1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình tài chính tiền tệ phần 2 trường đh công nghiệp quảng ninh

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình tài chính tiền tệ phần 2
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Chuyên ngành Tài chính tiền tệ
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 379,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

91 Chương 5 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 5 1 Ngân hàng trung ương 5 1 1 Lịch sử ra đời và phát triển của NHTW a Sự ra đời và phát triển của NHTW các nước Trong thời kỳ đầu hoạt động các[.]

Trang 1

Chương 5 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

5.1 Ngân hàng trung ương

5.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của NHTW

a Sự ra đời và phát triển của NHTW các nước

Trong thời kỳ đầu hoạt động các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệp vụ: nhận tiền gửi và cho vay đối với khách hàng, phát hành các kỳ phiếu của mình vào lưu thông, thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền, đổi tiền…

Từ thế kỷ XVIII, Nhà nước của các quốc gia đã bắt đầu can thiệp vào hoạt động của hệ thống ngân hàng, bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành kỳ phiếu ngân hàng

Đến thế kỷ XIX, ở các nước phát triển có xu hướng ra đời các đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất phát hành tiền, còn các ngân hàng khác đơn thuần kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng Ở Anh năm 1844, Nhà nước cấm các ngân hàng tư nhân phát hành tiền, và toàn bộ nghiệp vụ phát hành tiền tệ được tập trung vào Anh quốc ngân hàng Ngân hàng cổ phần tư nhân Pháp thành lập năm 1800, đến năm

1948 độc quyền phát hàng giấy bạc ngân hàng trên toàn nước Pháp

Đầu thế kỷ thứ XX, ở các nước các ngân hàng được phép phát hàng tiền đều thuộc sở hữu tư nhân, Nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tế thông qua các tác động của tiền tệ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 – 1933 đã buộc Chính phủ các nước tăng cường can thiệp hơn nữa vào lĩnh vực kinh tế Ngoài việc điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, chính sách thuế… Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường – tiền tệ để góp phần giải quyết tình trạng bất ổn định trong nền kinh tế Vì thế, sau tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, phần lớn các nước đã tiến hành quốc hữu hóa hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu Nhà nước, nhằm nắm trọn quyền phát hành tiền tệ

để qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô Canada quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1938, Đức quốc hữu hóa ngân hàng phát hàng năm 1939, Pháp quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1945, Anh quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1946… Từ đó, khái niệm ngân hàng trung ương được sử dụng để thay thế cho khái niệm Ngân hàng phát hành

Ngân hàng Trung ương không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ vào lưu thông, mà còn thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, ở một số nước, ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng của Nhà nước, và người đứng đầu cơ quan quản lý cao nhất của nó là do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Ngân hàng Trung ương Nhật Bản là ngân hàng cổ phần theo luật năm 1942, trong đó cổ phần Nhà nước chiếm 55%, cổ phần thuộc sở hữu tư nhân chiếm 45%, nhưng cơ quan quản trị ngân hàng là hội đồng chính sách có bảy thành viên do Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Ở Mỹ hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư nhân, nhưng cơ quan lãnh đạo cao nhất của ngân hàng này là Hội đồng Thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm…

b Sự ra đời và phát triển của ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 2

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập vào năm 1951, tiền thân là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Trải qua 37 năm (1951 – 1988) hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa đảm nhận chức năng của ngân hàng Trung ương là phát hành tiền, quản lý Nhà nước về các hoạt động tiền tệ - ngân hàng, vừa thực hiện chức năng của các ngân hàng thương mại Nó được tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống địa phương (chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và quận huyện) Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn này là phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung Tuy nhiên nó đã bị hạn chế là không làm tròn cả chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh tiền tệ Kết quả là nền kinh tế rơi vào tình trạng vừa thiếu tiền mặt vừa lạm phát Hoạt động mang tính bao cấp của ngân hàng Nhà nước đã dẫn đến sự phân bổ và sử dụng vốn thiếu hiệu quả

Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, thi hành Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 26/3/1988, hệ thống ngân hàng một cấp được chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Nhà nước hoạt động với các chức năng là ngân hàng phát hành tiền, là cơ quan quản lý Nhà nước về tìên tệ, tín dụng và là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối của Nhà nước Với các chức năng đó, ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành ngân hàng Trung ương với đúng nghĩa của nó

Với việc đổi mới toàn diện hoạt động của hệ thống ngân hàng, Nhà nước ban hành hai Pháp lệnh ngân hàng (25/5/1990) và Luật ngân hàng (12/1997) thì ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới thực sự là ngân hàng Trung ương của Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đựơc tổ chức theo mô hình ngân hàng Trung ương trong nền kinh

tế thị trường và trực thụôc Chính Phủ Khái niệm ngân hàng trung ương lần đầu tiên được đề cập trong pháp lệnh ngân hàng Nhà nước và được hoàn thiện hơn trong qui định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng,

là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng được làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”

Quyền lực điều hành của ngân hàng Nhà nước tập trung vào ban lãnh đạo ngân hàng gồm Thống đốc và các Phó thống đốc Mô hình tổ chức theo qui định của Luật Ngân hàng Nhà nước: “Ngân hàng Nhà nước có trụ sở chính tại thủ đô Hà nội và tổ chức các chi nhánh ở những khu vực cần thiết” Nhưng do nhu cầu cung ứng tiền và quản lý Nhà nước về tiền tệ, tại các địa phương, cho nên hiện nay ở mỗi tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương đều có một chi nhánh của ngân hàng Nhà nước Các chi nhánh này thực hiện chức năng ngân hàng trung trên phạm vi tỉnh và thành phố và chịu sự lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước trung ương về tổ chức cũng như hoạt động nghiệp vụ

c Định nghĩa ngân hàng Trung ương

Ngân hàng trung ương là một định chế quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, độc quyền phát hành tiền tệ, là ngân hàng của các ngân hàng thực hiện chức năng tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ trong phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền

5.1.2 Mô hình tổ chức ngân hàng Trung ương

Trang 3

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau như ngân hàng trung ương, ngân hàng Nhà nước, ngân hàng dự trữ liên bang…nhưng chúng đều có tính chất chung, đó là một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, được độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, ban hành các văn bản pháp lý để hướng dẫn và giám sát hoạt động của các ngân hàng kinh doanh

Do tính chất đó, ngân hàng Trung ương nắm giữ một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách tiền tệ Bởi vậy, ngân hàng Trung ương có vị trí đặc thù trong bộ máy quản lý và điều hành vĩ mô của Nhà nước Cho đến nay trên thế giới có hai mô hình tổ chức và quản lý của ngân hàng Trung ương:

a Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ

Đây là mô hình phổ biến của ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới Theo mô hình này, ngân hàng Trung ương thuộc tổ chức của Chính phủ, chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ

Mô hình này phù hợp với yêu cầu tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế Chính phủ quản lý trực tiếp ngân hàng Trung ương và sử dụng ngân hàng này trong việc thực hiện các chức năng của mình Ngân hàng Trung ương được coi là công cụ phục vụ cho các mục tiêu trước mắt và chiến lược của quốc gia Đồng thời thông qua chính sách tiền tệ để phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

b Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội

Theo mô hình này, ngân hàng Trung ương là do Quốc hội lập ra, chịu sự điều hành và chi phối của Quốc hội về nhân sự và các mục tiêu của chính sách tiền tệ Nó không nằm trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ Quan hệ giữa ngân hàng Trung ương

và Chính phủ là quan hệ hợp tác Ngân hàng Trung ương toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác

Tuy nhiên, không phải tất cả các ngân hàng Trung ương được tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của Chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ Mức độ độc lập của mỗi ngân hàng Trung ương phụ thuộc vào

sự chi phối của người đứng đầu Nhà nước, cơ chế lập pháp và nhân sự của ngân hàng Trung ương Điển hình cho mô hình này là Cục dự trữ liên bang Mỹ, ngân hàng dự trữ liên bang của Cộng hoà liên bang Đức, ngân hàng Trung ương Thuỵ Sỹ…Xu hướng tổ chức ngân hàng Trung ương theo mô hình này đang ngày càng tăng ở các nước thị trường phát triển

c Mô hình tổ chức và quản lý của Nhà nước đối với ngân hàng Trung ương ở một số quốc gia

* Ngân hàng Trung ương Mỹ Ngân hàng Trung ương Mỹ gọi là Cục dự trữ liên bang, là một ngân hàng cổ phần, gồm 12 chi nhánh ở 12 khu vực phân bố đều trong khắp nước

Trang 4

Cục dự trữ liên bang Mỹ thực hiện chức năng của ngân hàng Trung ương đồng thời còn thể hiện vai trò như một ngân hàng phục vụ ngân khố Mỹ Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Cục là Hội đồng thống đốc gồm 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Thượng nghị viện bổ nhiệm

Cục dự trữ liên bang Mỹ hoạt động độc lập Mọi quyết định của Cục không phải thông qua Tổng thống, mà chỉ báo cáo với Quốc hội

Mục tiêu hoạt động của Cục là ổn định tiền tệ tạo việc làm, ổn định giá cả và ấn định mức lãi suất thích hợp

* Ngân hàng Trung ương Cộng hoà liên bang Đức Ngân hàng Trung ương Đức là một pháp nhân trực thuộc chính quyền liên bang, vốn pháp định thuộc sở hữu liên bang

Ngân hàng Trung ương Đức độc lập thực thi chính sách tiền tệ, không bị ràng buộc bởi Chính phủ

Mục tiêu hoạt động: Bảo vệ đồng tiền, giám sát thanh toán đối nội và đối ngoại, kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông và cung cấp tín dụng cho nền kinh tế

* Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Ngân hàng Trung ương Nhật Bản là một ngân hàng cổ phần (theo đạo luật 1942), trong đó 55% cổ phần thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và 45% thuộc sở hữu

tư nhân

Cơ quan quản trị ngân hàng là Hội đồng chính sách có 7 thành viên do Chính phủ bổ nhiệm

Mục tiêu hoạt động: Theo mục tiêu của Quốc gia

* Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc trực thuộc Quốc vụ viện, vốn do Nhà nước cấp và thuộc sở hữu Nhà nước

Độc lập với Chính phủ trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ Mục tiêu hoạt động: Ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

5.1.3 Chức năng của ngân hàng trung ương

a Chức năng phát hành tiền

Tiền trong lưu thông bao gồm các loại: giấy bạc ngân hàng, tiền kim loại và tiền chuyển khoản (bút tệ)

- NHTW giữ độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại Ngày nay, việc phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại không còn dựa trên cơ sở dự trữ vàng Nó được thực hiện dựa trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ thể hiện trên các giấy nhận nợ do các doanh nghiệp phát hành hoặc trái phiếu chính phủ Thông qua cơ chế tín dụng ngắn hạn, ngân hàng trung ương thực hiện tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các chứng từ có giá để đưa tiền vào lưu thông Khối lượng tiền phát hành phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tiền trong từng thời kỳ

Trang 5

- NHTW tham gia và kiểm soát chặt chẽ việc tạo tiền chuyển khoản của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng

Tiển chuyển khoản được tạo ra thông qua nghiệp vụ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng Cơ chế tạo tiền này không thể thiếu được sự tham gia và kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương Nghiệp vụ kiểm soát này được thực hiện bằng việc định ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cơ cấu hợp lý giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản, lãi suất tái chiết khầu… và giao dịch tín dụng, thanh toán với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là ngân hàng trung ương thực hiện nội dung chức năng phát hành tiền

Việc phát hành tiền của ngân hàng trung ương theo các kênh sau:

+ Cho vay các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng Ngân hàng trung ương phát hành tiền qua hoạt động cấp tín dụng, dưới hình thức tái chiết khấu, hoặc tái cầm cố các chứng từ có giá của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Đây là kênh phát hành tiền quan trọng nhất và phù hợp với cơ chế phát hành tiền hiện nay

+ Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ Ngân hàng trung ương phát hành tiền để mua vàng và ngoại tệ nhằm làm tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều tiết tỷ giá hối đoái khi cần thiết

+ Ngân sách nhà nước vay Chính phủ vay của ngân hàng trung ương trong trường hợp ngân sách nhà nước bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi Cũng có thể NHTW phải ứng trước cho chính phủ, trong trường hợp NSNN chi trước và thu sau Những khoản cho chính phủ vay quan trọng nhất là NHTW tái chiết khấu, tái cầm cố các loại trái phiếu của chính phủ thông qua các ngân hàng thương mại

+ Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng trung ương phát hành tiền mua các chứng từ có giá ngắn hạn trên thị trường mở, nhằm để tăng khối lượng tiền cung ứng, khi có sự tăng lên của nhu cầu tiền

b Chức năng ngân hàng của các ngân hàng

- Quản lý tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng

+ Tài khoản tiền gửi thanh toán Ngân hàng trung ương buộc các NHTM phải

mở tài khoàn tiền gửi thanh toán và duy trì thường xuyên một lượng tiền trên tài khoản này để thực hiện nghĩa vụ chi trả với các ngân hàng khác trong toàn hệ thống ngân hàng

+ Tài khoản tiền gửi dự trữ bắt buộc Ngân hàng trung ương nhận tiền gửi dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại theo quy định Mục đích của dự trữ bắt buộc là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và sử dụng nó là công cụ để điều tiết lượng tiền cung ứng

- Cho vay đối với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng

Ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái chiết khấu được tái cầm cố các chứng từ có giá Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương luôn là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng thương mại

- Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 6

Các ngân hàng thương mại đều mở tài khoản tiền gửi thanh toán và gửi tiền vào các tài khoản này tại ngân hàng trung ương Cho nên, ngân hàng trung ương có thể tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt cho các ngân hàng thương mại thông qua hình thức thanh toán bù trừ trong toàn hệ thống ngân hàng

- Thực hiện quản lý nhà nước và kiểm soát hoạt động đối với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng, bao gồm:

+ Cấp giấy phép hoạt động

+ Quy định nội dung, phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải tuân thủ

+ Kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các ngân hàng thương mại

+ Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể ngân hàng thương mại trong trường hợp mất khả năng thanh toán

c Chức năng ngân hàng nhà nước

- Ngân hàng trung ương xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia Quản

lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối nội cũng như đối ngoại

- Nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, cho ngân sách nhà nước vay khi ngân sách bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi, quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia

- Thay mặt chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toán với nước ngoài và tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế

- Đại diện cho chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài chính tín dụng quốc tế với cương vị là thành viên của các tổ chức này

5.1.4 Vai trò của ngân hàng trung ương

a Điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế Do đó, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất đối với ngân hàng trung ương

Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động kinh tế theo thời gian trước thăng trầm theo chu kỳ Từ đó, nhu cầu về tiền cũng biến động tương ứng Cần phải điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với sự diễn biến trên của nền kinh tế, để góp phần thúc đẩy tăng trưởng và kiềm chế lạm phát

Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông để phục vụ cho sự ổn định và phát triển kinh tế, chỉ có hiệu quả trong những điều kiện có sự phối hợp đồng bộ với quá trình sử dụng linh hoạt các công cụ kinh tế - tài chính khác

b Thiết lập và điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý

- Ngân hàng trung ương tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, nhằm thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý nhất và có hiệu quả cao

Trang 7

- Với việc xây dựng chính sách, cơ chế tín dụng và tài trợ vốn cho nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và ngân sách nhà nước để thực hiện có hiệu quả cơ cấu kinh tế đã thiết lập

- Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, ngân hàng trung ương góp phần điều chỉnh kịp thời cơ cấu kinh tế cho phù hợp với thực tiễn trong nước và hội nhập kinh tế

c Ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia

Ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình để khống chế tỷ lệ lạm phát hàng năm, tạo ra sự cân đối giữa tổng cung và tổng cầu về tiền trong nền kinh

tế Từ đó góp phần ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia

Mặt khác, ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối để giữ vững

tỷ giá hối đoái hoặc chủ động điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia Nhờ đó, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa tăng cường nhập khẩu phục vụ cho mục tiêu kinh tế đã được hoạch định

Ổn định sức mua đồng tiền quốc gia có nghĩa là cố định nó Sức mua đối nội cũng như đối ngoại của đồng tiền có thể biến động trong một thời kỳ nào đó Song sự biến động ấy cần được kiểm soát và duy trì ở mức độ hợp lý Sự biến động ấy phải được sử dụng để điều chỉnh có lợi cho nền kinh tế quốc dân

d Điều chỉnh hoạt động đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng

Thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng Ngân hàng trung ương chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng Trong cơ chế thị trường, vai trò này được phát huy chỉ khi ngân hàng trung ương thực sự là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Đồng thời, việc chỉ huy hệ thống ngân hàng là một trong những giải pháp hữu hiệu để sử dụng các công cụ tiển tệ, tín dụng và thanh toán phục vụ cho các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra liên tục và sôi động diễn ra trên khắp đất nước

Việc điều chỉnh hoạt động của hệ thống ngân hàng được thực hiện bằng các định hướng có căn cứ khoa học, sự nắm bắt các tín hiệu thị trường nhanh nhạy, sự phân tích sắc bén diễn biến trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng, trên các loại thị trường (tiền tệ, vốn hối đoái…) và đưa ra những giải pháp điều chỉnh hữu hiệu

Sự chỉ huy của ngân hàng trung ương đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng chỉ có thể thực hiện có hiệu quả trên cơ sở dựa vào hành lang pháp lý nghiêm ngặt, đồng thời phải có được một đội ngũ cán bộ điều hành và cán bộ nghiệp vụ thành thạo về chuyên môn

5.2 Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, mà ngân hàng trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định

Chính sách tiền tệ có thể được điều chỉnh theo một trong hai hướng sau:

- Chính sách tiền tệ mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm

khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm

Trang 8

- Chính sách tiền tệ thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm

hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế Chính sách tiền tệ theo hướng này nhằm đạt mục đích kiềm chế lạm phát

5.2.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

a Mục tiêu cao nhất

Các mục tiêu của chính sách tiền tệ cơ bản là thống nhất Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu ổn định tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh

tế và nhằm tạo việc làm Đây là mục tiêu cao nhất

Ổn định tiền tệ

Ổn định tiền tệ: là ổn định sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia

- Ổn định sức mua đối nội là ổn định sức mua của đồng tiền đối với hàng hoá

và dịch vụ trong nước (ổn định giá cả) Nền kinh tế có lạm phát hoặc thiểu phát thì sức mua đồng tiền không ổn định Do đó, kiểm soát lạm phát và duy trì lạm phát thấp là thể hiện cụ thể của mục tiêu này Khi có mức lạm phát thấp sẽ là nhân tố cần thiết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

- Ổn định sức mua đối ngoại là ổn định tỷ giá hối đoái khi tỷ giá hối đoái biến động quá mức sẽ ảnh hưởng xấu tới hoạt động xuất nhập khẩu, các hoạt động đối ngoại khác làm giảm thấp uy tín quốc gia và sự ổn định kinh tế trong nước Do đó, ổn định tỷ giá hối đoái được coi là mục tiêu quan trọng

Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế: Được đo bằng tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế, hoặc là tỷ lệ tăng trưởng GDP danh nghĩa sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng kỳ

Một nền kinh tế phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của mọi chính sách kinh tế vĩ mô Khi đạt được mục tiêu này sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho nền kinh tế: tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nâng cao thu nhập cho người lao động, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế…

Thực hiện mục tiêu này, Ngân hàng trung ương cung ứng thêm tiền vào lưu thông, trong khi cầu tiền chưa có gì biến động, làm cho lãi suất thị trường giảm Lãi suất thấp sẽ kích thích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất Thêm vào

đó chi phí cơ hội của việc giữ tiền giảm sẽ khuyến khích dân chúng tiêu dùng, dẫn tới tổng cầu tăng, sản lượng của nền kinh tế sẽ tăng

Tạo việc làm Nền kinh tế có một tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ có tác động tốt, nó tạo ra thị trường lao động sẵn sàng cung ứng cho các dự án đầu tư và mở rộng sản xuất Thông thường mức cung tiền tăng dẫn tới việc gia tăng đầu tư Đầu tư tăng lên nghĩa là các ngành kinh tế được phát triển và mở rộng sản xuất, cần bổ sung thêm lao động, tức là công

ăn việc làm tăng

Giữ ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau Ngân hàng trung ương không thể cùng một lúc đạt được cả ba mục tiêu Do vậy, đưa mục tiêu nào lên hàng đầu là tuỳ theo điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ Đa số các nước coi ổn định tiền tệ là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ

Trang 9

b Mục tiêu trung gian

Là mục tiêu được Ngân hàng trung ương lựa chọn để đạt tới mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương các nước thường dựa vào ba mục tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu trung gian:

+ Phải đo lường được mục tiêu cao nhất

+ Phải kiểm soát được mục tiêu cao nhất

+ Phải có khả năng tác động trực tiếp tới mục tiêu cao nhất

Các chỉ tiêu được lựa chọn thường là khối tiền tệ cung ứng MS (M1, M2, M3,

…) hoặc lãi suất thị trường (ngắn hạn hoặc dài hạn) Ngân hàng trung ương chỉ chọn một trong hai chỉ tiêu trên làm mục tiêu trung gian, bởi lẽ nếu khối lượng tiền cung ứng thì phải chịu sự biến động của lãi suất và ngược lại

Cả hai chỉ tiêu: khối lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường đều đáp ứng đầy

đủ cả ba tiêu chuẩn trên, vì vậy nó đều có thể được chọn làm mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách tiền tệ ở nhiều nước, thường thiên về lựa chọn khối lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian hơn là chọn lãi suất thị trường

c Mục tiêu hoạt động

Đó là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ chính sách tiền tệ

Tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu hoạt động như tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu trung gian Các chỉ tiêu được chọn làm mục tiêu hoạt động là dự trữ của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường liên ngành ngân hàng

Chỉ tiêu dự trữ của Ngân hàng thương mại được chọn trong trường hợp hệ thống tài chính chưa phát triển hoặc các điều kiện kinh tế ít nhạy cảm với tác động của lãi suất Chỉ tiêu lãi suất thị trường liên ngành ngân hàng được chọn trong trường hợp hệ thống tài chính tương đối phát triển, các mức lãi suất thị trường có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau

Các loại mục tiêu của chính sách tiền tệ có mối liên quan chặt chẽ với nhau Mục tiêu cao nhất được coi là mục tiêu cơ bản nhất, là đích cuối cùng của chính sách tiền tệ

5.2.2 Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ

a Chính sách tín dụng

Nội dung của chính sách tín dụng là cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Dựa vào các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội và với chính sách tín dụng đã được xác định, vốn tín dụng vận động hợp lý tới nơi cần

Chính sách tín dụng bao gồm hai nội dung cụ thể:

- Chính sách lãi suất, căn cứ vào trình độ phát triển và cơ chế quản lý kinh tế, Ngân hàng trung ương sẽ xây dựng và ban hành chính sách lãi suất thích hợp, để thi hành thống nhất trong hệ thống ngân hàng Đó có thể là lãi suất sàn, lãi suất trần, lãi suất cơ bản, lãi suất thoả thuận…

Trang 10

- Chính sách và quy chế tín dụng, tuỳ thuộc vào khả năng nguồn vốn, nhu cầu vốn của nền kinh tế, Ngân hàng trung ương xây dựng chính sách và quy chế tín dụng

để huy động nguồn vốn trong xã hội và mở rộng cho vay ở mức cao nhất

b Chính sách ngoại hối

Chính sách ngoại hối nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các loại ngoại hối (vàng, ngoại tệ và các phương tiện có giá trị thanh toán ngoại hối) phục vụ có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Chính sách ngoại hối bao gồm các nội dung:

- Chính sách tỷ giá hối đoái Ngân hàng trung ương lựa chọn một chế độ tỷ giá

và quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái khi cần thiết Bởi lẽ, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu, đến việc làm cho người lao động

- Chính sách quản lý ngoại hối: Chính sách này hướng vào việc ngăn chặn dự trữ ngoại hối không hợp lý trong các pháp nhân và thể nhân, quản lý việc mua bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng

- Chính sách dự trữ ngoại hối: Dự trữ một lượng ngoại hối để phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền trong nước là cần thiết cho mỗi quốc gia Bởi vậy, Ngân hàng trung ương cần có chính sách mua bán ngoại tệ và vàng

để tăng quỹ dự trữ ngoại hối theo kế hoạch nhà nước đề ra hoặc điều chỉnh tỷ giá hối đoái khi cần thiết

c Chính sách đối với ngân sách

Chính sách này nhằm đảm bảo cung cấp phương tiện thanh toán cho chính phủ trong trường hợp Ngân sách nhà nước bội chi, Ngân hàng trung ương thực hiện cho vay để chính phủ giảm bớt khó khăn Tuy nhiên, khi cho vay sẽ làm tăng khối lượng tiền tệ, gây áp lực lạm phát tiềm tàng Nhưng trong trường hợp cần thiết Ngân hàng trung ương phải đảm bảo phương tiện thanh toán cho chính phủ

5.2.3 Công cụ của chính sách tiền tệ

5.2.3.1 Công cụ trực tiếp

Đó là những công cụ mà ngân hàng trung ương có thể sử dụng để tác động trực tiếp vào mục tiêu trung gian, qua đó đạt được mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ

Công cụ trực tiếp thường được sử dụng trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế thị trường Khi đó thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc có mức lạm phát cao Điển hình cho loại công cụ này là lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và các hạn mức tín dụng

a Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay

Tuỳ theo mức độ phát triển của cơ chế quản lý tín dụng, Ngân hàng trung ương

có thế sử dụng công cụ này trên hai phương diện sau:

+ Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay

Nếu lãi suất tiền gửi quy định cao, sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm tăng tiền vốn cho vay, giảm tỷ lệ lạm phát Nếu lãi suất tiền gửi thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng tín dụng

Ngày đăng: 27/02/2023, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm