168 Chương 4: Những vấn đề cơ bàn về tỷ giá Chúng ta thấy rằng, khi USD lẽn giá làm cho hàng hoa xuất khẩu của Việt Nam trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài, dẫn đến kết quả là: cầu h
Trang 1166 Chương 4: Những vấn đề cơ bản về tỷ giá
Bảng 4.1: Nhu cầu phái sinh về USD
Thời gian Giá hàng hoa NK
bằng USD
Tỷ giá VND/ŨSD
Giá hàng hoa
NK tính bằng VND
Khối lượng cầu NK của Việt Nam
Cáu USD của Việt Nam
600 Do khối lượng nhập khẩu của Việt Nam giảm, làm cho cầu USD cũng giảm từ $14.000 xuống $6.000 Bởi vì giá USD tăng làm cho cầu USD giảm, do đó, đường cầu USD là một đường có độ nghiêng đi xuống
từ trái qua phải như được biểu diễn bằng đồ thị dưới đây
Đồ thi 4.1: Đường cầu USD
Trang 2Trong mô hình đơn giản này, cầu USD phụ thuộc vào cầu nhập
khẩu hàng hoa của Việt Nam Tại mỗi mức tỳ giá nhất định, bất cứ nhân
tố nào làm tâng cầu nhập khẩu hàng hoa của Việt Nam đều làm cho cầu
USD tăng lên và làm dịch chuyển đường cầu D sang phải Những nhân tố
làm dịch chuyển đường cầu USD sang phải bao gồm:
1 Thu nhập của dân chúng Việt Nam tăng lên
2 Giá hàng hoa VN tăng tương đối so với hàng hoa nước ngoài
3 Dân chúng Việt Nam ưa thích dùng hàng ngoại hơn
4 Hoạt động can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối
Tất cả những nhân tố này đều làm tâng cầu nhập khẩu hàng hoa
của Việt Nam, do đó, làm tăng cầu USD, kết quả là đường cầu USD dịch chuyển sang phải
BI Đường cung ngoại tệ (cung ƯSD):
Về thực chất, cung USD chính là cầu về VND Bảng dưới đây biểu
diễn đường cung USD được bắt nguồn từ nhu cầu của người nưóc ngoài
muốn nhập khẩu hàng hoa của Việt Nam
Bảng 4.2: Cung USD bát nguồn từ nhu cầu nhập khẩu hàng hoa Việt Nam
Thời
gian
Giá hảng hoa
XK của VN bằng VND
Tỷ giá VND/USD
Giá hàng hoa XK VN bằng USD
U S D ~ n ~ V ' Q
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến • Học viện Ngân hàng
Trang 3168 Chương 4: Những vấn đề cơ bàn về tỷ giá
Chúng ta thấy rằng, khi USD lẽn giá làm cho hàng hoa xuất khẩu
của Việt Nam trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài, dẫn đến kết quả là:
cầu hàng hoa xuất khẩu của Việt Nam tăng, do đó, cầu VND cũng tăng
trên thị trường ngoại hối, nghĩa là cung USD cũng tăng lên để thoa mãn
nhu cầu tăng về VND Như vậy, khi USD lên giá (giá USD tăng) thì cung
USD cũng tăng, điều này nói lên rằng đường cung USD là đường có độ
nghiêng đi lên từ trái qua phải như được biểu diễn bằng độ thị dưới đây
Đổ thi 4.2: Đường cung USD
E(VND/USD)
0 8.571 10.000 13.500 Q(USD
Như vậy, đường cung USD phụ thuộc vào cầu nhập khẩu cùa nước ngoài đối với hàng hoa Việt Nam Tại mỗi mức tỷ giá nhất định, bất cứ
nhãn tố nào làm tăng cẩu xuất khẩu hàng hoa của Việt Nam, đều làm cho
cung USD tăng lên và làm dịch chuyển đưòng cung s sang phải Những
nhân tố làm dịch chuyển đường cung USD sang phải bao gồm:
1 Thu nhập của người nước ngoài tăng
2 Giá hàng hoa ở nước ngoài tăng tương đối so với VN
3 Nguôi nước ngoài ưa thích dùng hàng của VN hơn
4 Hoạt động can thiệt của NHTW trên thị trường ngoại hối
Tất cả những nhân tố này đều làm tăng cầu xuất khẩu hàng hoa của VN, do đó, làm tăng cầu về VND và tăng cung ƯSD, kết quả là đường cung USD dịch chuyển sang phải
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền - Học viện Ngăn háng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 4cl Hình thành tỷ giá theo quan hệ cung cầu:
Điểm giao nhau của đường cầu D và đường cung s xác định tỷ giá
trên thị trường ngoại hối Tại điểm giao nhau: cung cẩu USD là bằng nhau
và là 10.000 USD; tỷ giá là tỷ giá cân bằng và là Ì USD = 16.000 VND
Đổ thi 4.3: Sự hình thành tý giá càn bàng trên thị trường ngoại hối
hệ thống chế độ tỷ giá cố định Tỷ giá của mỗi đồng tiền quốc gia được
neo cố định với USD và chỉ được dao động trong một biên độ hẹp so với
tỷ giá trung tâm Vào năm 1973 Hệ thống Bretton Woods sụp đổ, tỷ giá
của hầu hết các đồng tiền chính được thả nổi, tức được xác định tụ do bời
các lực lượng thị trường theo quy luật cung cầu Điểm khác nhau căn bản
giữa chế độ tỷ giá thả nổi và chế độ tỷ giá cố định được phản ánh thông
qua vai trò của NHTVV trong các chế độ tỷ giá này và được phân tích trên
cơ sở quan hệ cung cầu dưới đây
3.2.2 VAI TRÒ CỦA NHTVV TRONG CHE ĐỘ TỶ GIÁ THẢ Nổi Trong chế độ tỳ giá thả nổi hoàn toàn, NHTW không can thiệp
nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá thông qua hoạt động mua vào hay bán ra đồng
nội tệ trên thị trường ngoại hối NHTW để cho tỷ giá được xác định hoàn
toàn tự do bởi quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối, như được mô tả bằng đồ thị dưới đây
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngán hàng
Trang 5170 Chương 4: Những vấn đề cơ bản về tỷ giá
Đổ thi 4.4: Chế độ tỷ giá thả nổi - Cầu tăng
Tại mức tỷ giá ban đầu E 0 :
Cung USD là Q„, Cầu USD là Q'; Q„ < Q\ tức Cầu > Cung, làm cho tỷ giá chịu áp lực tăng Vì đây là chế độ tỳ giá thả nổi, nên tỷ giá tự động tăng từ E(, đến E,
Tại mức tỷ giá EỊ{EI> E n ):
Do E, > Eo làm cho Cung USD tăng từ Q„ đến Q, và Cầu USD giảm từ Q* xuống Q,, khiến cho Cung Cầu bằng nhau và thị trường ưở nên cân bằng ở trạng thái mới là (E|, Qi Ị
Như vậy, trong chế độ tỷ giá thả nổi, cầu tăng làm cho:
- Tỷ giá tâng, tức ngoại tệ lên giá, còn nội thì giảm giá
- Khối lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường tăng
© PGS TS Nguyễn Vẫn Tiễn • Học viện Ngàn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 6Đổ thi 4.5: Chê độ tỷ giá thả nổi - Cung tàng
E(VND/USD)
0 Q„ Q, Q" Q(USD)
Trẽn đồ thị 4.5, trạng thái tỷ giá cân bằng ban đầu được xác định
bời điểm giao nhau giữa đường cầu D0 và đường cung s,, ở mức tỷ giá cân
bằng Eọ Do cầu xuất khẩu hàng hoa Việt Nam tăng làm dịch chuyển
đường cung từ Su đến S|
Tại mức tỷ giá ban đầu E 0 :
Cầu USD là Qo, Cung u s ó là Q*; Q„ < Q*, tức Cung > Cầu, làm
cho tỷ giá chịu áp lực giảm Vì đây là chế độ tỷ giá thả nổi, nên tỷ giá tự
động giảm từ Eị, đến E|
Tại mức tỷ giá É/(É/ < E fí );
Do E| < Eo làm cho Cầu USD tăng từ Q„ đến Q, và Cung USD
giảm từ Q* xuống Q|, khiến cho Cung Cầu bằng nhau và thị trường trỏ nên
cân bằng ởtrạng thái mối là (Ej, Qi Ị
Như vậy, trong chế độ tỷ giá thả nổi, cung tăng làm cho:
- Tỷ giá giảm, tức ngoại tệ giảm giá, còn nội thì lên giá
- Khối lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường tăng
Qua phân tích cho thấy, bản chất của chế độ tỷ giá thả nổi là việc
tỷ giá tự điêu chỉnh để phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung
cầu trẽn thị trường ngoại hối, do đó vai trô của NHTW trên thị trường
ngoại hối là hoàn toàn trung lập
© PGS TS Nguyễn Văn Tiễn • Học viện Ngắn hàng
Trang 7172 Chương 4: Những vấn đê cơ bản vẽ tỷ giá
3.2.3 VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ cố ĐỊNH
Giả sử tại thời điểm xuất phát, NHTW ân định tỷ giá cố định (gọi
là tỷ giá trung tâm) ở mức cân bằng cùa thị trường tại điểm giao nhau của
đường cung s„ và đường cầu Dị, là ECR Đế đơn giản, chúng ta giả định
NHTW không qui định biên độ dao động xung quanh tỷ giá trung tâm Sau đây chúng ta sẽ xem xét vai trò của NHTVV trong chế độ tỷ giá cố định khi các lực lượng cung cầu trên thị trường ngoại hôi thay đổi
Đổ thi 4.6: Chế độ tỳ giá cố định - Cầu tăng
Từ đồ thị 4.6 cho thấy, cầu USD tăng làm dịch chuyển đường cầu
sang phải từ D|| đến D,; cầu USD tăng tạo áp lực nâng giá (revalue) USD
từ Éc lên E* (tức tạo áp lực phá giá VND) Để duy trì tỷ giá cố định (tránh phải phá giá VND), NHTW phải can thiệp lên thị trường ngoại hối bằng cách bán ra một lượng USD bằng khoảng cách Q,|Q| để mua VND vào Hành động can thiệp của NHTW làm dịch chuyển đường cung USD từ S|| đến S|N Như vậy, thông qua can thiệp, NHTW đã thoa mãn toàn bộ lượng cầu USD phụ trội so với cung, do đó tỷ giá vẫn được duy trì không đổi ờ mức ECR Hành động can thiệp của NHTW làm giảm dự trữ ngoại hối quốc tế bằng USD của Việt Nam, đồng thời làm cho lượng tiền VND trong lưu thông co lại Do lượng tiền trong lưu thông co lại, cho nên để trách hậu quả giảm phát, NHTW phái tiến hành một giao dịch trên thị trường mở bằng cách mua các chứng khoán vào để bơm thêm tiền vào lưu thông tương đương với lượng VND thu được từ bán USD
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngàn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 8Đổ thi 4.7: Chẻ độ tỷ giá cố định - Cung tăng
ngoại hối bằng cách mua vào một lượng USD bằng khoảng cách Q„Q| để
bán VND ra Hành động can thiệp của NHTW làm dịch chuyển đường cầu USD từ Dị, đến D|N Như vậy, thông qua can thiệp, NHTW đã hấp thụ
toàn bộ lượng cung USD phụ trội, do đó tỷ giá vẫn được duy trì không đổi
ở mức ECR Hành động can thiệp của NHTW làm tăng dự trữ ngoại hối
quốc tế bằng USD của Việt Nam, đổng thời làm cho lượng tiền VND
trong lưu thông tăng Do lượng tiền trong lưu thông tăng, cho nên để trách
hậu quả lạm phát, NHTW phải tiến hành một giao dịch trên thị trường mở
bằng cách bán các chứng khoán để hút bớt tiền từ lưu thông tương đương
với lượng VND bơm vào từ bán USD
Qua phân tích cho thấy, trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW phải
duy trì một lượng dự trữ ngoại hối nhất định để tiến hành can thiệp trên thị
trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá cố định Khác với chế độ tỷ giá thả
nổi, trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW là người can thiệp để duy trì tỷ
giá trung tâm trên thị trường Cũng giống như trẽn các thị trường hàng hoa
khác, khi chính phủ cố định giá cả thì luôn tồn tại một độ lệch nhất định
© PGS TS Nguyễi Văn Tiến - Học viện Ngân hàng
Trang 9174 Chương 4: Những vấn đề cơ bản về tỷ giá
giữa cung và cầu trên thị trường, dẫn đến tỷ giá trung tâm bị lệch khỏi tỷ giá càn bằng cung cầu (tức tỷ giá thị trường) Nếu tỷ giá trung tâm do
NHTW ấn định thấp hơn tỷ giá thị trường, thì ta nói rằng nội tộ được định giá quá cao (overvalued) và ngoại tệ được định giá quá thấp; nếu tỳ giá trung tâm cao hơn tỷ giá thị trường, thì ta nói rằng nội tệ được định giá quá thấp (undervalued) và ngoại tệ được định giá quá cao; trường hợp cá
biệt, nếu tỷ giá trung tâm bằng tỷ giá thị trường, thì ta nói rằng nội tệ được
định giá cán bằng (equilibrium) Để tránh áp lực phá giá hay nâng giá
nội tệ, NHTW buộc phải hấp thụ toàn bộ độ lệch giữa cung và cầu ngoại
tệ bằng cách mua vào hay bán ra nội tệ trên thị trường ngoại hối
Điểm cần lưu ý là, trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, tỷ giá được tự do biến động, nên cung cầu ngoại hối trên thị trường luôn ở trạng
thái cân bằng, do đó, nội tệ không bị định giá quá cao hay quá thấp, nên
tỷ giá luôn đạt được trạng thái cân bằng (equỉlibrìum)
Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, khi các lực lượng thị trường làm cho đường cung và đường cầu ngoại hối dịch chuyển, làm cho dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi Điều này là khác với chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, khi đường cung và đường cầu dịch chuyển, làm cho tỷ giá thay đổi chứ không phải dự trự trữ ngoại hối của NHTW
ì)
(***) Vấn đề điêu chỉnh tỷ giá trung tâm:
Trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW thường xuyên can thiệp để duy trì cố đinh tỷ giá trung tâm Do các lực lượng cung cầu trên thị trường
thường xuyên thay đổi, do đó giữa cung và cầu ngoại hối luôn có một độ lệch nhất định Độ lệch càng lớn thì NHTW càng phải chống đỡ can thiệp càng nhiều; khi độ lệch trở nên gay gắt, buộc NHTW phải thay đổi tỷ giá
trung tâm Một câu hỏi được đặt ra là những nhân tố nào buộc NHTW phải thay đổi tỷ giá trung tâm? Ngoài các yếu tố về chính trị và xã hội, thì thị trường luôn là yếu tố thuồng trực và tỏ ra khó triệt tiêu khiến NHTW phải tiến hành can thiệp Hai trạng thái cơ bản có thể xảy ra đối với chế độ
tỷ giá cố định là: Tỷ giá trung tâm thấp hơn tỳ giá thị trường và tỳ giá trung tâm cao hơn tỷ giá thị trường
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến • Học viện Ngàn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 10a/ Trường hợp tỷ giá trung tâm thấp hom tỷ giá thị trường:
Giả sử, NHTW ấn định tỷ giá ngoại tệ (USD) quá thấp (thấp hơn 16.000 VND), để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải bán ngoại tệ ra
và mua nội tệ vào Nếu quan hệ cung cầu trẽn thị trường vẫn không thay đổi, thì dự trữ ngoại hối của NHTW sẽ cạn dần Nếu dự trữ thực sự khánh kiệt, một cuộc khủng hoảng ngoại hối có thê* xuất hiện, bởi vì NHTW không còn sức lực kéo dài hành động can thiệp bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Một trong những giải pháp làm cho cung cẩu ngoại tệ trở nên cân bằng là việc NHTVV tiến hành điều chỉnh tỷ giá trung tâm tăng lên sát với tỷ giá thị trường Khi tỷ giá trung tâm bằng với tỷ giá thị trường thì dự trữ ngoại hối của NHTVV dừng không giảm nữa Tỷ giá trung tâm tăng làm cho giá của nội tệ giảm, nên ta gọi hành động điều chỉnh tăng tỷ
giá trung tâm của NHTW là phá giá nội tệ (devaluation)
Nhìn chung, biện pháp phá giá tiền tệ với liều lượng mạnh là một quyết định ảnh hưởng đến chính trị nên nó được cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi hành động Một thực tế rằng, công chúng thường nhìn nhận hành động phá giá là biểu hiện yếu kém của chính phủ trong việc thực hiện các chính sách kinh tế Phá giá làm cho hàng hoa nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên đắt hơn, tạo áp lực đẩy mặt bằng giá tăng lên Lạm phát làm xói mòn sức mua của nội tệ, nên trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của đại bộ phận người lao động, làm giảm lòng tin của công chúng vào chính phủ
Trong khi chưa áp dụng giải pháp phá giá, để duy trì tỷ giá cố
định, chính phủ thường áp đặt các biện pháp kiểm soát ngoại hối Kiểm
soát ngoại hối là những biện pháp của chính phủ nhằm hạn chế luồng ngoại hối di chuyển ra khỏi quốc gia Các biện pháp chủ yếu bao gồm:
- Cấm người cư trú không được mở tài khoản bằng ngoại tệ tại các ngân hàng nội địa và nước ngoài
- Quy định buộc các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải kết hối trong một thời gian nhất định
- Quy định hệ thống cấp phép đối vói các thể nhân và pháp nhân
© PGS TS Nguyè, Văn Tiền - Học viện Ngàn hàng
Trang 11176 Chương 4: Những vấn đề cơ bàn vê tỷ giá
khi mua ngoại tệ
- Quy định về số lượng ngoại tệ tối đa được mang ra khỏi quốc gia
- Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các ngân hàng để phòng ngừa đầu cơ
- Áp dụng hệ thống thuế và quy định về thời hạn đối với việc chuyển vốn và lợi tức ra nước ngoài
- Áp dụng hệ thống đa tỷ giá
- Phong toa tài khoản
Ngoài ra, chính phủ có thể áp dụng các biệt pháp khác có tính gián tiếp như: áp dụng thuế xuất nhập khẩu, hạn gạch xuất nhập khẩu, danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu và áp dụng các chính sách phi thuế quan như tiêu chuẩn văn hoa, thẩm mỹ, chất lượng, vệ sinh thực phẩm và cấc tiêu chí khác
Mục đích của kiểm soát ngoại hối là để tăng cung, giảm cầu về ngoại tệ và đồng thòi giảm hao hụt trong dự trữ ngoại hối của NHTW Tuy nhiên, những bằng chứng cho thấy rằng các biện pháp kiểm soát ngoài hối chỉ có tác dụng làm chậm lại thời điểm tiến hành phá giá nội tệ
mà thôi Thông thường, các biện pháp kiểm soát ngoại hối không thể ngăn ngừa được một cuộc phá giá thực sự đối với đồng tiền được định giá quá cao, bởi vì những hậu quả sai lệch về kinh tế do các biện pháp kiểm soát ngoại hối đưa lại càng trở nên nghiêm trọng đối với chính phủ trong dài hạn Khi cuộc phá giá thực sự xảy ra, thì các biện pháp kiểm soát ngoại hối thường được dỡ bỏ, do đó thương mại quốc tế được phát triển trở lại
b/ Trường hợp tỷ giá trung tâm cao hơn tỷ giá thị trường:
Khi tỷ giá trung tâm cao hơn tỳ giá thị trường, làm cho nội tệ được định giá thấp, ngoại tệ được định giá cao, kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cung ngoại tệ là lớn hơn cầu, nội tệ chịu áp lực lên giá và dự trữ ngoại hối của NHTW tăng Nhìn chung, những quốc gia có đồng tiền định giá thấp không chịu áp lực phải nâng giá, trừ khi cán cân vãng lai
© PGS TS Nguyễn Văn Tiễn • Học viện Ngán hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 12thặng dư quá mức và lâu dài hoặc một khi quốc gia có cam kết hợp tác
quốc tế Vì nếu một quốc gia nào đó bị thâm hụt cán cân vãng lai, thì ắt
hẳn phải có một quốc gia khác là thặng dư Biện pháp để cân bằng cán cân
vãng lai cho cả hai nước có thể là:
- Nước thâm hụt sẽ tiến hành phá giá nội tệ
- Nước thặng dư sẽ tiến hành nâng giá nội tệ
- Hoặc hai nước kết hợp hành động đồng thời
Như vậy, đối với nước có thặng dư cán cân vãng lai sẽ chịu áp lực
nâng giá nội tệ nếu quốc gia này tham gia hợp tác quốc tế Hành động
NHTW điều chình tỷ giá trung tâm giảm xuống làm nội tệ lèn giá được
gọi là nâng giá nội tệ (revaluation)
Ở đây cần lưu ý rằng "phá giá" làm cho nội tệ "giảm giá
-depreciatìon" và "nâng giá" làm cho nội tệ "lên giá - appreciatiori" Các
thuật ngữ được sử dụng khác nhau là do chúng được áp dụng cho các chế
độ tỷ giá khác nhau "Phá giá" và "nâng giá" được áp dụng trong chế độ
tỷ giá cố định khi NHTVV điều chỉnh tỷ giá trung tâm, còn "lên giá" và
"giảm giá" được dùng trong chế độ tỷ giá linh hoạt khi tỷ giá trên thị
trường thay đổi Sự khác nhau giữa "phá giá - giảm giá" và "nâng giá - lên
giá" chỉ là về mặt thuật ngữ Trong thực tế những thuật ngữ này thường
được sử dụng hoán đổi cho nhau Chính vì vậy, trong cuốn sách này, các
thuật ngữ cũng được sử dụng đan xen thay thế cho nhau
3.2.4 VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG CHẼ ĐỘ TỶ GIÁ THẢ Nổi có ĐIỀU TIẾT Trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, tỷ giá không cố định mà
cũng không tự do biến động hoàn toàn Một mặt, tỷ giá được hình thành
và biến động theo các lực lượng thị trường, mặt khác, NHTW tích cực can
thiệp đổ giảm sự biến động quá mức của tỷ giá, hoặc để tỷ giá biến động
trong một biên độ nhất định
Bằng sơ đồ, ta biểu diễn:
© PGS TS Nguyễn Văn Tiễn • Học viện Ngắn hàng
Trang 13178 Chương 4: Những vấn đê cơ bản vé tỷ giá
E(+)
Ỷ ^
/ Thời gian
E(-) Tỷ giá không có can thiệp khi can thiệp Tỷ giá sau
Đổ thi 4.8: Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết- Cầu tăng quá mức
0 Q
Tỷ giá ban đầu trước khi cầu tăng ở mức Eo, sau khi cầu tăng từ D đến D', tỳ giá thị trường (không có can thiệp) tăng mạnh đến mức EM , cao
hơn rất nhiều so với En- Để giảm sự biến động của tỷ giá, NHTW tiến
hành can thiệp, bằng cách bán một phần ngoại tệ trên thị trường ngoại hối,
làm dịch chuyển đường cung từ s đến S', đồng thời giảm dự trữ ngoại hối
Cung tăng làm cho tỷ giá giảm xuống từ EM đến E|N
Tóm lại, trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, khi cầu tăng:
- Tỷ giá tăng, nhưng do có can thiệp nên tỷ giá chỉ tâng ờ mức vừa phải từ E„ đến E|N ; trong khi đó, nếu là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn thì
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền • Học viện Ngân hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 14tỷ giá tâng đến mức EM để điều tiết cung cầu
- Do có can thiệp chỉ một phẩn, nên tỳ giá không giảm từ EM xuống E,„ mà chỉ giảm xuống E,N , dự trữ ngoại hối giảm
- Như vậy, vai trò của thị trường được thể hiện bởi tỷ giá tăng từ E„
đến E|N, còn vai trò can thiệp của NHTW được thể hiện bởi tỷ giá giảm từ
EM xuống E,N
Đổ thi 4.9: Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết- Cung tăng quá mức
0 Q
Tỷ giá ban đầu trước khi cầu tăng ở mức E0, sau khi cầu tăng từ s
đến S', tỷ giá thị trường (không có can thiệp) giảm mạnh xuống mức EM ,
thấp hơn rất nhiều so với E„ Để giảm sự biến động của tỷ giá, NHTW tiến
hành can thiệp, bằng cách mua một phần ngoại tệ dư thừa trên thị trường
ngoại hối, làm dịch chuyển đường cầu từ D đến D', đồng thời tăng dự trữ
ngoại hối Cầu tăng làm cho tỷ giá tăng lẽn từ EM đến E[N
Tóm lại, trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, khi cung tăng:
- Tỷ giá giảm, nhưng do có can thiệp nên tỷ giá chỉ giảm ở mức
vừa phải từ E„ xuống E|N ; trong khi đó, nếu là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn
toàn thì tỷ giá giảm xuống đến mức EM để điều tiết cung cầu
- Do có can thiệp chỉ một phần, nên tỷ giá không tâng từ EM lên
Eo, mà chỉ tăng đến E] N , dự trữ ngoại hối tăng
- Như vậy, vai trò thị trường thể hiện bởi tỷ giá giảm từ Eo xuống
EIN, còn vai trò của NHTW được thể hiện bởi tỷ giá tăng từ EM đến E|N
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngăn hàng
Trang 15180 Chương 4: Những vấn đề cơ bản vê tỷ giá
3.3 NHỮNG MẶT TRÁI KHI NỘI TỆ Được ĐỊNH GIÁ CAO
Giá cả hình thành theo quy luật cung cầu là một trong những nhân
tố quan trọng bậc nhất để một thị trường hoạt động hiệu quả Cũng nhu
các thị trường khác, để thị trường ngoại hối hoạt động hiệu quả vối doanh
số giao dịch cực đại, có độ thanh khoản cao và chi phí giao dịch thấp thì
tỳ giá phải được hình thành một cách khách quan theo quy luật cung cầu;
hay nói cách khác, tỷ giá áp dụng trong các giao dịch ngoại hối phải là tỷ
giá thị trường, tức tại đó cung cầu là cân bằng Nếu tỷ giá quá cao hay quá
thấp so với tỷ giá cân bằng, đều trở thành nhân tố kìm hãm doanh số giao dịch, kích thích đầu cơ, là nguyên nhản hình thành và phát triển thị trường
ngầm và làm cho các nguồn lực xã hội phân bổ kém hiệu quả
Chúng ta xét trường hợp thuồng hay xảy ra đối với các nước đang
phát triển (trong dó có Việt Nam) khi tỷ giá giao dịch được NHTW ấn
định là quá thấp so với tỷ giá cân bằng như mô tả bằng đồ thị dưới đây
Định giá nội tệ quá cao so với giá trị cân bằng
Từ đồ thị chò thấy: Nếu không có sự can thiệp của NHNN, thì tỷ
giá được hình thành theo quan hệ cung cầu tại mức tỷ giá cân bằng E,, Tại mức tỳ giá cân bằng, cung cầu ngoại tệ bằng nhau, khối lượng giao dịch trên thị trường ngoại hối là cực đại và là Q0 Nếu NHNN qui định tỳ giá
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngàn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 16giao dịch ở mức EC R thấp hơn tỷ giá cân bằng Eo (nghĩa là VND được định giá quá cao), làm cho thị trường ngoại hối trở nên mất cân đối, cụ thể là:
cung ngoại tệ ỏ mức Qs và cầu ngoại tộ ở mức QD, tức cung nhỏ hơn cầu,
hay Qs < QD- DO cung nhỏ hơn cẩu, nên tỷ giá chịu áp lực tăng; để duy trì
tỷ giá ổn định, buộc NHNN phải can thiệp lên thị trường ngoại hối bằng
cách bán ngoại tệ ra và mua nội tệ vào, do đó dự trữ ngoại hối sẽ giảm
Nếu dự trữ ngoại hối mỏng thì sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt Một khi dự trữ
ngoại hối đã cạn kiện hoặc NHTW không muốn tiếp tục giảm dự trữ ngoại
hối, thì áp lực phá giá nội tệ sẽ trở nên hiện thực Phá giá nội tệ không
phải là biện pháp dễ được NHTW chấp nhận, bởi vì kèm theo phá giá là
áp lực lạm phát, làm xói mòn sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền
quốc gia, làm phát sinh những hậu quả về kinh tế, chính trị và xã hội khó
lường Để tránh phá giá nội tệ và duy trì được tỷ giá ổn định, buộc NHTW
phải áp dụng các biện pháp kiểm soát ngoại hối; ngoài ra, chính phủ còn
có thể áp dụng các biện pháp can thiệp hỗ trợ thông qua hệ thống thuế
XNK, hạn ngạch, danh sách mặt hàng hạn chế nhập khẩu Tất cả các
biện pháp can thiệp nêu trên nhằm tăng cung và giảm cầu để duy trì tỷ giá
giao dịch ổn định ở mức thấp hơn tỷ giá cân bằng
Từ đồ thị và qua phân tích cho thấy, khi NHTW ấn định tỷ giá
thấp hơn tỷ giá cân bằng sẽ làm phát sinh những hậu quả như sau:
1 Do tỷ giá giao dịch thấp hơn tỷ giá cân bằng (tức tỷ giá thị
trường), nên kích thích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu, ảnh hưởng đến
sản xuất trong nước
2 Thị trường ngoại hối luôn ở trạng thái cầu lớn hơn cung, nghĩa
là thị trường khan hiếm hàng hoa, tạo ra cảnh "mua tranh bán ép" hay
"bán thì cưỡng bách còn mua thì phân phối"
3 Làm giảm tính thanh khoản và khiến cho thị trường ngoại hối
hoạt động trở nên kém hiệu quả Điều này được thể hiện ở chỗ, doanh số
mua bán trên thị trường có tổ chức giảm từ Qo xuống Qs
4 Tỷ giá thấp cùng với doanh số mua bán ngoại tệ giảm đã kìm
hãm phát triển ngoại thương và khiến cho các nguồn lực của xã hội phân
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền • Học viện Ngàn hàng
Trang 17182 Chương 4: Những vấn đề cơ bàn vê tỷ giá
bổ kém hiệu quả
5 Tại tỷ giá ECR, do thị trường chính thức chỉ đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ ở mức là Qs, do đó lượng cầu ngoại tệ phụ trội không được thị trường chính thức đáp ứng là khoảng cách QsQD Để thoa mãn nhu cầu ngoại tệ, buộc những người chưa được thị trường chính thức đáp ứng phải
tìm đến thị trường ngầm với giá ngoại tệ cao hơn là E„ Điều này nói lên
rằng nguyên nhân chính hình thành và phát triển thị trường ngầm là việc
quy định tỷ giá giao dịch thấp hơn tỷ giá cân bằng của thị trường; hay nói cách khác, một khi thị trường ngầm tổn tại và tỷ giá trên thị trường này cao hơn tỳ giá giao dịch trên thị trường chính thức thì có thể tin rằng, đồng nội tệ đang bị định giá quá cao Ở Việt Nam, vào năm 1999, khi trên thị trường ngoại hối chính thức chịu sức ép cầu lớn hơn cung, các NHTM mại không đủ ngoại tệ bán phục vụ nhu cầu nhập khẩu, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 242/1999/TTG ngày 30/12/1999, trong đo quy định doanh nghiệp nhập hàng tiêu dùng phải tự cân đối ngoại tệ Mục đích của Quyết định này nhằm giảm cầu ngoại tệ trên thị trường chính thức thông qua hai hiệu ứng:
6 Do tỷ giá luôn chịu sức ép tàng một chiều, điều này khiến cho những nhà đầu cơ vào cuộc, một mặt họ găm giữ ngoại tệ, mặt khác họ tích cực mua vào chờ thời cơ tỷ giá tăng để bán ra kiếm lời; thậm chí những người không hề có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán cũng ra sức mua bằng được ngoại tệ để làm phương tiện cất trữ giá trị Điều này khiến cho thị trường ngoại hối lại càng trờ nên căng thẳng và tạo ra sức ép mạnh hơn lên phá giá nội tệ
© PGS TS Nguyễn Văn Tiên - Học viện Ngân hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 187 Như vậy, vô hình chung trên thị trường ngoại hối đã tạo ra cơ chế "hai giá" Đương nhiên những người có nhu cẩu ngoại tệ đều muốn mua được "giá phân phối, hay giá trong", nhưng vì ngoại tệ khan hiếm nên buộc họ phải "xếp hàng" chờ phân phối và cấp phép Đây chính là môi trường thuận lợi để các hành vi như hách dịch, cửa quyền, nhận hối
lộ, làm việc cửa sau phát triển
8 Do tổn tại cơ chế "hai giá" nên khiến cho môi trường kinh doanh trở nên không bình đẳng Ví dụ, đểu là nhà nhập khẩu, nhưng nhà nhập khẩu A mua được ngoại tệ tại tỷ giá ECR còn nhà nhập khẩu B phải mua ngoại tệ tại tỷ giá Bo, do đó nhà nhập khẩu A sẽ có lợi thế hơn trong cạnh tranh Hơn nữa, để có thể thanh toán chuyển khoản cho nước ngoài thì nhà nhập khẩu B phải mua ngoại tệ tiền mặt tại tỷ giá bán ở thị trường ngầm, sau đó nộp (bán) cho ngân hàng theo tỷ giá mua tiền mặt của ngân hàng, trên cơ sở đó ngân hàng mới bán ngoại tệ theo tỷ giá bán chuyển khoản của ngân hàng Nếu điều này là phổ biến, thì vai trò hướng dẫn và chù đạo của thị trường ngoại hối chính thức sẽ trở nên mờ nhạt
9 Do bán ngoại tệ ở thị trường ngầm với tỷ giá cao hơn so với thị trường chính thức, điều này càng khuyến khích những người có ngoại tệ tìm cách chỉ bán ra trên thị trường ngầm; ngoài ra, có thể tạo động cơ cho một số cán bộ làm việc ở bàn đổi tiền lợi dụng ăn chênh lệch giá
10 Do ngoại tệ không được tập trung hoàn toàn vào hệ thống ngân hàng, do đó thị trường ngầm còn là nơi tiếp tay cho những kẻ buôn lậu trốn thuế, làm ăn phi pháp và gây khó khăn cho NHNN trong việc thực thi chính sách tiền tệ
Giải pháp:
Từ phân tích trên, cho thấy giải pháp lâu dài và căn bản để hạn chế
và tiến tới xoa bỏ thị trường ngoại tệ ngầm, cũng như hạn chế các mặt trái của việc định giá cao nội tệ là huống tới một tỷ giá thị trường, linh hoạt và
tỷ giá phải là sản phẩm của quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc thả nổi tỷ giá ngay lập tức sẽ gây ra những hiệu ứng "sốc" khốc liệt cho nền kinh tế
và có thể ảnh hưởng bất lợi cho việc ổn định hệ thống kinh tế - xã hội
© pps TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngân hàng
Trang 19184 Chương 4: Những vấn đẽ ca bản về tỷ giá
Với vai trò là NHTW, hiện nay NHNN quản lý thị trường ngoại tệ chủ yếu thông qua can thiệp mua bán, công bố tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng, quy định trần tỷ giá giao ngay, tỷ lệ % gia tăng của tỳ giá
kỳ hạn và các biện pháp quản lý ngoại hối Trong giai đoạn trước mắt thì các biện pháp này còn cần thiết, nhưng cần phải nới lỏng từng bưóc, vì các biện pháp này không phải lúc nào cũng hiệu quả, đôi khi lại trở thành lục cản cho sự phát triển thị trường ngoại hối
Do có tính nhạy cảm cao, cho nên việc điều hành chính sách tỷ giá phải được diễn ra theo từng giai đoạn, có thể là:
Ì Trước mắt, có thể nới ngay biên độ dao động từ mức ±0,25%
lên +0,5% Điều này có hai tác dụng là: Thứ nhất, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại yết tỷ giá cạnh tranh; thứ hai, như là biện pháp
thăm dò mức độ khách quan của tỷ giá
Sau khi nới rộng biên độ tỷ giá, nếu:
2 Thị trường không sử dụng hết biên độ cho phép, điều này hàm ý
tỷ giá hiện tại đã phản ánh tương đối khách quan quan hệ cung cẩu ngoại
tệ trên thị trường ngoại hối; và đây được xem như thời điểm tốt để NHNN
có thể tiếp tục nới rộng biên độ dao động lên mức cao hơn (ví dụ ±1,0%)
3 Thị trường ngay lập tức sử dụng hết biên độ cho phép, điều này hàm ý tỷ giá hiện tại đang là quá thấp so với tỳ giá cân bằng; để rút ngắn khoảng cách, NHNN tiến hành điều chỉnh tăng dần tỷ giá giao dịch một cách hợp lý mà không gây ra xáo trộn lớn
4 Trong môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, chừng nào tỷ giá giao dịch được ấn định ở mức lớn hơn E,„ thì lúc đó ta mới có được chính sách
tỷ giá thực sự khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
5 Về lâu dài, NHNN nên dỡ bỏ biên độ dao động và không trực tiếp ấn định tỷ giá, mà chỉ tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối để
tỷ giá biến động có lợi cho nền kinh tế; đồng thời chuyển hướng từ từ sang
sử dụng công cụ lãi suất để điều tiết thị trường ngoại tệ
© PGS TS Nguyễn Văn Tiễn • Học viện Ngàn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 204 HỆ THỐNG CHÊ ĐỘ TỶ GIÁ NGÀY NAY
Chế độ tỷ giá cố định và thả nổi chỉ là hai trường hợp đặc trưng
thuộc hai cực trong việc phân loại chế độ tỷ giá Do các quốc gia có những lựa chọn khác nhau, và sự lựa chọn của mỗi quốc gia cũng có thể thay đổi từ thời gian này sang thời gian khác, chính vì vậy, trong thực tế
đã và đang tồn tại rất nhiều loại chế độ tỷ giá Các chẽ độ tỷ giá này là sự kết hợp giữa hai chế độ tỷ giá cố định và thả nổi Chẳng hạn, trong chế độ
tỷ giá cố định có các loại chế độ phái sinh sau: Cố định với biên độ giao động hẹp (đến 1%); Cố định với biên độ giao động rộng hơn (trên 1%);
Cố định với một đồng tiền; Cố định với một rổ đồng tiền; Cố định lâu dài;
Cố định nhưng có thể điều chỉnh (chế độ tỷ giá cố định trượt)
Theo phân loại của IMF, tại 31/12/2001, các chế độ tỷ giá gồm:
ỉ Chế độ tỷ giá không có đồng tiền pháp định riêng (Exchange rate arrangements with no separate legal tender):
Đây là trường hợp đối với một quốc gia khi không có đồng tiền
pháp định riêng Đổng tiền sử dụng trong lưu thông có thể là:
- Quốc gia này sử dụng đồng tiền cùa một nước khác trong lưu thông như là một đồng tiền pháp định duy nhất
- Quốc gia này là thành viên của một liên minh tiền tệ, trong đó các nước thành viên thống nhất sử dụng một đồng tiền pháp định chung
2 Chế độ bản vị tiền tệ ịCurrency board arrangements):
Đây là chế độ tỷ giá có sự cam kết chính thức của chính phủ
chuyển đổi nội tệ sang ngoại tệ là đồng tiền bản vị tại một mức tỷ giá cố định Chế độ bản vị tiền tệ đặt ra những hạn chế nghiêm gặt trong việc
phát hành tiền nhằm bảo đảm thực thi cam kết chính thức của chính phủ
3 Chế độ tỷ giá cố định thông thường (Conventionl pegged arrangements):
Đây là chế độ tỷ giá khi chính phủ neo đồng tiền của mình (một
cách chính thức hay ngầm định) với một đồng tiền chính hay một rổ các
đồng tiền tại một mức tỷ giá cố định, đồng thời cho phép tỷ giá được dao
động trong một biên độ hẹp tối đa là ±1% xung quanh tỷ giá trung tâm
© PGS TS Nguyễn Vẫn Tiến • Học viện Ngàn hàng
Trang 21186 Chương 4: Những vấn đê cơ bản vế tỷ giá
4 Chế độ tỷ giá cố định với biên độ dao động rộng (Pegged exchange rates within horizontal bands):
Đây là chế độ tỷ giá khi chính phủ neo đồng tiền của mình (một cách chính thức hay ngầm định) tại một mức tỳ giá cố định, đổng thời cho phép tỷ giá được dao động trong một biên độ rộng hơn ±1% xung quanh
tỷ giá trung tâm
5 Chế độ tỷ giá cố định trượt (Crawling pegs): Đây là chế độ tỳ
giá cố định, nhưng định kỳ tỳ giá trung tâm sẽ được điều chỉnh:
- Hoặc theo một tỷ lệ nhất định đã được thông báo trước
- Hoặc để phản ánh những thay đổi trong một số chỉ tiêu nhất định
đã được lựa chọn (lạm phát, cán cân thương mại)
ố Chế độ tỷ giá cố định trượt có biên độ (Exchange rates within crawling bands): Đây là chế độ tỷ giá cố định vói các nội dung:
1 Tỷ giá được dao động trong một biên độ nhất định xung quanh
tỷ giá trung tâm
2 Tỷ giá trung tâm được điều chỉnh định kỳ:
- Hoặc theo một tỷ lệ nhất định đã được thông báo trước
- Hoặc để phản ánh những thay đổi trong một số chỉ tiêu nhất định
đã được lựa chọn
7 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết không thõng báo trước (Managedỷloating with no preannouncedpathỊor exchange rate):
Chính phủ tác động ảnh hưởng lên xu hướng vận động của tỷ giá
thông qua hành động can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối, nhung không có bất cứ một sự thông báo trước hay một cam kết nào về hướng và mức độ can thiệp lên tỷ giá là như thế nào
8 Chế độ tỷ giá thả nổi độc lập (Independent /loating):
Đây là chế độ tỷ giá, trong đó, tỷ giá được xác định theo thị trường (chính phủ không lái xu hướng vận động cùa tỷ giá) Bất cứ hoạt động can thiệp ngoại hối nào cũng chỉ nhằm mục đích giảm sự biết động quá mức của tỷ giá, chứ không theo đuổi một hướng vận động hay một giới hạn cụ thể nào về tỷ giá
© P6S TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngàn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 229 Cấu trúc tỷ giá (Exchange rate structure):
Nếu chế độ tỷ giá của một quốc gia chỉ bao gồm một tỷ giá, thì gọi
là chế độ tỷ giá đem (Unitary exchange rate regime); nếu chế độ tỷ giá bao gồm từ hai tỷ giá trở lên, thì gọi là chế độ đa tỷ giá (Multiple exchange
rate regime) Trường hợp, chế độ tỷ giá bao gồm hai tỷ giá, thì thường
được gọi với tên riêng là chế độ tỷ giá kép (Dual exchange rate regime)
Mục đích sử dụng chế độ đa tỷ giá là để khuyến khích hay hạn chế một
hay một nhóm các loại giao dịch, một hay một nhóm người nào đó thông
qua các mức tỷ giá khác nhau
Bảng 4.3: Hệ thống chẽ độ tỷ giá tại 31/12/2001
1 Chế độ tỷ giá không có đống tiến pháp định riêng (40 quốc gia)
Đóng tiền khác Eastern Caribbean
Dollar(ECCU)
Franc của NHTVV các nước Tây Phi Khối EURO Ecuador (USD) Antigua and Barbuda
Dominica Benin Burkina Faso Austria
El Salvador (USD) Antigua and Barbuda Dominica Benin Burkina Faso Belgium
Palau (USD) st Vincent and the
Panama (USD) st Vincent and the Grenadines Senegal Ireland
Cameroon Luxembourg Central Atrican Rep Netherlands
Equatorial Guinea
Ga bon
2 Chế độ bản vị tiền tệ (8 quốc gia):
Argentina Bosnia and hercegovina Brunei Darussalam Bulgaria
China-Hong Kong SAR Djibouti Estonia Lithuania
3 Chế độ tỷ giá cố định thông thường (41 quốc gia):
Cố định với mót đóng tiễn Cố định một ró đổng tiến
Bahrain, Kmgdom of Lebanon Saudi Arabia Kuvrait
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền - Học viện Ngân hàng
Trang 23188 Chương 4: Những vấn dề cơ bản về tỷ giá
Bhutan Maldives Syrian Arab Rep Morocco
Cape Verder Namibia Turkmenistan Samoa
Zimbabw ab Emirate Seychelles Comoros Netheríands Antilles United Ar Zimbabw ỈS Vanuatu
Eritrea
4 Chế độ tỷ giá cố định với biên độ dao động rộng (5 quốc gia):
Denmark Cyprus Egypt
(±2,25%) (±2,25%) (±3,0%) Hunggary Tongo (±15,0%) (+5,0%)
5 Chế độ tỷ giá cố định trượt (4 quốc gia):
Bolivia Costa Rica Nicaragua Solomon Islands
6 Chế độ tỷ giá cố định trượt có biên độ (6 quốc gia):
Belarus Honduras
(±5,0%) (±7,0%) (±22,0%) l(Unannounceđ) (±3,0%) (±7,5%) Israel ị Romania Uruguay' Venezuela
7 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết (42 quốc gia):
Indonesia Croatia Trinidad and Tobago India
Mauritius Kazakhstan Vìetnam Myanmar
Sao Tome and Principe Kyrgyz Zambia Singapore
Sri Lanka Mauritania Angola Uzbekistan
Tunisia Nigeria
8 Chế độ tỷ giá thả nổi độc lập (40 quốc gia):
Malavvia Colambia United Kingdom Uganda
Phillippines Iceland Armenia Haiti
Yemen Rep New Zealand Madagascar Papua New Guinea
Canada South Africa Taiikistan United states
Nauổn: Exchange Rate Arrangements anơ Exchange Rate Restrictions, IMF, 2002
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến • Học viện Ngân hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 245 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Tại mỗi mức tỷ giá nhất định, những nhân tố nào làm dịch chuyển
đường cầu USD sang trái? Hãy mô tả bằng đồ thị
2 Tại mỗi mức tỳ giá nhất định, những nhân tố nào làm dịch chuyển đưòng cung USD sang trái? Hãy mô tả bằng đồ thị
3 Vói các nhân tố khác không đổi, khi tỳ giá VND/USD tăng làm dịch
chuyển đường cung và đường cầu USD của Việt Nam sang trái hay sang
phải? Hãy mó tả bằng đồ thị
4 Đường cung USD luôn có hướng đi lên từ trái qua phải? Tại sao? Hãy
mô tả bằng đồ thị
5 NHTW có thể can thiệp tăng, giảm cung cầu ngoại tệ trên thị trường
ngoại hối bằng những cách nào?
6 Nêu khái niệm, lấy ví dụ bằng số để minh họa và mô tả bằng đổ thị nội dung các khái niệm sau:
3 Appreciation Real Appreciation
7 Phân biệt đồng tiền được định giá cao và lên giá
8 Phân biệt đồng tiền được định giá thực cao và lên giá thực
9 Phân biệt trạng thái động và trạng thái tĩnh
10 Giải thích cơ chế dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ ảnh hưởng lên tỷ giá?
l i Tại sao quy định mức lãi suất trần của tiền gửi bằng ngoại tệ thấp lại
tác động đến tỷ giá?
© PGS TS Nguyễn Văn Tiễn - Học viện Ngắn hàng
Trang 25190 Chương 4: Những vấn đê cơ bản vé tỷ giá
12 Tại sao quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM lại ảnh hưởng đến tỷ giá?
13 Các chế độ tỳ giá theo phân loại của IMF?
14 Chế độ tỷ giá VND?
15 Những mật trái khi định giá nội tệ cao?
16 Tính tỷ lệ % lên giá và giảm giá của các đồng tiền, biết rằng:
a/ Tại thời điểm V Ì AUD = 0,7676 USD
Ì AUD = 0 6767 USD E(USD/GBP) = 1,6767 E(USD/GBP) = 1,7676
Ì USD= 1,6767 SGD
Ì USD= 1,7676 SGD E(HKD/USD) = 1,7676 E(HKD/USD) = 1,6767
17 Năm 1997, đồng THB giảm giá 17% so với USD Hỏi USD lên giá bao nhiêu % so với THB
Tại thời điểm t,:
b/ Tại thời điểm t,,:
Tại thời điểm t,:
c/ Tại thời điểm t,,:
Tại thời điểm t,:
ải Tại thời điểm tị,:
Tại thời điểm t,:
18 Ngày 1/4/1998, là ngày đặc biệt đối với Nam Tư, khi Chính phủ thay đổi tỷ giá từ 6,0 lên 10,92 ỸUN Hỏi tỷ lệ % phá giá YUN so với ỪSD?
19 Tính tỷ lệ % định giá cao và định giá thấp của các đồng tiền, biết rằng: a/ Tỷ giá thị trường:
Ì USD= 1,7676 SGD
Ì USD= Ì 6767 SGD
EM(JPY/USD) = 126,76 ECR(JPY/USD) = 125,67
20 Tính tỷ lệ % định giá thực cao, định giá thực thấp của các đồng tiền, biết rằng:
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền - Học viện Ngân hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 26a/ ER(VND/USD) = 0,9191 b/ ER(CNY/USD)= 1,3131 c/ ER(USD/AUD)= 1,0000 d/ ER(USD/EUR)= 1,1212
21 Cho tỷ lệ lạm phát hàng năm, hãy tính và điền các kết quả vào bảng
G/»' c7w: Trong r/iựo /ế, các/? v/êí CPIỊ"' là tương dương với CPf
22 Căn cức vào bảng dưới đây, hãy bình luận về sức cạnh tranh thương
mại quốc tế của Việt Nam qua các thời kỳ
Thời
kỳ
t
Tỳ giá danh nghĩa E,(VND/CNY)
Chỉ số tỳ giá danh nghĩa e°,(%)
Chi số giá Trung Quốc CPI, (%)
Chi số giá Việt Nam CH", (%)
Chỉ số tỷ giá thực e°K,(%)
Trang 27192 Chương 4: Những vấn đề cơ bản về tỷ giá
Thời
kỳ
(í)
Chì số tỷ giá danh nghĩa 6( (VND/USD)
Chỉ số tỷ giá danh nghĩa 6|(VND/CNY)
Chỉ số tỷ giá trung bình NEER,
Tỷ lệ chỉ Số giá cả CPI.7CPI,
Tỷ giá thực trung bỉnh REER,
số và mô tả bằng đồ thị) Nếu can thiệp của NHNN chỉ xảy ra một lần duy nhắt ưên thị trường, hỏi tác động của can thiệp lên tỷ giá có tính chất lâu dài hay chỉ là tạm thời? Hãy giải thích tại sao?
c/ Giả sử Mỹ và Việt Nam duy trì chế độ tỳ giá cố định tại mức E(VND/USD) = 10.000 Hỏi dự trữ quốc tế của Việt Nam tăng lên hay giảm xuống với số lượng là bao nhiêu nếu NHNN chịu trách nhiệm can thiệp trên thị trường ngoại hối? Hãy giải thích tại sao và mô tả bằng đồ thị? Thay đổi dự trữ ngoại hối của Việt Nam được ghi có hay ghi nợ trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
$$$$$$$$$$*****$$$$$$$$$$
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngăn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 28CHƯƠNG 5 HỌC THUYẾT NGANG GIÁ sức MUA
Những người chưa từng nghiên cứu Tài chính quốc tế thường có
hai câu hỏi về sự bí ẩn của tỷ giá đó là:
Thứ nhất, trên cơ sở nào mà tỷ giá mua bán VND/USD trên thị
trường lại là 16.215 mà không phải là 15.500 hay 16.550? Đứng đằng sau
tỷ lệ trao đổi Ì USD = 16.215 VND là cái gì? Co phải vì tờ giấy bạc USD
đẹp hơn tờ giấy bạc VND? Có phải vì nước Mỹ lớn hơn nước Việt Nam?
Có phải vì nước Mỹ nói tiếng Anh? v.v
Thứ hai, khi quan sát sự biến động của tỷ giá, thấy rằng:
0 t
- Tỷ giá biến động rất nhanh và mạnh trong ngắn hạn
- Tỷ giá có xu hướng biến động từ từ trong dài hạn
Vậy nhân tố nào quyết định xu hướng biến động của tỷ giá trong
ngán hạn và trong dài hạn? Bạn đọc sẽ được trả lời hai câu hỏi này sau khi
nghiên cứu nội dung học thuyết ngang giá sức mua
Nhằm tổng quát hóa, ta quỵ ước: Ngoại tệ đóng vai trò là đồng
tìín yết già, cồn nội tệ đồng vai trồ là đống Hin định giá
ePGS TS Nguyễn Vẫn nín-Họe viện Ngấnhtng
Trang 29194 Chuông 5: Học thuyết ngang giá sức mua
1 KHÁI tylỆM NGANG GIÁ sức MUA
1.1 SỨC MUA VÀ NGANG GIÁ sức MUA
Hầu hết các quốc gia độc lập đều có đồng tiền riêng của mình, gọi
là nội tệ; các đồng tiền khác gọi là ngoại tệ Trong nền kinh tế mở, mỗi đồng tiền vừa có sức mua đối nội, vừa có sức mua đối ngoại
Sức mua đối nội: Là số lượng hàng hóa mua được bằng một đơn vị
nội tệ ở trong nước Sức mua đối nội thay đổi từ thời gian này sang thời gian khác, phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát của nội tệ Nếu tỷ lệ lạm phát là
dương (+), thì đồng tiền mất giá (so vói hàng hóa); ngược lại, tỷ lệ lạm phát âm (-), thì đồng tiền lên giá (so với hàng hóa)
Sức mua đối ngoại: Là số lượng hàng hóa mua được ờ nirốc ngoài
khi chuyển đổi một đem vị nội tệ ra ngoại tệ Sức mua đối ngoại thay đổi
từ thời gian này sang thời gian khác, phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá và tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài Nếu tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài là không dổi, thì sức mua đối ngoại tăng khi tỷ giá giảm (tức nội tệ lên giá
so với ngoại tệ); sức mua đối ngoại giảm khi tỷ giá tăng
Ngang giá sức mua là gì?
Ở hầu hết các nước, hàng hóa thường được niêm yết bằng nội tệ
Ví dụ, một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia ở Việt Nam có giá là 1.600.000 VND, cũng chiếc điện thoại này ỏ Mỹ có giá là 100 USD, người ta nói rằng ngang giá sức mua trong trường hợp này là: Ì USD =
16000 VND Hay nói cách khác, khi chuyển đổi VND ra USD theo tỷ lệ Ì USD = 16.000 VND, ta mua được số lượng điện thoại di động Nokia ở Mỹ
là tương đương với mua ở Việt Nam
Tương tự, nếu một bữa ăn cho một suất ở Việt Nam là 20.000 VND, và một bữa ăn tương tự như vậy ở Mỹ là 2 USD, thì ngang giá súc mua trong trường hợp này là Ì USD = 10.000 VND Hay nói cách khác, khi chuyển đổi VND ra USD theo tỷ lệ ỉ USD = 10.000 VND, ta mua được số bữa ăn ở Mỹ là tương đương với ở Việt Nam
Qua phân tích và quan sát thực tiễn cho thấy, nếu xét riêng cho
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền • Học viện Ngăn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 30từng hàng hóa, thì ngang giá sức mua là không giống nhau cho tất cả các
hàng hóa
Một cách tổng quát, để so sánh sức mua giữa hai đổng tiền, người
ta không tiến hành so sánh sức mua liên quan đến từng hàng hóa, mà thay
vào đó là so sánh sức mua cho một rổ hàng hóa tiêu chuẩn giống nhau ở
trong nước và ở nước ngoài Rổ hàng hóa tiêu chuẩn bao gồm các hàng
hóa tiêu biểu, thông dụng, chiếm một tỷ trọng nhất định và có ý nghĩa
trong cuộc sống hàng ngày Sau đó người ta tính giá của rổ hàng hóa này
bằng nội tệ và ngoại tệ, từ đó suy ra ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền
Ví dụ, năm 1955 khi Việt Nam bắt đầu có quan hệ ngoại thương với Trung Quốc, các nhà kinh tế đã lựa chọn phương pháp xác định tỷ giá trên cơ sỏ ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền Cụ thể, tỷ giá giữa đồng nhân dán tệ (CNY) với đồng Việt Nam (VND) được xác định bằng cách chọn ra 34 đơn vị hàng hóa cùng loại, thông dụng nhất, tại cùng một thời điểm ở thủ đô 2 nước và có tham khảo thêm giá cả ở một số tỉnh khác để quy đổi ra tổng giá cả của 34 mặt hàng đó theo 2 loại tiền của hai nước kết quà tỷ giá vào ngày 2511111955 là: Ì CNY = Ì 470 VND
Vậy, ngang giá sức mua là tỷ lệ trao đổi giữa hai đổng tiền, theo
tỷ lệ này thì số lượng hàng hóa mua được lả nhu nhau ở trong nước và
ở nước ngoài khi chuyển đổi một đơn vị nội tệ ra ngoại tệ và ngược lại
Nếu gọi giá của rổ hàng hóa tiêu chuẩn tính bằng nội tệ (định giá)
là p, tính bằng ngoại tệ (yết giá) là p\ thì ngang giá sức mua sẽ là:
EPPP - p
Hay P = EP Pp P '
Như vậy, với tỷ lệ trao đổi là Eppp, thì nội tệ và ngoại tệ là ngang
giá sức mua với nhau, nghĩa là theo tỷ lệ này ta chuyển đổi Ì đơn vị nội tệ
ra ngoại tệ sẽ mua được số lượng hàng hóa ở nước ngoài là tương đương
với ở trong nước
Cần lưu ý, ngang giá sức mua giữa hai đổng tiền đơn thuần chỉ là
sự so sánh mức giá hàng hóa tính bằng nội tệ và ngoại tệ ở hai nước mà
không đề cập đến chi phí vận chuyển quốc tế, thuế quan
©PGS.TS Nguyễn Văn Tiên -Học viện Ngằn hàng
Trang 31196 Chương 5: Học thuyết ngang giá sức mua
Một vấn đề đặt ra là: Giữa tỷ giá và ngang giá sức mua có mới quan hệ vối nhau như thế nào? Đây là nội dung chính của học thuyă ngang giá sức mua và cũng là câu trả lời cho các câu hỏi trên
1.2 QUY LUẬT NGANG GIÁ sức MUA
Tỷ giá là tỷ lệ trao dổi giữa hai đồng tiền trong giao dịch mua bán giữa các bên trên thị trường ngoại hối mà chưa đề cập đến tương quan súc mua giữa chúng Ví dụ, trên thị trường ngoại hối người ta mua bán với nhau theo tỳ gia: Ì USD = 16.010 VND Như vậy, đây đơn thuần chỉ là tỳ
lệ trao đổi số tuyệt đối giữa USD và VND, ta chua biết được Ì USD sẽ mua được bao nhiêu hàng hóa ở Mỹ, và 16.010 VND sẽ mua được bao nhiêu hàng hóa ở Việt Nam
Như vậy, ngang giá sức mua và tỷ giá đều là tỷ lệ trao đổi giữa hai
đồng tiền, nhưng tỳ giá không đề cập đến súc mua mà đơn thuần chì là tỷ
lệ trao dổi Tuy nhiên, giữa tỷ giá và ngang giá sức mua cố mối quan hệ khăng khít Mối quan hệ này được thể hiện bằng quy luật ppp dưới đây
Ỏ chương 3, chúng ta đã dưa ra khái niệm tỷ giá thực và công thúc xác định ở dạng tĩnh như sau:
Trong đó: E là tỷ giá giao dịch trên thị trường
Nếu chúng ta đua ra năm giả thiết:
1 Không tồn tại chi phí vận chuyển quốc tế
2 Không tồn tại các hàng rào thương mại (thuế quan, côta )
3 Kỉnh doanh thương mại quốc tế không chịu rủi ro
4 Hàng hỏa là giống hệt nhau giữa các nước
s Thị trường là cạnh tranh hoàn hảo
Năm giả thiết này là khổng hoàn toàn thục tế, nhung phải thùa nhận là thế giới dang ngày càng tiến gìn đãi với các giả thiết này, nghĩa
là các giả thiết này đang ngày càng trở nên hiện thục
• P§ft Tti Nguyên Vần nin'Hót tiện NỊinhi/ịỊ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 32Có hai khả năng xảy ra đối với tỳ giá thực là:
Khả năne 1: Nếu ER > Ì (tức E.p* > P), nghĩa là giá hàng hóa ở trong nước rẻ hơn ở nước ngoài, khiến cho các hành vi kinh doanh chênh
lệch giá sẽ vào cuộc, theo các bước (lấy vai trò là người trong nước):
Bước 1: Dùng nội tệ mua hàng hóa ở trong nước, làm cho p tăng
Bước 2: Bán hàng hóa ở nước ngoài thu ngoại tệ, làm cho p* giảm Bước 3: Chuyển đổi ngoại tệ ra nội tệ (bán ngoại tệ lấy nội tệ), làm
cho E giảm
Tóm lại, các bước Ì, 2 và 3 làm cho ER giảm xuống; và các hành vi
kinh doanh chênh lệch giá chỉ dừng lại chùng nào ER = Ì (tức E.p* = P)
Điều này hàm ý, trạng thái ER > Ì nếu có thì cũng chỉ là tạm thời
Bước 4: Tính tỷ suất lợi nhuận kinh doanh trên mỗi đồng nội tệ:
— p = BR- 1
Khả năng 2: Nếu ER < Ì (tức E.p* < P), nghĩa là giá hàng hóa ở
trong nước đắt hơn ở nước ngoài, khiến cho các hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ vào cuộc, theo các bước (lấy vai trò là người trong nước):
Bước 1: Dùng nội tệ mua ngoại tệ, làm cho E tăng
Bước 2: Dùng ngoại tệ mua hàng hóa nước ngoài, làm cho p* tăng Bước 3: Chuyển hàng hóa về bán trong nước, làm cho p giảm
Tóm lại, các bước Ì, 2 và 3 làm cho ER tăng lên; và các hành vi
kinh doanh chênh lệch giá chỉ dừng lại chừng nào ER = Ì (tức E.p* = P)
Điều này hàm ý, trạng thái ER < Ì nếu có thì cũng chỉ là tạm thời
Bước 4: Tính tỷ suất lợi nhuận kinh doanh trên mỗi đồng nội tệ:
Trang 33198 Chương 5: Học thuyết ngang giá sức mua
vị Khi ER = Ì, tức E.p* = p, ta có hai đồng tiền là ngang giá sức mua với
nhau Điều này có nghĩa là nếu chuyển đổi Ì đơn vị nội tệ sang ngoại tệ
theo tỷ giá E thì ta mua được một số lượng hàng hoa ở nước ngoài là
tương đương với ở trong nước Ngược lại, nếu chuyển đổi Ì đơn vị ngoại
tệ sang nội tệ theo tỷ giá E thì ta mua được một số lượng hàng hoa ở trong nước là tương đương với ở nước ngoài
Theo quy luật (tức ER = Ì), thì mối quan hộ giữa tỷ giá và ngang giá sức mua được thể hiện như sau:
thành tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối Đày chính là nội dung
cơ bản của học thuyết ppp
Tuy nhiên, để hiểu một cách căn bản về ppp, chúng ta cần tiếp cận học thuyết này một cách toàn diện hơn như được trình bày dưới đây
2 QUY LUẬT MỘT GIÁ - THE LAW 0F ONE PRICE
ppp được nhà kinh tế học Gustav Cassell đưa ra vào năm 1920
Cách đơn giản nhất để hiểu ppp là xem xét mối quan hệ giữa tỳ giá và giá
cả của một hàng hoa nhất định được tính bằng đồng tiền giữa các nước khác nhau Mối quan hệ giữa tỷ giá và giá cả hàng hoa được phản ánh bói
"Quy luật một giá"
Thực tế cho thấy, mỗi cơ hội kiếm lãi đều thu hút sự chú ý của những nhà kinh doanh trên thế giới Một trong những cơ hội kiếm lãi đó là
© PGS TS Nguyễn Văn Tiền - Học viện Ngăn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 34"kinh doanh chênh lệch giá - arbitrage" Kinh doanh chênh lệch giá là
việc tại cùng một thời điểm mua hàng hoa ở nơi có giá thấp và bán lại
chúng ở nơi có giá cao để kiếm lợi do có sự chênh lệch giá Ví dụ, nếu
tại cùng một thời điểm, giá vàng tính bằng ƯSD ở London cao hơn ở New
York, thì người ta sẽ mua vàng ở New York và chở đến bán ở London để
kiếm lãi Trên thực tế, do việc vận chuyển hàng hoa cần một thời gian
nhất định nên làm phát sinh rủi ro và chi phí vận chuyển, do đó, giá cả
giữa các thị trường khác nhau có thể có sự chênh lệch nhất định
Ví dụ, giá vàng ở New York là p (USD), ở London là p* (GBP), tỳ
giá Ì GBP = E USD, chi phí vận chuyển cộng phí bảo hiểm rủi ro là F
(USD), thì kinh doanh chênh lệch giá xảy ra khi thỏa mãn bất đẳng thức:
xảy ra Hay nói cách khác, giữa các thị trường, giá cả hàng hóa có thể
chênh lệch nhau một mức nhất định, mà các hành vi kinh doanh chênh
lệch giá vẫn không thể vào cuộc, bởi vì tồn tại chi phí vận chuyển và rủi ro
kinh doanh
Kinh doanh chênh lệch giá làm cho giá cả hàng hoa tăng lên ở thị
truồng có giá thấp và giảm xuống ở thị trường có giá cao; quá trình này
làm cho giá cả hàng hoa ở những thị trường khác nhau trở nên đồng nhất
với nhau hơn Kinh doanh chênh lệch giá chỉ dừng lại, chừng nào các cơ
hội sinh lãi đã dược khai thác triệt để, túc giá cả hàng hoa là như nhau trên
các thị trường khác nhau
Trên cơ sở phân tích, Quy luật một giá phát biểu như sau:
Nêu bỏ qua chi phí vận chuyển, hàng rào thương mại, các rủi ro
và thị trường là cạnh tranh hoàn hảo, thì các hàng hoá giống hệt nhau
sẽ có giá là như nhau ở mọi nơi khi quy về một dồng tiền chung
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến - Học viện Ngắn hàng
Trang 35200 Chương 5: Học thuyết ngang giá sức mua
Biểu hiện rõ ràng của quy luật một giá là khi ta quy giá vàng ỏ các thị trường khác nhau về một đồng tiền chung như sau:
Bảng 5.1: Giá Ì ounce vàng trên các thị trường khác nhau, 29/4/94
Nguồn: The New York Times, April 30,1994
Nếu ký hiệu: Pị là giá hàng hoa i ở trong nước tính bằng nội tệ, p",
là giá cũng hàng hoa i ở nước ngoài tính bằng ngoại tệ, E là tỷ giá biểu thị
số dơn vị nội tệ trên Ì đơn vị ngoại tệ, Quỵ luật một giá được viết như sau:
P^E.?', (5.1)
Khi Quy luật một giá bị phá vỡ, thì kinh doanh chênh lệch giá thông qua các hành vi mua hàng hoa ở thị trường có giá thấp và bán ở thị
trường có giá cao giúp khôi phục trở về trạng thái cân bằng Cơ chế khôi
phục trạng thái cân bằng của công thức (5.1) diễn ra là khác nhau trong
chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi
ai Trong chế độ tỷ giá cố định:
Giả sử Quy luật một giá bị phá vỡ và ở trạng thái:
Bất đẳng thức này nối lên rằng, hàng hoa ở trong nước là đắt hơn ỏ
nước ngoài, do đó, làm phát sinh hành vi kinh doanh chênh lệch giá
Những nhà kinh doanh chênh lệch giá tiến hành mua hàng hoa ở nước
ngoài chuyển về bán trong nước Do tỷ giá E là cố định, nên hành vi kinh
doanh chênh lệch giá làm cho: giá hàng hoa ở nước ngoài tăng lên, tức Ỹ,
tăng; và giá hàng hoa trong nước giảm xuống, tức P; giảm; dẫn đến hai vế
của bất đẳng thức trở nên bằng nhau và thị trường trở lại trạng thái cân
bằng Do giá hàng hoa thay đổi một cách từ từ, nên quá trình thiết lập cân
© PGS TS Nguyễn Văn Tiễn • Học viện Ngăn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 36bằng giá trên các thị trường khác nhau diễn ra tương đối dài
Qua phân tích, ta đi đến kết luận: trong chế độ tỷ giá cố định,
trạng thái cân bằng của Quy luật mật giá được thiết lập thông qua quá trình chu chuyển hàng hoa từ nơi có giá thấp đến nen có giá cao, làm cho giá cả ở các thị trường khác nhau thay đổi và trở nên ngang bằng
với nhau Quá trinh này diễn ra một cách khá chậm chạp, nghĩa là các
cơ hội kinh doanh chênh lệch giá thường tồn tại và kéo dài
bi Trong chế độ tỷ giá thả nổi:
Do tỷ giá E lả thả nổi nên có thể thay đổi một cách linh hoạt Quá
trình kinh doanh chênh lệch giá mua hàng hoa ở nước ngoài về bán ở
trong nước, làm cho cẩu ngoại tệ và cung nội tệ đều tăng; kết quả là tỷ giá
E tăng lên Do thị trường ngoại hối linh hoạt hơn nhiều so với thị truồng
hàng hoa, cho nên trong chế độ tỷ giá thả nổi, cân bằng trong Quy luật
một giá được thiết lập trở lại chủ yếu là do có sự thay đổi tỷ giá Trong
trường hợp đang xét, tỷ giá E tăng lên làm cho giá cả được thiết lập về
trang thái cân bằng nhanh hem nhiều
Qua phân tích, chúng đi đến kết luận: trong chế độ tỷ giá thả nổi,
trạng thái cân bằng của Quy luật một giá được thiết lập trở lại thông
qua sự thay đổi của tỷ giá là chủ yếu (chứ không phải thay đổi giá hàng
hoa) Quá trình này diễn ra nhanh chóng và rất hiệu quả
Ví dụ minh hoa: Nếu giá một chiếc ôtô ở Anh là £ 15000, và cũng
chiếc ôtô này có giá ờ Mỹ là $30000, theo Quy luật một giá thì tỷ giá £/$
sẽ là £1500O/$3OO0O hay £0,50/$l Nếu ty giá cao hơn £0,50/$l, ví dụ
£0,60/$Ì, thì để mua được Ì chiếc ôtô ở Anh, người Mỹ chỉ cần $25000
để mua £ 15000, nên đã tiết kiệm được $5000 so với mua ở Mỹ Theo Quy
luật một giá, người Mỹ bắt đầu tham gia kinh doanh chênh lệch giá bằng
cách bán $ và mua £ để mua ôtô ở Anh về bán ở Mỹ; quá trình này làm
cho tỷ giá giảm xuống và kinh doanh chênh lệch giá chỉ dừng lại khi nào
tỷ giá thực sự giảm xuống £0,50/$ Ì Trường hợp ngược lại, nếu tỷ giá ở
mức £0,40/$l, thì một chiếc ôtô ở Anh có giá là $37500, trong khi đó
cũng chiếc ôtô này có giá £12000 ỏ Mỹ, điều này có nghĩa là £ được định giá quá cao Do đó, người Mỹ không mua ôtô ở Anh và người Anh
quyết định mua ôtô ở Mỹ, dẫn đến đồng £ giảm giá và tỷ giá sẽ tăng lên
mức cân bằng là £0,50/$ Ì; và do đó, Quy luật một giá được duy trì trở lại
© PGS TS Nauvễn Văn Tiến • Học viện Ngắn hàng
Trang 37202 Chương 5: Học thuyết ngang giá sức mua
3 CÁC DẠNG BIỂU HIỆN CỦA ppp
Chúng ta đã khám phá ra quy luật: Tỷ giá giao dịch trên thị trường
ngoại hối phải phàn ánh tương quan sức mua giữa hai đồng tiền; hay nói cách khác, ngang giá sức mua là cơ sỏ hình thành tỷ giá giao dịch trên thị trường Như vậy, theo quy luật, nếu chúng ta tính toán được và quan sát
được sự vận động của ppp, thì chúng ta cũng xác định được và quan sát được sự vận động của tỳ giá Sau đây là các dạng biểu hiện của ppp, là cơ
sở để xác định và quan sát sự vận động cùa tỳ giá
3.1 ppp TRẠNG THÁI TĨNH (THE STATIC FORM OF PPP)
ppp trạng thái tĩnh biểu hiện tương quan sức mua giữa hai đồng tiền tại một thời điểm Ở trạng thái tĩnh, ppp có hai dạng là dạng giản đơn
và dạng tổng quát
A/ ppp TRẠNG THÁI TĨNH - DẠNG GIẢN ĐƠN
Nếu công thức (5.ỉ) là đúng cho tất cả các hàng hoa và dịch vụ,
thì quy luật ngang giá sức mua trạng thái tĩnh đối với rổ hàng hoa và dịch
vụ ở trong nước và ở nước ngoài được biểu diễn như sau:
Công thức (5.2) gọi là: ppp trạng thái tĩnh - dạng nguyên thể
Đẳng thức (5.2) nói lên rằng: Vế phải (P/P*) là tương quan sức mua giữa hai đồng tiền, còn vế trái (E) là tỳ giá giao dịch trên thị trường
được xác định theo quy luật ppp Nói cách khác, nếu tỳ giá giao dịch tiên
thị trường (E) được xác định bởi p/p* thì tại đó hai đồng tiền là ngang giá sức mua với nhau
Ví dụ, nếu tại một thòi điểm nhất định, một rổ hàng hoa có giá là
(5.2)
Trong đó:
E - tỷ giá giao dịch trên thị trường
p - giá của rổ hàng hoa và dịch vụ tính bằng nội tệ
p* - giá của rổ hàng hoa và dịch vụ tính bằng ngoại tệ
© PGS TS Nguyền Văn Vén - Học viện Ngăn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 38$1.000 ở Mỹ và cũng rổ hàng hoa này có giá là £600 ở Anh, thì theo quy
luật ppp, tỷ giá E($/£) phải là $l,67/£ Hay nói cách khác, ly giá giao
dịch trên thị trường phải là $l,67/£ thì hai đồng tiền mới ppp với nhau
Đến đây ta cần phân biệt: Quy luật một giá áp dụng riêng cho từng
hàng hóa, còn Quy luật ngang giá sức mua áp dụng cho một rổ hàng hóa
Vấn để đặt ra là, trong thực tế, giữa các quốc gia luôn tồn tại chi
phí vận chuyển, hàng rào thương mại, phí bảo hiểm rủi ro, chênh lệch
ưong mức thuế VÁT, nên tỷ giá giao dịch trên thị trường có thể lệch khỏi
đáng kể so với ngang giá sức mua mà các hành vi kinh doanh chênh lệch
giá vẫn không thể vào cuộc Nghĩa là, trong thực tế có thể tổn tại hai tình
huống là E > p/p* hoặc E < p/p*, mà các hành vi kinh doanh chênh lệch
giá không thể vào cuộc để điều chỉnh về trạng thái cân bằng (vì nếu tiến
hành kinh doanh chênh lệch giá sẽ không có lãi)
Trường hợp ì: E > p/p* » p < E.p*
Gọi độ lệch giữa E.p* và p tính bằng ngoại tệ là F Ở đây, F bao
gồm chi phí vận chuyển, bảo hiểm rủi ro, chênh lệch mức thuế quan và
thuế VÁT giữa hai nước F được xem là nhân tố làm cho tỳ giá lệch khỏi
ngang giá sức mua Ta biểu diễn mối quan hệ giữa tỷ giá và ngang giá sức
mua khi có đẻ cộp đến nhân tố F như sau:
Ta thấy rằng, nếu thị trường ở hai trạng thái (P + E.F) > E.p* hay
(P + E.F) < E.p* , thì các trạng thái này cũng chỉ là tạm thời Các hành vi
kinh doanh chênh lệch giá luôn có xu hướng làm cho thị trường trở về
trạng thái cân bằng trong dài hạn là: p + E.F = E.p*
Tại trạng thái cân bằng, giá hàng hóa ở trong nước sau khi cộng
thêm nhân tố F sẽ bằng giá hàng hóa ở nước ngoài Tiếp tục biến đổi đẳng
Trang 39204 Chương 5: Học thuyết ngang giá sức mua
Ta có: P = E.P'(l-f)
Vì p* và F đều là mức giá (P* là giá hàng hóa, còn F là giá dịch
vụ), nên nhìn chung chúng đều tăng hoặc đều giảm cùng chiều, do đó f có
thể được xem là một hằng số
c n _ ? Ì
Suy ra: E = —r p ( l - f ) Đặt 1/(1 -f) = k, ta có:
E = £k (5.3)
Trường hợp 2: E < p/p* <» p > E.p*
Ta biểu diễn mối quan hệ giữa tỷ giá và ngang giá sức mua khi có
đề cập đến nhân tố F nhu sau:
p = E.P* + E.F Tại trạng thái cân bằng, giá hàng hóa ỏ nước ngoài sau khi cộng
thêm nhân tố F sẽ bằng giá hàng hóa ỏ trong nước Tiếp tục biến đổi đẳng
E = ^-k' (5.3')
p
Công thức (5.3) và (5.3') gọi là ppp trạng thái tĩnh - dạng biến thề Công thức này cho thấy, nhân tố F đã làm cho tỷ giá E lệch khỏi
ngang giá sức mua bởi hệ số k (hay k')
© PGS TS Nguyễn Văn Tiến • Học viện Ngăn hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 40Ý nghĩa của ppp trạng thái tình: Cho phép giải thích tại sao tại
một thời điểm, tỷ giá của một đồng tiền nhất định so với đồng tiền này là
cao, còn đối với đồng kia lại thấp
Ví dụ, nếu giá của rổ hàng hóa tiêu chuẩn ở Mỹ là 1.000 USD;
cũng rổ hàng hóa này có giá ở Việt Nam là 16.215.000 VND và ở Trung
Quốc là 7.851,5 CNY Theo quy luật ppp, ta xác định được tỷ giá của
VND và CNY như sau:
E(VND/USD)=±Sậ£M = 16.215
1.000 E(CNY / USD) = 7-8 5 1'5 0 0 0 = 7,8515
1.000 B/ ppp TRẠNG THÃI TĨNH - DẠNG TONG QUÁT
Một trong những vấn đề cơ bản của học thuyết ppp vừa đề cập ở
trẽn là chúng ta đã giả thiết rằng ppp là đúng cho tất cả các hàng hoa
Tuy nhiên, ppp dạng tổng quát sẽ cho phép chúng ta nhìn nhận thấu đáo
và chính xác hơn về sự khác biệt giữa hàng hoa có thể tham gia thương
mại quốc tế (intemational tradeables goods - n o và không thể tham gia
thương mại quốc íê'(international non-tradeables goods - NITG) ITG bao
gồm những hàng hoa nhập khẩu, xuất khẩu và những hàng hoa sản xuất
nội địa được sử dụng trong nước nhưng có đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu; ví
dụ, ở Mỹ hầu hết hàng hoa sản xuất nội địa được sử dụng trong nước đều
đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, nên chúng thuộc nhóm hàng hoa ITG NITG bao
gồm những hàng hoa không thể trao đổi trong thương mại quốc tế, như đất
đai, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ như cắt tóc, nhà hàng, hoa quả và thực
phẩm tươi sống khó bảo quản và hầu hết những hàng hoa khống đủ chất
lượng tiêu chuẩn quốc tế (chẳng hạn tiêu chuẩn vệ sinh, kỹ thuật, môi
trường, văn hoa )- Giá cả hàng hoa ITG được hình thành theo quy luật
cung cầu và cạnh tranh trên thị trường quốc tế; trong khi đó, đặc trưng của
những hàng hoá NĨTG là khổng thể hoặc khổng mang lại lợi nhuận khi
bán hoặc mua chúng trẽn thị trường quốc tế
Điểm khác biệt giữa hàng hoá ITG và NITG là ở chỗ: Quy luật
ngang giá súc mua thoả mãn trước hết và chủ yếu chỉ dối vói hàng hoá
e PGS TS Nguyễn 4*1 nin-Họe viện Ngằn hàng