1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn của tỉnh quảng nam

79 78 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 622,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự Giải quyết khiếu nại là việc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theothủ tục pháp luật quy định thực hiện các bước như thụ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG MINH ĐÔNG

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC

TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG MINH ĐÔNG

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC

TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trong luận văn trung thực Tác giả đã thu thập và sàng lọc trong quá trình học tập, tham khảo, nghiên cứu tài liệu; là kết quả của sự phân tích, tổng hợp các báo tổng kết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như kinh nghiệm của bản thân qua thực tiễn công tác tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam và dưới sự hướng dẫn của TS Trần Minh Đức Những nội dung trong các công trình nghiên cứu của các giả khác đã được trích dẫn, ghi chú đầy đủ, chính xác theo đúng qui định.

Tác giả cam đoan

HOÀNG MINH ĐÔNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm của giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự 5

1.2 Vai trò của giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự 11

1.3 Nội dung giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự 11

1.4 Phương thức giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự 13

1.5 Các yếu tố tác động đến việc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG NAM 33

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam có liên quan đến giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự 33

2.2 Tình hình khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam 35 2.3 Tình hình giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam 39

2.4 Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam 42

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 50

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 50

3.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 55

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 56

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung

và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động

tố tụng, bảo đảm bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền được chấp hànhnghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính ngiêm minh của pháp luật, qua đó gópphần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu quả của bộ máy Nhànước

Thể chế hóa chủ trưởng, đường lối đối mới của Đảng về công tác Thi hành

án dân sự, đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác này trong tìnhhình đổi mới, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông quan Luật thi hành án dân sự.Trên cơ sở đó, việc tổ chức thi hành Luật thi hành án dân sự đã đạt được nhiều kếtquả quan trọng, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhândân về ý nghĩa, vai trò của công tác Thi hành án dân sự được nâng lên rõ rệt; vị thếcủa cơ quan Thi hành án dân sự được nâng lên một bước nhờ đó kết quả thi hành

án dân sự đã có những bước chuyển biến tích cực và đạt kết qủa khả quan

Do vậy, để tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trưởng của Đảng về cải cách

tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị

về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, quy định của Hiến pháp năm 2013 vàhoạn thiện thể chế thi hành án dân sự, ngày 25/11/2014, Quốc hội khóa XIII tại kỳhọp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân

sự để tạo hành lang pháp lý vững chắc trong công tác thi hành án dân sự

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận, hoạt động thi hành ándân sự nói chung vẫn còn nhiều bất cập thể hiện rõ rệt trong tình hình khiếu nại, giảiquyết khiếu nại về cưỡng chế thi hành án dân sự Hiện tại, nó là vấn đề gây bức xúctrong đời sống xã hội, đồng thời cũng là vấn đề trăn trở của ngành Tư pháp Tronglĩnh vực này, hàng năm số lượng các vụ việc khiếu nại về cưỡng chế thi hành án dân

sự không những không giảm mà lại có chiều hướng tăng lên

Trang 6

Từ những trình bày trên đây, việc nghiên cứu một cách toàn diện cả về lýluận và thực tiễn đối với công tác giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành

án dân sự là rất cần thiết Qua đó, thấy được cơ sở lý luận, thực trạng tình hình giảiquyết khiếu nại thời gian qua với những bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra những giảipháp để điều chỉnh cho phù hợp Đó chính là lý do để tác giả chọn làm đề tài luận

văn cao học chủ đề: “Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ

thực tiễn của tỉnh Quảng Nam”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Liên quan đến đề tài “Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án

dân sự từ thực tiễn của tỉnh Quảng Nam” đã có một số công trình nghiên cứu như:

Luận án tiến sỹ luật học “ Hoàn thiện thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại của

công dân” của tác giả Nguyễn Hạnh, luận án đã nghiên cứu toàn diện hệ thống lý

luận và các quy định của pháp luật về khiếu nại của công dân, đưa ra những đánhgiá, nhận xét cũng như đề ra các biện pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hơn nữacác thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại của công dân Tuy vậy luận án không đềcập đến thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dânsự

Luận án tiến sỹ“Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền khiếu nại hành chính của

công dân ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh, luận án đã nghiên

cứu, phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng từng yếu tố pháp lý bảo đảmthực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân, làm cơ sở cho việc đề xuất cácgiải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyền khiếu nạihành chính của công dân Tuy nhiên nội dung của luận án không đề cập đến quyềnkhiếu nại của công dân trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung cũng như việcgiải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự nói riêng

Nhìn chung, các công trình, bài viết nghiên cứu đó mới dừng lại ở việcnghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có tính chất chung, tổng quát Cáccông trình nghiên cứu đó đã ít nhiều làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễncủa tình hình khiếu nại, giải quyết khiếu nại nói chung, khiếu nại, giải quyết khiếu

Trang 7

nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nàonghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễncông tác giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnhQuảng Nam Do đó, đề tài này không trùng lắp với các công trình đã công bố.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

Trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận công tác giải quyết khiếu nại về cưỡng chếtrong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, luận văn góp phần giải quyếtnhững vướng mắc trong hoạt động khiếu nại về cưỡng chế của người dân, cơ quan,

tổ chức đối với những quyết định, hành vi của các chủ thể bị khiếu nại về cưỡng chếthi hành án và hoạt động giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sựtại tỉnh Quảng Nam

Để thực hiện mục đích trên đây, các nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

- Đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn việc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất các giải pháp, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn chỉnh hệ thốngpháp luật, chuẩn mực chung cho quy trình giải quyết khiếu nại về cưỡng chế vànâng cao hiệu quả giải quyết khiếu về thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu pháp lý và thực trạng của pháp luật hiện hành vềviệc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh QuảngNam

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác giải quyết khiếu nại về cưỡng chếthi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam theo quy định của Luật Thi hành ándân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự Không nghiêncứu chuyên sâu vấn đề giải quyết khiếu nại trong các công đoạn khác của thi hành

án dân sự Các số liệu được thu thập từ năm 2013 đến năm 2018

5 Cơ sở lý luận và và phương pháp nghiên cứu.

Trang 8

5.1 Cơ sở lý luận.

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vềnhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân và các vấn đề về bảo đảmquyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dân sự

5.2 Phương pháp nghiên cứu.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là: phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp sosánh… được tác giả sử dụng để đánh giá và rút ra nhận xét, kết luận phục vụ cho đềtài của mình

6 Ý nghĩa của đề tài.

Đề tài nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyếtkhiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc hoàn thiện pháp luật

và nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Kết quả nghiên cứu luận văn cũng có thể sử dụng là tài liệu phục vụ cho cácsinh viên, học viên tham gia học tập, nhất là đối với cán bộ, công chức ngành Thihành án dân sự, cho các hoạt động nghiên cứu về giải quyết khiếu nại nói chung vàgiải quyết khiếu nại trong lĩnh vực cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng

7 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được

cơ cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của giải quyết khiếu nại vềcưỡng chế trong thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tạitỉnh Quảng Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếunại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Khái niệm về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Cho thấy đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án

Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án là hoạt động tố tụng Song, thi hành án là

hoạt động tố tụng nào và nằm ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng thì lại có những

ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, thi hành án là một giai đoạn tố tụng và là

công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Ý kiến khác cho rằng, thi hành án là

một thủ tục tố tụng đặc biệt mang cả đặc trưng của tố tụng dân sự, tố tụng hình sự

và tố tụng hành chính, thi hành án vừa tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự,vừa biểu hiện tính cưỡng chế của Nhà nước

Có ý kiến khác lại cho rằng, thi hành án thuộc loại tố tụng "hỗn hợp" vì "thihành án có rất nhiều trình tự, thủ tục và đặc trưng giống các loại tố tụng khác"

Quan điểm thứ hai, xem thi hành án là hoạt động quản lý hành chính - tư pháp thì

cho rằng, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Toà án chấm dứt khi Toà

án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Toà án đã xác định quyền, nghĩa vụcủa các bên, còn việc thi hành phán quyết đó lại là một giai đoạn khác, không thuộcquá trình tố tụng thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì thi hành án cómục đích khác với mục đích tố tụng; tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụviệc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúngquy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm

thực hiện các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Quan điểm

thứ ba cho rằng, thi hành án là hoạt động tư pháp nên phải gắn với khâu hoạt động

xét xử để tạo một cơ chế chặt chẽ và có hiệu quả nhằm đưa ra và đảm bảo thi hànhcác bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo

Trang 10

quy định của pháp luật.

Mỗi loại quan điểm nêu trên đều có những cơ sở khoa học riêng, tuy nhiêntheo tác giả thì thi hành án là một thủ tục tố tụng và chỉ cần xác định thi hành án làthủ tục tố tụng thi hành án, không nên coi đó là một giai đoạn của thủ tục tố tụnghình sự, dân sự, hành chính hay tố tụng khác và cần hiểu thi hành án là thủ tục tốtụng độc lập so với các thủ tục tố tụng khác như điều tra, kiểm sát hoặc xét xử “Tốtụng” không nên hiểu chỉ là "thưa kiện tại Toà án nói chung", là hoạt động của cơquan Toà án xét xử để đi tìm “chân lý”, mà cần xem xét đến bản chất của tố tụng

Về bản chất, thực ra tố tụng chỉ là việc thực hiện các quy định của pháp luật hìnhthức theo thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo đúng sự điều chỉnhcủa pháp luật nội dung Tố tụng được thực hiện bởi nhiều cơ quan, tuỳ theo tínhchất và mức độ do pháp luật quy định Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng nóichung, cơ quan thi hành án nói riêng nhằm mục đích bảo đảm để bản án, quyết địnhcủa Toà án hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác được thực thitrên thực tế Hoạt động nào tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là hoạtđộng tố tụng, do đó có nhiều loại tố tụng, như: Tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tốtụng hành chính, tố tụng trọng tài, tố tụng thi hành án

Từ nhận định trên, để làm rõ khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự cần tìmhiểu về bản chất của cưỡng chế Theo cuốn Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như

Ý (chủ biên), Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo

do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 1998 thì cưỡng chế là“bắt buộc

phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực: tính chất cưỡng chế của pháp luật” Từ

điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành 2001

thì “cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 xuất bản năm 1996 thì cưỡng chế là “dùng

quyền lực của Nhà nước để bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trái với ý muốn của họ Cưỡng chế là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước” Về mặt thuật ngữ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà

xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 1999 thì cưỡng chế là “những biện pháp

Trang 11

bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách

khoa và Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006 thì cưỡng chế là “buộc cá nhân

hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chỉ tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định mới được ra quyết định cưỡng chế, quyết định lực lượng cưỡng chế Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ Cá nhân hay tổ chức là đối tượng cưỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không được làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân Biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện”.

Như vậy, các ý kiến không hoàn toàn đồng nhất về khái niệm cưỡng chế, tuynhiên có thể thấy rằng nói đến cưỡng chế là nói đến việc dùng quyền lực nhà nước,

áp đặt ý chí của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân nhất định để buộc tổ chức, cánhân đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định theo ý chícủa Nhà nước Quyền lực nhà nước được sử dụng với nhiều phương thức khác nhau,theo nhiều lĩnh vực thông qua những biện pháp nhất định và do chủ thể nhất địnhtiến hành Chủ thể đó có thể là công chức nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức khácđược Nhà nước trao quyền tiến hành cưỡng chế Tuy nhiên, việc dùng quyền lựcnhà nước để cưỡng chế cũng phải được thực hiện trên cơ sở các quy định cụ thể củapháp luật, với phương thức thực thi pháp luật phù hợp

Để bảo đảm thực thi pháp luật, ngoài phương thức giáo dục, thuyết phục mọichủ thể tự giác tuân thủ, bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chếbằng pháp luật Cưỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và pháp luật, làhiện tượng gắn liền với Nhà nước Quyền lực nhà nước là quyền lực dựa trên sứcmạnh của Nhà nước, khả năng sử dụng Nhà nước thực hiện ý chí của giai cấp thốngtrị buộc xã hội phải phục tùng ý chí đó; quyền lực nhà nước là quyền lực chính trịđược thực hiện bằng Nhà nước và là trung tâm của quyền lực chính trị bởi vì Nhà

Trang 12

nước là tổ chức rộng lớn nhất, bao trùm lên toàn bộ xã hội, quản lý mọi tầng lớpdân cư trong phạm vi lãnh thổ của mình.

Như vậy, cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất

định phải tuân theo, đó là một phương thức sử dụng và bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do chủ thể có thẩm quyền tiến hành Theo Điều 45 và 46 Luật Thi hành án dân sự, quy định: Hết thời hạn tự

nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyếtđịnh thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, người phải thihành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế

và Điều 71 Luật Thi hành án dân sự quy định 07 biện pháp cưỡng chế thi hành ánbao gồm: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá củangười phải thi hành án; (2) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; (3) Kêbiên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ bagiữ; (4) Khai thác tài sản của người phải thi hành án; (5) Buộc chuyển giao vật,chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; (6) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặckhông được thực hiện công việc nhất định

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm cưỡng chế thi hành án dân

sự như sau: Cưỡng chế thi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền dùng

quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế quyền, nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Cưỡng chế thi hành án dân sự có thể được xem xét dưới góc

độ là một quan hệ pháp luật, một chế định pháp luật hoặc một hoạt động áp dụngpháp luật trong thực tiễn

Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Giải quyết khiếu nại là việc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theothủ tục pháp luật quy định thực hiện các bước như thụ lý, xác minh để kết luận và raquyết định giải quyết khiếu nại

Cụ thể hơn, giải quyết khiếu nại là việc người có thẩm quyền giải quyết

Trang 13

khiếu nại căn cứ vào các quy định của pháp luật về khiếu nại và các quy phạm phápluật khác có liên quan để xác định xem việc khiếu nại là đúng hay sai Giải quyếtkhiếu nại được thực hiện theo trình tự - cách thức do pháp luật quy định và quanhiều bước khác nhau từ việc đưa vụ việc ra để giải quyết khiếu nại theo thủ tục thụ

lý, sau đó phải thực hiện việc xác minh, đánh giá tính chất của khiếu nại, đánh giáchứng cứ cũng như các tài liệu để từ đó ra quyết định về tính hợp pháp, hợp lý củađơn khiếu nại

Do đó, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế thi hành án dân sự được hiểu là quátrình cơ quan cơ quan quản lý hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xemxét, đánh giá đối với quyết định cưỡng chế, hành vi cưỡng chế (bao gồm hành vithực hiện hoặc không thực hiện việc cưỡng chế thi hành án) của Chấp hành viên vềtính hợp pháp và tính hợp lý, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp

Đặc điểm của giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung và khiếu nại về cưỡngchế thi hành án nói riêng vừa phải tuân theo các qui định của luật khiếu nại năm

2011, vừa phải tuân theo và thực hiện các qui định của Luật Thi hành án dân sự vàcác văn bản hướng dẫn thi hành luật Thi hành án dân sự cũng như quy trình giảiquyết khiếu nại, tố cáo mà Tổng cục Thi hành án dân sự đã xây dựng Khiếu nại vềthi hành án dân sự là khiếu nại hành chính nhưng nội dung liên quan đến vấn đề tưpháp Trong giới khoa học, các nhà nghiên cứu cũng xác nhận tính chất hành chínhcủa loại khiếu nại nêu trên Theo giáo sư, viện sỹ Nguyễn Duy Quý và phó giáo sư,

tiến sỹ Nguyễn Tất Viễn thì “cơ quan Thi hành án dân sự cần xác định rõ là cơ

quan hành chính - tư pháp (tác giả nhấn mạnh), hướng là phải tập trung nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào một đầu mối Đồng thời, từng bước thực hiện xã hội hóa hoạt động thi hành án và quy định hình thức, thủ tục đã giao cho tổ chức không phải là cơ quan quản lý nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” Chính vì vậy mà khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự

có những đặc điểm khác biệt so với khiếu nại hành chính theo qui định của luậtKhiếu nại, điều này thể hiện ở chỗ:

Trang 14

Khiếu nại hành chính thì công dân, tổ chức, cơ quan có quyền đề nghị cơquan nhà nước xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứcho rằng quyết định, hành vi đó là trái luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp phápcủa họ Việc khiếu nại hành chính xảy ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau (đất đai, laođộng, môi trường ), tuy nhiên ở đây chúng ta thấy rằng chỉ khi quyết định, hành vihành chính nào đó của hoặc cơ quan có thẩm quyền mà ảnh hưởng đến quyền, lợiích hợp pháp của một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó thì họ mới thực hiện đượcquyền khiếu nại của mình.

Khiếu nại về lĩnh vực thi hành án dân sự thì không chỉ người được thi hành

án, người phải thi hành án có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của thủtrưởng cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên mà ngay cả những người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án, không phải người được thi hành

án, phải thi hành án cũng có quyền khiếu nại

Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung và về cưỡngchế trong thi hành án dân sự nói riêng mang các đặc trưng sau đây:

- Giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự mang đặc điểmchung của giải quyết khiếu nại về thi hành án, theo đó, mặc dù nội dung khiếu nạimang tính chất là một công đoạn của thi hành án dân sự nhưng lại được giải quyếttheo trình tự thủ tục được Luật Thi hành án dân sự Từ đó, quá trình giải quyếtkhiếu nại về cưỡng chế thi hành án dân sự cũng phải được thực hiện theo thủ tụcgiải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, gồm các giai đoạn như: thụ lý đơn, xácminh, ra quyết định giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại,thực hiện quyền khiếu nại lần tiếp theo và đề nghị xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

- Đặc điểm riêng của giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân

sự trước hết nó phải được xuất hiện trong hoạt động tổ chức thi hành án dân sự củaChấp hành viên Nghĩa là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết đốivới các khiếu nại có liên quan đến quyết định, hành vi về cưỡng chế thi hành án dân

sự của Chấp hành viên chứ không phải bất kỳ chức danh nào khác của cơ quan thi

Trang 15

hành án dân sự.

- Vì khiếu nại về cưỡng chế thi hành án dân sự được giải quyết theo thủ tụchành chính, chứ không phải thủ tục Tòa án, nên các vụ việc được giải quyết khiếunại vừa được xem xét có hợp pháp (phù hợp với quy định của pháp luật) hay không

mà còn được xem xét cả về tính hợp lý của nó liên quan đến khiếu nại về thời điểmthực hiện việc cưỡng chế thi hành án, bố trí lực lượng…có tốt hay không

1.2 Vai trò của giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Thứ nhất, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự nhằm

bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế nhằm bảođảm pháp chế theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền Bảo đảm pháp chế trong giảiquyết khiếu nại thể hiện trong hoạt động việc tuân thủ chặt chẽ quy định của phápluật trong giai đoạn áp dụng biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên và bảo đảmquyền khiếu nại của đương sự khi họ không đồng ý với việc áp dụng các thủ tục vàbiện pháp cưỡng chế thi hành án của Chấp hành viên

Thứ hai, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân là hoạt

động giúp người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan bảo vệ được lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình, theo yêu cầu, đềnghị của họ Kết quả giải quyết khiếu nại có tác động lớn đến tâm lý cũng như lợiích vật chất của các bên trong quan hệ khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Thứ ba, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự là nhân tố

quan trọng thúc đẩy hoạt động thi hành án dân sự Thi hành án dân sự luôn là điểmnóng trong thực tiễn pháp lý ở Việt Nam Việc giải quyết đúng đắn khiếu nại khôngnhững làm bảo đảm pháp chế trong lĩnh vực cưỡng chế thi hành án mà còn bảo vệquyền của các đương sự liên quan đến bản án, quyết định của Tòa án mà còn tạo ra

sự tôn nghiêm trong hoạt động thi hành án dân sự, hạn chế khả năng vi phạm tronglĩnh vực này

1.3 Nội dung giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự các khiếu nại liên quan tới các quyết định,

Trang 16

hành vi về cưỡng chế của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án vàtrong cả quá trình giải quyết khiếu nại, nội dung khiếu nại trong lĩnh vực về cưỡngchế thi hành án dân sự rất đa dạng như chậm ra quyết định thi hành án cưỡng chế kêbiên tài sản, chậm tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án, kê biên tài sản saiđối tượng, bán đấu giá tài sản không đúng trình tự thủ tục, thanh toán tiền thi hành

án không đúng quy định…

Khác với đặc điểm về khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói chung,khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự mang những đặc điểm khác biệt vềchủ thể bị khiếu nại, đối tượng khiếu nại cũng như nội dung khiếu nại chủ yếu là dogiới hạn về phạm vi khiếu nại và chủ thể bị khiếu nại chỉ có thể là Chấp hành viên

Về chủ thể thực hiện quyền khiếu nại.

Khoản 1 Điều 140 Luật THADS năm 2014 quy định về quyền của người khiếunại, bao gồm: Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nạiđối với quyết định, hành vi của Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định,hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự,thì:

+ Đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án.

+ Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi

ích trong bản án, quyết định được thi hành

+ Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ

trong bản án, quyết định được thi hành

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành

án của đương sự

Với các quy định như trên, có thể hiểu người có quyền khiếu nại về cưỡng chếtrong thi hành án dân sự là cá nhân, tổ chức có liên quan trực tiếp đến việc áp dụngbiện pháp cưỡng chế thi hành án của Chấp hành viên thuộc cơ quan thi hành án dân sự

Trang 17

Đối tượng bị khiếu nại.

Theo Luật THADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì đối tượngkhiếu nại về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là các quyết định, hành vi về

áp dụng biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên đươc phân công thụ lý vụ việc.Theo Điều 71 Luật Thi hành án dân sự, thì các biện pháp cưỡng chế sau đây làđối tượng bị khiếu nại:

+ Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

+ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

+ Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ

+ Khai thác tài sản của người phải thi hành án

+ Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

+ Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việcnhất định

Hoặc các hành vi thực hiện hoặc không thực hiện các biện pháp cưỡng chế nêu trên cũng là đối tượng bị khiếu nại

Đối tượng bị khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự ngoài cácquyết định, hành vi nêu trên của Chấp hành viên thì còn có các hành vi của Chấphành viên khi thực hiện không đúng hoặc không thực hiện việc mà theo qui địnhcủa luật phải làm như hành vi không thông báo, thông báo không đúng quy định về

áp dụng biện pháp cưỡng chế, kết quả thẩm định giá, bán đấu giá, kê biên thiếu hoặc

dư tài sản, kê biên tài sản không được quyền kê biên, không thực hiện giao tài sảnbán đấu giá thành …

1.4 Phương thức giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

1.4.1 Cơ sở làm phát sinh khiếu nại và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Việc thi hành án dân sự không tự nhiên mà phát sinh Khi bản án đã có hiệu

Trang 18

lực thì điều kiện bắt buộc để thực hiện bản án dân sự là cơ quan Thi hành án dân sựphải ban hành quyết định thi hành án theo một thủ tục nhất định Cụ thể là, sau khithực hiện xét xử xong thì các bản án phải được Tòa án chuyển giao sang cho cơquan thi hành án để cơ quan thi hành án thực hiện giai đoạn tổ chức thi hành Tronglĩnh vực thi hành án dân sự, có hai loại quyết định thi hành án là: quyết định thihành án chủ động và quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu Trong đó các quyếtđịnh thi hành án theo đơn yêu cầu thường phức tạp hơn rất nhiều vì nó ảnh hưởnglớn đến lợi ích vật chất của các bên tham gia quan hệ thi hành án dân sự theo ý chícủa người yêu cầu.

Trong thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án có quyền ra quyếtđịnh về thi hành án theo quy định, đó là cơ sở để Chấp hành viên được phân công tổchức thi hành án thực hiện nhiệm vụ của mình Khi thực hiện việc tổ chức thi hànhcác bản án, Chấp hành viên của cơ quan Thi hành án dân sự phải thực hiện nhiềuthao tác, biện pháp nghiệp vụ khác nhau nhằm đảm bảo cho việc thi hành án diễn rađúng thẩm quyền, trình tự pháp luật quy đinh, đồng thời bảo đảm quyền và lợi íchhợp pháp của các đương sự Nhìn toàn bộ, các khiếu nại về cưỡng chế và việc giảiquyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự được phát sinh trên cơ sở bản

án được Tòa án sở tại đã tuyên, có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn tự nguyện thihành án, người phải thi hành án có điều kiện nhưng Chấp hành viên không ra quyếtđịnh cưỡng chế thi hành án hoặc ra quyết định cưỡng chế nhưng quyết định vi phạmcác quy định của pháp luật

Trong trường hợp này, việc khiếu nại và thụ lý khiếu nại mở ra thủ tục giảiquyết khiếu nại Về thủ tục này như trên đã xác định, đó là thủ tục khiếu nại và giảiquyết khiếu nại hành chính Thủ tục này đã được xem xét tính chất pháp lý theoquan điểm ngành luật Thi hành án dân sự cũng như việc khiếu nại và giải quyếtkhiếu nại thi hành án dân sự không phải là hoạt động tư pháp Nó không phải là mộtgiai đoạn của tố tụng dân sự của nhà nước nhằm đưa ra và đảm bảo thi hành các bản

án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật Hoạt động thi hành án dân sự nóichung cũng như việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành

Trang 19

án dân sự nói riêng là hoạt động có bản chất là tổ chức, điều hành thuộc lĩnh vựchoạt động quản lý hành chính do luật hành chính điều chỉnh Ở trên, luận văn đãdẫn ra các ý kiến tán thành quan điểm này của Tổng cục Thi hành án Bộ Tư pháp vàquan điểm của một số nhà khoa học.

1.4.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành

1/ Chỉ có cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền do pháp luật quy định mớiđược tiến hành các thủ tục hành chính nhất định và phải thực hiện đúng trình tự vàcách thức thể hiện trong các phương tiện, biện pháp và hình thức được pháp luậtcho phép

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trongthi hành án dân sự phải tuân thủ các quy định của pháp luật về khiếu nại và các quyđịnh về khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự Nguyêntắc này đặt ra yêu cầu đối với người giải quyết khiếu nại là phải tuân thủ và thựchiện đúng theo các qui định của Luật khiếu nại năm 2011, Luật Thi hành án dân sựnăm 2008 (được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2014) trong việc giải quyết khiếunại Việc giải quyết khiếu nại phải căn cứ vào qui định của Luật Thi hành án dân sự,qui chế giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, phải đánh giá vấn đề khiếu nạimột cách khách quan, công minh, không bao che, phải trung thực trong việc bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, từ đó đưa ra quyết định giải quyếtkhiếu nại một cách chính xác, đúng qui định

Trang 20

2/ Mọi khiếu nại phải được xem xét, xử lý, giải quyết đúng pháp luật, bảođảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và người có quyền, nghĩa vụliên quan đến việc thi hành án dân sự Trong quá trình giải quyết khiếu nại, ngườikhiếu nại có đơn xin rút khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại rathông báo về việc đình chỉ giải quyết khiếu nại Khi giải quyết khiếu nại cần phảixem xét mọi khiếu nại, giải quyết đúng trình tự thủ tục theo luật định như thời hạngiải quyết khiếu nại, xác minh nội dung khiếu nại, thu thập chứng cứ, thực hiện việcđối thoại giữa các bên liên quan Cũng theo nguyên tắc này thì khi giải quyết khiếunại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải tôn trọng quyền rút đơn khiếunại của người khiếu nại tại bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.

3/ Thủ tục hành chính phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng Đây là đòihỏi đỏi với bất cứ vụ việc nào được giải quyết theo thủ tục hành chính Đối với lĩnhvực thi hành án dân sự, không thực hiện yêu cầu này có thể dẫn tới tình trạng khôngtốt cho việc thi hành án mà phổ biến nhất là hiện tượng che dấu, tẩu tán tài sản làmcho bản án không thực hiện được

4/ Thực hiện thủ tục phải bảo đảm chính xác, khách quan, công minh Tínhchính xác, khách quan, công minh trong thực hiện thủ tục hành chính được bảo đảmbởi hoạt động của cơ quan tiến hành thủ tục, cơ quan tiến hành thủ tục phải có đủ tàiliệu, chứng cứ và có thẩm quyền đòi hỏi việc giải quyết, cung cấp thông tin, ápdụng các biện pháp bảo đảm cho các cá nhân, tổ chức hữu quan thực hiện thủ tụchành chính được thuận lợi

5/ Thủ tục hành chính được thực hiện công khai Trước hết, phải công khaicác loại thủ tục để nhân dân biết Đồng thời, khi tiến hành thủ tục phải bảo đảmcông khai, trừ các trường hợp pháp luật quy định phải bí mật theo quy định chunghoặc theo đề nghị hợp pháp của các bên tham gia thủ tục

6/ Các chủ thể tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật.Nguyên tắc này tể hiện ở chỗ các cơ quan hành chính nhà nước phải đáp ứng đềnghị của công dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện do pháp luật quy định

và phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền,

Trang 21

lợi ích hợp pháp của đương sự.

7/ Khi thực hiện việc xem xét, giải quyết khiếu nại về cưỡng chế thi hành án,thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thể xin ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ của cơquan cấp trên trực tiếp Trường hợp Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự đồngthời là Chấp hành viên đã thực hiện hành vi, ban hành quyết định để thực hiện việccưỡng chế thi hành án mà sau đó bị khiếu nại thì không được xin ý kiến chỉ đạonghiệp vụ về nội dung liên quan đến quyết định hành vi bị khiếu nại của mình màphải hướng dẫn người có đơn khiếu nại gửi đơn đến người có thẩm quyền để giảiquyết Đây là nguyên tắc phản ánh rõ sự khác biệt của giải quyết khiếu nại tronglĩnh vực thi hành án dân sự thể hiện tính khách quan trong việc giải quyết khiếu nại

1.4.2.2 Thủ tục giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Thủ tục hay là trình tự - cách thức tiến hành việc giải quyết khiếu nại về thihành án dân sự nói chung và về cưỡng chế thi hành án nói riêng thuộc thẩm quyềncủa Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự bao gồm các giai đoạn và các cách thứcthực hiện các hành vi thủ tục dưới dạng là quyền và nghĩa vụ của các bên tiến hànhthủ tục và tham gia thủ tục hướng tới việc ra quyết định giải quyết khiếu nại Thủtục pháp lý nói chung, thủ tục hành chính nói riêng, trong đó có thủ tục giải quyếtkhiếu nại việc thi hành án dân sự được khoa học cũng như thực tiễn pháp lý quanniệm là bảo đảm pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ (quy phạm vật chất) của

cá nhân, tổ chức

Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa vai trò bảo đảm pháp lý đó của thủ tụchành chính trong việc giải quyết khiếu nại việc thi hành án dân sự Bởi vì, thủ tụchành chính, dù là thủ tục cho việc giải quyết vụ việc nào cũng chỉ tạo ra điều kiệnthủ tục để bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ vật chất hay nội dung của chủ thể nhấtđịnh được thực hiện, chứ nó không thể bảo đảm 100% cho quyết định của cơ quannhà nước có thẩm quyền là hợp pháp và hợp lý Trên thực tế, có những trường hợp

vụ việc giải quyết khiếu nại việc thi hành án dân sự được tiến hành theo đúng quytrình nhưng lại không bảo đảm tạo ra các quyết định hợp pháp, hợp lý như quy địnhcủa pháp luật Và, nếu nhìn sang lĩnh vực hình sự thì ta cũng thấy có tình hình như

Trang 22

vậy Nhưng từ đó không thể dẫn đến thái cực khác xem thường các thủ tục hànhchính trong việc giải quyết khiếu nại Bởi vì, việc giải quyết khiếu nại nói chung,giải quyết khiếu nại việc thi hành án dân sự nói riêng không thể bảo đảm có kết quả,nếu người ta (kể cả người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại) không thực hiệnhợp pháp các hành vi thủ tục theo các giai đoạn và theo các quy định cụ thể về cácquyền và nghĩa vụ của bên tiến hành thủ tục và bên tham gia thủ tục.

1.4.2.3 Các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Cùng với Luật Khiếu nại, sự ra đời của Luật Thi hành án dân sự năm 2008(được sửa đổi, bổ sung năm 2014) đánh dấu một bước tiến lớn của ngành Thi hành

án dân sự, nó đã đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của hoạt động tổ chức thi hành ándân sự, tạo ra một hành lang pháp lý mạnh mẽ để các cơ quan Thi hành án dân sựthực hiện chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mình Trong hoạt động giải quyếtkhiếu nại Luật Thi hành án dân sự đã có những điểm tiến bộ hơn so với các Pháplệnh Thi hành án dân sự trước đây, phần nào khắc phục những hạn chế trong việcgiải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự Đối với giải quyết khiếu nại về cưỡngchế trong thi hành án dân sự cũng phải căn cứ và áp dụng các trình tự, thủ tục theocác quy định về giải quyết khiếu nại được Luật Thi hành án dân sự quy định, LuậtThi hành án dân sự từ đó làm căn cứ để xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bảnquy định chi tiết về giải quyết khiếu nại mà rất quan trọng là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn thi hành Luật, Thông tư 02/2016/TT-BTP ngày01/02/2016 của Bộ Tư pháp quy định về quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo,

đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự, Quy chế giải quyết khiếu nại

tố cáo về thi hành án dân sự do Tổng Cục Thi hành án dân sự ban hành kèm theoquyết định 1318/QĐ-TCTHADS ngày 30/9/2013 Ngoài ra, còn phải kể đến văn bảnluật rất quan trọng quy định trực tiếp về khiếu nại, đó là Luật Khiếu nại áp dụngtrong lĩnh vực hoạt động hành chính nhà nước Các luật và văn bản trên đã quy địnhthẩm quyền, trình tự giải quyết khiếu nại cũng như quyền, nghĩa vụ của người khiếunại, thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại…

Trang 23

Trình tự giải quyết khiếu nại

Từ các quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên, trình tự - cách thứcgiải quyết khiếu nại có thể chia thành các giai đoạn với các quy định cụ thể như sau:

Giai đoạn thứ nhất: Tiếp nhận khiếu nại; vào sổ, phân công việc xử lý đơn

thư và phân loại, xử lý đơn khiếu nại

1 Việc tiếp công dân đến khiếu nại được thực hiện tại trụ sở cơ quan theoquy định hoặc tại trụ sở tiếp công dân của cơ quan có thẩm quyền khác theo yêucầu

Trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; người được giaonhiệm vụ tham mưu giải quyết khiếu nại thực hiện việc xác minh, đối thoại tại địaphương thì địa điểm tiếp được thực hiện tại trụ sở của Cơ quan thi hành án dân sựđịa phương, hoặc nhà trưởng thôn, trưởng bản, hoặc trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xãnơi đang thực hiện việc thi hành án

2 Tại buổi tiếp dân, sau khi nghe người khiếu nại trình bày về nội dungkhiếu nại, người tiếp phải xem xét để xác định thẩm quyền giải quyết đối với nộidung khiếu nại đó

Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại trực tiếp về một nội dung, thì ngườitiếp hướng dẫn những người khiếu nại cử người đại diện để trình bày nội dungkhiếu nại Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phảighi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ; có chữ ký của những ngườikhiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyếtkhiếu nại;

Trường hợp khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mìnhthì người tiếp từ chối nhận đơn nhưng phải giải thích, hướng dẫn đương sự gửi đơnđến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết

Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thìngười tiếp phải nhận đơn Trường hợp đương sự trình bày chưa rõ về nội dungkhiếu nại; chưa cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luậtthì người tiếp yêu cầu người khiếu nại giải trình và thông báo để họ biết, bổ sung

Trang 24

thông tin, tài liệu.

3 Việc giải thích, hướng dẫn và từ chối nhận đơn khiếu nại phải lập thành biên bản; việc nhận đơn phải được lập giấy biên nhận và cấp cho người khiếu nại

4 Đơn khiếu nại hoặc biên bản ghi lời trình bày về nội dung khiếu nại phải được chuyển ngay cho văn thư cơ quan để vào sổ theo quy định

5 Văn thư chịu trách nhiệm tiếp nhận, vào sổ đối với đơn khiếu nại dođương sự gửi; do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chuyển đến và tiếp nhậnthông qua việc tiếp công dân

Việc vào sổ phải được thực hiện ngay trong ngày tiếp nhận, có các thông tin

cơ bản về việc khiếu nại (họ và tên, địa chỉ, trích yếu nội dung; nguồn tiếp nhận,ngày gửi, ngày nhận)

Đối với đơn thư gửi đích danh thì Văn thư phải chuyển đến đúng người được

đề gửi ngay trong ngày tiếp nhận để xem xét, xử lý

6/ Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, công chứctham mưu giải quyết phải tiến hành nghiên cứu nội dung khiếu nại, phân loại và xử

lý như sau:

- Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quanmình theo quy định tại Điều 142, Điều 157 Luật thi hành án dân sự, nhưng chưa đủđiều kiện thụ lý do người khiếu nại chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật thìcông chức tham mưu giải quyết khiếu nại soạn thảo, trình Lãnh đạo xem xét, ký vănbản hướng dẫn, yêu cầu người khiếu nại thực hiện để được thụ lý, giải quyết

- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình theoquy định tại Điều 142, Điều 157 Luật thi hành án dân sự và người khiếu nại đã thựchiện đúng quy định của pháp luật thì phải thụ lý, giải quyết theo quy định

- Trường hợp khiếu nại có một phần nội dung thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa cơ quan mình theo quy định tại Điều 142, Điều 157 Luật thi hành án dân sự,một phần thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác, thì chỉ tiến hành xem xétnhững nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình Đối với những nộidung thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác thì chuyển cho cơ quan có

Trang 25

thẩm quyền.

- Trường hợp khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quanmình nhưng không xác định được cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì công chứctham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo soạn thảo, trình lãnh đạo xem xét, ký côngvăn thông báo, trả lời để đương sự biết

- Trường hợp khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thihành nhưng không có bằng chứng mới thì không thụ lý nhưng phải có văn bản chỉdẫn, trả lời cho người khiếu nại được biết

- Trường hợp đơn khiếu nại đã được chuyển, chỉ dẫn, thông báo, trả lời, giảiquyết theo quy định của pháp luật nhưng đương sự vẫn tiếp tục có đơn cùng nộidung; đơn đồng thời đề gửi nhiều cơ quan, trong đó đã đề gửi cơ quan có thẩmquyền giải quyết; đơn đã mời người khiếu nại hai lần (theo địa chỉ cung cấp trênđơn) để xác định nội dung khiếu nại, yêu cầu cung cấp tài liệu nhưng không đến màkhông thông báo lý do thì lưu đơn

Giai đoạn thứ hai: Thụ lý đơn khiếu nại, yêu cầu báo cáo, giải trình, cung

cấp hồ sơ, tài liệu

1 Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại dovăn thư chuyển, công chức được giao tham mưu giải quyết khiếu nại có nhiệm vụsoạn thảo Thông báo về việc thụ lý đơn khiếu nại trình Lãnh đạo xem xét, cho ýkiến và ký ban hành

2 Công chức được giao tham mưu giải quyết khiếu nại có nhiệm vụ lập hồ

sơ giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật thi hành án dân sự

3 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại dovăn thư chuyển, công chức được giao tham mưu giải quyết khiếu nại có nhiệm vụsoạn thảo Công văn yêu cầu báo cáo giải trình và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liênquan trình Lãnh đạo xem xét, cho ý kiến, ký ban hành

Trường hợp người bị khiếu nại là Chấp hành viên thì Lãnh đạo trực tiếp yêucầu Chấp hành viên báo cáo giải trình bằng văn bản, cung cấp hồ sơ vụ việc màkhông cần có công văn yêu cầu

Trang 26

4 Thực hiện việc báo cáo giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu:

a) Đối với Chấp hành viên thì thời hạn thực hiện là không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu

b) Đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới thì thời hạn thực hiện báocáo giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu là không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngàynhận được công văn

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc trường hợp gấp, khẩn thì đồngthời với việc phát hành công văn yêu cầu theo đường bưu điện, công chức đượcgiao tham mưu giải quyết khiếu nại có thể sử dụng phương tiện điện thoại, fax hoặcthư điện tử để kịp thời yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện

Việc báo cáo giải trình, cung cấp tài liệu có liên quan theo đường điện thoại,fax hoặc thư điện tử phải được cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới thực hiện trongthời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp đặc biệtkhác

Giai đoạn thứ ba: Tổ chức xác minh, đối thoại tại địa phương; Tổ chức cuộc

họp, trao đổi ý kiến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trưng cầu giámđịnh và áp dụng các biện pháp cần thiết khác

Trường hợp cần thiết phải tổ chức xác minh, đối thoại trực tiếp tại địaphương để giải quyết khiếu nại thì xử lý như sau:

1 Xây dựng kế hoạch xác minh, đối thoại:

Trường hợp giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biệnpháp cưỡng chế thi hành án thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày raThông báo thụ lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong kếhoạch trình Lãnh đạo

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi về ápdụng biện pháp cưỡng chế thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra Thông báo thụ

lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo kế hoạch trình Lãnh đạo

Kế hoạch xác minh, đối thoại bao gồm thành phần, thời gian, các công việccần thực hiện Thời gian thực hiện việc xác minh, đối thoại để giải quyết khiếu nại

Trang 27

đối với đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế không quá 05ngày làm việc.

Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạophải xem xét, cho ý kiến Trường hợp đồng ý với đề xuất thì Lãnh phê duyệt ngaytrong ngày

2 Tổ chức việc xác minh, đối thoại

a) Thực hiện kế hoạch xác minh, đối thoại:

Người được giao thực hiện việc xác minh, đối thoại phải tổ chức việc xácminh, đối thoại theo thời hạn sau: Trường hợp giải quyết khiếu nại đối biện phápcưỡng chế là 01 ngày làm việc; trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu về áp dụngbiện pháp cưỡng chế và giải quyết khiếu nại lần hai là 03 ngày làm việc, kể từ ngàyphê duyệt

b) Thủ tục xác minh, đối thoại:

Người được giao thực hiện việc xác minh, đối thoại phải tổ chức việc xácminh, đối thoại theo kế hoạch đã được phê duyệt Kết quả làm việc phải được thểhiện bằng biên bản, phản ánh đầy đủ, trung thực về nội dung trình bày, chứng cứ, tàiliệu mà đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân trình bày, cung cấp Biên bản phải cóchữ ký của những người tham gia và cấp cho đương sự, cơ quan, tổ chức có liênquan Trường hợp có người không đồng ý ký tên thì phải ghi rõ lý do vào biên bản

3 Báo cáo kết quả xác minh, đối thoại:

Người được giao thực hiện việc xác minh, đối thoại phải báo cáo người cóthẩm quyền giải quyết khiếu nại kết quả xác minh, đối thoại theo thời hạn sau:Trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu về áp dụng biện pháp cưỡng chế và giảiquyết khiếu nại lần hai là 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc xác minh, đốithoại

4 Tổ chức cuộc họp, trao đổi ý kiến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan, trưng cầu giám định và áp dụng các biện pháp cần thiết khác

- Lãnh đạo phụ trách công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và phụ trách côngtác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án có trách nhiệm thông tin kịp thời, phối

Trang 28

hợp chặt chẽ với nhau đảm bảo thống nhất trong việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ

và giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự Trường hợp vụ việc có tính chất phứctạp, có vướng mắc về pháp luật, quan điểm giải quyết, Lãnh đạo phụ trách công tácgiải quyết khiếu nại và phụ trách công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành ánphải kịp thời báo cáo Tổng cục trưởng (Cục trưởng) xem xét, quyết định

- Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cóthể tổ chức cuộc họp, trao đổi ý kiến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;trưng cầu giám định và tiến hành các biện pháp cần thiết khác

- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thể tự mình trưng cầu giámđịnh, chi phí do Ngân sách nhà nước chi trả Trường hợp người khiếu nại yêu cầugiám định, giám định lại thì phải chịu chi phí

Giai đoạn thứ tư: Soạn thảo, xem xét, chỉnh sửa, ký quyết định giải quyết

khiếu nại

1/ Ra quyết định giải quyết khiếu nại theo trình tự rút gọn

1 Trường hợp nội dung đơn khiếu nại, các tài liệu gửi kèm theo của ngườikhiếu nại và báo cáo giải trình cùng hồ sơ, tài liệu có liên quan do người bị khiếunại cung cấp đã rõ ràng, có đủ căn cứ, cơ sở pháp lý để kết luận, giải quyết thì soạnthảo quyết định giải quyết khiếu nại theo trình tự rút gọn

Quyết định phải đúng thể thức và có đầy đủ nội dung theo quy định

Quyết định phải xác định đầy đủ nơi gửi theo đúng quy định của pháp luật.Trường hợp xử lý đơn do cơ quan, người có thẩm quyền chuyển đến thì phải gửihoặc thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, người có thẩm quyền đã chuyểnđơn Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì chỉ dự thảo 01quyết định giải quyết khiếu nại kèm theo danh sách những người khiếu nại

2 Thời hạn soạn thảo, xem xét, chỉnh sửa, ký quyết định giải quyết khiếu nạiđược thực hiện như sau:

- Đối với giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về áp dụngbiện pháp cưỡng chế: Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày ra Thông báo thụ

lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong quyết định trình

Trang 29

Lãnh đạo.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạo

Vụ (Phòng) phải xem xét, cho ý kiến Trường hợp phải chỉnh sửa dự thảo thì việcchỉnh sửa phải tiến hành ngay trong ngày làm việc Trường hợp dự thảo quyết định

đã phù hợp thì Lãnh đạo Vụ (Phòng) ký trách nhiệm vào dự thảo và trình Lãnh đạoTổng cục (Cục)

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạoTổng cục (Cục) phải xem xét việc ký ban hành

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạo Chi cụcphải xem xét việc ký ban hành

- Trường hợp giải quyết khiếu nại lần hai:

Đối với khiếu nại quyết định, hành vi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thờihạn để xem xét, cho ý kiến là 15 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo Trường hợpphải chỉnh sửa dự thảo thì việc chỉnh sửa phải tiến hành ngay trong ngày làm việc.Trường hợp dự thảo không cần chỉnh sửa thì Lãnh đạo Vụ (Phòng) ký trách nhiệmvào dự thảo, trình Lãnh đạo Tổng cục (Cục)

Đối với khiếu nại quyết định, hành vi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thờihạn để Lãnh đạo Tổng cục (Cục) xem xét việc ký ban hành là 10 ngày, kể từ ngàynhận được dự thảo

2/ Ra quyết định giải quyết khiếu nại theo thủ tục thông thường

- Soạn thảo quyết định giải quyết khiếu nại:

Đối với giải quyết khiếu nại lần đầu về áp dụng biện pháp cưỡng chế vàtrường hợp giải quyết khiếu nại lần hai thì thời hạn là 05 ngày làm việc, kể từ ngàybáo cáo kết quả xác minh, đối thoại, công chức được giao tham mưu giải quyếtkhiếu nại phải hoàn thành việc soạn thảo Quyết định giải quyết khiếu nại, trìnhLãnh đạo

- Xem xét, chỉnh sửa, ký quyết định giải quyết khiếu nại

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi áp dụngbiện pháp cưỡng chế: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự

Trang 30

thảo, Lãnh đạo Vụ (Phòng) phải hoàn tất việc xem xét, cho ý kiến Trường hợp phảichỉnh sửa dự thảo thì việc chỉnh sửa phải tiến hành ngay trong ngày làm việc.Trường hợp dự thảo quyết định không cần chỉnh sửa thì Lãnh đạo Vụ (Phòng) kýtrách nhiệm vào dự thảo và trình Lãnh đạo Tổng cục (Cục).

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạoTổng cục (Cục) phải xem xét việc ký ban hành

Trong thời hạn 06 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạoChi cục phải xem xét việc ký ban hành

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần hai: Việc giải quyết khiếu nại đối vớiquyết định, hành vi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời hạn là 07 ngày làm việc,

kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạo Vụ (Phòng) phải xem xét, cho ý kiến.Trường hợp phải chỉnh sửa dự thảo thì việc chỉnh sửa phải tiến hành ngay trongngày làm việc Trường hợp dự thảo không cần chỉnh sửa thì Lãnh đạo Vụ (Phòng)

ký trách nhiệm vào dự thảo và trình Lãnh đạo Tổng cục (Cục) Việc giải quyếtkhiếu nại đối với quyết định, hành vi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời hạn là 04ngày làm việc, kể từ ngày nhận được dự thảo, Lãnh đạo Tổng cục (Cục) phải xemxét việc ký ban hành

- Phát hành, công khai, đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện kết quả giải quyết khiếu nại

Sau khi dự thảo được ký, Văn thư chịu trách nhiệm phát hành đến nơi nhậntheo đúng quy định về phát hành văn bản Sau khi văn bản giải quyết khiếu nại đãđược phát hành, Văn thư có trách nhiệm chuyển lại Vụ (Phòng) hoặc công chứcđược giao giải quyết vụ việc (đối với Chi cục) 02 bản để lưu

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm công khai quyết định giảiquyết khiếu nại theo một trong các hình thức dưới đây:

+ Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại công tác Trường hợp công bố tại cuộc họp cơ quan nơi người bị khiếu nại công tác thìthành phần tham dự cuộc họp phải bao gồm: người ra quyết định giải quyết khiếu

Trang 31

nại, người khiếu nại hoặc người đại diện, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cánhân có liên quan (nếu có) Trường hợp cần thiết, thì người ra quyết định giải quyếtkhiếu nại có thể ủy quyền cho người khác thực hiện các thủ tục công bố công khai;

+ Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Việc thông báo được thực hiện trên báo nói, báo hình, báo viết, báo điện tử.Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm lựa chọn một trong cácphương tiện thông tin đại chúng để thực hiện việc thông báo Trường hợp cơ quancủa người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có Cổng thông tin điện tử hoặc Trangthông tin điện tử thì phải công khai trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tinđiện tử

Số lần thông báo trên báo nói ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo hình ít nhất

02 lần phát sóng; trên báo viết ít nhất 02 số phát hành; thời gian đăng tải trên báođiện tử, trên Cổng thông tin điện tử hoặc trên Trang thông tin điện tử ít nhất là 15ngày, kể từ ngày đăng thông báo

+ Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan đã giải quyết khiếu nại

Trường hợp niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan

đã giải quyết khiếu nại, thời gian niêm yết quyết định giải quyết khiếu nại ít nhất là

15 ngày, kể từ ngày niêm yết

- Đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật

+ Trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại

Sau khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật,trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người giải quyết khiếu nại có tráchnhiệm đôn đốc, theo dõi, kiểm tra cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện

Căn cứ nội dung khiếu nại, chức năng quản lý, người giải quyết khiếu nại(Tổng cục trưởng, Cục trưởng) có thể giao cho đơn vị đã tham mưu giải quyết khiếunại, tố cáo thuộc quyền quản lý của mình hoặc Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân

sự cấp dưới theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện quyết định giải quyết

Trang 32

khiếu nại có hiệu lực pháp luật; kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nộidung theo dõi, kiểm tra phải được lưu hồ sơ giải quyết khiếu nại.

+ Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự được giao tổ chứcthực hiện quyết định giải quyết khiếu nại

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự được giao tổ chức thực hiện quyếtđịnh giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật phải áp dụng các biện pháp cần thiết

để bảo đảm quyết định được chấp hành nghiêm chỉnh; theo dõi, đôn đốc, kiểm traviệc thực hiện; báo cáo với người có thẩm quyền xử lý kịp thời những vấn đề phátsinh trong quá trình thực hiện

+ Trách nhiệm của cơ quan quản lý công chức có quyết định, hành vi bịkhiếu nại

Cơ quan quản lý công chức có quyết định, hành vi bị khiếu nại trong phạm vichức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quyết định giảiquyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công chứctrong việc thực hiện; xử lý hoặc báo cáo kịp thời để xử lý công chức có sai phạm;báo cáo những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện quyết định giải quyếtkhiếu nại có hiệu lực pháp luật

1.5 Các yếu tố tác động đến việc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

1.5.1 Sự lãnh đạo của Đảng

Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội lànguyên tắc được Hiến pháp ghi nhận, Với quy định đó, các hoạt động tư pháp cũngphải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Bằng nhiều cách khác nhau, sự lãnh đạo củaĐảng luôn được xem là chủ trương lớn và có tính chất quyết định đến các hoạt động

tư pháp nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng, cụ thể là Nghị quyết08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công

tác trong thời gian tới đã định hướng “thành lập cảnh sát tư pháp trên cơ sở tổ chức

và lực lượng hiện có ở ngành công an để hỗ trợ công tác thi hành án dân sự, khẩn

Trang 33

trương ban hành bộ luật tố tụng dân sự, bộ luật tố tụng hình sự, Luật Thi hành án dân sự,… làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp” Như vậy, vai trò lãnh

đạo của Đảng trong lĩnh vực thi hành án dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với ngành Thihành án dân sự trong đó có hoạt động giải quyết khiếu nại đối với cả công tác xây dựngpháp luật và quy định, thực hiện pháp luật Với những chủ trương, định hướng củaĐảng, năm 2008 Quốc hội đã xây dựng và ban hành Luật Thi hành án dân sự và cácvăn bản hướng dẫn thi hành và năm 2014, Quốc hội tiếp tục ban hành Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Thi hành án dân sự Sự ra đời của hệ thống văn bản phápluật theo các chủ trương, quan điểm của Đảng về thi hành án dân sự là một trong nhữngbước tiến lớn trong công tác thi hành án dân sự, nó đã trực tiếp qui định quyền, nghĩa

vụ của các chủ thể tham gia quá trình tổ chức thi hành án, quá trình thực hiện khiếu nại

và giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

Đối với việc giải quyết khiếu nại việc thi hành án dân sự của thủ trưởng cơquan Thi hành án dân sự, hiệu quả của việc giải quyết cũng phụ thuộc rất lớn củacấp ủy đảng cơ quan thi hành án…

1.5.2 Sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật về giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Đối với việc và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự,hiệu quả của việc giải quyết phụ thuộc vào mức độ hoàn chỉnh của pháp luật, cảpháp luật thi hành án dân sự và pháp luật về giải quyết khiếu nại khác nhau Bởi vì,nguyên tắc pháp chế đòi hỏi người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại đều phảitrên cơ sở pháp luật Những kiến nghị sẽ được trình bày ở Chương 3 sẽ cho thấy hệthống pháp luật này còn quá nhiều vấn đề bất cập Đó là một trong những nguyênnhân làm cho việc giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự hiệuquả không cao như mong muốn

1.5.3 Ý thức pháp luật, trách nhiệm công vụ trong thực hiện giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Trong hoạt động pháp lý, hoạt động giải quyết khiếu nại về thi hành án nóichung và hoạt động khiếu nại trong lĩnh vực cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng

Trang 34

thì ý thức pháp luật, trách nhiệm công vụ là yếu tố góp phần quan trọng quá trìnhthực hiện giải quyết khiếu nại sẽ giúp cho chủ thể giải quyết khiếu nại trong hoạtđộng giải quyết khiếu nại nói riêng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng củagiải quyết khiếu nại Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự khi thực hiện giảiquyết khiếu nại phải nắm vững các qui định của pháp luật, phải đánh giá trung thực,khách quan đồng thời phải có ý thức, thái độ đúng đắn tuân thủ qui định của phápluật, tránh tình trạng chủ quan, duy ý chí khi thực hiện giải quyết khiếu nại thuộcthẩm quyền của mình.

1.5.4 Sự giám sát, kiểm tra của nhà nước và xã hội trong hoạt động giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Đây là một yếu tố có tác động không nhỏ đến việc giải quyết khiếu nại vềcưỡng chế trong thi hành án dân sự, nhờ có sự kiểm tra, giám sát mà hoạt động giảiquyết khiếu nại sẽ luôn được đôn đốc, thực hiện đúng trình tự, tránh tình trạng “câudầm” hoặc giải quyết cho xong, lấy lệ Việc giám sát, kiểm tra của cơ quan, xã hộiđối với hoạt động giải quyết khiếu nại của của thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân

sự còn thể hiện sự dân chủ, qua đó nhân dân cũng có quyền giám sát đối với côngtác giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự, góp phần tạoniềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước, cán bộ công chức

1.5.5 Tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế:

Trong hoạt động giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sựthì tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế có ảnh hưởng không nhỏ

(hoạt động cưỡng chế thi hành án có yếu tố nước ngoài thì Cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh thực hiện) Do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập

quốc tế mà các tranh chấp dân sự, kinh tế và lao động cũng phát sinh ngày mộtnhiều và phức tạp hơn Hoạt động thi hành án dân sự ngày càng liên quan tới nhiều

cá nhân và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước đã tác động đến những lợi ích củacác tổ chức cũng như cá nhân mang yếu tố nước ngoài, việc thực hiện tốt các quyđịnh của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại sẽ tạo được tâm lý pháp lý

an toàn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo quyền được khiếu nại về thi

Trang 35

hành án của cá nhân, tổ chức nước ngoài được bình đẳng trước pháp luật.

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế mở ra sự hợp tác toàn diện về kinh tế, chínhtrị và cả pháp luật Điển hình như ở nước ta hoạt động thi hành án dân sự nói chung

và hoạt động giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự được hưởng lợi rất nhiều từchương trình hợp tác quốc tế với các nước khác như Pháp, Thụy Điển, Nhật Bản

Trang 36

Tiểu kết luận chương 1

Từ việc xem xét, nghiên cứu và đánh giá những vấn đề lý luận về cưỡng chế

và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự, tác giả thấy rằng: Vềmặt lý luận thì khiếu nại về cưỡng chế và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trongthi hành án dân sự có nhiều điểm tương đồng nhau Trong phần trình bày những vấn

đề lý luận về cưỡng chế và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế, luận văn đã xác địnhkhái niệm và chỉ ra vai trò của cưỡng chế và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trongthi hành án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các bên liên quan đến bản án và bảođảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Đối với giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự thì việcquy định về các hành vi, quyết định về cưỡng chế là đối tượng của khiếu nại là đặcđiểm để nhận dạng và phân biệt giải quyết khiếu nại về cưỡng chế với các quyếtđịnh và hành vi về thi hành án khác Để bảo đảm việc ra quyết định giải quyết khiếunại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự đúng đắn, bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của cá nhân, tổ chức và pháp chế trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại nóichung, lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng, việc giải quyết khiếu nại phải tuântheo các quy định của thủ tục hành chính giải quyết khiếu nại được pháp luật quyđịnh

Hoạt động giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự phụ thuộc vào nhữngnhân tố như: sự lãnh đạo của Đảng, các cấp ủy Đảng, sự hoàn chỉnh của pháp luật

về giải quyết khiếu nại, ý thức pháp luật của người có thẩm quyền giải quyết khiếunại

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ CƯỠNG CHẾ TRONG THI

HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG NAM.

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam có liên quan đến giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự

Đặc điểm về tự nhiên

Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách thủ đô HàNội 820

km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 60 km về phía Nam và cách Thành phố

Hồ Chí Minh 900 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh ThừaThiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh KonTum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đônggiáp Biển Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố,

1 thị xã và 15 huyện với 247 xã, phường, thị trấn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tạithành phố Tam Kỳ Với diện tích 10,438 km² và dân số trung bình hơn 1.480 triệungười (2015), Quảng Nam đứng thứ 6 về diện tích, thứ 19 về dân số trong số 63tỉnh, thành phố của Việt Nam Mật độ dân số là 173 người/km² (đứng thứ 42/63) sovới 277 người/km² của cả nước Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyênhải Nam Trung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An)

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km² Địa hình thấp dần từ tâysang đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía tây, trung du ở giữa và đồng bằng venbiển phía đông Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độtrung bình năm trên 25 °C, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000-2.500mm vớihơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10, 11 và 12) Vu Gia - Thu Bồn và

Tam Kỳ là hai lưu vực sông chính

Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp,nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thãng Bình),Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành) Cù Lao Chàm là cụm đảo

Trang 38

ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thếgiới.

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết-khí hậu, địa hình,tài nguyên nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp vănhóa đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du lịch(du lịch văn hóa, du lịch sinh thái)

Điều kiện kinh tế xã hội

Đi cùng với điều kiện về thiên nhiên thuận lợi, điều kiện về kinh tế xã hộicũng có nhiều thành tựu lớn, từ một tỉnh nghèo thì các năm gần đây, Quảng Nam đãkhông còn phụ thuộc vào nguồn ngân sách của Trung ương mà đã tự chủ được cácnguồn thu và nộp về trung ương một phần đáng kể Có được thành quả đó là dochính sách phù hợp của Tỉnh ủy chính quyền tỉnh Quảng Nam, trong đó các nguồnthu chủ yếu là phát triển du lịch – dịch vụ, tập trung đầu tư Khu Kinh tế mở Chu Lai

và Khu Công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc để tạo nguồn thu cho ngân sách và tạocông ăn việc làm cho người lao động

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2013 - 2018 đạt khoảng 10%/năm Theo đó, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 -

8-2025 đạt khoảng 9 - 10%/năm Quảng Nam đặt mục tiêu đến năm 2020,GRDP/người đạt 3.400 USD; cơ cấu kinh tế các ngành phi nông nghiệp chiếmkhoảng 90%; ngành nông nghiệp chiếm khoảng 10% Đến năm 2025: GRDP/ngườiđạt khoảng 5.000 USD; cơ cấu kinh tế các ngành phi nông nghiệp chiếm hơn 92%,ngành nông nghiệp chiếm gần 8% Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên16%/năm giai đoạn 2016 - 2020; tăng 17%/năm giai đoạn 2021 - 2025 Thu ngânsách trên địa bàn tăng bình quân trên 15%/năm Huy động vốn đầu tư toàn xã hộihàng năm tương đương 30% GRDP

Đến năm 2020 cơ cấu lao động ngành nông lâm thủy sản chiếm 38,0%, côngnghiệp - xây dựng chiếm 31,9%, dịch vụ chiếm 30,1%; đến năm 2025 ngành nônglâm thủy sản chiếm 29,0%, công nghiệp - xây dựng chiếm 38,8%, dịch vụ chiếm32,2%

Trang 39

Đi cùng với những những thuận lợi đó phát sinh mặt trái của xác hội là cáctranh chấp về dân sự, kinh tế và thậm chí là các tội phạm về hình sự ngày một tăng,theo số liệu của 05 năm gần nhất của các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh QuảngNam đã thụ lý và tổ chức thi hành án số việc và tiền này càng tăng, trong đó các cócác vụ án với giá trị rất lớn lên đến hàng nghìn tỷ đồng.

2.2 Tình hình khiếu nại về cưỡng chế trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam.

Trong những năm gần đây các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Namphải thi hành một số lượng án khổng lồ với số tiền rất lớn, và hàng năm lượng ánkhông ngừng tăng lên, theo báo cáo thống kê thì số lượng các vụ việc phải đưa ra thihành năm 2014 tổng cộng là 8.768 việc, với giá trị về tiền là 1.430.657.000 VNĐ;năm 2015 là 9.168 việc, với giá trị là 1.59.135.256.000VNĐ; năm 2016 là 9.398việc, với giá trị là 1.687.036.352.000VNĐ; năm 2017 là 9.637 việc, với giá trị là1.817.698.563.000VNĐ; năm 2018 là 10.282 việc, với giá trị là1.984730.518.000VNĐ

Về tình hình cưỡng chế và giải quyết khiếu nại về cưỡng chế trong lĩnh vựcthi hành án dân sự Trong những năm gần đây thì số lượng việc thi hành án phải ápdụng biện pháp cưỡng chế ngày một tăng, đi cùng với đó là các vụ việc cưỡng chế

bị khiếu nại cũng tăng theo chiều tỉ lệ thuận Tuy nhiên, các khiếu nại về cưỡng chếthường phức tạp hơn, các khiếu nại rất đa dạng và liên quan đến nhiều người thậmchí liên quan đến nhiều tổ chức, nhiều cơ quan, ban ngành khác nhau Các vụ việckhiếu nại ảnh hưởng lớn đến đến các quyền, lợi ích của đương sự chủ yếu là thiệthại vật chất, gây ra sự bức xúc, thậm chí có vụ việc khiếu nại ảnh hưởng đến anninh, trật tự ở địa phương vì vậy vấn đề giải quyết tốt các vụ việc khiếu nại là yêucầu cấp bách đặt ra đối với toàn ngành Thi hành án dân sự

Ngày đăng: 03/07/2019, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về Chiến lược cải cách Tư pháp Khác
2. Bộ Chính trị, Thông báo kết luận số 130 – TB/TW ngày 10 tháng 01 năm 2008 về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới.II. Danh mục văn bản pháp luật Khác
3. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 Khác
4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Hiến pháp năm 2013 Khác
5. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 và năm 2015 Khác
6. Luật khiếu nại, tố cáo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 7. Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 Khác
8. Luật Cán bộ, công chức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2008 Khác
9. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2009 Khác
10. Luật Tố tụng hành chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2010 Khác
11. Nghị quyết không số ngày 06 tháng 10 năm 1992 của Quốc hội về việc bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ Khác
12. Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc Hội về việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh Khác
14. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 15. Pháp lệnh thi hành án năm 2004 Khác
16. Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự và thủ tục thi hành án dân sự Khác
17. Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tố chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh Khác
18. Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và công chức làm công tác Thi hành án dân sự Khác
19. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự Khác
20. Nghị định của chính phủ số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại,tố cáo Khác
21. Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
22. Thông tư số 06/2007/TT-BTP, ngày 05 tháng 7 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự Khác
23. Chỉ thị 21/2008/CT-TTg về việc tiếp tục tăng cường và và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 7 năm 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w