Các bất cập của chính sách cũng như việc thực hiện các chính sách liên quan đến hoạt động giám sát đầu tư công của cộng đồng trong XDNTM: i Chưa quy định cụ thể trong việc thành lập c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN QUẢNG ĐIỀN –
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60620116
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HOÀNG MẠNH QUÂN
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
TS NGUYỄN VIẾT TUÂN
HUẾ - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào
Thừa Thiên Huế, ngày 30 tháng 8 năm 2016
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Hoàng Mạnh Quân
Thầy đã quan tâm và tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn đến các chú, các bác, anh/chị em ở điểm nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày 30 tháng 8 năm 2016
Học viên
Trần Thị Ánh Nguyệt
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Chương trình XDNTM (XDNTM) đã được triển khai từ năm 2010 đến nay với nhiều hoạt động đầu tư công Tuy nhiên, thực tế trong 5 năm thực hiện Chương trình
XDNTM trên cả nước cho thấy cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây
dựng các công trình cơ sở hạ tầng ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế Do đó, hiệu
quả đầu tư công xây dựng nông thôn mới chưa cao, chất lượng công trình kém, gây
lãng phí, thất thoát và không đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu cơ chế tăng cường
giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới: nghiên cứu
trường hợp tại huyện Quảng Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế” sẽ phân tích thực trạng
giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Quảng
Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế Đồng thời xác định và phân tích các rào cản, thách thức
đối với giám sát cộng đồng Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để nhằm tăng cường
giám sát của người dân/cộng đồng trong đầu tư công
Nội dung nghiên cứu bao gồm: i) Các hình thức, cơ chế hình thành và hoạt động của các Ban giám sát cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2011-2015; ii)
Năng lực giám sát của các Ban Giám sát; iii) Khả năng tiếp cận thông tin của cộng
đồng về các chính sách liên quan đến GS đầu tư công; iv) Sự tham gia của dân trong
GS đầu tư cộng đồng; v) Kết quả thực hiện giám sát đầu tư công từ 2011 – 2015; vi)
Hiệu quả và tác động của hoạt động GSĐTCCĐ trong đầu tư công; vii) Những bất cập
về pháp lý trong cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng hiện nay; Những yếu tố
ảnh hưởng đến hoạt động GSĐTCCĐ tại địa bàn nghiên cứu; viii) Bài học kinh
nghiệm; và ix) Các giải pháp cải thiện hoạt động GSĐTCCĐ
Nghiên cứu được thực hiện ở huyện Quảng Điền, ở huyện tiến hành khảo sát 2
xã và mỗi xã khảo sát ở 2 thôn Phương pháp xuyên suốt trong nghiên cứu được sử
dụng là phương pháp nghiên cứu có sự tham gia Nghiên cứu đã thực hiện 90 phiếu
khảo sát hộ, 10 cuộc phỏng vấn sâu các cán bộ lãnh đạo địa phương và phòng ban liên
quan ở cấp huyện, xã, thôn; và 2 cuộc thảo luận nhóm tại 2 xã khảo sát
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về thực trạng hoạt động GSĐTCCĐ trong XDNTM tại huyện Quảng Điền: i) Các BGSĐTCCĐ cấp xã đã được thành lập theo
Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch 04 Tùy vào tình hình
cụ thể ở các địa phương mà số lượng thành viên BGSĐTCCĐ có sự thay đổi phù hợp
với thực tiễn (từ 5 – 14 thành viên) Các BGSĐTCCĐ cấp thôn được thành lập với các
hình thức khác nhau, thành phần và số lượng thành viên cũng rất linh hoạt; ii) Năng
lực của BGSĐTCCĐ còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng giám sát do không
được đào tạo chuyên môn từ các trường lớp mà chỉ hoạt động dựa vào uy tín và kinh
nghiệm; iii) Khả năng tiếp cận thông tin của cộng đồng về các chính sách liên quan
Trang 5đến hoạt động GSĐTCCĐ ở mức độ khá; iv) Sự tham gia của người dân trong hoạt
động GSĐTCCĐ rất tích cực (90 % hộ khảo sát), đặc biêt là tham gia giám sát các
công trình CSHT có sự đóng góp vốn và công sức của người dân; v) BGSĐTCCĐ đã
phát hiện một số vấn đề sai sót trong xây dựng cơ sở hạ tầng, nhờ đó đã góp phần cải
thiện chất lượng các dự án, đặc biệt là các dự án do xã làm chủ đầu tư Các bất cập
của chính sách cũng như việc thực hiện các chính sách liên quan đến hoạt động giám
sát đầu tư công của cộng đồng trong XDNTM: i) Chưa quy định cụ thể trong việc
thành lập các BGSĐTCCĐ cấp thôn, khu dân cư; ii) Nội dung hoạt động của
GSĐTCCĐ vượt quá khả năng thức hiện của BGSCĐ; iii) Hỗ trợ ngân sách cho các
hoạt động GSĐTCCĐ quá ít; iv) Chưa có quy định chế tài rõ ràng về xử phạt các
trường hợp cố tình kéo dài hoặc không thực hiện các phản ảnh của BGSĐTCCĐ; v)
Quy định về kỷ luật cũng như khen thưởng đối với BGSĐTCCĐ Các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả của hoạt động giám sát đầu tư công của cộng đồng: i)Sự hiểu biết
một cách thấu đáo về những văn bản pháp lý liên quan đến giám sát cộng đồng của
người dân và thành viên BGSĐTCCĐ còn ít, sự tham gia tích cực và chủ động của
người dân vào trong các hoạt động giám sát còn hạn chế; ii) Năng lực giám sát hiện
nay của các BGSĐTCCĐ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu so với trách nhiệm mà họ
gánh vác, không đủ kiến thức và kỹ năng để có thể đảm nhận hết toàn bộ nội dung
giám sát như tinh thần của QĐ80 và TT liên tịch 04
Do vậy, hoạt động giám sát chủ yếu được thực hiện trong quá trình thi công công trình ở một số khâu kỹ thuật đơn giản; Thiếu Cẩm nang/Sổ tay/Tài liệu hướng
dẫn về chức năng, nhiệm vụ GSĐTCCĐ và các kỹ thuật cơ bản để giám sát công trình
CSHT; Vấn đề công khai hoá thông tin và tài liệu dự án: đôi lúc, đôi nơi không thông
báo hoặc chưa cung cấp kịp thời cho BGSĐTCCĐ; Quan hệ thiếu chặt chẽ giữa chính
quyền địa phương, Chủ đầu tư, Nhà thầu, đơn vị thi công với BGSĐTCCĐ đã không
tạo được động lực để kích thích thành viên GSĐTCCĐ hoạt động tích cực hơn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ xii
MỞ ĐẦU 13
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 13
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 14
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 15
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 16
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CƠ CHẾ TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 16
1.1.1 Những vấn đề chung về đầu tư công 16
1.1.2 Cơ sở pháp lý của giám sát đầu tư công cộng đồng 19
1.1.3 Các chính sách, quy chế, quy định của tỉnh Thừa Thiên Huế về Giám sát đầu tư công của cộng đồng 29
1.1.4 Những vấn đề chung về nông thôn mới 33
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ CƠ CHẾ TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 36
1.2.1 Thực trạng thực hiện công tác đầu tư công trong cả nước 36
1.2.2 Tình hình thực hiện công tác giám sát đầu tư công của cộng đồng ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ 38
1.2.3 Công trình nghiên cứu liên quan 40
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 42
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 44
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 44
Trang 72.2.2 Đối tượng nghiên cứu 44
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 44
2.2.1 Thực trạng cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Quảng Điền 44
2.2.2 Những bất cập của chính sách cũng như việc thực hiện chính sách liên quan đến giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Quảng Điền 45
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Quảng Điền 45
2.2.4 Giải pháp tăng cường cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới 45
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 46
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 46
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 47
2.3.4 Phương pháp xữ lý thông tin, số liệu 48
2.3.5 Phương pháp phân tích 48
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 49
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 49
3.1.2 Điều kiện văn hóa – xã hội 50
3.1.3 Điều kiện kinh tế 54
3.1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế của huyện Quảng Điền 56
3.2 THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 57
3.2.1 Các bước thành lập Ban giám sát đầu tư công cộng đồng tại huyện Quảng Điền 57
3.2.2 Cơ cấu tổ chức của ban giám sát đầu tư công cộng đồng 59
3.2.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ban giám sát đầu tư công của cộng đồng xã 61
Trang 83.2.4 Đánh giá cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của BGSĐTCCĐ xã và
thôn 66
3.2.5 Nội dung hoạt động giám sát/tổ chức thực hiện giám sát của Ban giám sát đầu tư công cộng đồng xã/thôn 69
3.3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG THỜI GIAN QUA (2010 – 2015) 72
3.3.1 Số lượng các công trình đã giám sát 72
3.3.2 Sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động giám sát đầu tư công 74
3.3.3 Ý kiến đánh giá của người dân về hiệu quả của các công trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương 80
3.4 NĂNG LỰC GIÁM SÁT CỦA BAN GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỘNG ĐỒNG XÃ/THÔN 83
3.4.1 Kiến thức giám sát của các thành viên BGSĐTCCĐ xã/thôn 83
3.4.2 Kỹ năng giám sát của các thành viên BGSĐTCCĐ xã/thôn 84
3.4.3 Thái độ của các thành viên BGSĐTCCĐ xã/thôn 85
3.5 KHẢ NĂNG TIẾP CẬN THÔNG TIN PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN VỀ GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG 86
3.5.1 Khả năng tiếp cận thông tin của người dân với các văn bản pháp luật về Giám sát đầu tư công của cộng đồng 86
3.5.2 Khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của người dân về nội dung và quyền giám sát đầu tư công của cộng đồng 90
3.6 HIỆU QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG 94
3.6.1 Tăng chất lượng các đầu tư công 94
3.6.2 Một số hiệu quả khác của các hoạt động giám sát đầu tư công của cộng đồng 98
3.7 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ HẠN CHẾ TRONG VIỆC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG 99
3.7.1 Thuận lợi 99
3.7.2 Hạn chế 99
3.8 NHỮNG BẤT CẬP VỀ MẶT PHÁP LÝ TRONG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG 101
Trang 93.9 CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA
CỘNG ĐỒNG 104
3.9.1 Giải pháp do các hộ dân đề xuất 104
3.9.2 Giải pháp do lãnh đạo chính quyền, ban ngành đoàn thể các cấp và BGSĐTCCĐ đề xuất 105
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
4.1 KẾT LUẬN 107
4.2 KIẾN NGHỊ 108
4.2.1 Đối với nhà nước 109
4.2.2 Đối với chính quyền địa phương 109
4.2.3 Đối với Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng 109
4.2.4 Đối với người dân 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 113
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGSĐTCCĐ Ban Giám sát đầu tư công cộng đồng
Giám sát cộng đồng Ban giám sát đầu tư công cộng đồng
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBMTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế (Đơn vị:%) 51
Bảng 3.2 Số cơ sở y tế, cán bộ y tế và số giường bệnh 53
Bảng 3.3 Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện năm 2015 54
Bảng 3.4 Cơ cấu tổ chức của Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng xã 59
Bảng 3.5 Cơ cấu tổ chức của Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng ở thôn 60
Bảng 3.6 Ý kiến đánh giá mức độ hài lòng của người dân về thành phần tham gia Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng xã/thôn 66
Bảng 3.7 Ý kiến đánh giá của người dân về mức độ phù hợp với chức năng, vai trò trách nhiệm của BGSĐTCĐ xã/thôn (Đơn vị:%, N=90) 67
Bảng 3.8 Số lượng công trình đã được giám sát tại các điểm nghiên cứu 72
Bảng 3.9 Nguyên nhân người dân không tham gia bầu chọn thành viên BGSĐTCCĐ thôn 75
Bảng 3.10 Sự tham gia của người dân là thành viên BGSĐTCCĐ xã/thôn 76
Bảng 3.11 Mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương 78
Bảng 3.12 Sự tham gia của người dân vào các nội dung giám sát đầu tư công 79
Bảng 3.13 Kết quả đánh giá của người dân về hiệu quả đầu tư của các công trình cơ sở hạ tầng ở địa phương khi chưa có giám sát đầu tư công 81
Bảng 3.14 Kết quả đánh giá của người dân về hiệu quả hoạt động BGSĐTCCĐ xã/thôn 82
Bảng 3.15 Ý kiến đánh giá của người dân về thái độ làm việc và tinh thần trách nhiệm của BGSĐTCCĐ thôn/xã 85
Bảng 3.16 Mức độ tiếp cận nội dung các văn bản pháp luật về Giám sát đầu tư công của cộng đồng của người dân 87
Bảng 3.17 Mức độ tiếp cận nội dung các văn bản nhà nước về giám sát đầu tư công của cộng đồng 88
Bảng 3.18 Các hình thức tiếp cận của người dân với các văn bản pháp luật nhà nước 89
Bảng 3.19 Tỷ lệ số hộ được phổ biến các nội dung quy định của pháp luật về giám sát đầu tư công của cộng đồng 91
Trang 12Bảng 3.20 Sự hiểu biết của người dân về các quyền được pháp luật quy định trong
giám sát đầu tư công của cộng đồng 93
Bảng 3.21 Ý kiến đánh giá của người dân về hiệu quả đầu tư công trong xây dựng
CSHT 95
Bảng 3.22 Ý kiến đánh giá của người dân về mức độ hài lòng đối với các hoạt động
đầu tư công trong xây dựng CSHT tại địa phương trong 5 năm qua 96
Bảng 3.23 Kết quả khảo sát sự khiếu nại, tố cáo của người dân về chất lượng các công
trình đầu tư công tại địa phương 97
Bảng 3.24 Ý kiến đánh giá của người dân về những hiệu quả khác trong công tác
GSĐTCCĐ 98
Bảng 3.25 Ý kiến đề xuất của hộ về các giải pháp cải thiện hoạt động GSĐTCCĐ 104
Trang 13DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Bản đồ huyện Quảng Điền 49
Sơ đồ 3.1 Trình tự tổ chức lập kế hoạch thực hiện giám sát đầu tư công cộng đồng tại
địa phương 70
Sơ đồ 3.2 Nguyên nhân của hoạt động GSĐTCCĐ chưa hiệu quả 100
Biểu đồ 3.1 Sự tham gia của người dân trong việc bầu chọn các thành viên Ban giám
sát thôn 74
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nam/nữ tham gia vào BGSĐTCCĐ xã/thôn 77
Trang 14MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2010 là năm đánh dấu những thay đổi lớn ở nông thôn bởi nhà nước ta ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Cho đến nay chương
trình đã triển khai thực hiện được 5 năm và đạt được nhiều kết quả trong mong đợi,
theo báo cáo của Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia hiện tại cả nước có 785
xã đạt chuẩn nông thôn mới và có đến 1.285 xã đạt từ 15-18 tiêu chí và không có xã
nào là không đạt các tiêu chí đặt ra [1] Để đạt được những kết quả như trên đòi hỏi sự
nổ lực của chính quyền và người dân ở mỗi địa phương Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện lại gặp phải rất nhiều bất cập và nhiều vấn đề cần phải giải quyết Một trong
vấn đề đáng quan tâm trong quá trình thực hiện tại các địa phương đó là giám sát đầu
tư công có sự tham gia giám sát của người dân và cộng đồng
Mặc dù chính phủ Việt Nam đã ban hành quyết định 80/QĐ-TTg ngày 14/08/2005 về quy chế giám sát cộng đồng trong đầu tư công Với mục đích góp phần
đảm bảo hoạt động đầu tư phù hợp với các quy hoạch được duyệt, phù hợp với mục
tiêu phát triển kinh `tế - xã hội và có hiệu quả kinh tế - xã hội cao Đồng thới phát
hiện, ngăn chặn để xử lý kịp thời các hoạt động đầu tư không đúng quy hoạch, sai quy
định; các việc làm, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, ảnh hưởng xấu đến
chất lượng công trình, xâm hại lợi ích của cộng đồng
Tuy vậy, nhưng sự giám sát của người dân trong đầu tư công vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Báo cáo của Oxfam và Aidtionaid (2012) cho thấy ở Việt Nam giám
sát đầu tư của cộng đồng vẫn chưa hiệu quả chưa cao ở nhiều nơi Đối với các công
trình nhỏ do xã làm chủ đầu tư, việc giám sát cộng đồng thực hiện khá tốt Nhưng đối
với một số công trình do cấp trên làm chủ đầu tư, người dân không phải đóng góp tiền
hay công lao động, Ban giám sát cộng đồng chưa được nhà đầu tư tạo điều kiện để
giám sát theo đúng chức năng của mình [2]
Thực tế trong 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên cả nước cho thấy cơ chế giám sát của người dân/cộng đồng trong Chương trình xây dựng
nông thôn mới nói chung và cơ chế giám sát của người dân cộng đồng trong phát triển
sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế Do đó, hiệu quả
đầu tư công xây dựng nông thôn mới chưa cao, chất lượng công trình kém, gây lãng
phí, thất thoát và không đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân
Riêng tỉnh Thừa Thiên Huế, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quy chế tổ chức thực hiện công tác giám sát đầu tư của cộng đồng theo Quyết định số 1231/QĐ-UBND
ngày 2/7/2013 Trong thời gian qua các hoạt động giám sát cộng đồng tại tỉnh Thừa
Thiên Huế đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của các hoạt động đầu tư công
và tăng cường phòng chống tham nhũng Theo Thông báo số 07/TB-UBMT ngày
Trang 153/12/2014 của UNMTTQ tỉnh Thừa Thiên Huế, trong năm 2014 các Ban Thanh tra
Nhân dân đã tổ chức giám sát 205 cuộc, phát hiện và kiến nghị 171 vụ việc được Chính
quyền các cấp trả lời 140 vụ việc Các Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã tham gia
giám sát 137 công trình dự án được đầu tư trên địa bàn cấp xã, phát hiện kiến nghị 15
vụ việc vi phạm về chủng loại vật liệu xây dựng không đúng quy định, không đúng
thiết kế, không đúng quy trình gây ô nhiễm môi trường và đã kiến nghị chính quyền địa
phương khắc phục góp phần đảm bảo chất lượng thiết kế công trình Tuy nhiên, hiện nay
vẫn còn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện tốt quy chế giám sát đầu tư của
cộng động do chưa thực sự coi trọng thực hiện và chú trọng nâng cao hiệu quả của
công tác này đối với các hoạt động đầu tư công trong chương trình xây dựng nông
thôn mới Vì vậy, các hoạt động giám sát đầu tư của cộng đồng thời gian qua vẫn chưa
phát huy được hiệu quả do còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được cải thiện
Ngoài ra có những bất cập về các văn bản pháp lý nhà nước, mức độ hiểu biết của người dân/cộng đồng về các văn bản pháp lý nhà nước Chính vì điều đó, khi áp
dụng vào thực tiễn giám sát có những chồng chéo và thiếu sự đồng bộ làm cho hoạt
động giám sát của cộng đồng/người dân gặp phải những khó khăn Vì vậy, nếu xây
dựng được một cơ chế giám sát có sự phối hợp giám sát giữa người dân/cộng đồng với
chính quyền địa phương sẽ giúp cho công tác giám sát của người dân diễn ra dễ dàng,
làm cho các đầu tư công trong xây dựng nông thôn mới sẽ hiệu quả hơn
Do đó giám sát cộng đồng là một công cụ quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của cơ chế quản lý đầu tư công trong xây dựng nông thôn mới
Mặc dù chương trình XDNTM đã được triển khai từ năm 2010 đến nay với nhiều hoạt
động đầu tư công nhưng tại tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung chưa
có một đề tài nào nghiên cứu về cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng Xuất phát
từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu cơ chế tăng cường giám sát đầu
tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới: nghiên cứu trường hợp tại
huyện Quảng Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế” sẽ phân tích thực trạng giám sát đầu tư
công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thừa Thiên Huế Đồng thời
xác định và phân tích các rào cản, thách thức đối với giám sát cộng đồng Trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp để nhằm tăng cường giám sát của người dân/cộng đồng trong
đầu tư công
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp để khắc
phục những rào cản và tăng cường giám sát của người dân/cộng đồng trong đầu tư
công để xây dựng nông thôn mới
Mục tiêu nghiên cứu: 1)Thực trạng hoạt động giám sát đầu tư công của cộng
đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Quảng Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế; 2)
Trang 16Phân tích các bất cập của chính sách cũng như việc thực hiện chính sách liên quan đến
giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Quảng
Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế; 3) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt
động giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện
Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1) Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thông tin về thực trạng cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới, đồng thời phân tích các
rào cản thách thức đối với giám sát cộng đồng, những bất cập về mặt chính sách trong
quá trình thực hiện tại các địa phương Qua đó, nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho
việc đề xuất ra những giải pháp – khuyến nghị nhằm tăng cường cơ chế giám sát đầu
tư của cộng đồng, tránh những rào cản thách thức và những bất cập trong việc thực
hiện chính sách Quan trọng hơn đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu
khác liên quan đến giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới
Góp phần thúc đẩy những nghiên cứu trong lĩnh vực giám sát đầu tư công
2) Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ rõ thực trạng hoạt động giám sát đầu tư của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới Quan trọng hơn nữa đề tài sẽ chỉ
ra những thách thức rào cản trong quá trình thực hiện giám sát, những bất cập của các
chính sách trong thực hiện thực tiễn tại địa phương Từ những giải pháp sẽ giúp cho
chính quyền và người dân địa phương cùng nhau phối hợp thực hiện tốt hoạt động
giám sát đầu tư công của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới Đồng thời những
kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp phần thúc đẩy các cấp chính quyền địa phương
đưa ra những chính sách thiết thực trong giám sát đầu tư công trong xây dựng nông
thôn mới
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CƠ CHẾ TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT ĐẦU
TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1.1 Những vấn đề chung về đầu tư công
1.1.1.1 Khái niệm chung về đầu tư công
Theo luật Đầu tư công có một số khái niệm cơ bản về đầu tư công như sau:
Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội
Hoạt động đầu tư công bao gồm: lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư;
lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập thẩm định, phê duyệt,
giao, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công;
theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công
Kế hoạch đầu tư công là một tập hợp các mục tiêu, định hướng, danh mục
chương trình, dự án đầu tư công; cân đối nguồn vốn đầu tư công, phương án phân bổ
vốn, các giải pháp huy động nguồn lực và triển khai thực hiện
Chương trình đầu tư công là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp
nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu trong từng ngành, ở một số vùng lãnh thổ
trong từng giai đoạn cụ thể
Công trình cơ sở hạ tầng trong nghiên cứu này bao gồm các công trình xây
dựng như điện, đường, trường, trạm, đê, đập, trạm bơm, bờ kè, kênh, cầu, cống và các
công trình công cộng khác như chợ, trụ sở UBND xã, nhà văn hóa thôn, trạm y tế
nhằm phục vụ mục tiêu phát triển nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu [18]
Tuy nhiên cũng có một số tác giả lại cho rằng: đầu tư công là đầu tư nguồn vốn của nhà nước vào ngành, lĩnh vực chung, không nhằm mục đích kinh doanh [8]
Hoặc theo tác giả Trần Đình Thiên: “Đầu tư công là bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành
Đầu tư công được xét không phải từ góc độ mục đích mà từ góc độ tính sở hữu của
nguồn vốn dùng để đầu tư Đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy
định của pháp luật hiện hành, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà
nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của
các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý [21]
Tác giả Vũ Tuấn Anh cho rằng: “Đầu tư công là tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước tiến hành” [1]
Trang 18Qua đó nhận thấy rằng, dù tiếp cận ở góc độ khác nhau thì đầu tư công đều hướng đến mục tiêu chung là đầu tư phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội, của
cộng đồng Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo, quản lý, điều tiết và giám sát các hoạt
động đầu tư này Như vậy, với những quan niệm trên, có thể hiểu đầu tư công là:
những hoạt động đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng
đồng, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư
nhân thực hiện
1.1.1.2 Các lĩnh vực đầu tư công và nguồn vốn đầu tư công
Đầu tư công được phân chia thành những lĩnh vực cụ thể nhằm dễ dàng cho việc phân chia nguồn vốn đầu tư theo ngân sách của nhà nước Chính vì vậy, trong
Luật đầu tư công đã có những quy định phân chia cụ thể về lĩnh vực và nguồn vốn đầu
tư như sau:
Các lĩnh vực đầu tư công bao gồm: 1) Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; 2) Đầu tư phục vụ hoạt động cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 3) Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản
phẩm, dịch vụ công ích; 4) Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình
thức đối tác công tư [18]
Nguồn vốn đầu tư công: Vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước, vốn từ thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào ngân sách
nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư [18]
1.1.1.3 Nguyên tắc quản lý đầu tư công và các hành vi bị cấm trong đầu tư công
a Nguyên tắc quản lý đầu tư công
Quản lý đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn vốn của Nhà nước, giúp cho việc đầu tư công hiệu quả Do đó, cần có những nguyên tắc trong
quản lý đầu tư công:
Nguyên tắc quan trọng cơ bản nhất là phải tuân thủ các quy định của pháp luật
về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công Đầu tư phải phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm của đất nước, quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành
Bên cạnh đó, đầu tư công phải thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư
công Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng nguồn
vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng
cân đối nguồn lực, không để thất thoát, lãng phí
Trang 19Ngoài ra việc quản lý đầu tư công phải bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công Tạo điều kiện, khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư
hoặc đầu tư theo hình thức đối tác công tư vào dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và
cung cấp dịch vụ công [18]
b Các hành vi bị cấm trong đầu tư công
Trong quá trình thực hiện giám sát đầu tư cộng đồng, Ban Giám sát cần tránh những hành vi bị cấm trong đầu tư công như sau:
Những quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch; không đúng thẩm quyền, không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của
pháp luật; không cân đối nguồn vốn đầu tư
Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc không đúng với chủ trương, đầu tư đã được cấp có thẩm
quyền quyết định Quyết định điều chỉnh tổng vốn đầu tư chương trình, tổng mức đầu
tư của dự án trái với quy định của pháp luật về đầu tư công
Trong khi thực hiện các cán bộ phụ trạc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, vụ lợi, tham nhũng trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; đưa, nhận, môi
hoạch, gây nợ đọng xây dựng cơ bản; sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích,
không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật
Ngoài ra tránh những hành vi làm giả, làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương
trình, dự án; cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trung thực, không
khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập, thẩm định, quyết định kế hoạch, chương
trình, dự án; cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trực, không khách
quan ảnh hưởng đến việc lập, thẩm định,quyết định kế hoạch, chương trình, dự án, cố
ý hủy hoại, lừa dối, che giấu hoặc lưu giữ không đầy đủ tài liệu, chứng từ, hồ sơ liên
quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương
trình, dự án [18]
Trang 201.1.1.4 Đặc điểm của đầu tư công cho xây dựng cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng nông thôn là một hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, nông thôn được tổ chức thành các đơn vị sản xuất và dịch vụ, các công trình
sự nghiệp có khả năng đảm bảo sự di chuyển của các luồng thông tin, vật chất nhằm
phục vụ nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất đại chúng của sinh hoạt dân cư nông
thôn nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao [8]
Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm: hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, các công trình bến bãi, cầu cống, các công trình cung cấp điện, cung cấp nước, điện
thoại, các cơ sở y tế, văn hóa, hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật, nguyên nhiên liệu
phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn Chính vì những lý do đó mà đầu tư công
mang những đặc điểm sau:
Đầu tư công trong xây dựng CSHT nông thôn mang tính chất xã hội cao Bởi lẽ, mục đích chính của đầu tư công cho CSHT nông thôn mang tính chất phục vụ lợi ích
chung, không vì mục đích kinh doanh Do đó đầu tư công trong xây dựng CSHT nông
thôn không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư
nhân và toàn thể cộng đồng xã hội [8]
Đầu tư công trong xây dựng CSHT nông thôn được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp, mang tính địa phương, vùng và khu vực: CSHT nông thôn là một
hệ thống cấu trúc phức tạp, phân bổ trên toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có
mức độ và phạm vi ảnh hưởng cao thấp khác nhau tới sự phát triển KT - XH của toàn
bộ khu vực nông thôn, của huyện, của xã, của thôn, của làng Các bộ phận này có mối
liên hệ gắn kết với nhau trong quá trình hoạt động, khai thác và sử dụng Mặt khác,
việc xây dựng CSHT nông thôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa lý, địa hình, trình
độ phát triển… Do địa bàn nông thôn rộng lớn, dân cư phân bố không đều về điều kiện
sản xuất nông nghiệp vừa đa dạng vừa phức tạp lại vừa khác biệt lớn giữa các địa
phương, các vùng sinh thái Từ đó yêu cầu đặt ra là trong việc xác định hệ thống hạ
tầng cơ sở nông thôn, thiết kế, đầu tư và sử dụng nguyên vật liệu vừa đặt trong hệ
thống chung của quốc gia vừa phải phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng
vùng, từng lãnh thổ [8]
1.1.2 Cơ sở pháp lý của giám sát đầu tư công cộng đồng
1.1.2.1 Khái niệm chung về giám sát đầu tư công cộng đồng
Theo luật Đầu tư công: “Giám sát đầu tư công của cộng đồng là các hoạt động theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm
quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu và đơn vị thi
công dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản lý đầu tư để kịp thời ngăn
Trang 21chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà
nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng đối với các hoạt động đầu tư sử dụng nguồn vốn
Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.” [18]
Theo quyết định số 80/QĐ-TTg: “ Giám sát đầu tư công của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã, phường, hoặc thị trấn (sau đây gọi
chung là xã) theo quy định của Quy chế này và các quy định pháp luật khác có liên
quan, nhằm theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ
quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các nhà thầu và
đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản lý đầu tư để kịp thời
ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà
nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng.”[13]
Với những quan niệm trên theo chúng tôi thì: Giám sát đầu tư cộng đồng là hoạt động theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của chủ đầu tư,
ban quản lý dự án, các nhà thầu của người dân sinh sống trên địa bàn nhằm phát hiện,
kiến nghị trình báo lên cơ quan chức năng để tránh gây lãng phí, thất thoát vốn vốn và
tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng
Theo tác giả Nguyễn Thanh Tuyền: “Cơ chế có thể hiểu một cách khái quát là cấu trúc kinh tế - xã hội hoặc cơ cấu tổ chức của kinh tế - xã hội như: Quan hệ giữa
kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng; cấu trúc bộ máy nhà nước…, được xác lập bởi
một phương thức sản xuất tương ứng (lực lượng sản xuất + quan hệ sản xuất (quan hệ
sở hữu, quan hệ phân phối, quan hệ quản lý)) thuộc Nhà nước đương quyền.”[26]
Theo luật Đầu tư công: “Cơ chế giám sát đầu tư công của cộng đồng bao gồm
tất cả các chính sách, văn bản qui định quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong việc
giám sát đầu tư công được ban hành bởi các cấp khác nhau, và thực tế của việc thực
hiện các văn bản đó tại địa bàn nghiên cứu.”[18]
Tóm lại, với định nghĩa trên theo chúng tôi: cơ chế giám sát là bao gồm các văn bản chính sách, quy định của nhà nước về các quyền và nghĩa vụ của các cấp, ban
ngành, đoàn thể trong thực tế thực hiện về việc giám sát đầu tư công
1.1.2.2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi, nội dung của giám sát đầu tư công cộng đồng
a Mục tiêu của giám sát đầu tư công cộng đồng
Góp phần đảm bảo hoạt động đầu tư phù hợp với các quy hoạch được duyệt, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và có hiệu quả kinh tế - xã hội cao
Phát hiện, ngăn chặn để xử lý kịp thời các hoạt động đầu tư không đúng quy hoạch, sai quy định; các việc làm, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, ảnh
hưởng xấu đến chất lượng công trình, xâm hại lợi ích của cộng đồng [13]
Trang 22b Đối tượng, phạm vi giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Đối tượng giám sát đầu tư của cộng đồng là:
+ Cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư + Chủ đầu tư
+ Các nhà thầu tư vấn, nhà thầu giám sát thi công, nhà thầu xây lắp, nhà thầu cung cấp thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu, của dự án (sau đây gọi chung là các
nhà thầu)
- Phạm vi giám sát đầu tư của cộng đồng:
+ Các chương trình, dự án đầu tư (sau đây gọi chung là dự án đầu tư) có sử dụng vốn nhà nước và không thuộc diện bí mật quốc gia theo quy định của pháp luật có ảnh
hưởng trực tiếp tới cộng đồng trên địa bàn của xã
+ Các dự án đầu tư bằng nguồn vốn và công sức của cộng đồng hoặc bằng nguồn tài trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho xã
+ Các dự án đầu tư bằng nguồn vốn khác [13]
c Nội dung giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Đối với các dự án đầu tư được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 của Quy chế
này thì nội dung giám sát đầu tư gồm:
+ Đánh giá sự phù hợp của quyết định đầu tư với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch
phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch xây dựng chi tiết các khu đô thị, khu dân cư, khu
công nghiệp, kế hoạch đầu tư có liên quan trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật
+ Đánh giá việc chủ đầu tư chấp hành các quy định về: chỉ giới đất đai và sử dụng đất; quy hoạch mặt bằng chi tiết, phương án kiến trúc, xây dựng; xử lý chất thải,
bảo vệ môi trường; đền bù, giải phóng mặt bằng và phương án tái định cư; tiến độ, kế
hoạch đầu tư;
+ Phát hiện những việc làm xâm hại đến lợi ích của cộng đồng; những tác động tiêu cực của dự án đến môi trường sinh sống của cộng đồng trong quá trình thực hiện
đầu tư, vận hành dự án
- Đối với các dự án có sử dụng vốn nhà nước và không thuộc diện bí mật quốc gia theo quy định của pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới cộng đồng trên địa bàn của
xã; các dự án đầu tư bằng nguồn vốn và công sức của cộng đồng hoặc bằng nguồn tài
trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho xã, ngoài những nội dung quy định trên,
cộng đồng còn theo dõi, đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án; phát hiện những việc làm
gây lãng phí, thất thoát vốn, tài sản thuộc dự án
Trang 23- Đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn và công sức của cộng đồng hoặc bằng nguồn tài trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho xã, ngoài các nội dung theo quy
định trên, cộng đồng còn theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ
thuật, định mức vật tư và loại vật tư đúng quy định trong quá trình thực hiện đầu tư dự
án; theo dõi, kiểm tra kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình.[13]
1.1.2.3 Những tiêu chuẩn và điều kiện thành lập Ban giám sát đầu tư công cộng đồng
a Tiêu chuẩn của thành viên Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Là người trung thực, công tâm, có uy tín, có hiểu biết về chính sách, pháp luật, tự
nguyện tham gia Ban giám sát đầu tư cộng đồng và có sức khỏe;
- Là người có hộ khẩu và đang thường trú tại xã; không phải là người đương nhiệm (trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã, Trưởng thôn, Phó thôn hoặc
những người đang đảm nhận nhiệm vụ tương đương); không có người thân (ông, bà, cha,
mẹ, anh, chị, em, con, cháu ruột, vợ hoặc chồng) là người có thẩm quyền quyết định đầu tư,
hoặc chủ đầu tư, hoặc nhà thầu dự án đầu tư trên địa bàn xã [14]
b Nguyên tắc hoạt động và các hành vi bị nghiêm cấm của Ban giám sát đầu tư công của
cộng đồng
- Nguyên tắc hoạt động: Ban giám sát đầu tư của cộng đồng hoạt động theo nguyên
tắc dân chủ, công khai, khách quan và kịp thời; làm việc theo chế độ tập thể và quyết định
theo đa số
- Các hành vi bị nghiêm cấm của Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng
+ Nghiêm cấm mọi hành vi đe dọa, trả thù, trù dập đối với thành viên Ban giám sát
đầu tư của cộng đồng
+ Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn của Ban giám sát đầu tư của cộng đồng để kích động, lôi kéo người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật và thực hiện
các hành vi trái pháp luật [14]
c Tổ chức của Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Ban giám sát đầu tư của cộng đồng gồm có Trưởng ban, Phó trưởng ban và các
thành viên; Trưởng ban chịu trách nhiệm chung về các hoạt động của Ban giám sát đầu tư
của cộng đồng; Phó Trưởng ban có trách nhiệm giúp Trưởng ban thực hiện các nhiệm vụ
được giao; các thành viên thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng ban
- Thành viên Ban giám sát đầu tư của cộng đồng do Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị cử tri đại diện hộ gia đình của từng thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu ra (sau đây gọi chung là
thôn) [14]
Trang 24d Số lượng thành viên Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Ban giám sát đầu tư của cộng đồng có từ 5 đến 9 thành viên; đối với những xã đồng
bằng có số dân dưới 8 nghìn người được bầu tối đa 7 thành viên, từ 8 nghìn người trở lên
được bầu 9 thành viên; đối với các xã trung du, miền núi, hải đảo, mỗi thôn, làng, ấp, bản
được bầu 1 thành viên, nhưng số lượng thành viên của Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
không vượt quá 9 người
- Căn cứ số dự án đầu tư và đặc điểm địa bàn xã, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc xã xác định số lượng thành viên Ban giám sát đầu tư của cộng đồng [14]
e Bầu thành viên Ban giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Ban Thường- trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã lựa chọn diện tham gia Ban giám sát
đầu tư của cộng đồng nếu có thành viên đáp ứng các tiêu chí quy định tại mục 1, Phần II
của Thông tư này; xác định danh sách các thôn được bầu thành viên Ban giám sát đầu tư
của cộng đồng
- Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn tổ chức Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị cử tri đại diện hộ gia đình để bầu thành viên Ban giám sát
đầu tư của cộng đồng
- Thành viên Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được bầu theo giới thiệu của Ban công tác Mặt trận và theo đề cử của đại biểu tham dự Hội nghị Thành viên Ban
giám sát đầu tư của cộng đồng được bầu bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do
Hội nghị quyết định
- Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị cử tri đại diện hộ gia dình được tiến hành khi có trên 50% số đại biểu được triệu tập có mặt Người được bầu phải có trên 50% số đại
biểu tham dự Hội nghị tín nhiệm
- Trưởng ban công tác Mặt trận có trách nhiệm báo cáo kết quả bầu cử với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã [4]
1.1.2.4 Tổ chức thực hiện giám sát đầu tư công của cộng đồng
a Trình tự tổ chức thực hiện giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Thu thập tài liệu có liên quan:
+ Các tài liệu được công bố công khai: Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, huyện; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch xây dựng; kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện; kế hoạch đầu tư của tỉnh, huyện; quyết định đầu
tư, hoặc giấy chứng nhận, đăng ký đầu tư
+ Các tài liệu về pháp luật có liên quan về quản lý đầu tư, giám sát đầu tư của cộng đồng, xây dựng, đất đai và bảo vệ môi trường, tài nguyên,…
Trang 25- Thu thập ý kiến, kiến nghị của nhân dân về các dự án đầu tư trên địa bàn xã;
đồng thời tổ chức theo dõi quá trình thực hiện đầu tư, vận hành các dự án trên địa bàn
xã (chủ yếu tập trung vào các khâu dễ dẫn đến việc xâm hại lợi ích của cộng đồng, gây
ô nhiễm môi trường, gây mất an toàn, trật tự, an ninh xã hội; đối với các dự án đầu tư
sử dụng vốn nhà nước, dự án đầu tư của xã cần theo dõi thêm các khâu dễ dẫn đến việc
gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư, không đảm bảo tiêu chuẩn về vật tư, chất lượng
công trình theo quy định)
- So sánh, kiểm tra, phát hiện những vấn đề mâu thuẫn, khác với quy định, hoặc
vô lý; phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn
đề được phát hiện theo quy định; theo dõi việc xem xét, giải quyết các kiến nghị theo
quy định; thông báo kết quả xem xét, giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền đến
nhân dân theo quy định; theo dõi việc chấp hành các biện pháp xử lý của các đối tượng
có liên quan theo quy định.[13]
b Kế hoạch thực hiện giám sát đầu tư công của cộng đồng
Căn cứ yêu cầu của cộng đồng về giám sát đối với các dự án đầu tư trên địa bàn xã;
điều kiện phương tiện, vật chất hiện có và năng lực thực tế; Ban Thanh tra nhân dân (trường
hợp không thành lập Ban giám sát đầu tư của cộng đồng hoặc Ban giám sát đầu tư của
cộng đồng lập Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng cho năm sau theo trình tự sau đây:
- Xác định danh mục các dự án cần thực hiện giám sát, gồm:
+ Danh mục các dự án đầu tư của xã;
+ Danh mục các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước;
+ Danh mục các dự án đầu tư bằng các nguồn vốn khác
- Lập Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng, gồm 3 biểu độc lập theo mẫu và bảng
dự toán kinh phí hỗ trợ thực hiện kế hoạch này
- Gửi xin ý kiến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã về Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng và Bảng dự toán kinh phí hỗ trợ thực hiện kế hoạch; hoàn chỉnh lại
Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng và Bảng dự toán kinh phí hỗ trợ thực hiện kế
hoạch theo góp ý của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã [13]
c Thông qua kế hoạch thực hiện giám sát đầu tư công của cộng đồng
Ban giám sát đầu tư của cộng đồng gửi Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã
Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng và Bảng dự toán kinh phí hỗ trợ thực hiện kế
hoạch (cho năm sau)
- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã chủ trì tổ chức làm việc với đại diện của Uỷ ban nhân dân xã và Ban giám sát đầu tư của cộng đồng để bàn và thống
Trang 26nhất về Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng và Bảng dự toán kinh phí hỗ trợ thực
hiện kế hoạch (cho năm sau)
- Đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, Uỷ ban nhân dân xã và trưởng ban giám sát đầu tư của cộng đồng xã cùng ký xác nhận vào Kế hoạch giám sát
đầu tư của cộng đồng và Bảng dự toán kinh phí hỗ trợ thực hiện kế hoạch (cho năm
sau) để trình các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc cấp kinh phí hỗ trợ thực
hiện Kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy định của luật Ngân sách nhà
nước [14]
1.1.2.5 Cách thực hiện giám sát đầu tư công của cộng đồng
a Thu thập tài liệu phục vụ giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Yêu cầu các cơ quan và chủ đầu tư có liên quan cung cấp các tài liệu phải công
bố công khai theo quy định tại khoản 1, Điều 12, khoản 1, Điều 13 và khoản 1, Điều
16 của Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, hoặc tự thu thập từ các nguồn chính
thức khác
- Tổ chức thu thập các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như: Luật Đầu
tư, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Ngân sách nhà nước,
các quy định có liên quan của các cấp chính quyền ở địa phương; thông tin do người
dân phản ánh về các dự án đầu tư trên địa bàn xã
b Thực hiện giám sát đầu tư công của cộng đồng đối với các dự án đầu tư của xã
- Kiểm tra sự phù hợp của nội dung Quyết định đầu tư dự án với quy hoạch, kế
hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt:
+ So sánh, kiểm tra sự phù hợp giữa nội dung Quyết định đầu tư dự án với các nội dung đã công bố công khai tại các quy hoạch, kế hoạch được các cấp có thẩm
quyền phê duyệt như: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Quy hoạch phát triển các
ngành; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng;
Quy hoạch xây dựng chi tiết các khu đô thị, dân cư, công nghiệp, ; Kế hoạch đầu tư
trên địa bàn xã
+ Nếu phát hiện có sự mẫu thuẫn giữa nội dung Quyết định đầu tư với các nội dung đã công bố công khai trong các tài liệu nêu trên thì ghi nhận, tiến hành xác minh,
làm rõ mức độ mâu thuẫn, kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo
quy định; theo dõi việc giải quyết các kiến nghị của các cấp có thẩm quyền, việc chấp
hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư theo quy định
+ Trong trường hợp nhận thấy việc xử lý các vấn đề đã kiến nghị, hoặc việc chấp hành các biện pháp xử lý chưa thỏa đáng thì tiếp tục kiến nghị lên các cấp có thẩm
quyền cao hơn
Trang 27- Tổ chức theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quy định của chủ đầu tư và các nhà thầu:
+ Theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quy định về chỉ giới đất đai và sử dụng đất; quy hoạch mặt bằng chi tiết, phương án kiến trúc, xây dựng; thực hiện chính sách đền bù, giải
phóng mặt bằng và phương án tái định cư; xử lý chất thải, bảo vệ môi trường; tiến độ, kế
hoạch đầu tư dự án
+ Nếu phát hiện thực tế có sự khác nhau so với những nội dung đã công bố công khai trong các tài liệu liên quan thì ghi nhận, tiến hành xác minh, làm rõ mức độ khác nhau, kiến
nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định; theo dõi việc giải quyết các
kiến nghị của các cấp có thẩm quyền, việc chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư
đồng, gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh sống của cộng đồng thì ghi nhận, tiến
hành xác minh, làm rõ mức độ xâm hại hoặc gây tác động tiêu cực, kiến nghị các cấp
có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định; theo dõi việc giải quyết các kiến nghị của
các cấp có thẩm quyền, việc chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư và các nhà
thầu theo quy định
+ Trong trường hợp nhận thấy việc xử lý các vấn đề đã kiến nghị, hoặc việc chấp hành các biện pháp xử lý chưa thỏa đáng thì tiếp tục kiến nghị lên các cấp có thẩm quyền
cao hơn
- Theo dõi, đánh giá hiệu quả đầu tư và phát hiện những việc làm gây lãng phí, thất thoát vốn, tài sản thuộc dự án:
+ Tiến hành theo dõi, đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án bằng cách xem xét, đánh giá
dự án theo một số tiêu chí sau đây:
• So sánh mục tiêu và quy mô đầu tư dự án so với yêu cầu thực tế đặt ra;
• So Sánh chi phí đầu tư của dự án so với những dự án có mục tiêu và quy mô đầu tư tương tự; so sánh sánh chi phí đầu tư trên một đơn vị công suất thiết kế của dự án đang
giám sát với những dự án tương tự đã đầu tư;
• Xem xét kết quả đầu tư thực tế đạt được so với mục tiêu đầu tư đặt ra;
• Ước tính tỷ lệ khai thác (sử dụng) công trình so với năng lực đã đầu tư;
Trang 28• Ước tính và so sánh giá thành trên một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án đang giám sát với những dự án tương tự đã đầu tư;
• Ước tính và so sánh giá thành sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án đang giám sát với giá các sản phẩm tương tự trên thị trường
• So sánh tổng các giá trị và lợi ích do đầu tư dự án mang lại với tổng các chi phí và
tổn thất do thực hiện đầu tư dự án;
+ Nếu phát hiện có những yếu tố bất hợp lý thì kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định; theo dõi việc giải quyết các kiến nghị của các cấp có
thẩm quyền, việc chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư theo quy định
+ Trong trường hợp nhận thấy việc xử lý các vấn đề đã kiến nghị, hoặc việc chấp hành các biện pháp xử lý chưa thỏa đáng thì tiếp tục kiến nghị lên các cấp có thẩm
quyền cao hơn
- Theo dõi, kiểm tra việc nhà thầu tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ thuật, định mức vật tư và loại vật tư theo quy định:
+ Tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu hồ sơ thiết kế kỹ thuật (hoặc thiết kế thi công)
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để xác định các quy trình, quy phạm kỹ thuật,
định mức vật tư và loại vật tư quan trọng, cần phải theo dõi, kiểm tra
+ Thông báo cho chủ đầu tư và nhà thầu liên quan biết về kế hoạch theo dõi, kiểm tra của cộng đồng (đảm bảo việc theo dõi, kiểm tra của cộng đồng không làm ảnh
hưởng đến tiến độ thi công và chất lượng công trình)
+ Trong quá trình theo dõi, kiểm tra, nếu phát hiện có việc làm sai quy định thì yêu cầu đại diện các bên (chủ đầu tư, nhà thầu thi công, nhà thầu giám sát, Ban giám
sát đầu tư của cộng đồng, ) có mặt tại hiện trường lập biên bản xác nhận việc làm sai
quy định và cùng ký vào biên bản; kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, giải
quyết theo quy định; theo dõi việc giải quyết các kiến nghị của các cấp có thẩm quyền,
việc chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư và các nhà thầu theo quy định
+ Trong trường hợp nhận thấy việc xử lý các vấn đề đã kiến nghị, hoặc việc chấp hành các biện pháp xử lý chưa thỏa đáng thì tiếp tục kiến nghị lên các cấp có thẩm
quyền cao hơn
- Theo dõi, kiểm tra kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình:
+ Tiến hành tìm hiểu bản tổng dự toán công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để xác định khối lượng công việc của các hạng mục công trình, đơn giá của các
chủng loại vật tư quan trọng phục vụ việc theo dõi, kiểm tra khâu nghiệm thu và thanh
quyết toán công trình
Trang 29+ Thông báo cho chủ đầu tư và nhà thầu liên quan biết về kế hoạch theo dõi, kiểm tra của cộng đồng (đảm bảo việc theo dõi, kiểm tra của cộng đồng không làm ảnh
hưởng đến việc nghiệm thu, thanh quyết toán công trình)
+ Trong quá trình theo dõi, kiểm tra, nếu phát hiện có việc làm sai quy định thì yêu cầu đại diện các bên (chủ đầu tư, nhà thầu thi công, nhà thầu giám sát, Ban giám
sát đầu tư của cộng đồng, ) có mặt tại hiện trường lập biên bản xác nhận việc làm sai
quy định và cùng ký vào biên bản; kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, giải
quyết theo quy định; theo dõi việc giải quyết các kiến nghị của các cấp có thẩm quyền,
việc chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư và các nhà thầu theo quy định
+ Trong trường hợp nhận thấy việc xử lý các vấn đề đã kiến nghị, hoặc việc chấp hành các biện pháp xử lý chưa thỏa đáng thì tiếp tục kiến nghị lên các cấp có thẩm
quyền cao hơn [13]
d Những công việc tại cộng đồng người dân có quyền quyết định
- Nhân dân ở xã, thôn bàn và quyết định trực tiếp nhữngcông việc sau:
+ Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa, thể thao)
+ Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội;
+ Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy định của phápluật hiện hành;
+ Thành lập Ban Giám sát các công trình xây dựng do dân đóng góp;
+ Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông,
vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn
- Phương thức thực hiện những việc nhân dân quyết định trực tiếp: Ủy ban nhân dân xã xây dựng phương án, chương trình, kếhoạch; phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo, tổ chứcnhân dân thảo luận, quyết định những công
việc quy định tại Điều 7 của Quy chế này bằng một trong các hình thức sau:
+ Họp toàn thể nhân dân hoặc chủ hộ gia đình hay cử tri đại diện hộ gia đình ởtừng thôn, thảo luận và biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;
+ Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình
+ Việc lấy ý kiến, biểu quyết công khai tại cuộc họp hoặc bỏ phiếu kín về từng vấn đềdo nhân dân tự quyết định theo quy định tại Điều 7 của Quy chế này phải
đượclập biên bản để báo cáo ủy ban nhân dân xã về nội dung cuộc họp và kết
quảnhững vấn đề đã biểu quyết
Trang 30- Những nội dung quy định tại Điều 7 của Quy chế này phù hợp với quy định của pháp luật, đạt tỷ lệ trên 50% số người tham gia cuộc họp hoặc lấy ý kiến tánthành, thì
ủy ban nhân dân xã ra quyết định công nhận
- Ủy ban nhân dân xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc ViệtNam cùng cấp chỉ đạo Trưởng thôn và Trưởng Ban công tác Mặt trận tổ chức thựchiện những vấn đề do nhân
dân tự quyết định đã được ủy ban nhân dân xã côngnhận, có sự giám sát của Thanh tra
nhân dân hoặc Ban Giám sát công trình, dự ándo nhân dân bầu
- Nhân dân có trách nhiệm chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định
đã đượctrên 50% các hộ gia đình của xã hoặc của thôn nhất trí [12]
1.1.3 Các chính sách, quy chế, quy định của tỉnh Thừa Thiên Huế về Giám sát
đầu tư công của cộng đồng
Trong năm 2013 để thực hiện giám sát cộng đồng tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định 1231/QĐ – UBND về quy chế tổ chức thực hiện giám sát của cộng
đồng trên địa bàn, quyết định đã làm rõ những nội dung và các tổ chức thực hiện giám
sát, cụ thể Quy chế thể hiện như sau:
- Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và quyền giám sát đầu tư của cộng đồng
Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và quyền giám sát đầu tư của cộng đồng thực hiện theo quy định tại Điều 2, Điều 3, Điều 5 của Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày
18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư của
cộng đồng [17]
1.1.3.1 Nội dung giám sát đầu tư công của cộng đồng
- Đối với các chương trình, dự án đầu tư bằng vốn và công sức của cộng đồng hoặc
bằng nguồn tài trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho xã, phường, thị trấn (sau này viết
tắt là các dự án đầu tư của xã) Nội dung giám sát đầu tư của cộng đồng gồm:
+ Kiểm tra sự phù hợp của Quyết định đầu tư dự án với các quy hoạch, kế hoạch được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh, huyện; Quy hoạch phát triển các ngành trên địa bàn tỉnh; Quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai của xã; Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng của xã; Quy
hoạch xây dựng chi tiết các khu đô thị, dân cư, công nghiệp, trên địa bàn xã (nếu có);
Kế hoạch đầu tư trên địa bàn xã
+ Theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định của chủ đầu tư và các nhà thầu:
Về chỉ giới đất đai và sử dụng đất; Về quy hoạch mặt bằng chi tiết, phương án kiến
trúc, xây dựng; Về đền bù, giải phóng mặt bằng và phương án tái định cư; Về xử lý
chất thải, bảo vệ môi trường; Về tiến độ, kế hoạch đầu tư dự án
Trang 31+ Theo dõi, phát hiện các tác động tiêu cực của dự án: Những việc làm của chủ đầu tư, các nhà thầu xâm hại lợi ích của cộng đồng trong quá trình thực hiện đầu tư,
vận hành (khai thác) dự án; Những tác động tiêu cực của dự án đến môi trường sinh
sống của cộng đồng trong quá trình thực hiện đầu tư, vận hành (khai thác) dự án
+ Theo dõi, đánh giá hiệu quả đầu tư và phát hiện những việc làm gây lãng phí, thất thoát vốn, tài sản thuộc dự án
+ Theo dõi, kiểm tra nhà thầu tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ thuật, định mức vật tư và loại vật tư theo quy định
+ Theo dõi, kiểm tra kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình
- Đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước và không thuộc diện bí mật quốc gia, nội dung giám sát đầu tư của cộng đồng gồm: Các điểm a, b, c và d Khoản 1,
Điều 3 quy chế này
- Đối với các dự án đầu tư bằng các nguồn vốn khác (theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 3, Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng), nội dung giám sát đầu tư
của cộng đồng gồm: Các điểm a, b và c, Khoản 1, Điều 3 quy chế này
1.1.3.2 Yêu cầu đối với giám sát đầu tư công của cộng đồng
Việc giám sát đầu tư phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Đúng đối tượng, phạm vi và nội dung giám sát đầu tư theo quy định
- Không gây cản trở công việc của các đối tượng chịu sự giám sát đầu tư của cộng đồng
- Việc tổng hợp, phản ánh kết quả giám sát đầu tư của cộng đồng phải kịp thời, trung thực, khách quan Tổ chức giám sát cộng đồng phải chịu trách nhiệm về những
thông tin, những ý kiến, kiến nghị của mình trước pháp luật và các quy định của nhà
nước [17]
1.1.3.3 Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các sở, ban ngành
cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư
Các sở, ban ngành cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố Huế, cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, các cá nhân, tổ chức, các chủ đầu tư,
các nhà thầu phải tạo điều kiện cho cộng đồng thực hiện công tác giám sát đầu tư,
đồng thời, có trách nhiệm tiếp nhận các yêu cầu, cung cấp thông tin, xem xét nội dung
để trả lời, xử lý, có biện pháp khắc phục đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền theo
quy định của pháp luật khi có yêu cầu của Ban giám sát đầu tư cộng đồng hoặc Ban
Thanh tra nhân dân
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh
Trang 32+ Chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thị xã và thành phố Huế triển khai hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn củng cố và thành lập
Ban giám sát đầu tư cộng đồng hoặc giao Ban thanh tra nhân dân thực hiện nội dung
giám sát của cộng đồng theo quy định tại Thông tư liên tịch số
04/2006/TTLT-KH&ĐT-UBTWMTTQVN-TC ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Ban
Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Bộ Tài chính
+ Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp luật quy định về
tổ chức và hoạt động giám sát nói chung, giám sát đầu tư của cộng đồng nói riêng; vai
trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng trong cán bộ
và nhân dân nhằm nâng cao hơn nữa về nhận thức, nắm vững quyền và nghĩa vụ của
mình, có trách nhiệm trong việc tham gia quản lý nhà nước, góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả công tác giám sát, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở
+ Phối hợp với các cơ quan liên quan giám sát, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ giám sát đầu tư của cộng đồng bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng
chế độ quy định và hiệu quả
- Sở Kế hoạch và Đầu tư + Chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Sở Tài chính tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc
thực hiện công tác giám sát đầu tư của cộng đồng trên địa bàn tỉnh
+ Chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các sở, ban ngành cấp tỉnh tổ chức hướng dẫn về hoạt động của Ban Giám sát
đầu tư cộng đồng; bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát đầu tư cho các Ban Giám sát đầu tư
cộng đồng và các cán bộ, công chức có liên quan; hướng dẫn về lập và quản lý thực
hiện kế hoạch giám sát đầu tư của cộng đồng
+ Trả lời các nội dung yêu cầu của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đối với các dự án do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định đầu tư hoặc đã ủy quyền quyết
định đầu tư liên quan đến việc đánh giá sự phù hợp của quyết định đầu tư với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành đã được công khai khi
nhận được văn bản yêu cầu
- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và thành phố Huế + Thực hiện công khai hóa các thông tin về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch chi
tiết xây dựng các khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp… theo thẩm quyền
+ Thực hiện công khai các dự án đầu tư trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Trang 33+Xem xét, giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật khi nhận được yêu cầu, kiến nghị bằng văn bản của cộng đồng, báo cáo cơ quan cấp
trên những vấn đề vượt thẩm quyền
+ Kiểm tra, ngăn chặn xử lý các hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy chế giám sát đầu tư cộng đồng
+ Chỉ đạo Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động giám sát đầu tư của cộng đồng trên địa bàn theo quy định tại Khoản 2, Điều 6 của quy chế này
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn + Chủ động kiểm tra, phát hiện những vấn đề bất cập, những sai phạm trong quá trình triển khai thực hiện các dự án trên địa bàn
+ Tổng hợp ý kiến của cộng đồng bằng văn bản và gửi đến các cá nhân, tổ chức,
cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, cơ quan giám sát đầu tư của Nhà nước, cơ
quan quản lý nhà nước và các tổ chức tài trợ có liên quan
+ Phản ánh kịp thời với chủ đầu tư, nhà thầu và các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện có hành vi vi phạm trong quá trình triển khai thực hiện các dự án, ngăn chặn
và xử lý các hành vi vi phạm theo thẩm quyền
- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã + Tổ chức thực hiện giám sát đầu tư của cộng đồng trên địa bàn theo quy định tại Phần II và Phần III của Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BKHĐT-
UBTƯMTTQVN-BTC ngày 04 tháng 12 năm 2006
+ Tổ chức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân trong xã chủ động, tích cực thực hiện quyền giám sát đầu tư của cộng đồng theo Điều 5, Quyết định
số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005
+ Xác nhận các Báo cáo kết quả giám sát đầu tư của cộng đồng, các kiến nghị về kết quả giám sát đầu tư của cộng đồng do Ban giám sát đầu tư của cộng đồng lập gửi
các cơ quan có liên quan
+ Phối hợp với các cơ quan có liên quan giám sát, kiểm tra việc quản lý sử dụng kinh phí hỗ trợ giám sát đầu tư của cộng đồng ở xã, đảm bảo sử dụng đúng mục tiêu,
đúng quy định và hiệu quả [17]
1.1.3.4 Trách nhiệm của Ban Giám sát đầu tư công cộng đồng
- Lập và quản lý thực hiện kế hoạch giám sát đầu tư theo quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BKHĐT-UBTƯMTTQVN-BTC ngày 04 tháng 12 năm 2006
- Lập kế hoạch thực hiện giám sát đầu tư của cộng đồng khi nhận được thông tin
dự án từ các chủ đầu tư trước ngày 15 tháng 02 hằng năm
Trang 34- Tổ chức thực hiện kế hoạch giám sát theo kế hoạch đã đề ra, thu thập ý kiến, kiến nghị của nhân dân trong xã và phản ánh các vấn đề chưa được làm rõ đến các cơ
1.1.4 Những vấn đề chung về nông thôn mới
1.1.4.1 Khái niệm nông thôn
Hiện tại có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn và mỗi quan niệm có những nhận định khác nhau về nông thôn Chính vì vậy, chúng tôi đưa ra những khái
niệm khác nhau về nông thôn như sau:
- Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành,
nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban
nhân dân xã.”[19]
- Theo tác giả Trương văn Tuyển: “Nông thôn được coi là khu vực nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài
nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Có thể hiểu nông thôn hiện
nay bao gồm những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có
quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát
triển” [9]
- Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong
điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu: “Nông
thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư
dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một
thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [14]
Từ những khái niệm trên theo chúng tôi: Nông thôn là khu vực địa lý với tập trung cộng đồng dân cư, trong đó tập trung nhiều nông dân tham gia vào hoạt động sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu Ngoài ra nông thôn còn có các khu công nghiệp, đô thị
nhỏ gắn bó, thúc đẩy và hỗ trợ nông thôn phát triển
Trang 351.1.4.2 Khái niệm nông thôn mới
Hiện nay khái niệm nông thôn mới được rất nhiều tác giả định nghĩa khác nhau, sau đây là một số định nghĩa:
- Theo tác giả Đặng Kim Sơn thì: “Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống
Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống thì nông thôn mới phải
bao hàm cả cơ cấu và chức năng mới.” [5]
-Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020” cho rằng:
“Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người
dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị
Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới” [16]
- Theo tác giả Phạm Xuân Cảnh: “Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch,
gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của
hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã
hội” [10]
Từ những quan niệm trên theo chúng tôi: Nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng được xây dựng hiện đại quy hoạch cụ thể, đời sống vật chất và
tinh thần người dân được nâng cao, giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành
thị Nông dân được tham gia đào tạo, nâng cao trình độ tham gia vào hoạt động xây
dựng nông thôn mới
1.1.4.3 Mục tiêu và kế hoạch xây dựng nông thôn mới
a Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
-Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020” thì để xây
dựng nông thôn mới phải thực hiện 2 mục tiêu sau:
+ Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi
trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh
thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 36+ Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015 có 20% và đến năm 2020 có 50% số xã đạt
tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) [16]
b Kế hoạch xây dựng nông thôn mới
- Quá trình thực hiện xây dựng nông mới được thực hiện với nội dung hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ –TTg ngày
14/06/2009 của Thủ tướng chính phủ
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các
tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt
động cụ thể do chính người dân cộng đồng ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
và tổ chức thực hiện
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình dự án khác đang triển khai ở
nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; các cơ chế, chính
sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư cho các ngành kinh tế; huy động đóng góp của các
tầng lớp dân cư
- Được thực hiện với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo
an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế
đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do
các Bộ chuyên ngành ban hành)
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức
thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới" do Mặt trận
Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân
phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới [15]
Tóm lại chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm mục đích thay đổi bộ mặt nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị nhưng phải tạo được sự
tham gia và đóng góp của người dân trong mọi hoạt động Chính vì vậy, đề tài sẽ tìm
hiểu thêm những đóng góp và hiểu biết của người dân về cơ chế giám sát đầu tư công
1.1.4.3 Vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Trong công cuộc xây dựng NTM, người nông dân phải tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá
trình làm ra của cải vật chất, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…Đồng thời cũng là
người hưởng lợi từ thành quả của nông thôn mới Chính vì vậy, nông dân là chủ thể
xây dựng NTM, đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng NTM thành công và phát huy được
vai trò tích cực của mình Để phát huy được vai trò chủ thể thì người dân phải:
Trang 37- Tham gia góp ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ án quy hoạch NTM cấp xã
- Tham gia vào lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của
- Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành.[8]
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ CƠ CHẾ TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT
ĐẦU TƯ CÔNG CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.2.1 Thực trạng thực hiện công tác đầu tư công trong cả nước
Đầu tư công đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, làm ổn định xã hội, người dân được hưởng những phúc lợi do quá trình đầu tư mang
lại Tuy nhiên nếu không thực hiện đầu tư hiệu quả sẽ gây ra rất nhiều hệ quả: tạo gánh
nặng cho ngân sách nhà nước, thất thoát, tham nhũng… Sau đây là một số mô tả thực
trạng đầu tư công đã được thực hiện từ năm 2011- 2015 của nước ta:
1.2.1.1 Tỷ trọng đầu tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Tăng trưởng kinh tế cao của nước ta trong suốt giai đoạn vừa qua gắn liền với tăng mạnh vốn đầu tư, thể hiện qua tỷ lệ đầu tư so với GDP tăng liên tục từ 18,1% lên
42,2% so với GDP vào năm 2010 Giai đoạn 2011 – 2012, tỷ lệ đầu tư so với GDP chỉ
đạt trên 30% thấp hơn khoảng 10% so với giai đoạn 2001 – 2010, thấp hơn khoảng 3%
so với mức 33% của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 Tỷ trọng đầu tư công (là các khoản
đầu tư được hình thành từ ngân sách nhà nước, từ trái phiếu chính phủ, tín dụng nhà
nước, ODA và các doanh nghiệp nhà nước đã giảm khá nhanh từ khoảng 59% năm
2000 xuống gần 38,2% năm 2008 nhưng lại tăng lên 44,1% vào năm 2010 Tỷ trọng
đầu tư của khu vực nước ngoài nhà nước tăng từ 23% năm 2000 lên 37,1% năm 2010
và khoảng 36% giai đoạn 2011 – 2012 Tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng từ
18% lên hơn 25,5% năm 2008, giảm mạnh còn 18,8% năm 2010 và đạt trung bình
23% giai đoạn 2011-2012 [2]
1.2.1.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng đầu tư công
Trong thời kì 2001 – 2010, tổng vốn đầu tư công tăng bình quân 10,2%/naqm (theo giá cố định), thấp hơn so với tốc độ tăng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài
nhà nước (15,1%/năm) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (18,5%/năm); trong đó
Trang 38ggia đoạn 2001-2005 tăng 11,1%, giai đoạn 2006-2010 tăng 9,3% Do thực hiện Nghị
quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm
bảo an sinh xã hội, tổng vốn đầu tư toàn xã hội chỉ tăng 7,8%, trong đó đầu tư công
giảm 3,8% [2]
Trong thời kỳ 2001-2010, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước tăng bình quân 10,5%/năm, chiếm khoảng 51,7% tổng vốn đầu tư công Vốn vay của Nhà nước, trong
đó chủ yếu là vốn tín dụng đầu tư nhà nước đạt mức tăng trưởng bình quân 12%/năm,
chiếm khoảng 23,1% tổng vốn đầu tư công Giai đoạn 2011-2012 đầu tư từ ngân sách
nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ cao trên 52% phần còn lại đầu tư từ trái phiếu và doanh
nghiệp nhà nước [2]
1.2.1.3 Cơ cấu vốn đầu tư công
Cơ cấu vốn đầu tư công bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn vay và vốn doanh nghiệp nhà nước Vốn ngân sách nhà nước bao gồm vốn từ ngân sách, vốn cho
các chương trình mục tiêu quốc gia và các ngành dao động trong khoảng từ 40%đến
65% tổng vốn đầu tư công Tỷ trọng vốn ngân sách tăng liên tục từ năm 1995-2009
nhưng có xu hướng giảm do chính sách thắt chặt tín dụng và cắt giảm đầu tư công từ
2009 đến nay Vốn Doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 20% đến 30%, có xu hướng
giảm trong giai đoạn 2001-2005, tăng lên trong 2 năm 2006-2007, nhưng giảm trong
giai đoạn 2008-2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính [2]
1.2.1.4 Cơ cấu đầu tư công theo ngành
Trong những năm qua, cơ cấu đầu tư công theo ngành, lĩnh vực đã có sự chuyển dịch theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Vốn đầu tư công cho ngành nông, lâm và thủy sản thời kỳ 2001-2010 tăng trưởng bình quân 3,65%, quy mô theo giá thực tế đạt 127,595 tỷ đồng, gấp hơn 2,4 lần
thời kỳ 1990-2000, chiếm 6,9% tổng vốn đầu tư của Nhà nước Đây là ngành có mức
tăng trưởng đầu tư công thấp nhất trong tất cả các ngành Tỷ trọng vốn đầu tư công
cho nông, lâm nghiệp và thủy sản lại có xu hướng giảm, từ 12,3% thời kỳ 1996-2010
xuống 7,9% thời kỳ 2001-2005 và 6,4% vào thời kỳ 2006-2010 [11]
Việc sử dụng công cụ đầu tư công để phát triển các ngành, vùng trọng điểm, then chốt chưa thực sự phát huy được hiệu quả đầu tư công Những kết quả của việc
đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm, ưu tiên có tính chất lan tỏa cao đối với phát
triển kinh tế chưa thấy rõ Định hướng đầu tư nhà nước vào các ngành có khả năng lan
tỏa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại hóa đã không đi đúng hướng
trong giai đoạn 2001 – 2012 [11]
Trang 391.2.2 Tình hình thực hiện công tác giám sát đầu tư công của cộng đồng ở một số
tỉnh Bắc Trung Bộ
Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, có thể khẳng định chương trình đã được triển khai tích cực, đúng hướng và
đạt được nhiều kết quả quan trọng, được nhân dân đồng tình, ủng hộ và tham gia tích
cực Đến nay, xây dựng NTM đã trở thành phong trào thi đua, phong trào quần chúng
sôi nổi và tương đối đều khắp trong cả nước Chương trình đã làm thay đổi nhận thức
của đa số cán bộ và người dân: từ trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước, sang tự
chủ thực hiện, tạo thành phong trào sôi động khắp cả nước
Để có được những thành công đó trong những năm qua, Nhà nước đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để triển khai xây dựng NTM Hàng nghìn công trình xây dựng hạ
tầng nông thôn tại các xã, thị trấn, bản, như: làm nhà văn hoá, xây cầu, trường học,
kênh mương, làm đường và các dự án đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm
nghiệp… Để nâng cao hiệu quả, chất lượng và đảm bảo tiến độ các công trình, nhiều
địa phương, nhất là ở xã, bản đã thành lập các ban giám sát đầu tư cộng đồng với các
quy định cụ thể phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị Với chức năng,
nhiệm vụ được giao, ban giám sát đầu tư cộng đồng ở nhiều địa phương đã xây dựng
chương trình, kế hoạch giám sát và tổ chức thực hiện có hiệu quả kịp thời phát hiện
những bất cập trong quản lý đầu tư và triển khai xây dựng các công trình Sau đây là
kết quả giám sát cộng đồng của một số tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ:
1.2.2.1 Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là 1 trong 7 tỉnh đầu tiên của cả nước về đích trong thực hiện chương trình nông thôn mới Để đạt được thành tích này đòi hỏi sự nổ lực và phấn đấu của
người dân và chính quyền địa phương Tất vả những công trình xây dựng đều được
nhân dân bàn bạc dân chủ, công khai, do nhân dân thực hiện và kiểm tra, giám sát chặt
chẽ việc triển khai thực hiện đảm bảo phù hợp quy hoạch, tiến độ, chất lượng công
trình, đảm bảo mỹ quan, môi trường và lợi ích của cộng đồng Tuy nhiên, việc giám
sát không phải thực hiện một cách tự do, tùy tiện mà do BGSĐTCĐ được nhân dân ở
các khu dân cư lựa chọn bầu ra, Ban Thường trực UBMTTQ các xã, phường, thị trấn
quyết định công nhận và trực tiếp hướng dẫn hoạt động theo nhiệm kỳ 2 năm
Hiện nay, toàn tỉnh Hà Tĩnh có 262 BGSĐTCĐ với 2.397 thành viên đã thực hiện giám sát hàng ngàn công trình, phát hiện hàng trăm công trình sai phạm, kịp thời
kiến nghị với các cấp có thẩm quyền xử lý, khắc phục Chỉ tính riêng trong 6 tháng
đầu năm 2012, các BGSĐTCĐ đã tham gia giám sát 693 công trình, phát hiện 134
công trình có sai phạm đã kiến nghị chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo nhà
thầu khắc phục, chủ yếu là các công trình mà người dân trực tiếp hưởng lợi như trường
học, trạm xá, đường giao thông, kênh mương nội đồng, nhà văn hóa khu dân cư…
Trang 40Khi phát hiện công trình có sai phạm, Ban giám sát đầu tư cộng đồng lập văn bản kiến nghị với Chủ đầu tư và các cơ quan có thẩm quyền liên quan chỉ đạo nhà thầu
xử lý, khắc phục kịp thời, đồng thời giám sát việc khắc phục, sửa chữa đó Điển hình
như BGSĐTCĐ xã Ân Phú, huyện Vũ Quang đã giám sát công trình trạm y tế xã, nhà
văn hóa khu dân cư thôn 3 và đã phát hiện nhà thầu thi công các hạng mục không đúng
với hồ sơ thiết kế đó là phần khung gỗ ngoại, gỗ cửa, gạch ốp lát, kính chắn gió,
BGSĐTCĐ xã đã kiến nghị chủ đầu tư và cơ quan chức năng yêu cầu nhà thầu ngừng
thi công và bố trí sử dụng các vật liệu xây dựng đúng theo quy định của hồ sơ thiết kế
Hay tại xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà, BGSĐTCĐ đã giám sát việc xây dựng trường học
2 tầng và phát hiện gạch xây tường, đá đổ dầm tầng 2 không đúng với loại quy định
trong hồ sơ thiết kế, Ban đã kiến nghị chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu ngừng thi công và
mua đúng loại vật liệu mới được thi công tiếp [20]
Theo dõi sát sao hiệu quả hoạt động của BGSĐTCĐ là việc làm thường xuyên của MTTQ các cấp ở Hà Tĩnh, đằng sau hiệu quả hoạt động của BGSĐTCĐ là sự
hướng dẫn, uốn nắn, điều chỉnh, giám sát nghiêm túc của MTTQ BGSĐTCĐ được
kiện toàn đảm bảo chất lượng, tập hợp được những người có đủ phẩm chất, năng lực,
trình độ, công tâm và tâm huyết với công việc để việc giám sát đầu tư cộng đồng ở cơ
sở thực sự có hiệu quả [20]
1.2.2.2 Quảng Bình
Theo Quyết định 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, MTTQ có quyền giám sát các công trình triển khai trên địa bàn có vốn đầu tư của Nhà nước, cộng đồng,
người dân; theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định về quản lý đầu tư của cơ quan
có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu, đơn vị thi
công; phát hiện các vi phạm quy định quản lý đầu tư để kịp thời ngăn chặn, xử lý,
chống lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, [21]
Để nâng cao chất lượng công tác giám sát, Uỷ ban MTTQ tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo và hướng dẫn thành lập các Ban giám sát đầu tư cộng đồng ở tỉnh, huyện và
các cơ sở Hầu hết thành viên đều là những người có kinh nghiệm, có trình độ pháp lý
nhất định Quá trình giới thiệu nhân sự và tổ chức hội nghị ở khu dân cư để bầu Ban
giám sát đầu tư cộng đồng đều được Mặt trận cơ sở thực hiện nghiêm túc, bảo đảm
theo đúng quy trình, quy định của pháp luật
Đến nay, toàn tỉnh đã có 153 Ban giám sát đầu tư cộng đồng với tổng số 1.174 thành viên Ngoài ra, ở nhiều địa phương, hoạt động giám sát được giao cho các Ban
thanh tra nhân dân đảm nhiệm Nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho các thành viên
ban giám sát, ủy ban MTTQ tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở
Tài chính mở nhiều lớp tập huấn cho cán bộ các cấp những nội dung về công tác Ban
giám sát đầu tư cộng đồng như: phạm vi, đối tượng giám sát, phương thức thực hiện
giám sát cũng như hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của Ban