm sát việc áp dụng thời hiệu thi hành án là một trong những công việc cần thiết mà Kiểm sát viên phải thực hiện để đảm bảo cho quyết định thi hành án đúng thời hạn pháp luật quy định

Thời hiệu thi hành án là thời hạn mà pháp luật quy định đương sự có quyền yêu cầu thi hành án; hết thời hạn đó, đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án nữa Luật thi hành án dân sự quy định thời hiệu thi hành án dân sự

có ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự và là cơ sở cho cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp nghiệp vụ về thi hành án

Kiểm sát việc áp dụng thời hiệu thi hành án là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong việc xem xét đơn yêu cầu thi hành án của đương sự đối với bản án, quyết định có còn trong thời hạn được quyền yêu cầu thi hành theo quy định của luật thi hành án dân sự hay không

Để phát hiện được vi phạm về thời hiệu thi hành án, Kiểm sát viên phải nắm được quy định của pháp luật về thời hiệu và cách tính thời hiêu thi hành án Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự, Điều 4 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Theo đó Luật thi hành án dân sự quy định: “Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án”24

Bên cạnh việc quy định các loại thời hiệu như: thời hiệu chung, thời hiệu thi hành án theo định kỳ; thời hiệu thi hành án trong trường hợp việc thi hành án được tạm ngừng (thời hạn hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án)

và cách tính các loại thời hiệu này, Luật thi hành án dân sự cũng quy định thời gian không tính vào thời hạn do trở ngại khách quan, do sự kiện bất khả kháng, theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự quy định:

- Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn

24 Khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w