Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu "Thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm" tập trung vào việc khám phá quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian và không gian nghệ thuật Đồng thời, bài viết phân tích các phương thức biểu hiện và phương tiện nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm, nhằm hiểu rõ hơn về thế giới nghệ thuật độc đáo của Đoàn Thị Điểm và giá trị sáng tạo của bà trong văn học Việt Nam.
Lịch sử nghiên cứu
4.1 Giới thiệu tác giả “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm Đoàn Thị Điểm tên tự là Hồng Hà, có sách ghi là “Hồng Hà nữ tử” hay
“Hồng Hà phu nhân”, sinh năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705), tại làng Giai Phạm (nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên), mất năm Cảnh Hưng 9
Trong giáo trình Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, các tác giả Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận đã giới thiệu về cuộc đời và đóng góp của Đoàn Thị Điểm, nữ tác giả nổi bật của thời kỳ Đoàn Thị Điểm, còn gọi là Hồng Hà, sinh năm 1705 và mất năm 1748, quê ở làng Giai Phạm (sau đổi là Hiến Phạm), trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) Các tác phẩm chính của bà, chủ yếu viết bằng chữ Hán, bao gồm tập Truyền kỳ tân phả, thể hiện rõ nét tài năng và vai trò của nữ sĩ trong văn học Việt Nam cổ đại, góp phần làm phong phú di sản văn học dân tộc.
Trong giáo trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ
Nguyễn Lộc đã giới thiệu tóm tắt về tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Đoàn Thị Điểm, nhấn mạnh những đóng góp quan trọng của bà trong nền văn học Việt Nam Ông cũng so sánh giá trị nghệ thuật của các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm, làm nổi bật những đặc điểm độc đáo và tính sáng tạo trong các tác phẩm của bà Những phân tích này giúp làm rõ vị trí và ý nghĩa của Đoàn Thị Điểm trong lịch sử văn học Việt Nam.
Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm là một tác phẩm quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt trong thể loại truyện truyền kỳ Ngoài việc dịch Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm còn sáng tác tập truyện Truyền kỳ tân phả, trong đó kể lại những câu chuyện truyền kỳ theo truyền thống của Nguyễn Dữ Tác phẩm này góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian Việt Nam, thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo của nhà văn.
Phan Huy Chú đánh giá cao tác phẩm Truyền kỳ tân phả (còn gọi là tục Truyền kỳ, phản ánh loại truyện Truyền kỳ của Nguyễn Dữ) về lời văn hoa mỹ, giàu hình ảnh sinh động Tuy nhiên, ông cũng phê bình khí cách của tác phẩm còn yếu, chưa vượt qua được đẳng cấp của Nguyễn Dữ trong thể loại truyện kỳ.
Trong giáo trình Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Phạm
Thế Ngũ viết tiểu sử Đoàn Thị Điểm một cách tỉ mỉ nhưng chỉ đề cập đến tác phẩm văn xuôi Truyền kỳ tân phả của bà qua một câu ngắn gọn, tập trung nhấn mạnh vào dịch phẩm Chinh phụ ngâm của bà Ông ghi nhận rằng bà Đoàn Thị Điểm còn làm văn, làm thơ, lấy hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, và đã soạn tập truyện Truyền kỳ tân phả bằng chữ Hán cùng với bản dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, thể hiện rõ vai trò của bà trong lĩnh vực văn học quốc ngữ.
Trong giáo trình Văn học Việt Nam, (Từ thế kỷ X – thế kỷ XX), Nguyễn
Phạm Hùng giới thiệu sơ lược về Đoàn Thị Điểm, nhấn mạnh thành công của bà trong bản dịch “Chinh phụ ngâm,” một tác phẩm nổi bật trong sự nghiệp của nữ thi hào Tuy nhiên, ông không đề cập đến tác phẩm “Truyền kỳ tân phả,” viết bằng chữ Hán của Đoàn Thị Điểm, thể hiện sự chú trọng vào những đóng góp quan trọng của bà trong lĩnh vực dịch thuật và văn học Việt Nam.
Trong Việt Nam thi văn giảng luận, Hà Như Chi đã giới thiệu tiểu sử:
Bà Đoàn Thị Điểm nổi bật với vai trò là tác giả của tập sách "Truyền kỳ tân phả", trong đó ghi chép các truyện có giá trị lịch sử và văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, tiểu sử của bà chỉ liệt kê các truyện đã sáng tác mà không đi sâu phân tích nội dung của từng truyện Có thể bà đã sáng tác nhiều tác phẩm, chủ yếu bằng chữ Hán, góp phần quan trọng vào nền văn học trung đại Việt Nam Do đó, vai trò của bà trong lĩnh vực văn học vẫn còn tiềm ẩn nhiều điều chưa được khám phá rõ ràng qua các tác phẩm của bà.
Bà là tác giả của sách Tục truyền kỳ, ghi lại những câu chuyện kỳ lạ của đất nước như chuyện Hải khẩu linh từ lục, Bà thần chế thắng, Vân Cát thần nữ và Bà chúa liễu Hạnh Những câu chuyện này phản ánh các truyền thuyết dân gian độc đáo, góp phần giữ gìn nét văn hóa tâm linh truyền thống của Việt Nam Sách Tục truyền kỳ không chỉ là tài sản văn hóa mà còn là nguồn tư liệu quý giá về tín ngưỡng và lịch sử dân gian Việt Nam.
An Ấp liệt nữ là câu chuyện về người vợ nhỏ của Đinh Nho Hàn, mang ý nghĩa về lòng trung thành và hy sinh Trong cuộc đối thoại giữa Yến Anh và người kể chuyện, những chia sẻ về cuộc đời và những trải nghiệm cá nhân được thể hiện một cách chân thực và sâu sắc Các địa danh như Mai Huyền, Hoành Sơn, và Tiên Cực phản ánh nét đẹp thiên nhiên và linh thiêng của vùng đất này, đặc biệt với cờ tiên ở núi Hoành Sơn thể hiện nét văn hóa lịch sử đặc trưng Ngoài ra, hình ảnh Nghĩa Khuyển Thập Miêu – chú chó nuôi mèo là biểu tượng về mối quan hệ hòa hợp và tình cảm gắn bó giữa các loài vật, góp phần làm nổi bật giá trị đạo đức trong câu chuyện.
Trong văn học cổ điển Việt Nam, tác phẩm của các tác giả như Tô Hoài, Nguyễn Vinh Phúc, Hoàng Ngọc Hà, Ngô Văn Phú và Phan Thị Thanh Nhàn đã phản ánh rõ nét về vùng đất Thăng Long – Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX Đặc biệt, tác giả Đoàn Thị Điểm, còn được gọi là Hồng Hà nữ sĩ, là con gái của Đoàn Doãn Nghi, nổi bật với các tác phẩm tiếng Hán như Truyền kỳ tân phả, ghi lại những chuyện truyền kỳ của Việt Nam, tiếp nối truyền thống của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục Bên cạnh đó, bà còn sáng tác bản dịch Chinh phụ ngâm cùng nhiều thơ văn chữ Hán và chữ Nôm, góp phần làm phong phú kho tàng văn học cổ điển Việt Nam.
“Hồng Hà phu nhân di văn” mới được phát hiện gần đây, [28, 91- 92]
4.1.2 Các tài liệu khác có chép tiểu sử của “Đoàn Thị Điểm”
Trong, Từ điển văn học, tập 1, (A – M), Nguyễn Lộc đã giới thiệu, tóm tắt đầy đủ về Đoàn Thị Điểm, trong đó có nhắc đến chút ít về tác phẩm
Truyền kỳ tân phả là tác phẩm nổi bật trong văn học Việt Nam, được Phan Huy Chú khen ngợi về giá trị sáng tác Ngoài việc dịch Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm còn là tác giả của tập truyện chữ Hán Truyền kỳ tân phả, góp phần làm phong phú kho tàng văn học cổ đại Việt Nam Tác phẩm này không chỉ thể hiện khả năng sáng tạo văn học của bà mà còn phản ánh rõ nét văn hóa và lịch sử dân tộc qua những câu chuyện kỳ bí, hấp dẫn.
Trong cuốn chuyên khảo "Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam," Trần Đình Sử đã giới thiệu và nhận xét về Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm trong mục truyện Truyền kỳ, nhưng ông không đề cập đến tiểu sử của tác giả Ông mô tả Truyền kỳ tân phả đầu thế kỷ XVIII của Đoàn Thị Điểm là thể loại tương tự truyện Truyền kỳ mạn lục, tuy nhiên có phần rườm rà và lắm thơ ca làm loãng nội dung câu chuyện Trần Đình Sử nhấn mạnh rằng, nên nhìn nhận thể loại này như một dạng truyện-thơ hợp thể, trong đó yếu tố truyện nhằm mục đích sáng tạo tình huống để thể hiện tài thơ của tác giả, phản ánh rõ nét hứng thú và hoạt động văn học thơ ca của các văn sĩ thời đó.
Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, là nhà văn, nhà thơ nổi bật của Việt Nam dưới triều Lê-Trịnh, quê ở làng Giai Phạm (sau gọi là làng Hiến), có họ Lê theo họ của bố nuôi Bà có cuộc đời gắn bó với văn học, nổi tiếng với tác phẩm "Chinh phụ ngâm" và đóng vai trò quan trọng trong nền văn học cổ điển Việt Nam Các tác giả trong sách "Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1" của Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã mô tả rõ về năm sinh, năm mất, biệt hiệu, quê quán và đóng góp văn học của Đoàn Thị Điểm.
Phạm, huyện Văn Giang), nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Hưng Bà sinh năm 1705, mất năm 1748
Tác phẩm của bà có Truyền kỳ tân phả (chữ Hán), (văn)
Chinh phụ ngâm khúc (một bản dịch quốc âm, tác phẩm của Đặng Trần
Bài báo "Một số ý kiến về giá trị của truyện Truyền kỳ: 'Ngọc Thân Ảo Hóa'" của Nguyễn Thị Hoa Lê, khoa Ngữ Văn Trường Đại Học Vinh, nhấn mạnh vai trò của truyện Truyền kỳ trong giá trị văn học cổ truyền Tác phẩm Truyền kỳ tân phả nổi bật với nhiều thơ ca phong phú, phản ánh nét đặc sắc của thể loại văn học này Bài viết phân tích tác động của truyện Truyền kỳ trong việc giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam Với góc nhìn từ bản chữ Hán, tác giả cung cấp cái nhìn toàn diện về nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm trong thể loại này, khẳng định vị trí quan trọng của truyện Truyền kỳ trong lịch sử văn học.
Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm nổi bật với nhiều bài thơ phản ánh tâm trạng nhân vật, thể hiện nét đẹp văn học truyền thống Việt Nam Trong tác phẩm, thơ được sử dụng chủ yếu để thể hiện cảm xúc của các nhân vật, mang lại chiều sâu tâm lý cho câu chuyện Tài thơ của Đoàn Thị Điểm chủ yếu tập trung vào hình tượng cô gái bán ngọc và chàng thư sinh họ Vương, qua đó làm nổi bật mối tình và số phận của hai nhân vật chính.
Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đa dạng, bao gồm phương pháp thống kê, miêu tả, phân tích, tổng hợp và so sánh, đối chiếu, nhằm đảm bảo tính toàn diện và chính xác trong nghiên cứu Trong đó, phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp cơ bản giúp nghiên cứu khám phá sâu vào thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Các phương pháp khoa học chuyên ngành này góp phần làm rõ hơn các đặc điểm và giá trị của tác phẩm trong bối cảnh văn hóa, nghệ thuật Việt Nam.
Đóng góp của luận văn
Chúng tôi đã nghiên cứu về thế nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, tập trung vào các quan niệm về con người, thời gian và không gian nghệ thuật Phân tích các phương thức biểu đạt và phương tiện nghệ thuật của tác phẩm giúp làm rõ đặc điểm sáng tạo và giá trị nghệ thuật trong tác phẩm của Đoàn Thị Điểm.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương
Chương 1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm
Chương 2 Thời gian, không gian nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm
Chương 3 Các phương thức biểu hiện và phương tiện nghệ thuật trong
Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm.
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Giới thuyết khái niệm
Thế giới nghệ thuật là tổng thể của các hình thức văn học phong phú và đa dạng Văn bản ngôn ngữ chỉ là một biểu hiện bên ngoài của hình thức nghệ thuật tổng thể này Một tác phẩm hoàn chỉnh xuất hiện như một thế giới nghệ thuật độc đáo và sâu sắc, kết hợp các yếu tố hình thức và nội dung để tạo nên một trải nghiệm nghệ thuật toàn diện.
Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người, phản ánh cảm xúc và tri giác gắn liền với thực tại khách thể gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian Nghệ thuật thể hiện mối liên hệ giữa con người và thế giới qua cảm xúc, cảm nhận đặc trưng của nghệ sĩ và người thưởng thức, tạo nên sự thống nhất đa dạng trong tác phẩm Nó có cấu trúc và ý nghĩa riêng, chịu ảnh hưởng của quan niệm của tác giả về thế giới như một quy luật tuyệt đối, từ đó tạo ra một thế giới nghệ thuật hữu hạn, mang tính ước lệ so với thực tại Khi đọc một tác phẩm văn học như thơ, kịch, truyện hay kí, ta dễ dàng nhận biết các yếu tố như lời kể, miêu tả, lời thoại, cùng các chi tiết về con người, môi trường, hành động, mâu thuẫn và xung đột, qua đó làm nổi bật tính cách, số phận, nỗi niềm nhân vật, cuối cùng dẫn đến nhận thức về con người, cuộc đời, thế giới và ý nghĩa nhân sinh.
Trong thế giới nghệ thuật không chỉ có thế giới được miêu tả mà còn có thế giới của những người kể chuyện và những nhân vật trữ tình, tạo nên một không gian đa dạng và phong phú Bên trong thế giới này, con người kể chuyện và nhân vật trữ tình đóng vai trò trung tâm, cần được khám phá và hiểu rõ hơn để hiểu sâu sắc về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật.
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người
Nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người trong nghệ thuật giúp thể hiện đời sống với chiều sâu ý nghĩa Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện qua góc nhìn nghệ thuật, chủ đề cảm nhận đời sống như những hằng số tâm lý của chủ thể, cùng với kiểu nhân vật, biến cố và cách xử lý các mối quan hệ trong tác phẩm Những quan điểm này không chỉ giúp xác định nội dung của tác phẩm văn học mà còn là cơ sở để nghiên cứu sự phát triển và tiến hóa của nền văn học.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm
Trong văn học trung đại Việt Nam, các tác phẩm truyện truyền kỳ bằng chữ Hán thường lấy nhân vật nam làm trung tâm, phản ánh quan niệm nghệ thuật truyền thống Tuy nhiên, Đoàn Thị Điểm trong tác phẩm "Truyền kỳ tân phả bà" đã lựa chọn nhân vật nữ làm hình tượng trung tâm, thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người Sự chuyển hướng này cho thấy sự tiến bộ về tư duy mỹ thuật của bà, mở ra hướng đi mới trong văn học Việt Nam.
Trong truyện Đền thiêng ở cửa bể (Hải khẩu linh từ lục), nhân vật trung tâm về nữ giới là nàng Bích Châu, một người đẹp và hiểu biết âm luật Lê Viên Nàng được vua Duệ Tông chú ý và cho tuyển vào hậu cung nhờ sắc đẹp và trí tuệ vượt trội Bích Châu cảm nhận rõ sự trì trệ của chính quyền sau thời Hồng Đức, nên đã dâng lên "Kê minh thập sách" nhằm thúc đẩy cải cách và cải thiện quốc thái dân an Tuy nhiên, vua không chấp nhận những đề xuất của nàng và bắt đầu hành động quân sự ở phía Nam khi biết rõ vua không nghe theo lời khuyên của mình Nàng đã gửi biểu lên bà phó mẫu, nhưng cũng không nhận được phản hồi từ vua, dẫn đến việc Bích Châu bỏ hết việc trang điểm và thể hiện thái độ bất bình trước quyết định của triều đình.
Ngôi đền thiêng liêng đã được phụ lão trình bày rõ ràng, thể hiện tầm quan trọng của nơi linh thiêng trong câu chuyện Trước nguy cơ sóng gió ập đến, những điềm báo và chứng nghiệm báo trước đã cảnh báo về số phận oan trái của nàng Bích Châu Trong tình cảnh bi thương, nàng đã chọn tự vẫn để cho gió bể cuốn đi hết những nổi sóng nội tâm, thể hiện sự hy sinh cao cả và bi kịch của số phận.
Sau khi ngự giá hồi kinh, vua ban hành chiếu lập đền thờ, cấp ruộng để tế lễ và bổ nhiệm người thư tử phục vụ nghi lễ, cùng sắc phong cho thần với hai chữ “Chế thắng” Đến nay, đền vẫn còn nguyên vẹn, khói hương nghi ngút và linh ứng vẫn rõ ràng, chứng minh sự linh thiêng của nơi thờ cúng này.
Truyện thứ hai Truyện người liệt nữ ở An Ấp (An Ấp liệt nữ lục) Ở đây nhân vật nữ là con gái nhà quan người họ Nguyễn
Chuyện kể về chàng tiến sĩ trẻ Đinh Hoàn, lấy con gái nhà quan họ Nguyễn làm vợ thứ, người đoan trang, khéo léo trong thêu thùa, may vá, lại giỏi văn thơ Khi ông ngủ dậy muộn, bà thường làm thơ khuyên chồng, thể hiện tình cảm sâu sắc và sự gắn bó Năm Ất Mùi, triều đình cử sứ thần đi Trung Quốc để thiết lập quan hệ ngoại giao, phu nhân ngậm ngùi, nước mắt trào dâng khi nghe tin chồng ra đi Đinh Hoàn đã đi sứ và mất tại Công quán Yên Kinh, khiến các quan đồng sự tổ chức lễ tang chu đáo Sau khi nhận tin buồn, phu nhân ngất xỉu, tỉnh dậy lại muốn chết theo chồng, tự thắt cổ trong buồng và từ đó được triều đình khắc chữ “Trinh liệt phu nhân tử” như một biểu tượng cao đẹp về lòng trung trinh.
Vài năm sau, có một người họ Hà phát hiện đó là đền liệt nữ, anh ta cẩn thận vén áo vào để thể hiện lòng thành kính Trong không khí trang nghiêm, anh vừa thưởng thức rượu và đọc bia để tỏ lòng tôn kính các liệt nữ, đồng thời thể hiện sự xúc động qua từng câu hát Sau khi uống hết bầu rượu, anh cầm bút viết một bài thơ thể hiện tình cảm, lòng biết ơn và sự kính trọng đối với các anh hùng liệt nữ đã hy sinh vì đất nước.
Người họ Hà đã nhầm lẫn hai câu cuối trong văn bản, nhưng sau khi nghe phu nhân nói xong, ông bỗng nhiên tỉnh ngộ Do say rượu, ông đã phóng bút viết bậy, điều này thực sự gây phạm lỗi rất nặng với người khác.
Bậc Tôn linh, nhằm chuộc lại lỗi nói càn, đã tình nguyện sửa lại nguyên vần, thể hiện sự thành tâm và hối lỗi Điều này giống như một giấc mộng, khiến Hà Sinh nhanh chóng tắm gội sạch sẽ và đến ngôi đền liệt nữ để chỉnh sửa hai câu cuối của bài thơ Hành động này thể hiện lòng thành kính, sự sám hối và mong muốn làm lại đúng đắn của nhân vật.
Trong Truyện nữ thần ở Vân Cát, nhân vật nữ chính là Giáng Tiên sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt tại làng Vân Cát Lê Thái Công, người chăm làm điều thiện trong làng, chỉ gặp may mắn khi vợ sinh con gái đúng vào đêm trung thu sau khi gặp một người khăn áo chỉnh tề, người này có thuật giúp đỡ sinh nở dễ dàng hơn Sau đó, bà vợ của Lê Thái Công đã sinh ra một cô con gái đặt tên là Giáng Tiên, đánh dấu một câu chuyện thần thoại đầy ý nghĩa về sự thiêng liêng và phép màu.
Giáng Tiên ngày càng xinh đẹp và nổi bật với khả năng đọc sách lập chữ, thể hiện sự thông minh và học thức Cô còn có kỹ năng về âm luật, thổi ống tiêu và chơi đàn điêu luyện, thể hiện sở thích nghệ thuật phong phú Đặc biệt, Đào Lang – con nuôi của một vị quan, đã bày tỏ ý định xin làm rễ, mở ra triển vọng về một tương lai hạnh phúc và tròn vẹn cho cô.
Sau lễ cưới, Giáng Tiên tích cực chăm sóc gia đình, thể hiện lòng hiếu thuận với cha mẹ chồng Cô giữ gìn lễ nghĩa và nét đẹp truyền thống trong cuộc sống vợ chồng Sau đó, cô sinh được con trai vào năm thứ nhất và con gái vào năm thứ hai, cuộc sống hạnh phúc viên mãn Tuy nhiên, sau ba năm hạnh phúc, ngày mồng ba tháng ba, Giáng Tiên đột nhiên mất tích không rõ nguyên nhân, khiến gia đình vô cùng bàng hoàng.
Nói về Tiên nữ, từ khi về chầu trời, thường thường chau mày, nhỏ lệ Thượng đế phong làm Liễu Hạnh công chúa và trở xuống trần gian
Tiên chúa về làng cũ thăm mẹ, thăm anh, thăm Thái Công, Trần Công, nói xong Tiên Chúa biến mất
Sau khi vợ mất, Đào Sinh quyết định đưa con vào kinh đô sống một mình trong phòng, bỏ bê việc học hành để chăm sóc gia đình Một ngày, bất ngờ có một luồng khí lạnh lan tỏa và nghe tiếng gõ cửa gấp gáp, Sinh ra mở cửa thì gặp Tiên Chúa Hai vợ chồng trò chuyện thân mật, nàng khuyên chồng chú trọng việc học, thăm nom cha mẹ thiếp, và không nên quên trách nhiệm làm rể với gia đình vợ.
Tiên Chúa nói xong vụt đi mất, để lại tung tích như mây nổi lưng trời, không rõ ở đâu Người nào có lời bỡn cợt sẽ gặp tai vạ, trong khi ai mang lễ cầu đảo sẽ nhận được phúc lành Những dấu tích của Ngài luôn hiện diện khắp các chùa tháp, danh thắng, chứng tỏ sự hiện diện vĩnh cửu của Ngài trên mọi miền đất nước.
Quan Thị Giảng họ Phùng đi sứ Bắc Quốc về với công việc bận rộn, đã nảy ra ý tưởng tìm kiếm cuộc tiêu dao để giải tỏa tinh thần, dẫn đến việc ghé quán của Liễu Nương để cùng ngâm thơ thư thái Sau vài tháng, phản ánh rõ ràng nhất là hồ nước, còn lâu đài đã không còn hiện diện nữa.
Sau khi rời Hồ Tây, Tiên Chúa đến làng Sóc ở Nghệ An, nơi cô gặp chồng cũ của mình là một thư sinh Qua cuộc trò chuyện, hai người hiểu nhau hơn nhờ những bài thơ đã sáng tác, thể hiện tình cảm và những suy nghĩ sâu sắc Tiên Chúa khuyên chồng cáo quan về quê, không nên lấy vợ mới mà tập trung chăm sóc việc dạy dỗ con cái.
THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Giới thuyết về không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật
Thời gian là hình thái tồn tại của vật chất, diễn biến theo một chiều, theo ba trạng thái là hiện tại, quá khứ, tương lai
Thời gian nghệ thuật là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật, phản ánh khả năng trải nghiệm và cảm nhận của khán giả qua tác phẩm Nghệ thuật tồn tại trong một khoảng thời gian riêng biệt, có thể kéo dài từ phút chốc đến hàng thế kỷ, tùy thuộc vào đặc điểm của tác phẩm Tác phẩm nghệ thuật chỉ tồn tại trong thời gian vật chất, bởi nếu không có thời gian này, nó sẽ không thể tồn tại hoặc phát triển Thời gian nghệ thuật cho phép người xem cảm nhận được nhịp điệu, chiều sâu và chiều thời gian của tác phẩm, gồm hiện tại, quá khứ và tương lai, giúp thể hiện chiều sâu cảm xúc và ý nghĩa của nghệ thuật.
Thời gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng trong thi pháp học, thể hiện thực chất sáng tạo của nghệ sĩ Nghệ sĩ có thể lựa chọn điểm bắt đầu và kết thúc câu chuyện, kể theo nhịp nhanh hoặc chậm, kể theo trình tự xuôi hay đảo ngược, và chọn điểm nhìn từ quá khứ, hiện tại hoặc tương lai Ngoài ra, nghệ sĩ còn có thể xác định độ dài của tác phẩm, từ một khoảnh khắc ngắn đến nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời.
Không gian nghệ thuật là yếu tố thiết yếu thể hiện sự tồn tại của thế giới nghệ thuật, nơi mọi hình tượng đều gắn liền với một không gian phù hợp Không có nhân vật nào tồn tại mà không có nền cảnh rõ ràng, góp phần làm nổi bật ý nghĩa và cảm xúc của tác phẩm Người kể chuyện hoặc nhà thơ thường nhìn nhận sự vật qua một góc nhìn nhất định, tạo nên chiều sâu và chiều rộng cho tác phẩm nghệ thuật Chính nhờ không gian nghệ thuật, các tác phẩm trở nên sinh động, gắn kết và truyền đạt thông điệp một cách rõ ràng, sâu sắc hơn.
Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nhằm biểu hiện con người và thể hiện quan niệm về cuộc sống, không thể chỉ quy về không gian địa lý hay vật chất Trong các tác phẩm nghệ thuật, ta thường thấy hình ảnh con đường, căn nhà, dòng sông, thể hiện ý nghĩa sâu sắc về đời sống và cảm xúc của con người.
Những sự vật này chưa thực sự trở thành không gian nghệ thuật, nhưng được xem là không gian nghệ thuật trong phạm vi thể hiện mô hình thế giới của con người.
Không gian nghệ thuật có thể được chia thành hai loại chính: không gian bên trong và không gian bên ngoài Trong đó, không gian bên trong giữ nguyên hình dạng và đặc điểm cố định, mang lại cảm giác ổn định và mang tính chất nội thất Ngược lại, không gian bên ngoài thường xuyên thay đổi, phản ánh sự sáng tạo và biến đổi của nghệ thuật qua từng thời điểm Việc phân chia này giúp thể hiện rõ sự khác biệt và tinh thần của từng loại không gian trong lĩnh vực nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với thời gian nghệ thuật, tạo nên một chiều sâu chiều kích phù hợp cho tác phẩm Khi nhà văn tập trung mô tả không gian, thời gian trong tác phẩm thường bị trì trệ hoặc bị triệt tiêu, làm nổi bật hơn các yếu tố không gian Người sáng tạo có thể " không gian hóa" thời gian bằng cách mô tả các sự kiện và biến đổi theo trình tự liên tưởng, sắp xếp các hình ảnh và ý tưởng cạnh nhau để xây dựng trải nghiệm nghệ thuật trọn vẹn.
Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm
tân phả của Đoàn Thị Điểm
Trong các truyện Truyền kỳ, yếu tố kỳ ảo và thần ma thuộc về thế giới bên ngoài, yêu cầu con người phải có trạng thái chuyển tiếp để bước vào thế giới đó, như trong truyện thần nữ ở Vân Cát Truyện truyền kỳ còn kể về vợ Lê Thái Công, có mang quá kỳ sinh nở nhanh, và đạo sĩ xõa tóc bước lên đàn để cử hành nghi lễ Khi đó, Thái Công ngã ra bất tỉnh, còn vợ ông sinh con gái.
Truyện "Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu" kể về Tú Uyên và Giáng Kiều cùng con cưỡi hạc trắng bay lên trời, mở ra câu chuyện huyền thoại về thế giới tiên cảnh Ranh giới giữa hai thế giới nhân gian và tiên giới là không thể vượt qua, tạo nên yếu tố bí ẩn và thử thách trong câu chuyện Để trở lại cuộc sống thường nhật, người trong truyện phải vượt qua những giới hạn của thế giới siêu nhiên sau khi rời khỏi tiên cảnh Truyện mang đậm yếu tố kỳ bí, khắc họa sức hút của truyền thuyết về cuộc gặp gỡ giữa thế giới nhân gian và tiên giới, thu hút sự chú ý của độc giả yêu thích văn học cổ tích và huyền thoại Việt Nam.
Từ Thức về nhà, muốn quay lại tiên cảnh, thì xe đã hóa thành một con chim loan bay đi mất
Không gian nhà chùa trong các truyện ngắn trung đại thường không tách rời với không gian thế tục bên ngoài, thể hiện sự liên kết mật thiết giữa hai thế giới Trong truyện "Bích Câu kỳ ngộ" và "Truyền kỳ tân phả," ngôi chùa là nơi gặp gỡ của nam nữ tú, sử dụng các thuật ngữ nhà Phật để thể hiện ý nghĩa sâu xa của mối quan hệ Không gian trong "Truyện đền thiêng ở cửa bể" là một không gian rộng lớn của cung đình, nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt nhà vua, các buổi yến hội và các cảnh họp bàn quan trọng Ngoài ra còn có các không gian như dòng sông, thuyền bè, thần miếu, thể hiện một vũ trụ thiên nhiên hòa quyện với hoạt động của con người Không gian mùa đông mưa tuyết, trời lờ mờ sáng, cảnh vật thiên nhiên yên bình như chim về tổ, mặt trời chiếu qua cửa sổ thuyền, tạo nên những hình ảnh thể hiện khí trời và cảnh vật thơ mộng trong đêm khuya Trong thời khắc đó, gió gào, sóng cuộn, vang vọng tiếng nói, tiếng khóc, hòa quyện với cảm giác lặng lẽ của mùa xuân, thuyền rồng lướt sóng, chim oanh học nói, cò diệc bơi lội Vua đứng nhìn xa, cảm giác như có ý định nuốt chửng vũ trụ, khi bất chợt mưa gió mịt mù, sóng bể nổi lên, buộc vua phải hạ lệnh di chuyển chiến thuyền Ánh sáng hoàng hôn, bóng trăng lên cao, đêm khuya có tiếng hát vọng vọng từ các thuyền chài, vua băn khoăn không ngủ, chăm chú xem sách tới lúc gà gáy, trong không khí yên tĩnh của màn đêm.
Không gian dưới nước mô tả có lầu son gác tía, thành vàng ao nông, con cháu ngư long đi lại trên các kiệu, tạo nên một cảnh tượng sôi động không ngớt Trong lúc ấy, cá kình tuần tra về đến, nhặt được bức thư của nhà vua đã niêm phong cẩn thận và vội vàng báo cáo Chính tại thời điểm này, Quảng Lợi Vương đang ngồi trong điện linh đức, một không gian đặc biệt dưới nước đầy huyền bí và linh thiêng.
Không gian cách biệt giữa âm dương nhưng vẫn có thể nhìn thấy nhau, thể hiện mối liên hệ huyền bí giữa hai thế giới Vua xem thư xong, cho quần thần xem, mọi người đều nhìn ra ngoài bể, nơi có cảnh tượng kỳ vĩ của các loại cá lớn, rùa, ba ba như sấm sét tiến vào hang hải phận Giao thần Sau lễ tang Hoàng Hậu, quân đội xuất phát như gió mùa thu, kéo quân trở về khi mặt trời lặn, qua nơi cũ và đóng quân dưới đền Đêm ấy, trăng sao thưa thớt, nước và trời hòa làm một, khiến vua hồi tưởng về vụ thuồng luồng nổi sóng trong không gian huyền bí của âm dương.
Trong Truyện đền thiêng ở cửa bể (Hải khẩu linh từ lục), không gian nghệ thuật chủ đạo là không gian cung đình thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa vũ trụ và con người Không gian này phản ánh mô hình nghệ thuật, nơi vũ trụ tồn tại và biểu hiện qua hoạt động của con người trong một môi trường cung đình trang nghiêm Vũ trụ luôn đóng vai trò trung tâm, đồng hành cùng không gian hoạt động của con người, như trong các hoạt động của vua chúa, từ việc xuất quân đến những không gian cách biệt như âm dương và dưới nước Các yếu tố này thể hiện sự tương đồng, tương cảm giữa con người và vũ trụ, tạo nên bức tranh không gian phong phú, mang tính biểu tượng cao trong nội dung truyện.
Không gian trong truyện Người liệt nữ ở An Ấp thể hiện rõ nét qua các yếu tố như không gian quý tộc, không gian sinh hoạt vợ chồng, không gian gia đình và không gian trong giấc mộng của vợ quan Những không gian này phản ánh đời sống nội tâm, các hoạt động xã hội của gia đình quan, đặc biệt là mối quan hệ trong gia đình nhà quan Hơn nữa, câu chuyện còn đề cập đến việc ông lấy con gái nhà quan làm vợ thứ, cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các không gian dân gian, gia đình và xã hội trong nền văn hóa đương thời.
Bà vợ này nghi dung thanh nhã, cử chỉ đoan trang, thêu thùa khâu vá rất khéo, lại giỏi văn thơ, khi về nhà chồng
Trong truyện người liệt nữ ở An Ấp, không gian sinh hoạt vợ chồng của Đinh Hoàn thể hiện rõ nét cuộc sống hàng ngày, đem lại hình ảnh chân thực về nội tâm nhân vật Bên cạnh đó, các không gian như không gian vũ trụ, không gian ngôi đền, không gian tiễn đưa Đinh Hoàn đi sứ và cảnh chia tay giữa ông với triều đình và vợ góp phần tạo nên bức tranh đa chiều về hành trình và tâm trạng của nhân vật Không gian trên đường đi sứ và hoạt động của con người trong truyện phản ánh quá trình vận động, thử thách và khát vọng vượt qua giới hạn của con người Đặc biệt, không gian vũ trụ được cảm nhận như giới hạn cuối cùng của tồn tại con người, mở ra những suy ngẫm về ý nghĩa của đời người trong bối cảnh rộng lớn của vũ trụ.
Không gian nghệ thuật trong Truyện nữ thần ở Vân Cát thể hiện qua mô tả về không gian gia đình của Lê Thái Công, là nơi sinh hoạt của gia đình quý tộc, nơi thờ cúng Trời Phật hàng ngày Bên cạnh đó, tác phẩm mô tả không gian thiên giới với hình ảnh Lê Thái Công được dẫn qua nhiều tầng, đi qua chín cánh cửa đến một thành vàng đứng sững, mở toang cửa ngọc, thể hiện thế giới siêu nhiên và huyền bí Đêm tượng trưng cho sự kết nối giữa con người và vũ trụ, khi hương thơm lạ lan tỏa trong nhà, phản ánh cảm nhận của Thái Công về vũ trụ rộng lớn và linh thiêng.
Không gian sinh hoạt của Thái Công bên trong sân vắng lặng, vang lên tiếng đàn thanh tao nhưng đượm vẻ u buồn Thái Công đã xây dựng một cái lầu ở trong vườn hoa của Trần Công để dành cho con gái sang bên ấy nghỉ ngơi.
Đào Sinh bắt đầu cuộc sống cô đơn sau khi vợ mất, mang con vào kinh đô và sống lặng lẽ trong phòng, bỏ bê việc học hành Vào đầu thu, cảnh sắc tiêu điều, mưa rơi rả rích, gió thổi qua lá chuối xào xạc dưới thềm, tạo nên không khí u sầu, thể hiện nỗi niềm cô đơn của chàng nơi đất khách quê người.
Sau khi xuống trần gian, Tiên Chúa trở về thăm làng cũ, thăm bố mẹ đẻ, anh em, chồng con, thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa thiên đình và cuộc sống thường ngày Không gian của Tiên Chúa là nơi giao lưu giữa thiện và ác, nơi ai làm lành sẽ nhận được phước lành, còn ai phạm tội sẽ bị trừng trị Đây là hình ảnh biểu tượng cho sự công bằng và nhân quả trong tâm linh Việt Nam.
Tiên Chúa làm thơ với Phùng Khắc Khoan, thể hiện mối giao lưu thi ca thiêng liêng giữa thiên thần và nhân gian Sau khi nghe xong, người ấy vội vàng vái chào và ngẩng đầu lên thì không còn thấy ai nữa, chứng tỏ sự huyền bí và thần bí của không gian Tiên chúa giao du Người tìm kiếm khắp chùa nhưng không thấy tung tích của ai, nhấn mạnh về sự huyền nhiệm và thế giới thần tiên mà Tiên chúa tạo dựng.
Trong không gian giao lưu dưới trần gian, Tiên Chúa tự do tung hoành, vờn mưa cưỡi mây, chơi trăng cợt gió, tạo nên một thế giới huyền bí và sống động Các sông lớn, chùa tháp và danh thắng khắp nơi đều ghi lại dấu ấn của Ngài, thể hiện sự hiện diện mãnh liệt của Thiên nhiên và tâm linh Những bút tích lưu đề trên các công trình kiến trúc cổ xưa phản ánh sự giao hòa giữa thiên nhiên, con người và đấng tối cao.
Trong bài viết về chuyến du ngoạn của họ Phùng cùng hai người bạn Lý và Ngô, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng họ gặp nhau vào ngày đầu hè, khi trời sáng sủa và khí hậu mát mẻ Ba người đã thong thả đi qua những vườn thượng uyển rực rỡ, thơm ngát hương sen, trước khi dễ dàng đến bờ Hồ Tây để thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp.
Phương thức biểu hiện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm
Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, chúng ta không thể không tìm hiểu bút pháp nghệ thuật
Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm đã viết theo lối truyện kể, có nhiều bài thơ xen kẻ, còn có tên là Tục truyền kỳ lục
Trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, các truyện thể hiện khả năng viết sử, làm thơ và nghị luận của tác giả, chứng tỏ tài năng văn chương đa dạng Bố cục truyện thường bắt đầu bằng giới thiệu nhân vật, bao gồm tên tuổi, quê quán, tính cách và phẩm hạnh, tạo nền tảng cho câu chuyện Phần trung tâm tập trung vào cuộc đời của nhân vật, mô tả chi tiết hành trình và những đóng góp của họ Cuối cùng, phần kết thường đề cập đến những giấc mơ, việc lập đền thờ, thể hiện sự kính trọng và tưởng niệm nhân vật.
Truyền kỳ tân phả là một tác phẩm nghệ thuật sử dụng văn xuôi để kể chuyện, kết hợp với văn biền ngẫu khi mô tả cảnh vật và nhân vật, cùng thơ từ thể hiện cảm xúc của nhân vật Các câu chuyện trong Truyền kỳ tân phả phản ánh cuộc đời và con người trong giai đoạn xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ, thể hiện qua những hình ảnh kỳ ảo, quái đản Đây là một hình thức nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam trung đại, thể hiện nét đặc sắc của văn học cổ điển qua phong cách hoang đường và huyền ảo.
Truyền kỳ tân phả phản ánh rõ thực trạng suy đồi của xã hội phong kiến qua các tác phẩm văn xuôi tự sự ra đời cùng thời kỳ Tuy nhiên, phương pháp sáng tác của tác giả còn mắc phải những mâu thuẫn quen thuộc của các nhà văn thời đó, thể hiện trong cách họ phê phán xã hội và hình thành quan niệm về một xã hội lý tưởng Trong truyện Hải khẩu linh từ, tác giả kết hợp giữa việc chỉ trích gay gắt giới quan lại tham nhũng, độc đoán và việc đề cao đạo đức, trật tự phong kiến, ca ngợi vai trò của minh quân và hình tượng vua minh chính, nhằm nhấn mạnh mâu thuẫn giữa thực tại và lý tưởng của xã hội phong kiến.
Trong các câu chuyện truyền thống, hình ảnh các nhân vật thể hiện rõ nét nét đề cao đạo đức và tình yêu thủy chung Ví dụ, trong truyện Hải khẩu linh từ, vua thủy tề nổi giận khi tiếp nhận thư tố giác của vua Lê, trị tội thần thuồng luồng độc ác và trả nàng Bích Châu về trần gian, thể hiện sự công lý và đạo lý của trời đất Truyện người liệt nữ ở An Ấp chủ trương ca ngợi lòng trung nghĩa của người phụ nữ, khi nhân vật chính tự nguyện chết theo chồng để giữ trọn đạo tiết Trong khi đó, truyện nữ thần ở Vân Cát nhấn mạnh tình yêu bền chặt qua nhiều kiếp, khi chàng trai thủy chung với người vợ đã chết, rồi cùng chết và gặp lại nhau sau nhiều năm, thể hiện niềm tin vào tình yêu vượt thời gian và không gian Những câu chuyện này phản ánh giá trị đạo đức, lòng trung nghĩa và tình yêu vĩnh cửu trong văn hóa dân gian Việt Nam.
Truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu kể về chuyện tình giữa tiên nữ và người thường, mang đậm nét đẹp hoang đường và lãng mạn Câu chuyện mô tả tình yêu nam nữ qua nhiều sắc thái, phong vị thơ mộng, tạo nên hình ảnh tình cảm sâu sắc và đẹp đẽ Tình yêu trong truyện được khắc họa như một món quà thiêng liêng, mãi mãi bên nhau, không rời xa dù thời gian có trôi qua Đây là câu chuyện tình lạ kỳ, đầy cảm xúc, thể hiện khát vọng hạnh phúc trọn vẹn của đôi lứa giữa thế giới thần tiên và đời thực.
Từ đây, ta thấy tác giả Đoàn Thị Điểm đã viết các truyện thuộc thể loại
Truyền kỳ chứa đựng nhiều yếu tố hoang đường dựa trên cốt truyện dân gian hoặc sáng tạo của tác giả, đồng thời phản ánh thực trạng xã hội qua những nét kỳ quái và truyền kỳ Tác giả không chỉ phê phán sự lộng hành của bộ máy quan lại mà còn hướng tới một trật tự quân chủ lý tưởng Về đề tài phụ nữ, tác giả thể hiện sự đồng tình với lối sống phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo, đồng thời tôn vinh những gương tiết nghĩa để nhấn mạnh phẩm chất và vai trò của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Về bút pháp, lời văn hoa mĩ tuy hơi yếu nhưng đậm đà thi vị, đặc trưng bởi nhiều câu thơ, tạo nên phong cách nét đặc trưng của thể loại truyền kỳ.
Trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, bốn truyện (Truyện đền thiêng ở cửa bể, Truyện người liệt nữ ở An Ấp, Truyện nữ thần Vân Cát, Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu) vừa có điểm giống nhau về kết cấu, đặc biệt là phần mở đầu Các truyện này đều bắt đầu bằng việc giới thiệu rõ ràng địa danh, thời gian, lịch sử của làng xã, huyện, phường, tạo nền tảng chắc chắn cho câu chuyện.
Và một điểm giống nhau nữa là, điểm kết thúc của bốn truyện trong
Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm nổi bật với các giấc mộng và báo mộng nhằm nhắc nhở về những điều sai trái của người sống, giúp điều chỉnh những hành động lệch lạc trong xã hội Trong đó, chỉ có Truyện nữ thần ở Vân Cát là không có yếu tố báo mộng Một điểm chung quan trọng là các nhân vật nữ trong các truyện thường được nhà vua và nhân dân lập đền thờ sau khi qua đời, thể hiện sự kính trọng và linh ứng của các linh hồn này Tuy nhiên, mỗi truyện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm còn có những yếu tố riêng biệt, phản ánh đa dạng các nội dung, chủ đề và ý nghĩa khác nhau qua từng câu chuyện.
Truyện đền thiêng ở cửa bể nhân vật nguyên là con gái nhà quan (Bích
Châu là người có tính đứng đắn, dung mạo xinh đẹp và hiểu biết về âm luật Nàng còn đảm nhiệm công việc chính sự, đặc biệt trong chiến trận khi quân nhà vua ra trận chống giặc Đô đốc vùng Nam Hải đã xin vua ban nàng kết cỏ ngậm vành để cầu xin hòa bình, nếu không sẽ gây ra sóng gió, khiến quân nhà vua không thể hành quân Thay vì để xảy ra chiến tranh, Châu đã nhảy xuống biển và hy sinh vì triều đình, thể hiện lòng trung thành và cống hiến tận tụy.
Nhân vật nữ trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp là người vợ của Đinh Hoàn, sinh ra và lớn lên trong một gia đình đàng hoàng Bà đoan trang, khéo léo trong việc thêu thùa và có tài văn thơ, thể hiện sự khéo léo và trí tuệ vượt trội Sau khi chồng đi sứ và qua đời ở Trung Quốc, bà vô cùng thương tiếc và cảm thấy buồn bã vô hạn Vào ngày lễ tiểu tường của chồng, bà đã quyết định thắt cổ tự tử, biểu hiện cho lòng trung thành và tình cảm sâu đậm với chồng.
Giáng Tiên sinh muộn, cha mẹ nàng mãi tới tuổi bốn mươi mới có con Nàng lớn lên với làn da trắng như sáp, tóc bóng sáng như gương, sống cuộc đời khép kín, ham đọc sách và học chữ Sau khi lấy chồng, Giáng Tiên sinh một trai, một gái, cuộc sống hạnh phúc viên mãn Tuy nhiên, chỉ sau ba năm hạnh phúc, vào ngày mồng ba tháng ba, nàng đột nhiên mất mà không bệnh tật gì, khi mới 21 tuổi, mùa xuân của tuổi trẻ tươi đẹp khép lại.
Trong truyện "Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu", nhân vật Tú Uyên mất cha mẹ từ sớm và lớn lên yêu thích sách vở, hiểu luật làm thơ từ khi mới sáu tuổi Tú Uyên không tin vào sự tồn tại của tiên nhiên cho đến ngày gặp tiên tại hội chùa, từ đó luôn mong ước được gặp tiên Chàng đã kết duyên cùng Tiên nữ, thường gọi là Hà Giáng Kiều, nhưng sau đó trở nên ham rượu và hay đánh nàng mỗi khi say Một lần say quá, Tú Uyên đã đuổi nàng đi và định tự tử, nhưng nàng cảm động quay trở lại giúp chàng tỉnh lại Sau một năm chung sống, họ có con trai đặt tên là Trân Cuối cùng, cả gia đình cùng cưỡi hạc bay lên trời, trở thành tiên, thoát khỏi trần gian.
Truyện đền thiêng ở cửa bể và Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu đều kể về những câu chuyện phức tạp, nhiều nhân vật và mối quan hệ đa dạng, tạo nên bức tranh sống động về các thế giới siêu nhiên Trong Truyện đền thiêng ở cửa bể, không gian câu chuyện kết hợp giữa thế giới trần gian và thế giới long cung, mang lại cảm giác ly kỳ, huyền bí Còn trong Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu, không gian bao gồm cả thế giới trần gian và thế giới tiên cảnh hòa quyện, tạo nên một không gian kỳ bí, lôi cuốn Đặc biệt, câu chuyện kể về việc Bích Châu báo mộng cho nhà vua sau khi chết, báo hiệu về số phận chìm đắm ở bến Đỗ, nơi nàng sống chung với yêu quái và mong nhà vua đến cứu giúp Nhà vua đã có hành động cứu rỗi, tổ chức lễ mai táng để đưa nàng về cõi phật, thể hiện lòng nhân hậu và niềm tin vào sự cứu độ của thế giới siêu nhiên.
Trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp, câu chuyện thể hiện lòng trung thành và tình yêu mãnh liệt khi Đinh Hoàn chết đi, hiện về báo mộng cho vợ rằng dù đã về chầu Thiên Đình, ông vẫn luôn giữ vẹn tròn tình nghĩa, không quên chăm sóc và nhớ về gia đình Ông chia sẻ rằng “Ta từ khi về chầu Thiên Đình, được trông coi việc bút nghiên, nơi Thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thủy chung không bao giờ thay đổi”, thể hiện sự thủy chung trong tình cảm giữa ông và vợ dù ở cõi trời cao.
Khi vợ của Đinh Hoàn qua đời, một người họ Hà đã làm bài thơ để tiễn biệt, nhưng lại sai hai câu kết Sau đó, bà hiện về báo mộng cho người họ Hà, giúp ông nhận ra lỗi lầm và tỉnh ngộ Hà nghe xong lời phu nhân báo mộng, vội vàng đứng dậy cảm tạ và sáng tác lại hai câu thơ cuối đúng hơn, thể hiện sự trân trọng và lòng thành kính.
Phương tiện biểu hiện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm
Văn bản Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm được viết bằng chữ Hán, thể hiện rõ nét văn học truyền thống và lịch sử dân tộc Qua ngôn ngữ chữ Hán, tác phẩm giúp độc giả dễ dàng khám phá những điển cố được thể hiện qua bốn truyện trong truyện, mở ra một góc nhìn sâu sắc về đời sống tinh thần và văn hóa của thời kỳ đó Việc phân tích các điển cố trong Truyền kỳ tân phả không chỉ giúp hiểu rõ hơn về nội dung câu chuyện mà còn phản ánh giá trị văn hóa, giáo dục qua các tình tiết truyện kể sinh động Đây là một tác phẩm có giá trị lớn trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn học cổ truyền của Việt Nam, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu về ngôn ngữ Hán trong văn học truyền thống.
3.3.1.1 Điển cố (giới thuyết sơ lƣợc) a - Truyện đền thiêng ở cửa bể có những điển cố là
Khương Hậu, vợ Chu Tuyên Vương, nổi bật với nhân đức hiền hòa, luôn tỏ lòng khuyên can chồng trong các việc quan trọng Tấm lòng hiếu thảo của bà thể hiện qua việc trâm cài đầu, hoa đeo tai và sự chân thành trong lời nói, góp phần giúp Tuyên Vương cảm ngộ và nhận ra đạo lý Nhờ những lời khuyên quý báu của Khương Hậu, Tuyên Vương đã bắt đầu chăm lo làm chính sự, đem lại hòa bình và thịnh vượng cho quốc gia.
Từ Phi: Từ Huệ Phi, một hiền phi của Đường Thái Tông, từng dâng sớ can ngăn vua xa xỉ, khuyên lo việc công
Nhu Cát: Cái nhục thua trận ở đất Nhu Cát Chu Hoàn Vương đánh nhau với Trịnh Trang Công ở Nhu Cát, quân nhà Chu bị đại bại
Hoa đường: Thơ Đường lệ ở Kinh Thi, nói chuyện con gái vua Chu lấy chư hầu
Kết cỏ: Sách Tả truyện có nói lão nhân kết cỏ làm vướng chân giặc để báo ơn Ngụy Khỏa đã cứu con gái mình
Ngậm vành: Truyện Tề hài có nói, con chim sẻ ngậm vành trả ơn Đương
Bảo đã cứu sống nó
Kiềm Doanh là tên của một vị thiên thần huyền thoại trong văn hóa dân gian Việt Nam Theo truyền thuyết, Duyệt Minh là một nhân vật đi qua sông mang theo ngọc bích, và khi bỗng nhiên sông nổi sóng và xuất hiện hai con thuồng luồng bám vào thuyền, ông đã dùng gươm chém chết chúng để sóng yên trở lại Câu chuyện thể hiện sức mạnh và lòng dũng cảm của Duyệt Minh trong việc bảo vệ dòng sông và giữ yên bình cho người dân đi qua.
Kính Chi: Ông này từng giết loài thẩn (tức là loài trai lớn ở ngoài bể hay hiếp dâm người)
Cái trướng: Theo Hán sử, Hạng Vũ bị thua Cai Hạ, nàng Ngu Cơ (vợ yêu của Hạng Vũ), tự sát trong trướng
Ngôi đình: Theo Đường sử, khi Minh Hoàng bị An Lộc Sơn cướp nước, chạy ra Ba Thục, bắt Dương Quý Phi thắt cổ chết ở núi Mã Ngôi
Phàn Cơ, phu nhân của Sở Trang Vương, đã ảnh hưởng tích cực đến triều đình khi chàng yêu thích săn bắn, khiến nàng từ chối ăn thịt cầm thú để giữ gìn chính đạo Nhờ sự can đảm và đạo đức của Phàn Cơ, Trang Vương đã hối lỗi về những hành động sai trái và bắt đầu chăm lo cho công việc chính sự Câu chuyện này, được ghi lại trong "Xuân thu Tả truyện," nhấn mạnh vai trò quan trọng của phu nhân trong việc ảnh hưởng đến vua và củng cố chính trị thông qua đức hạnh và hành xử đúng mực.
Tương Phi là hai người con gái của Vua Nghiêu, được vua gả cho Thuấn tại Ngu Nhuế Sau khi cả hai bà mất, tên của họ đã hóa thành sông Tương, vì vậy gọi là Tương Phi Trong cuộc đời còn sống, hai bà luôn giữ đạo làm vợ, thể hiện phẩm chất cao quý và truyền thống tôn trọng gia đình.
Tị dực phi: Chim liền cánh bay, ý nói vợ chồng không lúc nào rời nhau được
Cổ quái là hiện tượng kỳ lạ khi chiếc trống không người đánh tự nhiên phát ra tiếng động Theo Hán Thư, "Tai không thông suất mà bị che lấp, thờ yêu quái sinh ra, nghe như trống tự nhiên có tiếng," ám chỉ những hiện tượng siêu nhiên bí ẩn liên quan đến âm thanh tự phát mà không rõ nguyên nhân.
Bến Đố phụ: Bến người vợ ghen ở Thâm Thanh Tương truyền rằng vợ
Lưu Bá Ngọc nổi tiếng với truyền thuyết rằng sau khi chết, ông vẫn hiển linh làm thủy thần và gây ra những hiện tượng kỳ lạ Theo truyền thuyết, khi các phụ nữ và con gái qua bến sông này, họ đều cần bỏ lại trang sức để tránh bị sóng gió cuốn đi Điều này phản ánh niềm tin rằng linh hồn của Lưu Bá Ngọc vẫn còn phù trợ và bảo vệ người đi qua bến, đồng thời giữ gìn an toàn khỏi những điềm gở.
Tiệm Đài là cái đài nằm trên mặt sông, nơi Sở Chiêm Vương cùng vợ là Trinh Khương từng lên chơi và lưu lại Khi nước sông dâng cao, vua đã cử sứ giả đến mời bà Trinh Khương di chuyển, nhưng do sứ giả quên mang phù tín, bà không chịu rời đi, dẫn đến đài bị nước cuốn trôi và bà chìm xuống đáy sông.
Tù nước Sở nổi bật với câu chuyện về Nhung Nghi, người bị nước Tần bắt giữ và cầm tù trong truyền thuyết Tả truyện Trong khi đó, hình ảnh chim Tinh Vệ tượng trưng cho lòng trung thành và hy sinh, ngậm đá lấp bể để喚 tỉnh nước trời, liên quan đến câu chuyện con gái vua Viêm Đế chết đuối ở bể, sau đó hóa thành chim Tinh Vệ để giữ gìn sự trong sạch của thiên nhiên.
Liễu thị: Tức là Liễu Ẩn, vợ thứ của Tiền Khiêm Ích Khi Khiêm Ích chết, nàng chết theo
Ngưu Chử: Ở tỉnh An Huy đời Tấn, Ôn Kiện đốt thông thiên đã chiến thắng loài yêu quái ở dưới nước
Bạch Mao: Cờ mao trắng Hai chữ này chỉ việc Chu Vũ Vương dùng
Hoàng Việt và Bạch Mao để chỉ huy quân sĩ khi đánh Thương Trụ
Tứ hung: Bốn kẻ ác là Chung công (cung kỷ), Hoan Đậu (Hỗn Độn),
Tam Miêu (Thao Thiết), Cổn (Đào Ngột), bốn kẻ hung ác này đều bị vua Thuấn trị tội
Ngũ Cẩn: Năm con chó Đường thư, Vũ Tam Tư truyện chép; Chu Lợi
Trịnh, Nhiễm Tô Ung, Tông Chi Chiếu, Lý Tuấn và Diệu Thiên là năm kẻ tiểu nhân đã hợp sức với Vũ Tam Tư, gây ảnh hưởng tiêu cực trong thời gian đó Những kẻ này nổi bật như năm "con chó của Tam Tư," biểu tượng cho sự phản bội và trung thành không đáng tin cậy Họ đóng vai trò là những kẻ đồng mưu đã hỗ trợ Vũ Tam Tư trong các âm mưu chính trị, góp phần làm mất ổn định vào thời kỳ đó Chính vì vậy, hình ảnh "năm con chó của Tam Tư" tượng trưng cho sự phản bội, thiếu trung thực và sự phụ thuộc vào quyền lực của các kẻ tiểu nhân này.
Bát Nghị là quy tắc “chu lễ có bút tích” nhằm đặt ra tám phép để châm chước, giảm bớt hình phạt cho những người có công phạm pháp, gọi là tám nghị Các nghị bao gồm Nghị thân, Nghị cổ, Nghị hiền, Nghị năng, Nghị công, Nghị Quý, Nghị huân, và Nghị tân, thể hiện sự linh hoạt trong xử lý pháp lý dựa trên công trạng và hoàn cảnh của người phạm tội.
Thư Cựu là loài chim thư cưu có đặc điểm là chúng luôn có đôi lứa nhất định, không bao giờ lẫn lộn, tượng trưng cho sự trung thành và chung thủy trong tình yêu Trong Kinh thi, thơ Quan thư còn so sánh Chu Văn Vương và bà Hậu Phi như hai biểu tượng của đôi chim thư cưu, thể hiện sự gắn bó keo sơn và nghĩa tình của đôi lứa Điển cố về truyện người liệt nữ ở An Ấp cũng nhấn mạnh giá trị của lòng trung thành và hy sinh cá nhân vì nghĩa lớn, góp phần làm nổi bật ý nghĩa của tình cảm chân thành và thủy chung trong văn hóa Việt Nam.
Tháo bỏ trâm cài đầu, Chu Tuyên Vương thể hiện sự thay đổi trong thói quen và trí tuệ Khi bà Khương Hậu tháo trâm và hoa đeo tai để can vua tại Vịnh Hạng, đó là một hành động có ý nghĩa biểu tượng về việc thúc đẩy triều đình đi vào nền chính trị trong sáng Từ khi Tuyên Vương cảm ngộ và thực hiện việc rút ngắn thời gian chầu, ông đã nỗ lực chấn hưng đất nước, khởi đầu cho nghiệp trung hưng vững mạnh.
Trong câu chuyện về Vắt tóc nhả cơm, Chu Công đang gội đầu thì có hiền sĩ đến thăm, ông đã ba lần vắt tóc cho khô để tiếp khách Khi đang ăn cơm, ông cũng có lần ba lần nhả miếng cơm ra để đón tiếp khách quý, thể hiện lễ phép và chu đáo Câu chuyện này nhấn mạnh về phẩm chất lễ nghĩa, sự trọng khách và lòng hiếu khách trong nếp sống truyền thống của người xưa.
Hoàng hoa: Thơ của vua úy lao sứ thần ở “Tiểu nhã” Kinh thi
Chiết Liễu: Bẻ cành liễu Người đời Hán tiễn khách đến Bá Kiều bên Đông Trường An, bẻ cành liễu để chia tay
Tấm Cám là câu chuyện dân gian phản ánh giá trị đạo đức về lòng trung thành và tình nghĩa vợ chồng Lời ngạn ngữ “Tao Khang chi thê bát khả hạ đường” nhấn mạnh rằng người vợ đã cùng ăn tấm cám với chồng khi còn nghèo khó thì không nên rời bỏ nhau khi giàu có Câu chuyện này lưu truyền như một bài học quý giá về sự thủy chung, tình cảm chân thành vượt qua mọi thử thách của cuộc đời.
La y: Áo lượt thưa, nhẹ và mềm
Chữ gấm: Vợ Đậu Thao họ Tô dệt gấm hồi văn đề thơ hơn 200 bài gửi cho Thao ở ngoài biên thùy tỏ ý oán hận
Tứ mẫu: Bốn ngựa Kinh thi, thơ tứ mẫu nói về người đi sứ
Ngày nào về: Thơ cổ có câu “hà dương đại đao đầu”, theo giải nghĩa ở
Cổ nhạc phủ tức là ngày nào về
Thiếu Lăng: Tức Đỗ Phủ, vì ông ở đất Thiếu Lăng nên người ta gọi ông là Đỗ Thiếu Lăng
Vệ Giới: Người đời Tấn, lúc nhỏ nổi tiếng là “con người ngọc”, sau thích bàn về huyền lý
Bá Kiều: Cái cầu ở trên sông Bá Thủy, ở Thiểm Tây, người xưa thường tiễn biệt ở đó
Xe cọt kẹt: Dịch nghĩa chữ Kinh Thi “mại xa hạm hạm”
Kinh Thi: “Vũ tuyết phi phi”, ý nói nhiều tuyết
Nàng Lục Châu: Là thiếp yêu của Thạch Sùng dung mạo rất đẹp Khi
Sùng bị Tôn Tú bắt, nàng nhảy từ trên lầu xuống đất để chết theo (Tân sử)
Người trinh nữ: Ngày xưa có người đàn bà, chồng đi vắng, thường ngày lên núi ngóng chồng lâu ngày hóa ra hòn vọng phu (Hoàn vũ ký)
Vị Vọng nhân: Người chưa chết Người vợ trinh thủ tiết, tự xưng là Vi vọng nhân