1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khẩu phần ăn của ngựa bạch để xác định diện tích trồng cỏ va06 tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa

74 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khẩu phần ăn của ngựa bạch để xác định diện tích trồng cỏ va06 tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa
Tác giả Ngô Việt Cường
Người hướng dẫn TS. Trần Công Quân, TS. Trần Đình Quang
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông lâm kết hợp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đặt vấn đề (10)
  • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài (11)
    • 1.2.1. Mục tiêu của đề tài (11)
    • 1.2.2. Yêu cầu của đề tài (11)
  • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (12)
    • 1.3.1. Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học (12)
    • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất (12)
  • Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu (13)
      • 2.1.1. Cơ sở khoa học (13)
      • 2.1.2. Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo (18)
      • 2.1.3. Đặc điểm của giống cỏ VA06 (24)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam (28)
      • 2.2.1. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới (28)
      • 2.2.2. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam (32)
    • 2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Thái Nguyên (40)
      • 2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội (40)
      • 2.2.3. Thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi động vật hoang dã và bán hoang dã của Trại (0)
      • 2.2.4. Thực trạng phát triển đàn Ngựa bạch của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (0)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (46)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (46)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (46)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (46)
    • 3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu (46)
      • 3.3.1. Cách tiếp cận của đề tài (46)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (47)
      • 3.3.3. Phương pháp điều tra thực địa (47)
      • 3.3.4. Phương pháp phân tích & xử lý số liệu (49)
  • Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (13)
    • 4.1. Sơ lược về tình hình phát triển của Chi nhành Chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xã Tức Tranh, huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên (53)
      • 4.1.1. Tình hình sản xuất của của cây thức ăn chăn nuôi (53)
      • 4.1.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi ngựa (53)
      • 4.1.3. Công tác thú y (54)
    • 4.2. Khả năng cho năng suất của giống cỏ VA06 qua các thời vụ trong năm (55)
      • 4.2.1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ (55)
      • 4.2.2. Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ khác nhau (58)
      • 4.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06 (58)
    • 4.3. Xác định khẩu phần ăn của 01 Ngựa bạch (kg/con/năm) tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (60)
      • 4.3.1. Khẩu phần ăn của Ngựa bạch (60)
      • 4.3.2. Cân đối khẩu phần thức ăn của Ngựa bạch với diện tích cần trồng cỏ VA06 ở Chi nhánh chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (60)
    • 4.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng cỏ nhằm phát triển chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa, ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (64)
      • 4.4.2. Kỹ thuật trồng một số cỏ hoà thảo thân bụi (65)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (53)
    • 5.1 Kết luận (70)
    • 5.2. Kiến nghị (70)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGÔ VIỆT CƯỜNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH TRỒNG CỎ VA06 PHÙ HỢP ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO NGỰA BẠCH TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGÔ VIỆT CƯỜNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH TRỒNG CỎ VA06 PHÙ HỢP

ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO NGỰA BẠCH TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘNG VẬT BẢN ĐỊA, XÃ TỨC TRANH,

HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành đào tạo : Nông lâm kết hợp

Khóa học : 2016 - 2020

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGÔ VIỆT CƯỜNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH TRỒNG CỎ VA06 PHÙ HỢP

ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO NGỰA BẠCH TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘNG VẬT BẢN ĐỊA, XÃ TỨC TRANH,

HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đạo tạo : Chính quy Chuyên ngành đào tạo : Nông lâm kết hợp

Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu khẩu phần ăn của

Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi,

xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên

cứu của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS

Trần Công Quân và TS Trần Đình Quang (Nguyên trưởng khoa

CNSH&CNTP) Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra

Thái Nguyên, ngày …tháng… năm 2020

Xác nhận GV hướng dẫn

TS TRẦN CÔNG QUÂN

Người viết cam đoan

NGÔ VIỆT CƯỜNG

Xác nhận của GV phản biện

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với các kiến thức khoa học Qua đó, sinh viên

ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức lý luận, phuơng pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm và Ban chủ

nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu khẩu

phần ăn của Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Trong suốt quá trình thực tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy

cô giáo, các cô, các chú nơi tôi thực tập tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của

hai thầy giáo TS Trần Công Quân và TS Trần Đình Quang cùng toàn thể các

thầy, cô đã trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình báo cáo đề tài tốt nghiệp

Do trình độ và thời gian có hạn mặc dù đã cố gắng, song khóa luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những

ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Ngô Việt Cường

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của 1 kg cỏ hoà thảo tươi 8

Bảng 2.2 Thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo 14

Bảng 2.3 Tình chăn nuôi động vật hoang dã của Trang trại 35

Bảng 2.4 Số lượng Ngựa bạch phân theo mục đích chăn nuôi 36

Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ 47

Bảng 4.2 Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ (tấn/ha/vụ) 49

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06 (kg/ngày) 50

Bảng 4.4 Khẩu phần ăn của Ngựa nuôi theo mục đích kinh doanh 51

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN iii

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu 4

2.1.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.2 Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo 9

2.1.3 Đặc điểm của giống cỏ VA06 15

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 19

2.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới 19

2.2.2 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam 23

2.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Thái Nguyên 31

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội 31

2.2.2 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam 34

2.2.3 Thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi động vật hoang dã

và bán hoang dã của Trại 34

2.2.4 Thực trạng phát triển đàn Ngựa bạch của Trại chăn nuôi động vật

bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương 35

Trang 8

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 37

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 37

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 37

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 37

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 37

3.3.1 Cách tiếp cận của đề tài 37

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 38

3.3.3 Phương pháp điều tra thực địa 38

3.3.4 Phương pháp phân tích & xử lý số liệu 40

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Sơ lược về tình hình phát triển của Chi nhành Chăn nuôi động vật

bán hoang dã tại xã Tức Tranh, huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên 44

4.1.1 Tình hình sản xuất của của cây thức ăn chăn nuôi 44

4.1.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi ngựa 44

4.1.3 Công tác thú y 45

4.2 Khả năng cho năng suất của giống cỏ VA06 qua các thời vụ trong năm 46

4.2.1 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ 46

4.2.2 Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ khác nhau 49

4.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06 49

4.3 Xác định khẩu phần ăn của 01 Ngựa bạch (kg/con/năm) tại Trại chăn nuôi

động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương 51

4.3.1 Khẩu phần ăn của Ngựa bạch 51

4.3.2 Cân đối khẩu phần thức ăn của Ngựa bạch với diện tích cần trồng cỏ VA06

ở Chi nhánh chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương 51

4.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng cỏ nhằm phát triển chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa, ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương 55

Trang 9

4.4.1 Đề xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng thiếu cỏ ở một số

thời điểm trong năm 55

4.4.2 Kỹ thuật trồng một số cỏ hoà thảo thân bụi 56

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Kiến nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 10

đủ đáp ứng nhu cầu chăn nuôi nữa, đặc biệt là những hộ chăn nuôi lớn (chăn nuôi ngựa, bò sữa, chăn nuôi bò thịt, chăn nuôi bò vỗ béo) Đối với những hộ này, thức ăn là khâu vô cùng quan trọng quyết định trong chăn nuôi Chính vì vậy họ đã chọn giải pháp trồng cỏ để chủ động nguồn thức ăn thường xuyên và

có chất lượng cho đàn gia súc của mình

Cỏ VA06 là một giống cỏ lai được lai tạo giữa giống cỏ voi và cỏ đuôi sói của Nam Mỹ Hiện nước ta đã có rất nhiều giống cỏ có năng suất hiệu quả kinh

tế cao, trong đó giống cỏ Varisme số 06 ( viết tắt là VA06) là cho năng suất và chất lượng cao hơn rất nhiều, có thể đạt năng suất trên 480 tấn/ha/năm (năng suất chất xanh trung bình của cỏ voi chỉ từ 100 tấn đến 200 tấn/ha/năm, cỏ Ghine cho năng suất từ 80-150 tấn/ha/năm) So với các giống cỏ khác cỏ VA06 ít tốn công chăm sóc và có hàm lượng dinh dưỡng cao, đây là loại thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ Cỏ VA06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô để nuôi bò thịt,

bò sữa, dê, cá… mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho ăn thêm thức ăn tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường Hơn nữa, cỏ VA06 còn có khả năng chống chịu với nhiều điều kiện thời tiết bất lợi của môi trường như chịu hạn, chịu rét khả năng lưu gốc rất tốt trồng 1 năm có thể thu liên tục 6-7 năm (cỏ voi chỉ từ 3-4 năm là phải trồng lại) chính vì vậy giống cỏ này được xem là "

Trang 11

Vua của các loại cỏ" Hiện nay, giống cỏ này đã được trồng rộng ở một số trang trại cũng như nhiều hộ nông dân chăn nuôi đại gia súc nhưng năng suất của cỏ qua các thời vụ, qua các tháng trong năm cũng có sự khác biệt lớn khiến người nông dân và các trang trại chăn nuôi vẫn chưa nắm bắt được để điều chỉnh số đầu gia súc hợp lý vì vậy dẫn đến tình trạng thiếu cỏ ở một số tháng trong năm

Tại trung tâm nghiên cứu bảo tồn động vật hoang dã tại Phú Lương - Thái Nguyên Trung tâm chăn nuôi Ngựa bạch với số lượng lớn (80 con), do vậy việc cung câp thức ăn cho ngựa hết sức được chú trọng, Trung tâm đã trồng một sô giống cỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh cho ngựa Giống cỏ được trồng nhiều nhất ở đây là cỏ VA06

Trước tình hình đó chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Nghiên

cứu khẩu phần ăn của Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được khẩu phần ăn của Ngựa bạch trung bình/ngày và trung bình/năm (Kg/con/năm)

- Xác định sản lượng trung bình cỏ/ha/năm có thể cung cấp thức ăn cho động vật

- Cân đối lượng thức ăn (cỏ) với số lượng động vật (Ngựa bạch) để phát triển chăn nuôi Ngựa và hươu giải pháp phát triển mô hình

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

Đề tài thu thập số liệu về: Khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 Ngựa bạch trung bình một ngày (hoặc 01 năm); Xác định sản lượng trung bình kg/ha/năm tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

Cân đối sản lượng cỏ cho 01 ha/số lượng Ngựa bạch và đề xuất một số giải pháp phát triển tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị

về : Khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 Ngựa bạch trung bình một ngày (hoặc

01 năm); Xác định sản lượng trung bình kg/ha/năm tại tại Chi nhánh nghiên cứu

và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu, phát triển tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu của đề tài là những giải pháp thiết thực nhằm phát triển ngành chăn nuôi và trồng cỏ VA06 tại tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Cơ sở khoa học

2.1.1.1 Đặc tính thực vật của cỏ hoà thảo

Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28

họ phụ, 563 giống, 6802 loài Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng vì nó chiếm

95 - 98% trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4]

* Đặc tính sinh thái

Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong thảm cỏ do tính thích ứng rộng

và chúng có mặt ở tất cả các vùng khí hậu cũng như các vùng đất đai khác nhau

Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục tốt như: cỏ xương cá, cỏ lông đồi (Eulalia), cỏ B.decumbens

Một số loài sinh trưởng được ở những vùng đất ẩm, độ ẩm lớn từ 60 - 80%, mùa khô độ ẩm thấp hơn nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục bình thường như:

cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (festucarubra), cỏ đuôi mèo (pleuin pratense)

Có loài sống cả ở những nơi đất nhập nước, đất thụt lầy như: Cỏ môi (leersia

hexandra), cỏ bấc (juncus effusus), cỏ lồng vực (echilochloa crus - galli)

Dựa trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của từng loại cỏ mà

ta có thể chọn giống cỏ phù hợp để trồng trên các địa hình đất đai khác nhau, có

Trang 14

hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến,1976) [2]

Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại sau:

* Loại thân rễ: Loại thân này nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới mặt đất,

đại diện là cỏ tranh (imperata cylindrica) loài này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ

cỏ thưa, độ che phủ thưa có thể trồng làm đồng cỏ chăn thả

* Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ từ dưới mặt đất hoặc lên trên mặt đất

Cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tốt, tơi xốp và thoáng khí Đại diện

loại cỏ này là cỏ ghinê (Panicum maximum), cỏ mộc châu (Paspalum wirvilei)

Loại cỏ này có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả

* Loại thân bò: Cỏ loại này thân nhỏ và mềm chính vì vậy thường nằm ngả trên mặt đất một số giống như dây lang, từ các đốt có thể đâm rễ xuống mặt đất Do thân bò lan và nằm ngả trên mặt đất nên nó có khả năng tạo nhanh thành

một thảm cỏ dầy đặc, che phủ kín mặt đất Đại diện là cỏ pangola (Digitaria

decumbens), Lông para (Brachiaria mutica) Cỏ thân bò cho năng suất thấp, thường

dùng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ phơi khô, dự trữ cho gia súc vào mùa đông

* Loại thân đứng: Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới mặt đất hoặc hom trồng Mầm vươn thẳng lên giống như cây mía, cây ngô Thân cao, to, cho

năng suất cao Đại diện cỏ này là cỏ VA06 (Varisme số 6)

* Đặc tính sinh lý

- Nhu cầu về nước:

Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ đậu Hệ số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi cỏ họ đậu 214-

Trang 15

Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1974) ) [13]

- Nhu cầu về dinh dưỡng:

Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giầu mùn và đạm, lân, kali Nhu cầu dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn

Giai đoạn 1 (nảy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kali

Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân

Giai đoạn 3 (ra hoa, hình thành hạt) cần nhiều lân và kali

Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn.(Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981) [6]

- Nhu cầu về không khí:

+ Loại thân rễ, thân bụi, thân đứng chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí

+ Loại thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí hơn

* Đặc tính sinh trưởng

Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai đoạn

+ Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt lúc này tốc độ sinh trưởng chậm

+ Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày cỏ sinh trưởng

Trang 16

dự trữ đường bột tích luỹ ở gốc để phát triển cành lá sẽ bị kiệt, đồng cỏ chóng

bị tàn lụi

Đối với cỏ ghinê thu hoach khi thảm cỏ cao 60 - 90 cm, cỏ lông para 45 -

60 cm, cỏ pangola cao 35 - 50 cm (Hamphray, 1980) [14]

Theo Điền Văn Hưng (1964) [5] cho biết:

- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau khi trồng từ 50 - 55 ngày còn sau khi cắt 30 - 45 ngày

- Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày còn lứa sau khi cắt 35

- 45 ngày

- Cỏ thân đứng sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày

* Sức sống của cỏ hoà thảo

Sức sống của cây hoà thảo không giống nhau, có loài sống lâu năm nhưng

có loài cũng chỉ sống được một năm Vì vậy người ta chia cỏ hoà thảo ra làm 4 loại sau:

- Loại cỏ sống 1 năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như: cỏ Xu đăng, cỏ Lồng vực

- Loại cỏ sức sống ngắn (2 -3 năm) như: cỏ giày, cỏ mật (melinis

Trang 17

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của 1 kg cỏ hoà thảo tươi

(Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001) [25]

2.1.1.2 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo trong nông nghiệp

Thực tiễn sản xuất chỉ rõ rằng cỏ không những là thức ăn chủ yếu và tốt nhất của gia súc nhai lại mà nó còn là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao và tương đối ổn định, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ cần gieo trồng một lần mà sử dụng được trong nhiều năm Cỏ hoà thảo cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao, khi chế biến dự trữ ít rơi rụng lá, ít thối mốc, tỷ

lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao

Một hecta cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn chất xanh/ha/năm, 1ha cỏ trồng thân

bò cho 30 - 40 tấn, thân bụi cho 50 - 60 tấn, thân đứng cho 100 tấn/ha/năm (cỏ voi lai, kingrass), 1kg cỏ tươi cho từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với

250 - 500kcal ME (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4]

Theo tài liệu nghiên cứu nước ngoài, 1 ha cỏ trồng mỗi năm có thể cung cấp từ 5000 - 5500kg chất dinh dưỡng và 1000 - 1100kg đạm tiêu hoá Nhiều chuyên gia đồng cỏ cũng cho biết 1ha đồng cỏ tốt có giá trị dinh dưỡng bằng 27

- 28 tạ ngô hạt hoặc 27 - 28 tạ lúa mì (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976) [1]

Ngoài ra, đồng cỏ còn có lợi ích là không đòi hỏi kĩ thuật phức tạp, cỏ có thể trồng trên nhiều loại đất, cỏ trồng một lần có thể sử dụng được trong nhiều năm Như vậy, trồng cỏ cần đầu tư lao động ít hơn so với các loại cây trồng khác, từ đó

Trang 18

giá thành cũng tương đối hạ hơn Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài ý nghĩa làm thức ăn cho gia súc, cỏ còn có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất

2.1.2 Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo

Trong quá trình nghiên cứu để đánh giá một giống cỏ có tốt hay không tốt trước khi đưa vào sản xuất người ta thường căn cứ vào một số yếu tố chính sau:

2.1.2.1 Năng suất chất xanh

Là toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên đơn vị diện tích.Như chúng

ta đã biết cơ thể thực vật và ngoại cảnh có mối quan hệ hết sức khăng khít Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô, làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật Những điều kiện ngoại cảnh và yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của cỏ hoà thảo đó là:

* Điều kiện khí hậu

Khí hậu bao gồm lượng mưa và sự phân bố lượng mưa, ẩm độ không khí, cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng trong năm Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng cây trồng

Ánh sáng cung cấp năng lượng để thực vật quang hợp Cường độ ánh sáng

và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng quyết định tới số năng lượng nhận được của cây trồng

Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cỏ Nhiệt độ quá cao làm cho thực vật bốc hơi mạnh, làm cho cỏ khô héo Nhiệt độ thấp quá làm cho các mạch dẫn các chất dinh dưỡng co lại Các hệ thống men hoạt động kém Cây không phát triển được

Ẩm độ đất và không khí liên quan chặt chẽ đến lượng mưa, ẩm độ đất ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ cỏ và khả năng hút các chất dinh dưỡng Ngoài ra nó còn quyết định đến sự phát triển của vi sinh vật đất và độ tơi xốp của đất

Như vậy điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn đến các quá trình sinh hoá, diễn biến trong thực vật, như sự hấp thụ nước, hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự

Trang 19

trao đổi các chất khí, quang hợp, cuối cùng sẽ ảnh hưởng tới sự tích luỹ các chất hữu cơ và chất khoáng của thực vật

* Điều kiện đất đai

Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó, tính chất vật

lý cấu tượng đất sẽ ảnh hưởng đến độ ẩm đất, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hưởng tới năng suất cây trồng

Đất giàu mùn, tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp, rễ cỏ sẽ phát triển nhanh, mạnh, hệ

vi sinh vật hoạt động tốt cỏ sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt

Đất có hạt sét quá nhiều thì dí chặt, yếm khí, bộ rễ cỏ hoạt động kém, mặt khác chất độc tích luỹ trong đất nhiều làm cho cỏ phát triển kém, năng suất, chất lượng thấp

Đất có tỷ lệ cát quá cao, sét quá ít < 5% thì không giữ được nước và các chất dinh dưỡng cũng không đảm bảo cho sự sinh trưởng phát triển của cỏ

* Điều kiện phân bón

Phân bón là nguồn bổ sung cung cấp chất mầu cho đất Lượng phân bón cho cây trồng nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển, quá trình trao đổi chất của cây trồng Từ đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần dinh dưỡng Các nhà khoa học đã khẳng định “Phân bón quyết định trên 50 % việc tăng năng suất cây trồng” (FAO, Rome, 1984) [18]

+ Phân chuồng:

Phân chuồng (phân hữu cơ) là loại phân không thể thiếu đối với cây trồng Bón phân hữu cơ là biện pháp quan trọng cải thiện tính chất, tăng độ phì của đất, tạo tiềm năng cho năng suất cao

Thành phần phân chuồng có chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng bao gồm dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng, giúp cho cây trồng phát triển cân đối hơn

Để đảm bảo năng suất cây trồng tăng, đất không bị suy kiệt dinh dưỡng

và nền sản suất bền vững thì sử dụng phân chuồng là điều hết sức cần thiết

Trang 20

+ Phân đạm:

Đạm trong cây thường chiếm tỷ lệ 1 - 3% trọng lượng vật chất khô Đạm

có nhiều nhất lúc cây còn non và giảm đi khi cây ra hoa do khả năng hút chất dinh dưỡng lúc này của cây bị giảm đi

Trong cây đạm ở dạng protit đơn (các amino axít), protit kép (protein) các alcaloid và glucozit (Nguyễn Xuân Trường và cs, 2000) [15]

Đạm là thành phần chính của diệp lục, nguyên sinh chất, các loại men cần thiết cho quá trình trao đổi chất trong cây

Khi cây trồng thiếu đạm sẽ bị cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa thớt, ít quả

Khi cây quá nhiều đạm sẽ làm cho bộ rễ kém phát triển, phần trên mặt đất phát triển um tùm, cây yếu, hay đổ lốp, dễ mắc bệnh

Sản phẩm thu chính của cỏ là thân và lá do vậy mà đạm là yếu tố không thể thiếu khi sản suất Tuy nhiên khi bón đạm cho cỏ cần phải bón vừa phải, cân đối thì

sẽ làm tăng năng suất, tăng hàm lượng đạm tổng số trong cây, giảm hàm lượng xơ, gia súc dễ ăn và tăng tính ngon miệng Nếu bón nhiều đạm sẽ có hiện tượng cây tích luỹ nhiều alcaloit, glucozit làm cho cỏ có vị đắng giảm tính ngon miệng của gia súc Trong quá trình hình thành các chất trung gian do cây bị tiêu hao năng lượng quá nhiều cho nên hàm lượng đường bột trong cây sẽ giảm xuống

Đạm trong đất có tỷ lệ trung bình từ 0,02 - 0,4% (Theo Seppe - Satsaben, 1960)[23] Trong tổng số đạm trong đất có khoảng 95% ở dạng hữu cơ, còn 5%

ở dạng vô cơ gồm amoniac, nitrat, nitric (NH3, NO3-, NO2 ) và được gọi là đạm

dễ tiêu vì cây hút đạm trong đất chủ yếu ở dạng này

Đạm hữu cơ trong đất chủ yếu là do vi sinh vật phân giải các Prôtít thực vật, còn đạm vô cơ được phân giải từ đạm hữu cơ Cho nên khi đánh giá hàm lượng đạm trong đất người ta đánh giá chủ yếu thông qua hàm lượng đạm tổng

số và đạm dễ tiêu trong đất

Trang 21

+ Phân lân

Lân là cần thiết bậc nhất cho quá trình trao đổi chất của cây Có tác dụng điều hoà phản ứng của cây khi điều kiện môi trường đột ngột thay đổi, tăng cường sự phát triển của bộ rễ, kích thích cây bộ đậu hình thành nốt sần Ngoài

ra lân còn làm tăng phẩm chất nông sản

Lân trong cây chiếm tỷ lệ khoảng 0,3 - 0,4% vật chất khô, trong hạt tỷ lệ lân cao hơn trong thân lá và rơm rạ rất nhiều

Các dạng lân trong cây là nucleoprotit, phosphoprotit, lexithin, sacarophophat, photphatide (Nguyễn Xuân Trường và cs, 2000) [15]

Cây trồng hút lân vô cơ, chủ yếu dưới dạng ion H2PO2-, HPO4- - Ngoài ra cây có thể hút lân ở dạng hữu cơ được nhưng rất ít và chậm Chất Mg có tác dụng rất mạnh đến việc hút và vận chuyển lân trong cây do vậy khi bón Mg thì việc hút lân của cây sẽ dễ dàng hơn

Độ di chuyển của lân trong cây cũng nhanh hơn nhiều sự di chuyển lân trong đất, do trong đất có nhiều yếu tố có khả năng kết tủa hoặc kìm hãm sự di động của lân thực tế mà cây cần sử dụng

Lân trong đất chiếm tỷ lệ 0,02 - 0,08%, lân ở lớp đất mặt thường cao hơn

so với lớp đất dưới Các dạng lân trong đất gồm dạng lân hữu cơ và dạng vô cơ

Dạng lân hữu cơ: Chủ yếu có trong thành phần của mùn, dạng này cây ít hút Dạng lân vô cơ: Chủ yếu ở dạng phốt phát can xi và phốt phát sắt, nhôm (FePO4 AlPO4 )

Trang 22

Trong cây kali chiếm từ 0,5 - 1% VCK Hạt ngũ cốc chiếm nhiều hơn rơm

rạ Tro bếp có tỷ lệ kali rất cao Tỷ lệ kali ở trên mặt đất thường cao hơn phần dưới mặt đất và có chủ yếu trong dịch tế bào (80%), một phần bị chất keo của tế bào hấp phụ, khoảng  1% được giữ lại trong nguyên sinh chất

Trong đất kali chiếm tỷ lệ 0,2 - 0,4% Đất nhiệt đới chứa kali thấp hơn đất

ôn đới vì vùng nhiệt đới mưa nhiều, các ion K+ lại dễ bị rửa trôi (Sepp Sataben, 1960) [23]

Kali trong đất ở 3 dạng sau: Kali không trao đổi > kali trao đổi > kali hoà tan Kali là yếu tố dinh dưỡng cây hút được từ đất nhiều hơn Can xi và Magiê, cho nên việc bón nhiều các nguyên tố khoáng Ca++, Mg++, Na+ vào trong đất sẽ gây ảnh hưởng đến việc hút kali của cây và ngược lại

Khi độ pH thấp hoặc đất thiếu oxi thì việc hút kali của cây càng trở ngại Cường độ hút của cây khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng và khác nhau tuỳ theo loại cây trồng

* Thời gian thu cắt

Thời gian thu cắt có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng các giống cỏ Nếu cắt quá ít lần/năm thì cỏ sẽ bị già dẫn đến chất lượng kém và ảnh hưởng tới lứa tái sinh sau, ảnh hưởng đến sản lượng cỏ/năm

Nếu cắt quá nhiều lần/năm, cỏ chưa đủ thời gian tích luỹ các chất dinh dưỡng nuôi cây, bộ rễ phát triển kém hoặc bị teo đi ít nhiều, đất trồng dễ bị xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng đồng cỏ chóng bị thoái hoá Năng suất, chất lượng giảm

Xác định thời điểm thu cắt hợp lý sẽ khắc phục được cả hai vấn đề trên

Cỏ mềm tỷ lệ tiêu hoá của gia súc cao, hàm lượng protít thô trong VCK của cỏ

sẽ cao hơn và cỏ có khả năng tái sinh tốt

Thời gian thu cắt phụ thuộc vào các giống cỏ và mùa vụ Theo Nguyễn Khánh Quắc - Từ Quang Hiển, 1995 [11] cho biết thời gian thu cắt của một số giống cỏ hoà thảo trong mùa mưa thích hợp như sau

Cỏ Ghine (Panicum maximum ) : 30 - 35 ngày

Cỏ Voi (Pennisetum purpureum ) : 50 ngày

Cỏ Pangola (Digitaria decumbens): 60 ngày

Trang 23

2.1.2.2 Cơ sở đánh giá chất lượng các giống cỏ

Chất lượng của các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hoá học có trong giống cỏ đó (Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin, 1992) [14]

Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu đánh giá một giống cây thức ăn Trên cơ sở đó giúp cho các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc một cách hợp lý để chúng sinh trưởng và phát triển tốt

Thành phần hoá học có trong giống cỏ tập trung chủ yếu vào 3 chỉ tiêu:

đó là Vật chất khô (VCK), protein, xơ

Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất VCK và năng suất protein cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, trong đó chỉ tiêu protêin được chú ý nhiều hơn cả

Các giống cây họ đậu bao giờ cũng cho giá trị dinh dưỡng cao hơn cây thức

ăn hoà thảo Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả

Bảng 2.2 Thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo

Số

(Cv)

VCK (%)

Prôtêin thô (%)

Xơ thô (%)

15,20 16,46 16,60

10,50 10,56 9,31

32,48 32,10 31,80

20,50 21,00 22,10 24,50 23,80

9,30 8,35 8,49 8,29 10,34

38,10 35,06 35,60 44,70 34,60

20,60 19,80 23,10

10,05

- 8,57

35,00 31,00 35,50

(Nguồn: Nguyễn Ngọc Hà - Lê Hoà Bình và cs (1985)[3])

Trang 24

2.1.3 Đặc điểm của giống cỏ VA06

Cỏ VA06 là giống cỏ mới có nguồn gốc từ Nam Mỹ Đã được đưa vào nước

ta từ những năm 2000, cho đến nay giống cỏ này đã được trồng phổ biến ở nhiều nơi nhưng khả năng cho năng xuất tối đa vẫn chưa hoàn toàn được như ý muốn

* Đặc tính thực vật

Bước đầu trồng và theo dõi tôi thấy cỏ VA06 có hình dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, nhiều nước, khẩu vị ngon, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm,

và cá trắm cỏ Theo thông tin ở một số nước cỏ VA06 không chỉ làm thức ăn cho gia súc mà còn được trồng để làm nguyên liệu giấy và gỗ ván nhân tạo.Giống

cỏ VA06 yêu cầu điều kiện môi trường như sau: số ngày nắng trong 1 năm trên

100 ngày, độ cao so với mực nước biển dưới 1500m, nhiệt độ bình quân năm trên 150C, lượng mưa/ năm trên 800mm, số ngày không sương muối/ năm trên

300 ngày Do phổ biến thích nghi rộng, sức chống chịu tốt, nên tỷ lệ sống sau khi trồng rất cao, nói chung trên 98%, trồng ngay trên vùng đất thấp, ẩm ướt và rét, tỷ lệ sống vẫn trên 98%

Trang 25

Thời vụ: Tốt nhất là trồng vào vụ xuân (bắt đầu từ tháng 2 cho đến tháng 4) hàng năm, ngoài ra có thể trồng bất cứ mùa nào, khi có điều kiện khí hậu ẩm

Bón phân: + Bón lót: Phân chuồng : 15 - 20 tấn/ha

Supe lân : 200 - 300 kg/ha

+ Bón thúc: Cỏ VA06 là giống cỏ cho năng suất cao, nó đòi hỏi thâm canh cao Sau mỗi lứa cắt bon 500 - 100 kg đạm Ure/ha Cày rạch hàng rải phân đều và lấp đất

+ Bón hàng năm vào đầu xuân: Phân chuồng : 10 - 15 tấn/ha

Supe lân : 200 - 300 kg/ha

Kaliclorua : 100 kg/ha

Đạm Ure : 80 - 100 kg/ha

Sau 3 năm bón vôi 1 tấn/ ha cùng với bòn phân hàng năm đầu xuân

* Chuẩn bị giống: - Chọn cây thành thục đạt 6 tháng tuổi, khoẻ mạnh không sâu bệnh, bóc hết lá bẹ ở mầm nách (cây bánh tẻ)

- Dùng dao sắc cắt thành từng đoạn, cắt nghiêng mỗi đoạn một mắt, trên mỗi mắt có một mầm nách

- Đoạn thân trên của mắt ngắn hơn, đoạn thân dưới của mắt dài hơn để tăng tỷ lệ sống

- Sau đó xoa tro bếp vào vết cắt, hom xử lý đến đâu thì trồng ngay đến

đó để tránh mất nước

* Cách trồng: Có 3 cách trồng sau:

Cách 1: trồng dưới rãnh Trên ruộng trồng, làm rãnh sâu 14cm, dưới rãnh bón các loại phân lót, sau đó phủ 7cm đất mịn rồi nén nhẹ, đem hom đã chuẩn

Trang 26

bị sẵn đặt vào rãnh theo độ nghiêng 450, hoặc đặt hom nằm ngang dưới rãnh, phía trên mầm phủ 7cm đất mịn

Cách 2: trồng theo hốc Trên ruộng trồng, cuốc hố theo khoảng cách như trên Nếu trồng trên đồi thì các hốc phải trồng so le theo đường đồng mức Cách đặt hom như phương pháp trên

Cách 3: tách chồi để trồng Khi đồng cỏ đã 12 năm tuổi, tách 3/4 số cây liền rễ trong mỗi bụi, chú ý không làm hại rễ Sau đó ngắt thân non ở phía trên, chỉ giữ phần thân cách gốc 10-15cm Mỗi cây có thể có tới 12 mầm nách được đem trồng Nếu rễ quá dài thì dùng kéo cắt bớt Cách trồng cũng có thể trồng theo rãnh hoặc theo hốc như trên Cách trồng bằng cây thì tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, nói chung sau 2 tháng có thể cắt lứa đầu

Tưới nước và bón thúc Sau khi ra ngôi, nên dùng nước phân loãng để tưới giúp cây mọc rễ nhanh Nếu gặp hạn, cần tưới 1-2 lần cho đến khi cây có màu xanh

*Cách chăm sóc: - Trồng giặm Sau khi trồng, chú ý tưới nước giữ ẩm, nếu khuyết cây thì phải giặm bổ sung, đảm bảo mật độ giữ được trên 98%, đạt mức 30.000 -45.000 cây/ha

- Trong thời gian ban đầu, phải chú ý làm cỏ 1-2 lần Lần làm cỏ đầu tiên từ sau khi trồng 1 tháng, kết hợp bón mỗi hốc 10g urê Lần làm cỏ thứ 2 sau khi trồng 2,5 tháng, là thời kỳ cỏ phát triển nhanh nhất, mỗi cây bón 25g urê, đồng thời vun gốc để cây khỏi bị đổ ngã

- Tưới ẩm và bón thúc Muốn đạt năng suất cao, nếu gặp khô hạn thì cứ mỗi tuần phải tưới nước 1 lần, nhưng không để đọng nước Vào mùa mưa phải tiêu thoát nước kịp thời và phải bón thúc nhiều lần để cây đẻ sớm, đẻ khoẻ và sinh trưởng nhanh Khi cây cao 60cm thì bón phân hữu cơ hoặc phân hỗn hợp Sau mỗi lần cắt

2 ngày phải xới xáo và bón thúc 1 lần Mức bón 300-375 kg phân urê/ ha để nâng cao năng suất Trước khi vào vụ đông, nên bón 1 lần phân chuồng nhằm đảm bảo mầm qua đông và tái sinh năm sau được tốt Nơi có điều kiện thì sau khi ra ngôi

Trang 27

15 ngày cần bón thúc 1 lần bằng phân phun trên lá để nâng cao năng suất và chất lượng cỏ

- Chăm sóc cỏ làm giống: Với ruộng trồng cỏ để làm giống thì chỉ nên cắt 2-3 lần đầu vào trước tháng 7, sau đó không cắt tiếp mà chỉ bóc lá, nhưng phải trừ lại 6-8 lá trên cây Mỗi ha bón 750 kg phân lân nung chảy Khi cây cao đến 180cm trở lên thì thu hết lá ở phần phía dưới để sử dụng, nhưng phải giữ lại lá bao mầm nách và không làm tổn hại đến lá non Giữ cho cây khoẻ, không sâu bệnh để làm giống

- Phòng trừ sâu bệnh VA06 chống sâu bệnh rất tốt, nhưng đôi khi cũng

bị bệnh thán thư, phấn trắng, sâu xám, rệp, sâu đục thân, chủ yếu hại mầm non, thân Biện pháp phòng trừ chủ yếu là giữ vườn cỏ được thông thoáng Nếu phát sinh sâu bệnh thì dùng các biện pháp phòng trừ sinh học, hết sức tránh dùng thuốc hoá chất

* Cách thu hoạch và sử dụng:

- Thời vụ cắt Nói chung vào thời vụ cắt cứ 20 - 40 ngày cắt một lần trong các tháng 4-11 hàng năm Nói chung, nếu nuôi bò, dê, cừu và các gia súc nhai lại khác thì cắt vào lúc cây cao 130-170cm, mỗi năm cắt 5-6 lứa Nếu nuôi lợn,

cá trắm cỏ thì cắt lúc cỏ còn non, ăn hợp khẩu vị Nói chung, cắt vào lúc cỏ cao 80-120 cm, mỗi năm cắt 7-10 lứa Khi cắt cỏ thì cắt cách mặt đất 15cm, cắt nhẹ tay, không cắt quá thấp để tránh ảnh hưởng xấu đến tái sinh, tránh cắt vào ngày mưa vì dễ gây sâu bệnh

- Cách sử dụng cỏ Có 4 cách sử dụng cỏ: dùng làm thức ăn chất lượng tốt

để chăn nuôi; trồng để bảo vệ đất chống xói mòn, làm sạch, đẹp môi trường; dùng làm nguyên liệu giấy, ván ép và sản xuất đồ uống

- Cắt cỏ xanh để nuôi gia súc, gia cầm Lá cỏ tươi mềm, nhiều nước, khẩu

vị ngon, giàu dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá cao là thức ăn xanh tốt nhất để nuôi gia súc, gia cầm ăn cỏ, hàng năm thu vào các tháng từ tháng thứ 4 đến tháng 11, cắt vào lúc cây cao 100 - 150cm, 1 năm cắt 6-8 lứa, nếu chăm sóc tốt có thể cắt trên

10 lứa

Trang 28

- Làm thức ăn ủ xanh Giống cỏ VA06 có hàm lượng đường cao, ủ xanh rất tốt Trong thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 8, cỏ phát triển cực nhanh, năng suất rất cao, khi thân cao 150-200cm thì cắt phơi nắng nửa ngày đến 1 ngày, hạ độ

ẩm xuống 60%, rồi cắt thành từng đoạn 3cm để ủ xanh giành làm thức ăn trong mùa đông Trong khi ủ thì cho thêm 1% ure, 3% muối ăn nhằm nâng cao chất lượng thức ăn

- Sản xuất cỏ khô xanh Vào vụ năng suất cao, khi cây cao 150-180cm thì sau khi cắt đem phơi trực tiếp để làm thức ăn khô xanh Phải chọn ngày nắng, phơi 2-3 ngày, rồi bảo quản trong nhà râm mát, thông thoáng hoặc đánh thành từng đống, đề phòng lên men mốc Cỏ khô xanh cũng có thể đem nghiền thành bột cỏ để nuôi gia súc, gia cầm

- Chế biến thức ăn ủ nhẹ Khi cây cao 250-300cm thì cắt thành từng đoạn

35 cm sau đó phun vi khuẩn để lên men rồi đem chứa vào bịch được nén chặt, sau 30 ngày có thể lấy ra sử dụng để chăn nuôi

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới

Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng thì một trong những vấn đề cơ bản cần phải giải quyết là nguồn thức ăn xanh

Có hai phương thức để cung cấp dinh dưỡng cho gia súc nhai lại, đó là nguồn thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại được thoả mãn bằng thức ăn thô xanh) Chính vì vậy, nguồn thức ăn thô xanh được đặc biệt chú ý nhất là đối với nước kinh tế còn kém phát triển cũng như các nước phát triển

Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu, mà đặc biệt là ở Anh

đã tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được phát triển đúng với vai trò của nó

Trang 29

- Theo Điền Văn Hưng (1974) [5], ở Pháp vào năm 1942 chỉ có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì đến năm 1974 đã thay đổi: 12 triệu ha trồng

cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc

Ở Liên Xô cũ đã tăng diện tích trồng từ 2,1 triệu ha (1913) lên 7,3 triệu

ha (1933) và đến năm 1961 diện tích đã lên tới 51,9 triệu ha Diện tích cỏ không những tăng lên mà việc nghiên cứu, chọn lọc các giống cây cỏ năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng Ngoài giống cỏ nguyên chủng người ta còn lai tạo ra những giống cỏ có năng suất và chất lượng tốt Đây là những thành tựu đáng kể góp phần giải quyết thức ăn cho gia súc cả về số lượng và chất lượng Theo ước tính hiện nay trên thế giới, gia súc sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha đất dùng cho chăn thả và dùng cho sản xuất thức ăn gia súc diện tích này được đánh giá là lớn hơn 2/3 diện tích sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

Theo nghiên cứu cỏ có thể phát triển tốt ở đất thoáng nước tốt, có tích acid

và kém màu mỡ Tuy nhiên, cỏ cũng có khả năng phát triển tốt ở nơi đất không thoáng nước trong thời gian ngắn ở các nước như: Nam Phi, Nam Mỹ, Mỹ, Tiệp… các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công và đưa vào sử dụng nhiều giống cỏ cho năng suất, chất lượng tốt

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu Ngựa Bạch trên thế giới

Theo số liệu thống kê củ FAO, thế giới có 80 nước có ngành chăn nuôi ngựa phát triển với số lượng năm 2000 khoảng 63.000.000 con, đến năm 2003

có khoảng 60.000.000 con Nhằm nâng cao năng suất sản phẩm chăn nuôi ngựa, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu tạo ra nhiều giống ngựa có chất lượng cao như: Giống ngựa dòng Ku-Sun có năng suất sữa 14 – 21 lít, cao 156 – 160

cm, nặng 500 – 600 kg; Giống ngựa Ả Rập cao 151 – 153 cm, nặng 450 – 500

kg, chạy nhanh 55 – 60 km/giờ; ngựa Kabardin cao 150 – 155 cm, nặng 500 –

550 kg, chạy nhanh 45 – 50 km/giờ, kéo trùng 2000 kg; Giống ngựa Ku – Su dòng sản xuất thịt nặng 663 – 675 kg; Giống ngựa Ku – Sun dòng kéo – cưỡi trong 1 đêm đi được 250 – 280 km

Trang 30

Bên cạnh việc nghiên cứu tạo giống ngựa mới, nhiều nước đã tiến hành nghiên cứu chọn lọc các giống ngựa địa phương để từng bước cải tạo, pha máu với giống ngựa tốt có năng suất cao ở nước ngoài, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trong hộ gia đình

Từ máu và huyết thanh ngựa chửa, nhiều nước đã nghiên cứu tách chiết được thuốc kích dục tố cho gia súc, GamaGlobulin, vắc xin phòng dại và rắn cắn, kháng huyết thanh chống lép to, băng cầm máu, enzym phát hiện nhiễm độc thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, Trung Quốc là nước gần Việt Nam, ngựa Bạch được tuyển chọn nuôi thành các trang trại gia đình, chọn lọc nhân thuần, khai thác tinh bảo tồn ngựa bạch nhạn Theo Hasse và cs (2007), gen quy định màu trắng là gen trội W, khi tổ hợp gen là Ww ngựa sẽ có màu lông trắng toàn thân, da hồng, mắt nâu hoặc xanh Nếu ngựa cái trắng này lai với ngựa đực màu

sẽ cho đời con 50% màu trắng (Ww), 25% ngựa màu (ww) và 25% (WW) sẽ chết thai Tổ hợp gen gây chết (WW) đã được phát hiện từ năm 1953 và đã được khẳng định năm 1969

Màu lông là một tính trạng rất đặc biệt, đóng vai trò chính ngay trong thời gian đầu của quá trình thuần hoá động vật và sự chọn lọc đã bắt đầu trong các loài vật nuôi Trong khi rất nhiều loài động vật hoang dã có màu lông tương đối giống nhau, nhưng động vật nuôi, chẳng hạn như ngựa lại có rất nhiều kiểu màu lông Điều này phần lớn là do khác biệt trong chọn lọc động vật hoang dã khác với quần thể giống nuôi nhốt

Các gen ảnh hưởng đến màu lông và da của động vật có vú có thể chia làm hai nhóm chính: Một nhóm tác động về tổng hợp các sắc tố, một nhóm tác động vào các tế bào sinh ra sắc tố (Stefan, 2009)

Các gen kiểm soát màu lông ngựa đã được nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên gần đây các alen hay marker chức năng mới được phát hiện ở mức phân tử ADN

Ở ngựa có các màu lông cơ bản: hạt dẻ, hồng và đen được xác định bởi bốn alen, hai trong số đó thuộc locut Extension (E), hai alen còn lại thuộc locut

Trang 31

Agouti (A) Màu hạt dẻ và đen là kiểu di truyền lặn (Ee Ee và Aa Aa), màu hạt

dẻ lấn át màu đen Do đó màu đen chỉ biểu hiện khi kiểu gen Extension khác với kiểu gen Ee Ee Màu hồng là kết quả của tổ hợp Aa ở locut A và các alen Ee/

EE ở locut E

Đối với ngựa một số đột biến khác nhau quy định cho những màu lông chính đã được phân lập: Trong gen MC1R, đầu tiên Marklund (1996) đã phân lập được alen e quy định màu hạt dẻ của ngựa là do đột biến nucleotide đơn (C901T, AF 2883575) Tiếp theo, Wagner và Reissmann (2000) phân lập alen thứ hai là ea quy định màu hạt dẻ Trong phân tích gen ASIP, Rieder (2001) thông báo đột biến mất 11 bp được phát hiện ở dạng đồng hợp tử hoàn toàn có liên quan tới ngựa mang kiểu gen lặn màu lông đen Sự dịch chuyển màu của ba màu cơ bản là do hiệu quả tương tác của các alen cùng xuất hiện

Trong chăn nuôi, nhiều ngựa con sinh ra mang màu lông trắng là do bị bạch tạng Điều này sẽ gây khó khăn trong việc phân biệt giữa ngựa bạch và ngựa bạch tạng Ngựa bạch tạng thường không có khả năng sinh sản, ngựa con màu trắng sinh ra thường bị chết (hội chứng OLWS) Vấn đề này đã và đang được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Các tác giả Yang (1998), Santschi (1998) và Metallinos (1998) cho rằng đột biến hai nucleotid (TC353-354AG) trong gen Endothelin-B receptor (EDNRB) liên quan với hội chứng chết của ngựa con màu trắng (OLWS-overo lethal white symdrom) Đột biến dẫn đến thay đổi axit amin từ Isoleusine sang Lysine của G- protein couple receptor Hội chứng ngựa con chết được phát hiện là do đột biến đồng hợp tử,

do bố mẹ mang kiểu gen dị hợp tử

Yang (1998) sử dụng kỹ thuật PCR-RFLP từ cặp mồi ps2/hex1 cho thấy

sản phẩm PCR là 155 bp Cắt sản phẩm PCR bằng enzym giới hạn BfaI cho thấy

ngựa trắng mang alen chết có hai băng 136 bp và 19 bp, nhưng ngựa bình thường sản phẩm PCR không bị cắt

Trang 32

Nhân sản phẩm PCR từ cặp mồi ps4/ps5 sản phẩm PCR là 90 bp Cắt sản

phẩm PCR bằng enzỵm giới hạn Sau 3AI cho thấy ngựa mang alen chết không

bị cắt, nhưng ở ngựa bình thường sản phẩm PCR được cắt thành hai băng 70 bp

và 20 bp

Theo nghiên cứu của Santschi (1998) trên đàn ngựa 945 con màu trắng cho thấy: tất cả ngựa con có hội chứng OLWS là dạng đồng hợp tử của đột biến endothelin-B receptor Ile118Lys và không tìm thấy ngựa trưởng thành mang kiểu gen đồng hợp tử này Màu lông trắng được liên kết chặt chẽ với kiểu gen EDNRB Kiểm tra ADN (kiểu gen EDNRB) là cách duy nhất để xác định chắc chắn liệu các con ngựa màu trắng có thể sinh ra ngựa con bị mắc hội chứng OLWS hay không

Theo nghiên cứu của Haase (2007, 2009), phát hiện có 4 đột biến độc lập trong gen KIT ở ngựa chịu trách nhiệm về kiểu hình màu lông trắng trội trong nhiều giống ngựa Trong 7 họ ngựa nghiên cứu, chỉ duy nhất một họ ngựa trắng

có mang các đột biến trong kiểu gen Những đột biến được phát hiện mới đây gồm hai đột biến dịch khung, hai đột biến nhầm nghĩa và ba đột biến về vị trí ghép cặp (c.338-1G>C; c.2222-1G>A; c.2684+1G>A) Thực tế, số lượng alen của gen KIT của ngựa được mô tả đến mức độ phân tử là nhiều hơn bất kỳ các gen nào khác ở các loài vật nuôi khác

2.2.2 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, nhờ chủ trương chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp và trước nhu cầu về thực phẩm protein có chất lượng cao đã thúc đẩy ngành chăn nuôi có những bước phát triển mạnh Mặt khác, chính sách giao đất cho người sản xuất đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những mô hình chăn nuôi tập trung theo kiểu trang trại trong các hộ gia đình Để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi đại gia súc, cần đảm bảo đủ nguồn thức ăn đáp ứng nhu cầu của chúng Từ năm 1960 chỉ có 46 ha cỏ trồng thì năm 1961 và 1962 thì diện

Trang 33

tích này đã tăng lên tương ứng là 323 và 687 ha, năm 1976 đã có 5000-6000 ha

Để phát triển đồng cỏ, năm 1976 Bộ Nông Nghiệp đã phát hành “Qui phạm, xây dựng, dự trữ và quản lý đồng cỏ”, từ đó đến nay cả nước đã phát triển được hàng nghìn ha đồng cỏ, cụ thể trong mấy năm trở lại như sau: 2003 là 10.897ha, năm

2004 là 17.292 ha, năm 2005 là 27.563 ha (Cục chăn nuôi,2006) [8] , trên cơ sở

đó mà hàng năm giống cỏ đã được nhập và bước đầu nghiên cứu ở nước ta Hiện nay, có nhiều trung tâm nghiên cứu, khảo sát các giống cỏ như:

- Viện chăn nuôi Quốc Gia

- Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ sơn tây Hà Nội

- Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì Hà Nội

- Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Sông Công Thái Nguyên

Qua quá trình khảo nghiện và nghiên cứu, người ta thấy rằng giống cỏ VA06 sinh trưởng nhanh, năng suất cao, có khả năng thích nghi với đất cằn cỗi và acid Đặc biệt đây là giống cỏ cho sinh khối lớn và giá trị dinh dưỡng cao

Giống cỏ VA06 là giống cỏ được các trang trại cũng như nghành chăn nuôi

đại gia súc đặt là mục tiêu cho sự phát triển của nghành chăn nuôi ở nước ta

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu Ngựa bạch ở Việt Nam

a) Sơ lược về Ngựa bạch

Chữ “bạch” theo tiếng Hán-Việt nghĩa là trắng và vô tình hiểu ngựa bạch nghĩa là ngựa màu trắng Tuy nhiên thực tế không phải như vậy Ngựa bạch khác ngựa trắng

Ngựa bạch thực tế là những con ngựa bị bệnh bạch tạng, độ biến gen Do

đó ngựa bạch khác ngựa trắng như các lỗ tự nhiên có màu hồng đỏ, bốn chân có móng sừng, màu cước ánh bạc

Ngựa bạch tương đối quý hiếm do tỷ lệ xuất hiện thấp, chúng thường được chọn giống và nhân nuôi ngựa để lấy xương làm cao ngựa bạch Ở một số nơi, các đàn ngựa bạch tạng này được nhân nuôi thành quần thể để bảo tồn Giống ngựa này ít bệnh tật, không mất nhiều công chăm sóc

Trang 34

Trong khi đó ngựa lông trắng đơn thuần còn được gọi là ngựa kim, có vành mắt đen Giá trị kinh tế của loại ngựa này thấp hơn ngựa bạch tạng!

Nghiên cứu về thức ăn dinh dưỡng cho gia súc nói chung và Ngựa bạch, Hươu nói riêng có lịch sử lâu đời Ngày nay với sự phát triển của chăn nuôi, khoa học về dinh dưỡng ngày càng đạt đến trình độ chuyên sâu cao

Ngựa Bạch có đặc điểm toàn thân ngựa có lông màu trắng, da trắng hồng, viền mắt màu hồng, con ngươi màu đỏ hồng Nếu soi đèn vào mắt ngựa ban đêm

có màu đỏ rực Mũi, miệng và bộ phận sinh dục của ngựa có màu hồng đỏ, bộ móng màu trắng ngà Ngựa Bạch là giống ngựa quý hiếm, thịt Ngựa Bạch có giá trị dinh dưỡng rất cao, xương nấu cao để bồi bổ sức khỏe

Kết quả điều tra đàn ngựa bạch cho thấy Ngựa Bạch là loại hiện có số lượng rất ít ở nước ta hiện nay, được phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như: Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Bắc Giang, , chỉ có khoảng 400 – 500 con, chiếm 0,3 – 0,5%0 trong tổng đàn ngựa hiện nay (Nguyễn Văn Thiện và cs, 1998), (Nguyễn Hữu Trà và cs, 2007) Trong nhân dân, ngựa Bạch được coi là tài sản quý của mỗi gia đình Ngựa Bạch chịu kham khổ tốt,

có thể phát triển tốt ở các tỉnh miền núi Ngựa Bạch còn được coi là dược liệu quý hiếm (hay còn gọi là thần dược) dùng vào việc bồi bổ, nâng cao thể lực, chữa trị một số chứng bệnh nan y cho con người Kích thước ngoại hình, đặc điểm nhận dạng ngựa Bạch có nhiều đặc điểm khác với ngựa mầu: Toàn thân mầu trắng, các lỗ tự nhiên mầu hồng, đặc biệt 12 giờ trưa ngựa Bạch có hiện tượng mù mầu trong khoảng 30 phút

Nhìn chung, cho đến hiện nay ở nước ta rất ít công trình nghiên cứu về ngựa Bạch Theo thời gian giống ngựa Bạch càng trở nên hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng cao bởi khả năng sinh sản thấp với lại giá trị dược liệu quý nên ngựa Bạch bị khai thác rất mạnh Nếu ngay từ lúc này mà chúng ta không có biện pháp bảo tồn cũng như một chiến lược phát triển thì giống ngựa bạch này sẽ tuyệt chủng trong một ngày gần đây

Trang 35

b) Chế độ dinh dưỡng khi nuôi dưỡng Ngựa bạch

Một con ngựa bạch hàng ngày có thể ăn lượng cỏ khô nặng hơn 1% trọng lượng cơ thể của nó Nếu bạn chỉ sở hữu những con ngựa bạch trẻ và khỏe và nếu cánh đồng của bạn có thể có đủ cỏ quanh năm, bạn có thể chủ yếu cho ngựa của mình ăn cỏ tươi và cỏ khô trên đồng và không phải chi hàng trăm đô la cho những người cung cấp thức ăn công nghiệp Với thuật ngữ cỏ, chúng ta xác định

một loạt các loài thực vật: Cỏ VA06; cỏ, cỏ ba lá, cỏ linh lăng (Medicago sativa),

cỏ lolium, cây họ đậu, cây cải bắp, v.v Cỏ Timothy, cỏ linh lăng và Trifolium

alexandrinum (tươi hoặc khô) là các loại cỏ cơ bản tốt đem đến dinh dưỡng tốt

ngựa Loài lúa miến gây ra độc hại đối với ngựa và phải tránh Người nuôi ngựa trong tương lai sẽ thực hiện một nghiên cứu về các loài thực vật được tìm thấy tại địa phương có thể gây độc cho ngựa

Các quy tắc đề cập ở trên được nói chung và áp dụng cho phần lớn ngựa bạch khỏe mạnh Tuy nhiên, không con ngựa nào giống với con ngựa khác, chúng cũng không có khả năng và nhu cầu thể chất như nhau Ví dụ, ngựa bạch già thường gặp vấn đề về răng và/hoặc di chuyển Vì vậy, chúng không thể đi gặm cỏ 15 giờ mỗi ngày để tìm thức ăn Do đó, chúng ta phải luôn có sẵn các loại thức ăn công nghiệp khác nhau Cám, củ cải đường, hỗn hợp viên (viên thức

ăn, bột, ngô, sồi), yến mạch, lúa mạch, rơm rạ (cỏ khô xắt nhỏ) và Vitamin được

sử dụng để bổ sung dinh dưỡng cho ngựa bạch Các loại ngũ cốc chủ yếu được sử dụng khi chúng ta dự đoán ngựa tăng trưởng trọng lượng Mặc dù lượng ngũ cốc nhỏ có tác dụng tuyệt vời, chúng ta phải rất cẩn thận, bởi vì lượng thực phẩm này quá nhiều sẽ dẫn đến các tình huống đe dọa tính mạng Theo nguyên tắc thông thường, những con ngựa bạch trưởng thành, khỏe và mạnh mẽ có thể tiêu thụ nhiều cỏ khô và cỏ hơn, trong khi những con ngựa bạch già, bị thương và làm việc nặng nhọc cần nhiều protein và có thể là vitamin hơn

Nhìn chung, dạ dày của ngựa bạch nhỏ so với kích thước to lớn của nó

Do đó, lý tưởng là ngựa có thể tiếp cận liên tục nhưng có kiểm soát với một

Trang 36

lượng thức ăn nhỏ, để chúng có thể thưởng thức theo bữa ăn nhỏ và thường xuyên thay vì 2-3 bữa lớn hơn mỗi ngày

Cuối cùng, người nuôi ngựa thường đặt khối muối bên trong chuồng ngựa Bằng cách này, ngựa sẽ tự do liếm khối muối và chúng sẽ đáp ứng nhu cầu về natri và clorua Tuy nhiên, hãy nhớ rằng nhiều loại khối muối được khoáng hóa Chúng cũng chứa các khoáng chất khác Phần lớn ngựa đã có đủ các khoáng chất đó từ thức ăn công nghiệp hoặc vitamin được thêm vào Vì thế bạn có thể thảo luận với bác sĩ thú y được cấp phép tại địa phương về chế độ ăn cho ngựa

để quyết định có cho ngựa ăn khối muối khoáng hay không

Người mới nuôi ngựa lần đầu tiên phải tham khảo ý kiến các chuyên gia địa phương, bác sĩ thú y địa phương và/hoặc nhà nông nghiệp học để tạo ra chương trình ăn uống hàng năm hợp lý và hiểu biết về các loại cây và cây bụi độc hại thường gặp trong khu vực Trong nhiều trường hợp, hệ thực vật của khu vực và điều kiện thời tiết là các thông số quan trọng của phương trình cuối cùng Bác sĩ thú y và ngươi nuôi ngựa cũng nên kiểm tra tình trạng thể chất và răng miệng của ngựa Dưới sự giám sát của bác sĩ thú y được cấp phép, nông dân có thể bổ sung một số vitamin cho chương trình cho ngựa ăn cụ thể

Cho ngựa ăn hàng ngày là một vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là nếu bạn có hơn 3-4 con ngựa ở các độ tuổi khác nhau, tình trạng khác nhau, nhu cầu khác nhau, một số trong đó có vấn đề về răng miệng, v.v … Nếu bạn chỉ dựa vào trí nhớ tốt và bạn nuôi chúng bằng cách học thuộc lòng không ghi chú lại, bạn sẽ sớm bối rối về mỗi chương trình ăn uống hàng ngày của mỗi chú ngựa Chúng tôi khuyên bạn nên đặt một chiếc bảng đen trong phòng chuẩn bị thức ăn và bạn trộn từng loại thức ăn cho ngựa Viết một bảng ghi tên của tất cả ngựa và các cột ghi số lượng mỗi chương trình cho ăn khác nhau đảm bảo rằng bạn sẽ luôn theo

dõi từng chương trình cho ngựa ăn hàng ngày và hàng tuần

c) Giá trị kinh tế và y học của Ngựa bạch

Giá của một con ngựa bạch ngựa trưởng thành vào khoảng 50 đến 70 triệu

đồng 1 con Cứ mỗi một năm rưỡi, mỗi chú ngựa cái lại cho ra một lứa ngựa bạch mới có giá trị rất cao Giá ngựa bạch giống khoảng 20 đến 25 triệu đồng 1 con

Trang 37

Y học cổ truyền (Đông y) xưa và nay coi thịt ngựa, cao ngựa và các sản

phẩm từ ngựa là một vị thuốc quý Trong sách Tuệ Tĩnh “Nam dược thần hiệu”

đã ghi: Mã Nhục (thịt ngựa) làm lớn mạnh gân xương, khí nóng, tỳ liệt, tóc hói lở; Mã Xỉ (răng ngựa) vị ngọt, tính bình, chủ trị kinh giản, đinh sang, đau răng;

Mã Nhũ (sữa ngựa) vị ngọt, tính mát công năng bổ huyết, nhuận táo, thanh nhiệt;

Mã Cất (xương ngựa) chủ trị lở đầu, âm sang, móng né; Mã Can (gan ngựa) chủ trị kinh nguyệt không thông, ngực, bụng đầy trướng; Mã Bì (da ngựa) vị cay, tính nóng, chủ trị thấp nhiệt, tê bại, lở đầu rụng tóc; Sỏi ở Dạ dày và ruột ngựa

vị mặn tác dụng trấn kinh, hóa đờm, chữa co giật, điên cuồng, động kinh; Mã Pin (dương vật ngựa) kết hợp với Nhục Dung chữa liệt dương

Y học hiện đại (Tây y) có quan niệm thịt ngựa, cao ngựa là một loại “thực phẩm chức năng” hay là một “Nguồn đạm cô đặc”

Theo Dược sĩ Đỗ Huy Ích (Viện Dược liệu) thì: Cao xương ngựa có chứa

75 - 82% protein, 7 axit amin thiết yếu cho cơ thể, không có vi khuẩn Ecoli và

dư lượng kim loại nặng (Chì, Cadimi, Thủy ngân) trong sản phẩm chế biến có

xử lý nhiệt Cao xương ngựa có chứa canxi photphat, Keratin, oscein, có vị ngọt tính mát, tính mát, tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân - xương - cơ

Theo Bác sĩ Nguyễn Lân Đính chuyên gia dinh dưỡng - TP HCM thì cứ

100gram thịt ngựa cung cấp 180 cao, 66gam nước, 21,5 gam đạm, 10 gam chất béo, 5 - 7 gam mỡ, các muối khoáng, Vitamin A, B, C, D, E, PP và các axit amin; thịt ngựa có vị ngọt, tác dụng bổ gân, cường cơ do có nhánh Leucine, Isoleucine, Valine, Đây là những vi lượng cần thiết để duy trì khối lượng cơ bắp

và bảo vệ nguồn vốn Glycogen dự trữ trong cơ bắp; ngoài ra hàm lượng Arginie cao cũng có thể giúp cho quá trình làm cho sơ bắp cường tráng có hiệu quả; Thịt ngựa còn có các chất cần thiết cho việc mọc tóc chắc khỏe gồm Vitamin A; 1 số Vitamin nhóm B (Biotin, axit Pantothenie…); Vitamin C và các vi chất như đồng, kẽm, sắt; Protein; Thịt ngựa giúp cho trẻ em cứng cáp, nhanh nhẹn, thanh niên cường tráng, người già sống lâu; Cao xương ngựa giúp nâng đỡ cơ thể suy nhược đau nhức gân xương ở người mới ốm dậy và phụ nữ sau sinh nở, kinh

Ngày đăng: 14/04/2023, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn ẩn, Võ Văn Trị (1976), Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 6 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao, Nxb Nông nghiệp
Tác giả: Đoàn ẩn, Võ Văn Trị
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp"
Năm: 1976
2. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1973), Phân loại thực vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.17,85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1973
3. Nguyễn Ngọc Hà và CS (1998 – 1999), Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
4. Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung (2002), Đồng cỏ và cây thức ăn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 8 – 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ và cây thức ăn
Tác giả: Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Điền Văn Hưng (1974), Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam, Nxb Nông Thôn, tr. 5 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Điền Văn Hưng
Nhà XB: Nxb Nông Thôn
Năm: 1974
6. Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời (1981), Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học &amp; kỹ thuật, tập 2,tr: 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời
Nhà XB: Nxb Khoa học & kỹ thuật
Năm: 1981
7. Quang Ngọ, Sinh Tặng (1976), Tập đoàn cây thức ăn gia súc miền núi và trung du miền bắc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr: 42-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn cây thức ăn gia súc miền núi và trung du miền bắc Việt Nam
Tác giả: Quang Ngọ, Sinh Tặng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1976
8. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung ( 1995 ), Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, tài liệu nội bộ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc
9. Nguyễn Văn Thiện (2000), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 105 – 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Nguyễn Văn Thưởng, I. S. Sumilin (1992), Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr: 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng, I. S. Sumilin
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1992
12. Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa (2000), Sổ tay sử dụng phân bón, Nxb Nông nghiệp TPHCM. Tr: 60-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay sử dụng phân bón
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp TPHCM. Tr: 60-93
Năm: 2000
13. Viên Chăn Nuôi (1977), Nội dung và phương pháp nghiên cứu trồng cỏ, tài liệu nội bộ, tr: 15-22.II- TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung và phương pháp nghiên cứu trồng cỏ, tài liệu nội bộ
Tác giả: Viên Chăn Nuôi
Năm: 1977
14. Hamphray (1980), Hướng dẫn thâm canh đồng cỏ nhiệt đới và á nhiệt đới, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 10 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hướng dẫn thâm canh đồng cỏ nhiệt đới và á nhiệt đới
Tác giả: Hamphray
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1980
15. Loch, D. S (1978), Basilisk signal grass, a productive pasture grass for the humid tropics, Queensl, Agric. J, P 104, 402-406.III- CÁC Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basilisk signal grass, a productive pasture grass for the humid tropics
Tác giả: Loch, D. S
Năm: 1978
10. Trịnh Văn Thịnh, Hoàng Phương, Nguyễn An Tường, Borget. M. Boudet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w