1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các quan điểm marketing và chỉ rõ quan điểm nào chi phối marketing hiện đại quan điểm nào chi phối marketing cổ điển liên hệ các hoạt động marketing tai việt nam

13 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các quan điểm marketing và chỉ rõ quan điểm nào chi phối marketing hiện đại quan điểm nào chi phối marketing cổ điển liên hệ các hoạt động marketing tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Ngọc Lệ Thủy, Nguyễn Mạnh Thắng, Bùi Thị Thu Thảo, Phạm Thùy Vân, Trần Văn Toản, Lý Hà Lan
Trường học Trường Đại học Hà Nội
Chuyên ngành Marketing
Thể loại Báo cáo thảo luận
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 104,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Marketing cổ điển không mang tính chất hệ thống hoàn toàn hoạt động marketing diễn ra trên thị trường chỉ là một khâu trong quá trình tái sản xuất lưu thông chỉ nghiên cứu một lĩnh vực

Trang 1

Nhóm thảo luận:

1 Nguyễn Thị Thùy Dương

2 Nguyễn Ngọc Lệ Thủy

3 Nguyễn Mạnh Thắng

4 Bùi Thị Thu Thảo

5 Phạm Thùy Vân

6 Trần Văn Toản

7 Lý Hà Lan

Nội dung thảo luận:

 Nghiên cứu các quan điểm marketing và chỉ rõ quan điểm nào chi phối marketing hiện đại, quan điểm nào chi phối marketing

cổ điển.

 Liên hệ các hoạt động marketing tai Việt Nam

****۩****

Hà Nội, ngày 11 tháng 4 năm 2008

Trang 2

Phần I: Cơ sở lý luận.

Ở phần này, chúng tôi xin được đưa ra một “bức tranh toàn cảnh” về

marketing Vì sau đây các bạn sẽ được hiểu thế nào là marketing? Vì sao phải sử dụng marketing? Quá trình phát triển của marketing gắn liền với các quan điểm về nó.

1 Quá trình hình thành và phát triển của marketing.

Những hành vi mang tính chất marketing gắn với việc trao đổi buôn bán hàng hóa xuất hiện từ thế kỷ 18 Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thuật ngữ marketing xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai hoạt động marketing phát triển sâu rộng, có những bước nhảy vọt và trở thành lĩnh vực khoa học phổ biến như ngày nay Marketing truyền bá sang Nhật và các nước Tây Âu vào những năm 50 – 60, các nước Đông Âu vào những năm 60 – 70, tại Việt Nam những năm 70 – 80 của thế kỷ 20 Quá trình phát triển của marketing có thể chia thành 2 giai đoạn như sau:

*Giai đoạn Marketing cổ điển

*Giai đoạn Marketing hiện đại (từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay)

2 Nghiên cứu quan điểm về marketing giai đoạn cổ điển và hiện đại:

Để nghiên cứu sâu sắc về hai giai đoạn marketing cổ điển và hiện đại ta sẽ so sánh chi tiết

hai giai đoan như sau:

Marketing cổ điển Marketing hiện đại

- Sản xuất xong rồi mới tìm thấy

thị trường là khâu quyết định toàn

bộ quá trình tái sản xuất, các biện

pháp đều nhằm vào mục tiêu bán

hàng đã sản xuất

- Marketing cổ điển không mang

tính chất hệ thống (hoàn toàn hoạt

động marketing diễn ra trên thị

trường) chỉ là một khâu trong quá

trình tái sản xuất (lưu thông) chỉ

nghiên cứu một lĩnh vực kinh tế

diễn ra chưa nghiên cứu được

những ý đồ và chưa dự đoán được

tương lai

- Tối đa hóa thị trường trên cơ sở

tiêu thụ khối lượng hàng hóa sản

xuất ra, thị trường chưa rõ mục

tiêu xác thực, nghĩa là có thể thực

hiện được hoặc không thực hiện

được

- Nghiên cứu thị trường rồi mới tiến hành sản xuất Quan điểm marketing hiện đại thì thị trường là: Nơi quyết định toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa, trên thị trường yếu tố con người có vai trò quyết định của quá trình kết thúc

- Marketing hiện đại mang tính thống nhất:

* Nghiên cứu tất cả các khâu trong quá trình tái sản xuất từ khâu nhu cầu trên thị trường => sản xuất => phân phối hàng hóa => bán hàng

* Nghiên cứu tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hóa, thể thao

* Không những nghiên cứu hoạt động đang diễn

ra mà nghiên cứu cả những suy nghĩ diễn ra trước khi hành động và nó dự đoán được tương lai

- Tối đa hóa trên cơ sở tiêu thụ tối đa nhu cầu khách hàng, như vậy các nhà doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ việc thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng

Như vậy ta nhận thấy xuyên suốt giai đoạn marketing cổ điển chỉ có một quan điểm duy nhất đó là: marketing là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận động hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đển người tiêu dùng nhằm mục đích lợi nhuận

Trang 3

Nhưng ở giai đoạn marketing hiện đại thì lại có đến 6 quan điểm về marketing:

1 theo P.Kotler thì marketing là hoạt động của con người nhằm hướng tới việc thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi

2 Theo D.Lindon thì marketing là toàn bộ những phương tiện mà doanh nghiệp sử dụng để xây dựng, bảo vệ và phát triển thị trường của họ, hoặc những khách hàng của họ

3 Theo J Lam bin thì marketing là quảng cáo là kích động là bán hàng bằng cách gây sức ép, tức là toàn bộ những phương tiện bán hàng, đôi khi mang tính chất tấn công được sử dụng để chiếm lĩnh thị trường hiện có Marketing là toàn bộ những công cụ phân tích dự đoán và nghiên cứu thị trường sử dụng nhằm phát triển cách tiếp cận những nhu cầu và yêu cầu

4 Theo D.Larue thì marketing là toàn bộ những hoạt động có mục tiêu dự đoán hoặc cảm nhận, khuyến khích, khêu gợi làm nảy sinh nhưng nhu cầu của người tiêu dùng về một loại sản phẩm dịch vụ nào đó, thực hiện sự thích ứng liên tục của bộ máy sản xuất và bộ máy thương mại của một doanh nghiệp đối với những nhu cầu

đã được xác định

5 Theo J.H.Crighton thì marketing là một quá trình cung cấp đúng sản phẩm đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí

6 Theo British institure of marketing thì marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu

và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa những hàng hóa tới người tiêu thụ cuối cùng đảm bảo cho công

ty thu được lợi nhuận như dự kiến

=> Từ 6 quan điểm về marketing hiện đại thì ta nhận thấy quan điểm mà marketing hiện đại bị chi phối nhiều nhất đó chinh là quan điểm thứ 6 của British institure of marketing

Đặc trưng cơ bản của marketing hiện đại:

Thị thường vừa là điểm xuất phát, vừa là khâu cuối cùng của toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa (phải tìm được thị trường mới tiến hành sản xuất) Như vậy marketing hiện đại bắt đầu từ nhu cầu thị trường đến sản xuất, phân phối hàng hóa Trong

marketing hiện đại thị trường sản xuất, phân phối và trao đổi được nghiên cứu trong một thể thống nhất

Kết quả đạt được là lợi nhuận tối ưu trên cơ sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng

 Bản chất của marketing hiện đại là việc định hướng vào người tiêu dùng với những yêu cầu và mong muốn của họ, đòi hỏi công ty phải trung thành với học thuyết và chủ quyền của người tiêu dùng Bản thân công ty chỉ có thể đạt đến mục tiêu của tổ chức trên cơ sở tạo ra, thỏa mãn và duy trì được sự mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm dịch vụ của công ty

Kết luận chung:

Đặc biệt khác so với marketing cổ điển, nếu như marketing cổ điển là những hoạt động đơn giản, rời rạc chủ yếu được phục vụ cho việc tiêu thụ những hàng hóa dịch vụ đã có sẵn nhằm mục đích thu lợi nhuận Tức là SẢN XUẤT TRƯỚC TÌM THỊ TRƯỜNG SAU – PHẠM VI HOẠT ĐỘNG HẸP Thì marketing hiện đại lại là việc định hướng vào người tiêu dùng với những yêu cầu và mong muốn của họ, đòi hỏi công ty phải luôn luôn

Trang 4

tìm hiểu thị trường phát hiện ra những nhu cầu của người tiêu dùng và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu đó, đồng thời công ty phải mở rộng phạm vi hoạt động của mình

Phần II: Liên hệ thực trạng hoạt động marketing tại Việt Nam.

Để nghiên cứu một cách sâu sắc về các hoạt động marketing ở Việt Nam, trước hết chúng ta phải nghiên cứu một cách tổng quát nhất về bối cảnh của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Từ bối cảnh chung đó chúng ta mới có thể đặt thực trạng các hoạt động marketing ở Việt Nam vào nghiên cứu.

1 Bối cảnh chung về nền kinh tế.

Trong nước

Việt Nam hội nhập WTO mở ra nhiều cơ hội và thị trường tiềm năng cho

thương hiệu Việt với môi trường cạnh tranh sòng phẳng hơn Đồng thờI cũng mở của thị trường Việt Nam cho nhiều thương hiệu nước ngoài từ các nước trong khu vực và thế giới Áp lực cạnh tranh sẽ buộc các doanh nghiệp phải tập trung vào những thị trường trọng điểm để bảo vệ thị phần

Sự phát triển của các phân khúc cao: Nhờ kinh tế phát triển, thu nhập tăng,

người tiêu dùng ngày nay bắt đầu chuyển từ “có chổ trú thân, ăn no, mặc ấm” sang “ăn ngon, mặc đẹp và chổ ở tiện nghi” Sự gia tăng bùng nổ nhu cầu tiêu dùng cao cấp mở ra nhiều phân khúc thị trường giá trị cộng thêm Một số doanh nghiệp đã kịp thời nắm bắt những nhu cầu này và đã phát triển sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng Bên cạnh các sản phẩm nội địa như Phở 24, Cà phê Highland, Spa, Trường học quốc tế, bệnh viện quốc tế

… các thương hiệu cao cấp của nước ngoài như Luis Vouton, Milano, Mango… cũng đã phát triển mạng lưới phân phối thâm nhập vào thị trường VN để đáp ứng những nhu cầu nầy

Cán cân thương hiệu nội-ngoại Sức cạnh tranh của một số thương hiệu Việt

trong thời gian gần đây đã tạo ra sự chuyển biến và thu hẹp nhận thức của người tiêu dùng về sự khác biệt giữa thương hiệu ngoại và thương hiệu Việt (Kinh Đô, Vissan, Bia Sài Gòn…)

Thương hiệu và chứng khoán Thị trường chứng khoán khẳng định giá trị và sự

đóng góp của thương hiệu đối với giá trị của doanh nghiệp và quyền lợi của cổ đông Những doanh nghiệp quan tâm và làm tốt công tác marketing hơn, cổ phiếu thường được đánh giá cao hơn những doanh nghiệp có chỉ số PE cao hơn nhưng không quan tâm thích đáng đến công tác marketing và thương hiệu

Cổ phần hoá Cổ phần hoá cắt đứt sự bảo bọc của nhà nước đặt doanh nghiệp vào

thế phải tự chèo chống và cạnh tranh Nhiều doanh nghiệp đã xác định “đổi mới hay là chết”, phải tái cấu trúc bộ máy doanh nghiệp để nâng cao tính hiệu quả và để có thể cạnh tranh tốt hơn Cổ phần hóa cũng tạo ra những sự chuyển đổi sợ hữu ngoạn mục Đây cũng là những cơ hội làm ăn lớn cho những ai biết nắm bắt

Môi trường cạnh tranh Việc nhà nước quyết định tách các doanh nghiệp quốc

phòng và doanh nghiệp Đảng làm kinh tế đơn thuần sang thành doanh nghiệp kinh tế cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế

An toàn vệ sinh và môi trường Các yếu tố an toàn, vệ sinh và môi trường đã

được nhà nước quan tâm hơn, người tiêu dùng ý thức hơn, cũng tạo ra những chuyển biến trên thị trường và hoạt động marketing Người tiêu dung ngày nay quan tâm hơn đến yếu

tố vệ sinh và an toàn, họ chấp nhận trả giá cao hơn để mua những sản phẩm vệ sinh hơn,

Trang 5

an toàn hơn Diễn biến nầy của thị trường cũng sẽ tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh, cơ hội marketing sản phẩm

Khu vực và thế giới

Công nghệ thông tin Sự phát triển nhanh chóng của CNTT tạo ra nhiều kênh

thông tin mới, cung cấp cho NTD nhiều thông tin về sản phẩm, nhiều lựa chọn phù hợp với nhu cầu hơn Các kênh thông tin điện tử với giá ngày càng rẻ hơn đã thực sự làm thay đổi cách mà các nhà marketer đưa sản phẩm đến với người tiêu dung

Người tiêu dùng ngày nay không cần phải đi ra khỏi nhà mà vẫn có thể chọn mua cho mình một sản phẩm ưng ý qua internet, điện thoại hay các kênh truyền hình tương tác

Chu kỳ sản phẩm CNTT cũng làm rút ngắn chu kỳ thị trường của sản phẩm, các

nhà sản xuất cũng nhờ vào tốc độ của CNTT mà có thể nắm bắt công nghệ mới nhanh hơn, điều nầy làm thâu hẹp khoản cách về chât lượng, công nghệ giữa các sản phẩm cùng tham gia trên thị trường Do đó thương hiệu ngày càng trở thành một yếu tố cạnh tranh then chốt

Quốc gia xuất xứ Xu hướng “outsource” từ phương Tây nhằm giảm giá thành

sản xuất đã phần nào làm suy giảm tầm quan trọng của yếu tố “quốc gia xuất xứ” Một số quốc gia xuất xứ trước đây được cho là mang đặc trưng chất lượng thấp nay cũng đã được đánh giá cao hơn như Korea, Trung Quốc và kể cả Việt Nam

Xung đột tôn giáo Xung đột Hồi giáo và phương Tây làm xoay chuyển hướng

đầu tư của các nước Trung Đông và các quốc gia Hồi giáo từ Mỹ và Tây Âu sang các quốc gia khác Ở tầm quốc gia nếu chính quyền biết tận dụng tốt thì đây là một cơ hội hiếm để phát triển kinh tế và thu hút đầu tư Kể từ sau sự kiện 9-11 khi Mỹ và các nước Tây Âu siết chặc kiểm soát các hoạt động có liên quan đến các nước Trung Đông,

Malaysia, Thái Lan đã trở thành một điểm đến được cộng đồng hồi giáo và các nước Trung Đông chọn để thay thế cho các nước phương Tây

Tình trạng ấm dần lên của trái đất Tình trạng ấm lên của trái đất, cuộc chiến

Iraq và mối đe doạ của một một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu tạo điều kiện phát triển những sản phẩm sử dụng công nghệ nhiên liệu thay thế, năng lượng xanh và chất lượng khí thải Nhiều quốc gia đầu tư khá mạnh vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm xanh vì họ cho rằng trong vòng từ 5-10 năm tới công nghệ xanh sẽ là công nghệ dẫn dắt thị trường

Từ bối cảnh chung của nền kinh tế, chúng ta có thể rút ra những thực trạng của hoạt động marketing ở Việt Nam như sau:

2 Thực trạng Marketing Việt Nam

a So sánh hoạt động marketing của các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài:

Các thương hiệu nước ngoài: Thông thường các thương hiệu nước ngoài khi họ

thâm nhập thị trường Việt Nam, đối với họ việc này được xem như là việc phát triển thêm một thị trường mới bên cạnh những thị trường mà họ đã sẵn có trong khu vực Họ không xuất phát như là một doanh nghiệp mới bắt đầu phát triển kinh doanh, xây dựng một thương hiệu mới như đa số các doanh nghiệp Việt Nam

Một điểm khác biệt cơ bản khác giữa những doanh nghiệp nước ngoài so với đa

số các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam là các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam với một chiến lược trung, dài hạn Ngay từ đầu họ đã sẵng sàng bỏ ra một ngân sách đầu tư cần thiết, và thậm chí sẵn sàng chấp nhận lỗ lã từ 3-5 năm đầu tiên

để thâm nhập thị trường và chiếm thị phần đa số Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 6

thường được cho là thiếu tầm nhìn chiến lược, bị hạn chế bởi khả năng quản trị và trình

độ chuyên môn, họ không đủ sự tự tin và trình độ chuyên môn để đánh giá xu hướng, cũng như tiềm năng của thị trường để mà có thể vạch ra một chiến lược lâu dài cho doanh nghiệp của mình

Khả năng tài chính hạn hẹp cũng là một trong những điểm hạn chế cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Điểm hạn chế nầy chính là sức ép làm cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động với ưu tiên là có thể tồn tại trong giai đoạn trước mắt hơn là nhắm đến phát triển bền vững lâu dài trong tương lai

Các doanh nghiệp nước ngoài thường đưa sang Việt Nam những nhân viên có bề dày kinh nghiệm từ các thị trường gần gủi với Việt Nam như Philippines, Thái Lan, Indonesia và họ tuyển dụng những nhân viên địa phương am hiểu thị trường địa phương

để phối hợp với những nhân viên nước ngoài có trình độ chuyên môn cao

Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ có thể sử dụng nguồn nhân lực

có sẵn từ địa phương, nguồn nhân lực vốn thích hợp và quen thuộc với nền kinh tế bao cấp hơn là thị trường cạnh tranh tự do

Các thương hiệu đã vào thị trường VN trên 5 năm hiện đã trải qua giai đoạn thăm dò và thâm nhập thị trường, hầu hết đã chiếm được vị trí khá vững chắc trên thị trường (Coca Cola, Pepsi, Unilever, P&G, Toyota, Nestle, BP, ICI…) và đã tạo ra lợi nhuận

Qua quan sát có thể định hướng chiến lược chung của các doanh nghiệp nầy như sau:

 Củng cố vị trí thị trường, duy trì độ nhận biết thương hiệu cao

 Mở rộng thương hiệu để gia tăng qui mô kinh doanh và hiệu quả giá trị

 Ngân sách marketing được cân đối hiệu quả để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận

Thương hiệu Việt Nam: Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam,

marketing được xem như là một công cụ hỗ trợ hoạt động bán hàng chủ yếu nhằm đạt mục tiêu bán hàng trong năm hơn là một định hướng chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp đa dạng hoá nghành nghề kinh doanh một cách tuỳ tiện, phát triển thành tập đoàn gồm nhiều nghành nghề không liên quan gì với nhau mà lại không có sự nghiên cứu chu đáo Bước đi chiến lược nầy tiềm ẩn nhiều rủi ro

Cơn sốt thương hiệu: Nhiều doanh nghiệp chỉ nhìn phần nổi của tảng băng

marketing Họ chỉ tập trung vào truyền thông đại chúng (ATL) mà không quan tâm và đầu tư thích đáng vào các hoạt động marketing khác như, truyền thông BTL, kênh phân phối, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, chiến lược giá, R&D và logistics Ngoài

ra ngay cả đối với các chiến dịch truyền thong ATL, nhiều doanh nghiệp triển khai một cách thiếu đồng bộ, thiếu sự phối hợp với các hoạt động marketing khác

Hệ quả của việc làm này là:

 Không đạt hiệu quả mong muốn trong mốc thời gian đề ra

 Doanh nghiệp nghi ngờ tính hiệu quả của những khoảng ngân sách đầu tư vào thương hiệu

 Chỉ chú trọng vào những mục tiêu trước mắt, nhất thời (bán được sản phẩm)

 Thiếu quan tâm thích đáng đến những mục tiêu mang tính chiến lược của thương hiệu (định vị, quan hệ thương hiệu - người tiêu dùng, cá tính, điểm khác biệt nổi trội của thương hiệu )

Nhiều doanh nghiệp thiếu tự tin, và có phần nào mang tính tự ti mặc cảm (chẳng hạn như thương hiệu mới, doanh nghiệp nhỏ, thiếu nhân lực, khả năng tài chính hạn hẹp, công nghệ lạc hậu, thiếu hiểu biết thị trường và khách hàng, thiếu v.v.) nên không dám mạnh dạn đặt ra các mục tiêu to lớn, chỉ hoạt động cầm chừng do vậy để vụt mất cơ hội

Trang 7

b Những tồn tại của hoạt động marketing ở Việt Nam:

Từ việc so sánh hoạt động marketing của các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài thì chúng ta có thể rút ra 8 điểm tồn tại cơ bản sau:

Chỉ làm tiếp thị khi công việc kinh doanh đi xuống:

Để công việc kinh doanh được phát triển, bạn cần phải xây dựng một chương trình tiếp thị có mục tiêu rõ rang và chương trình này phải được thực hiện thường xuyên bên cạnh những công việc hằng ngày của công ty Một trong những sai lầm mà các doanh nghiệp trẻ hay mắc phải là chỉ tập trung vào một số khách hàng quen thuộc mà bỏ qua hoạt động tiếp thị thường xuyên nhằm tìm kiếm những khách hàng mới Họ chỉ quay lại công tác tiếp thị khi công việc kinh doanh đang có chiều hướng xuống dốc Chính điều này sẽ làm cho một doanh nghiệp khó “sống” khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, việc mất bớt khách hàng là việc không thể tránh khỏi, bởi vậy nếu không làm tiếp thị thường xuyên, số lượng khách hàng của công ty bạn

có nguy cơ sẽ bị “teo” lại cho đến khi bạn buộc phải đóng cửa

Các chiến dịch tiếp thị thiếu tập trung:

Thông thường, những doanh nghiệp trẻ hay gặp thất bại trong công tác tiếp thị vì nhắm đến quá nhiều đối tượng khách hàng khác nhau trong khi ngân sách dành cho tiếp thị lại quá hạn hẹp Tập trung vào những khách hàng thật sự đang muốn nghe điều bạn nói, bạn sẽ tránh được những thất bại này Khi hướng những nổ lực tiếp thị vào một nhóm khách hàng mục tiêu đã được chọn lựa chính xác, bạn sẽ thu được những kết quả tốt đẹp Hãy lập ra danh sách những khách hàng tiềm năng tốt nhất và dồn hết những

nổ lực tiếp thị của bạn cho nhóm khách hàng này

Bỏ qua việc nghiên cứu và thử nghiệm thị trường

Bạn nghĩ rằng hàng triệu người sẽ mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ của công ty bạn nhưng bạn có tin chắc vào điều đó không? Trước khi bỏ nhiều tiền bạc ra để giới thiệu doanh nghiệp mới của mình, bạn hãy thực hiện nghiên cứu thị trường Có thể xem Internet là một trong những nguồn thông tin tốt nhất để bạn thực hiện điều này Bạn

có thể sử dụng những “chat room” (câu lạc bộ tán gẫu) trên Internet để lấy ý kiến phản hồi từ khách hàng và những tư liệu cần thiết mà không phải tốn kém quá nhiều chi phí Hay bạn cũng có thể thử nghiệm thị trường bằng cách thực hiện những cuộc khảo sát với các nhóm khách hàng tiềm năng Nếu làm tốt việc nghiên cứu và thử nghiệm thị trường, bạn sẽ tránh được những thất bại do những giả định sai về sản phẩm, dịch vụ hay khách hàng gây ra

Chỉ lệ thuộc vào vài phương thức tiếp thị

Thông thường, bạn có khuynh hướng chỉ lệ thuộc vào một vài phương thức tiếp thị mà bạn cảm thấy “thuận tay “ nhất Chẳng hạn, nếu thích gặp gỡ và nói chuyện với mọi người, bạn thường chọn cách tạo quan hệ trực tiếp (networking) Còn nếu bạn là người hay e dè, bạn có thể chọn cách gửi thư Đây chính là một sai lầm lớn trong tiếp thị, bởi vì như vậy, thông điệp tiếp thị của bạn sẽ bị giới hạn và không hướng đến được nhiều đối tượng khách hàng Do vậy, khi hoạch định chương trình tiếp thị, bạn hãy chọn nhiều hình thức khác nhau để có thể tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng., bất

kể là bạn đang ở giai đoạn nào của chu kỳ kinh doanh

Chi “chưa tới” cho hoạt động tiếp thị

Trang 8

Việc đầu tư cho ngân sách tiếp thị cũng quan trọng không kém gì việc đầu

tư vào máy móc thiết bị và những công cụ khác để vận hành doanh nghiệp Nếu bạn đi vay tiền ở ngân hàng, bạn có thể sẽ phải giải trình cho ngân hàng kế hoạch và ngân sách dành cho tiếp thị của công ty bạn Bởi nếu không có hoạt động tiếp thị hoặc hoạt động này không được đầu tư đúng mức, có khả năng bạn sẽ không trả được nợ vay ngân hàng

do không bán được hàng Ngay cả khi bạn không cần vay tiền ngân hàng hoặc của một ai khác, bạn cũng cần phải chi cho hoạt động tiếp thị một cách thoả đáng nhằm đạt được các mục tiêu hàng năm về doanh số

Không xây dựng được một hình ảnh chuyên nghiệp

Những tài liệu, hồ sơ, vật dụng mà bạn sử dụng cho hoạt động tiếp thị sẽ nói lên hình ảnh của công ty bạn Để thành công trong tiếp thị, bạn cần phải trang bị cho mình một loạt công cụ có tính nhất quán và liên kết với nhau để làm nổi bật hình ảnh công ty so với các đối thủ cạnh tranh khác Bạn cũng nên nhận thức tầm quan trọng của khách hàng về hình ảnh của công ty khi họ tiếp xúc với công ty qua điện thoại Chẳng hạn, việc sử dụng hộp thư thoại, thu âm lời chào khách hàng nghe có vẻ “chuyên nghiệp”

và trả lời các cuộc điện thoại gọi đến trong vòng 24 giờ cũng là một cách giúp bạn “đánh bóng” hình ảnh chuyên nghiệp của công ty mình

Không quan tâm đến khách hàng hiện hữu

Thường, khi chuyện kinh doanh đang phát đạt, bạn có khuynh hướng chỉ tập trung vào những khách hàng mới mà bỏ quên các khách hàng hiện hữu Bạn sẽ phải trả giá cho sai lầm này Bởi lẽ, bạn sẽ phải mất nhiều thời gian và chi phí hơn để thuyết phục khách hàng mới mua hàng so với việc khuyến khích khách hàng cũ tiếp tục mua hàng Hãy lập ra một danh sách khách hàng hiện hữu hoặc khách hàng thân thiết và bảo đảm rằng các chương trình tiếp thị của bạn có hướng đến những nhóm khách hàng này

Xem thường vai trò của công nghệ

Trong thời đại hiện nay, khi mà công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, phát triển không ngừng, bạn sẽ không đạt được nhiều thành công trong công tác tiếp thị nếu như không ứng dụng được những tiến bộ của công nghệ vào lĩnh vực này Chẳng hạn, hiện nay phần mềm quản lý quan hệ khách hàng và chương trình qua Internet là hai công nghệ hay được các công ty trên thế giới sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tiếp thị Dù bạn đang ở giai đoạn nào của chu kỳ kinh doanh, thành công chỉ đến khi bạn không ngừng tìm ra những phương thức mới và tốt hơn để giao tiếp với khách hàng hiện hữu cũng như khách hàng tiềm năng Công nghệ mới sẽ giúp bạn thực hiện điều đó

c Những mặt tích cực của hoạt động marketing tại Việt Nam:

Bên cạnh những tồn tại thì các hoạt động marketing tai Việt Nam cũng có những bước tiến mạnh mẽ với những con số đáng kể

Theo khảo sát hàng năm về thị trường dịch vụ marketing tại Việt Nam do Công ty Nghiên cứu thị trường định hướng (FTA research & Consultant) đưa ra hàng năm, thị trường dịch vụ chuyên nghiệp marketing (chỉ tính đến các công ty chuyên nghiệp và công

ty có doanh thu chính từ những dịch vụ marketing) hiện nay bao gồm khoảng hơn 120 công ty dịch vụ quảng cáo, gần 20 công ty dịch vụ nghiên cứu thị trường, 40 công ty chuyên tổ chức sự kiện, khoảng 130 công ty dịch vụ below the line và brand activation,

30 công ty dịch vụ PR

Tổng dung lượng thị trường dịch vụ marketing được ước lượng lên đến hơn 600 triệu USD, trong đó lớn nhất là thị trường quảng cáo với hơn 430 triệu USD, tiếp theo là các hoạt động kích hoạt thương hiệu và tổ chức sự kiện với khoảng 60 triệu USD cho mỗi

Trang 9

ngành Kế đến là dịch vụ nghiên cứu thị trường và PR với doanh số trên dưới 30 triệu USD cho mỗi ngành

Dịch vụ được các marketer sử dụng nhiều nhất là quảng cáo và nghiên cứu thị trường Đặc biệt là tỷ lệ sử dụng dịch vụ nghiên cứu thị trường và tổ chức sự kiện năm nay có tỷ lệ cao nhất trong số các dich vụ được marketer sử dụng so với những năm trước Sự kiện gia nhập WTO thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài rót vốn nhiều hơn vàoViệt Nam Các công ty hoàn toàn không thể mạnh dạn mở rộng kinh doanh nên chưa đánh giá cơ hội kinh doanh cũng như tiềm năng phát triển thị trường Nghiên cứu thị trường là công cụ hữu hiệu nhất giúp cho các nhà đầu tư thẩm định cơ hội tiềm năng

Trang 10

So với các kỳ nghiên cứu trước đây, hầu như không có sự thay đổi nhiều về cơ cấu sử dụng các dịch vụ Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng của các dịch vụ có sự chuyển biến khá

rõ rệt Quảng cáo vẫn dẫn đầu tỷ lệ sử dụng trong 12 tháng qua với 94%, tỷ lệ sử dụng dịch vụ nghiên cứu thị trường 91% tỷ lệ sử dụng dịch vụ tổ chức sự kiện và quan hệ đối ngoại lần lượt là 65% và 62%, tỷ lệ sử dụng dịch vụ tổ chức các hoạt động BTL 45% Tỷ

lê sử dụng các dịch vụ đều tăng nhẹ so với năm ngoái, riêng tỷ lệ sử dụng dịch vụ nghiên cứu thị trường và tổ chức sự kiện tăng nhiều nhất 5%

3 Dự báo xu hướng Marketing Việt Nam:

Vai trò của thương hiệu Vai trò của thương hiệu và marketing ngày càng được

khẳng định như là một công cụ cạnh tranh không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường

Hoạt động marketing đi vào chiều sâu Trong một thị trường có nhiều sản phẩm

cạnh tranh, khách hàng hàng ngày tiếp xúc với quá nhiều thông điệp marketing và có quá nhiều sự chọn lựa, thì một độ nhận biết cao đối với một thương hiệu không thôi là chưa

đủ, khách hàng muốn biết cụ thể thương hiệu đó mang lại lợi ích ưu việt gì so với các sản phẩm khác, có phù hợp với tôi không

Thị trường phân khúc Nhu cầu của mảng thị trường giá trị cộng thêm, thị

trường phân khúc cao sẽ ngày càng phát triển và định hình rõ hơn, thị trường đặc dụng ngày càng tăng về tỉ lệ so với thị trường đồng dạng

Điểm bán hàng Nhờ tiêu chuẩn sống được nâng cao, người tiêu dùng ngày càng

quan tâm đến sức khoẻ hơn, yếu tố vệ sinh, an toàn sẽ trở thành những “điểm bán hàng” hay thông điệp định vị quan trọng

Doanh nghiệp tái cơ cấu Sau làn sóng đa dạng hoá ngành nghề sẽ là làn sóng tối

ưu hoá nghành nghề Một số doanh nghiệp đi vào những nghành nghề mà không có lợi thế cạnh tranh có thể sẽ phải tái cơ cấu hoặc sẽ phải trả giá

Thương hiệu và thị trường chứng khoán Bên cạnh các khách hàng truyền

thống, các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán sẽ phải có những chiến lược truyền thông đặc biệt nhắm đến các nhà đầu tư, nhằm có thể duy trì giá chứng khoán cao

Ngày đăng: 22/08/2023, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w