Sự ra đời và phát triển của NHTW các nước Trong thời kỳ đầu hoạt động các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệp vụ: nhận tiền gửi và cho vay đối với khách hàng, phát hành các kỳ phiế
Trang 1Chương 5 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
5.1 Ngân hàng trung ương
5.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của NHTW
a Sự ra đời và phát triển của NHTW các nước
Trong thời kỳ đầu hoạt động các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệp vụ: nhận tiền gửi và cho vay đối với khách hàng, phát hành các kỳ phiếu của mình vào lưu thông, thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền, đổi tiền…
Từ thế kỷ XVIII, Nhà nước của các quốc gia đã bắt đầu can thiệp vào hoạt động của hệ thống ngân hàng, bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành kỳ phiếu ngân hàng
Đến thế kỷ XIX, ở các nước phát triển có xu hướng ra đời các đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất phát hành tiền, còn các ngân hàng khác đơn thuần kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng Ở Anh năm 1844, Nhà nước cấm các ngân hàng tư nhân phát hành tiền, và toàn bộ nghiệp vụ phát hành tiền tệ được tập trung vào Anh quốc ngân hàng Ngân hàng cổ phần tư nhân Pháp thành lập năm 1800, đến năm
1948 độc quyền phát hàng giấy bạc ngân hàng trên toàn nước Pháp
Đầu thế kỷ thứ XX, ở các nước các ngân hàng được phép phát hàng tiền đều thuộc sở hữu tư nhân, Nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tế thông qua các tác động của tiền tệ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 – 1933 đã buộc Chính phủ các nước tăng cường can thiệp hơn nữa vào lĩnh vực kinh tế Ngoài việc điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, chính sách thuế… Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường – tiền tệ để góp phần giải quyết tình trạng bất ổn định trong nền kinh tế Vì thế, sau tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, phần lớn các nước đã tiến hành quốc hữu hóa hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu Nhà nước, nhằm nắm trọn quyền phát hành tiền tệ
để qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô Canada quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1938, Đức quốc hữu hóa ngân hàng phát hàng năm 1939, Pháp quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1945, Anh quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1946… Từ đó, khái niệm ngân hàng trung ương được sử dụng để thay thế cho khái niệm Ngân hàng phát hành
Ngân hàng Trung ương không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ vào lưu thông, mà còn thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, ở một số nước, ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng của Nhà nước, và người đứng đầu cơ quan quản lý cao nhất của nó là do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Ngân hàng Trung ương Nhật Bản là ngân hàng cổ phần theo luật năm 1942, trong đó cổ phần Nhà nước chiếm 55%, cổ phần thuộc sở hữu tư nhân chiếm 45%, nhưng cơ quan quản trị ngân hàng là hội đồng chính sách có bảy thành viên do Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm Ở Mỹ hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư nhân, nhưng cơ quan lãnh đạo cao nhất của ngân hàng này là Hội đồng Thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm…
b Sự ra đời và phát triển của ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 2Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập vào năm 1951, tiền thân là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Trải qua 37 năm (1951 – 1988) hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa đảm nhận chức năng của ngân hàng Trung ương là phát hành tiền, quản lý Nhà nước về các hoạt động tiền tệ - ngân hàng, vừa thực hiện chức năng của các ngân hàng thương mại Nó được tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống địa phương (chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và quận huyện) Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn này là phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung Tuy nhiên nó đã bị hạn chế là không làm tròn cả chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh tiền tệ Kết quả là nền kinh tế rơi vào tình trạng vừa thiếu tiền mặt vừa lạm phát Hoạt động mang tính bao cấp của ngân hàng Nhà nước đã dẫn đến sự phân bổ và sử dụng vốn thiếu hiệu quả
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, thi hành Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 26/3/1988, hệ thống ngân hàng một cấp được chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Nhà nước hoạt động với các chức năng là ngân hàng phát hành tiền, là cơ quan quản lý Nhà nước về tìên tệ, tín dụng và là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối của Nhà nước Với các chức năng đó, ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành ngân hàng Trung ương với đúng nghĩa của nó
Với việc đổi mới toàn diện hoạt động của hệ thống ngân hàng, Nhà nước ban hành hai Pháp lệnh ngân hàng (25/5/1990) và Luật ngân hàng (12/1997) thì ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới thực sự là ngân hàng Trung ương của Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đựơc tổ chức theo mô hình ngân hàng Trung ương trong nền kinh
tế thị trường và trực thụôc Chính Phủ Khái niệm ngân hàng trung ương lần đầu tiên được đề cập trong pháp lệnh ngân hàng Nhà nước và được hoàn thiện hơn trong qui định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng,
là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng được làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”
Quyền lực điều hành của ngân hàng Nhà nước tập trung vào ban lãnh đạo ngân hàng gồm Thống đốc và các Phó thống đốc Mô hình tổ chức theo qui định của Luật Ngân hàng Nhà nước: “Ngân hàng Nhà nước có trụ sở chính tại thủ đô Hà nội và tổ chức các chi nhánh ở những khu vực cần thiết” Nhưng do nhu cầu cung ứng tiền và quản lý Nhà nước về tiền tệ, tại các địa phương, cho nên hiện nay ở mỗi tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương đều có một chi nhánh của ngân hàng Nhà nước Các chi nhánh này thực hiện chức năng ngân hàng trung trên phạm vi tỉnh và thành phố và chịu sự lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước trung ương về tổ chức cũng như hoạt động nghiệp vụ
c Định nghĩa ngân hàng Trung ương
Ngân hàng trung ương là một định chế quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, độc quyền phát hành tiền tệ, là ngân hàng của các ngân hàng thực hiện chức năng tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ trong phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền
5.1.2 Mô hình tổ chức ngân hàng Trung ương
Trang 3Tuy có nhiều tên gọi khác nhau như ngân hàng trung ương, ngân hàng Nhà nước, ngân hàng dự trữ liên bang…nhưng chúng đều có tính chất chung, đó là một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, được độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, ban hành các văn bản pháp lý để hướng dẫn và giám sát hoạt động của các ngân hàng kinh doanh
Do tính chất đó, ngân hàng Trung ương nắm giữ một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách tiền tệ Bởi vậy, ngân hàng Trung ương có vị trí đặc thù trong bộ máy quản lý và điều hành vĩ mô của Nhà nước Cho đến nay trên thế giới có hai mô hình tổ chức và quản lý của ngân hàng Trung ương:
a Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ
Đây là mô hình phổ biến của ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới Theo mô hình này, ngân hàng Trung ương thuộc tổ chức của Chính phủ, chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
Mô hình này phù hợp với yêu cầu tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế Chính phủ quản lý trực tiếp ngân hàng Trung ương và sử dụng ngân hàng này trong việc thực hiện các chức năng của mình Ngân hàng Trung ương được coi là công cụ phục vụ cho các mục tiêu trước mắt và chiến lược của quốc gia Đồng thời thông qua chính sách tiền tệ để phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
b Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội
Theo mô hình này, ngân hàng Trung ương là do Quốc hội lập ra, chịu sự điều hành và chi phối của Quốc hội về nhân sự và các mục tiêu của chính sách tiền tệ Nó không nằm trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ Quan hệ giữa ngân hàng Trung ương
và Chính phủ là quan hệ hợp tác Ngân hàng Trung ương toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác
Tuy nhiên, không phải tất cả các ngân hàng Trung ương được tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của Chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ Mức độ độc lập của mỗi ngân hàng Trung ương phụ thuộc vào
sự chi phối của người đứng đầu Nhà nước, cơ chế lập pháp và nhân sự của ngân hàng Trung ương Điển hình cho mô hình này là Cục dự trữ liên bang Mỹ, ngân hàng dự trữ liên bang của Cộng hoà liên bang Đức, ngân hàng Trung ương Thuỵ Sỹ…Xu hướng tổ chức ngân hàng Trung ương theo mô hình này đang ngày càng tăng ở các nước thị trường phát triển
c Mô hình tổ chức và quản lý của Nhà nước đối với ngân hàng Trung ương ở một số quốc gia
* Ngân hàng Trung ương Mỹ
Ngân hàng Trung ương Mỹ gọi là Cục dự trữ liên bang, là một ngân hàng cổ phần, gồm 12 chi nhánh ở 12 khu vực phân bố đều trong khắp nước
Trang 4Cục dự trữ liên bang Mỹ thực hiện chức năng của ngân hàng Trung ương đồng thời còn thể hiện vai trò như một ngân hàng phục vụ ngân khố Mỹ Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Cục là Hội đồng thống đốc gồm 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Thượng nghị viện bổ nhiệm
Cục dự trữ liên bang Mỹ hoạt động độc lập Mọi quyết định của Cục không phải thông qua Tổng thống, mà chỉ báo cáo với Quốc hội
Mục tiêu hoạt động của Cục là ổn định tiền tệ tạo việc làm, ổn định giá cả và ấn định mức lãi suất thích hợp
* Ngân hàng Trung ương Cộng hoà liên bang Đức
Ngân hàng Trung ương Đức là một pháp nhân trực thuộc chính quyền liên bang, vốn pháp định thuộc sở hữu liên bang
Ngân hàng Trung ương Đức độc lập thực thi chính sách tiền tệ, không bị ràng buộc bởi Chính phủ
Mục tiêu hoạt động: Bảo vệ đồng tiền, giám sát thanh toán đối nội và đối ngoại, kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông và cung cấp tín dụng cho nền kinh tế
* Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản là một ngân hàng cổ phần (theo đạo luật 1942), trong đó 55% cổ phần thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và 45% thuộc sở hữu
tư nhân
Cơ quan quản trị ngân hàng là Hội đồng chính sách có 7 thành viên do Chính phủ bổ nhiệm
Mục tiêu hoạt động: Theo mục tiêu của Quốc gia
* Ngân hàng Trung ương Trung Quốc
Ngân hàng Trung ương Trung Quốc trực thuộc Quốc vụ viện, vốn do Nhà nước cấp và thuộc sở hữu Nhà nước
Độc lập với Chính phủ trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ Mục tiêu hoạt động: Ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
5.1.3 Chức năng của ngân hàng trung ương
a Chức năng phát hành tiền
Tiền trong lưu thông bao gồm các loại: giấy bạc ngân hàng, tiền kim loại và tiền chuyển khoản (bút tệ)
- NHTW giữ độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại
Ngày nay, việc phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại không còn dựa trên cơ sở dự trữ vàng Nó được thực hiện dựa trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ thể hiện trên các giấy nhận nợ do các doanh nghiệp phát hành hoặc trái phiếu chính phủ Thông qua cơ chế tín dụng ngắn hạn, ngân hàng trung ương thực hiện tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các chứng từ có giá để đưa tiền vào lưu thông Khối lượng tiền phát hành phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tiền trong từng thời kỳ
Trang 5- NHTW tham gia và kiểm soát chặt chẽ việc tạo tiền chuyển khoản của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng
Tiển chuyển khoản được tạo ra thông qua nghiệp vụ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng Cơ chế tạo tiền này không thể thiếu được sự tham gia và kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương Nghiệp vụ kiểm soát này được thực hiện bằng việc định ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cơ cấu hợp lý giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản, lãi suất tái chiết khầu… và giao dịch tín dụng, thanh toán với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là ngân hàng trung ương thực hiện nội dung chức năng phát hành tiền
Việc phát hành tiền của ngân hàng trung ương theo các kênh sau:
+ Cho vay các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng Ngân hàng trung ương phát hành tiền qua hoạt động cấp tín dụng, dưới hình thức tái chiết khấu, hoặc tái cầm cố các chứng từ có giá của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Đây là kênh phát hành tiền quan trọng nhất và phù hợp với cơ chế phát hành tiền hiện nay
+ Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ Ngân hàng trung ương phát hành tiền để mua vàng và ngoại tệ nhằm làm tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều tiết tỷ giá hối đoái khi cần thiết
+ Ngân sách nhà nước vay Chính phủ vay của ngân hàng trung ương trong trường hợp ngân sách nhà nước bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi Cũng có thể NHTW phải ứng trước cho chính phủ, trong trường hợp NSNN chi trước và thu sau Những khoản cho chính phủ vay quan trọng nhất là NHTW tái chiết khấu, tái cầm cố các loại trái phiếu của chính phủ thông qua các ngân hàng thương mại
+ Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng trung ương phát hành tiền mua các chứng từ có giá ngắn hạn trên thị trường mở, nhằm để tăng khối lượng tiền cung ứng, khi có sự tăng lên của nhu cầu tiền
b Chức năng ngân hàng của các ngân hàng
- Quản lý tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán Ngân hàng trung ương buộc các NHTM phải
mở tài khoàn tiền gửi thanh toán và duy trì thường xuyên một lượng tiền trên tài khoản này để thực hiện nghĩa vụ chi trả với các ngân hàng khác trong toàn hệ thống ngân hàng
+ Tài khoản tiền gửi dự trữ bắt buộc Ngân hàng trung ương nhận tiền gửi dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại theo quy định Mục đích của dự trữ bắt buộc là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và sử dụng nó là công cụ để điều tiết lượng tiền cung ứng
- Cho vay đối với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng
Ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái chiết khấu được tái cầm cố các chứng từ có giá Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương luôn là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng thương mại
- Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 6Các ngân hàng thương mại đều mở tài khoản tiền gửi thanh toán và gửi tiền vào các tài khoản này tại ngân hàng trung ương Cho nên, ngân hàng trung ương có thể tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt cho các ngân hàng thương mại thông qua hình thức thanh toán bù trừ trong toàn hệ thống ngân hàng
- Thực hiện quản lý nhà nước và kiểm soát hoạt động đối với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng, bao gồm:
+ Cấp giấy phép hoạt động
+ Quy định nội dung, phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải tuân thủ
+ Kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các ngân hàng thương mại
+ Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể ngân hàng thương mại trong trường hợp mất khả năng thanh toán
c Chức năng ngân hàng nhà nước
- Ngân hàng trung ương xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia Quản
lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối nội cũng như đối ngoại
- Nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, cho ngân sách nhà nước vay khi ngân sách bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi, quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia
- Thay mặt chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toán với nước ngoài và tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế
- Đại diện cho chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài chính tín dụng quốc tế với cương vị là thành viên của các tổ chức này
5.1.4 Vai trò của ngân hàng trung ương
a Điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế Do đó, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất đối với ngân hàng trung ương
Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động kinh tế theo thời gian trước thăng trầm theo chu kỳ Từ đó, nhu cầu về tiền cũng biến động tương ứng Cần phải điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với sự diễn biến trên của nền kinh tế, để góp phần thúc đẩy tăng trưởng và kiềm chế lạm phát
Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông để phục vụ cho sự ổn định và phát triển kinh tế, chỉ có hiệu quả trong những điều kiện có sự phối hợp đồng bộ với quá trình sử dụng linh hoạt các công cụ kinh tế - tài chính khác
b Thiết lập và điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý
- Ngân hàng trung ương tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, nhằm thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý nhất và có hiệu quả cao
Trang 7- Với việc xây dựng chính sách, cơ chế tín dụng và tài trợ vốn cho nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và ngân sách nhà nước để thực hiện có hiệu quả cơ cấu kinh tế đã thiết lập
- Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, ngân hàng trung ương góp phần điều chỉnh kịp thời cơ cấu kinh tế cho phù hợp với thực tiễn trong nước và hội nhập kinh tế
c Ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia
Ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình để khống chế tỷ lệ lạm phát hàng năm, tạo ra sự cân đối giữa tổng cung và tổng cầu về tiền trong nền kinh
tế Từ đó góp phần ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia
Mặt khác, ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối để giữ vững
tỷ giá hối đoái hoặc chủ động điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia Nhờ đó, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa tăng cường nhập khẩu phục vụ cho mục tiêu kinh tế đã được hoạch định
Ổn định sức mua đồng tiền quốc gia có nghĩa là cố định nó Sức mua đối nội cũng như đối ngoại của đồng tiền có thể biến động trong một thời kỳ nào đó Song sự biến động ấy cần được kiểm soát và duy trì ở mức độ hợp lý Sự biến động ấy phải được sử dụng để điều chỉnh có lợi cho nền kinh tế quốc dân
d Điều chỉnh hoạt động đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng
Thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng Ngân hàng trung ương chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng Trong cơ chế thị trường, vai trò này được phát huy chỉ khi ngân hàng trung ương thực sự là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển hệ thống ngân hàng Đồng thời, việc chỉ huy hệ thống ngân hàng là một trong những giải pháp hữu hiệu để sử dụng các công cụ tiển tệ, tín dụng và thanh toán phục vụ cho các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra liên tục và sôi động diễn ra trên khắp đất nước
Việc điều chỉnh hoạt động của hệ thống ngân hàng được thực hiện bằng các định hướng có căn cứ khoa học, sự nắm bắt các tín hiệu thị trường nhanh nhạy, sự phân tích sắc bén diễn biến trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng, trên các loại thị trường (tiền tệ, vốn hối đoái…) và đưa ra những giải pháp điều chỉnh hữu hiệu
Sự chỉ huy của ngân hàng trung ương đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng chỉ có thể thực hiện có hiệu quả trên cơ sở dựa vào hành lang pháp lý nghiêm ngặt, đồng thời phải có được một đội ngũ cán bộ điều hành và cán bộ nghiệp vụ thành thạo về chuyên môn
5.2 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, mà ngân hàng trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định
Chính sách tiền tệ có thể được điều chỉnh theo một trong hai hướng sau:
- Chính sách tiền tệ mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm
khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm
Trang 8- Chính sách tiền tệ thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm
hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế Chính sách tiền tệ theo hướng này nhằm đạt mục đích kiềm chế lạm phát
5.2.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
- Ổn định sức mua đối nội là ổn định sức mua của đồng tiền đối với hàng hoá
và dịch vụ trong nước (ổn định giá cả) Nền kinh tế có lạm phát hoặc thiểu phát thì sức mua đồng tiền không ổn định Do đó, kiểm soát lạm phát và duy trì lạm phát thấp là thể hiện cụ thể của mục tiêu này Khi có mức lạm phát thấp sẽ là nhân tố cần thiết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
- Ổn định sức mua đối ngoại là ổn định tỷ giá hối đoái khi tỷ giá hối đoái biến động quá mức sẽ ảnh hưởng xấu tới hoạt động xuất nhập khẩu, các hoạt động đối ngoại khác làm giảm thấp uy tín quốc gia và sự ổn định kinh tế trong nước Do đó, ổn định tỷ giá hối đoái được coi là mục tiêu quan trọng
Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế: Được đo bằng tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế, hoặc là tỷ lệ tăng trưởng GDP danh nghĩa sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng kỳ
Một nền kinh tế phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của mọi chính sách kinh tế vĩ mô Khi đạt được mục tiêu này sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho nền kinh tế: tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nâng cao thu nhập cho người lao động, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế…
Thực hiện mục tiêu này, Ngân hàng trung ương cung ứng thêm tiền vào lưu thông, trong khi cầu tiền chưa có gì biến động, làm cho lãi suất thị trường giảm Lãi suất thấp sẽ kích thích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất Thêm vào
đó chi phí cơ hội của việc giữ tiền giảm sẽ khuyến khích dân chúng tiêu dùng, dẫn tới tổng cầu tăng, sản lượng của nền kinh tế sẽ tăng
Tạo việc làm
Nền kinh tế có một tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ có tác động tốt, nó tạo ra thị trường lao động sẵn sàng cung ứng cho các dự án đầu tư và mở rộng sản xuất Thông thường mức cung tiền tăng dẫn tới việc gia tăng đầu tư Đầu tư tăng lên nghĩa là các ngành kinh tế được phát triển và mở rộng sản xuất, cần bổ sung thêm lao động, tức là công
ăn việc làm tăng
Giữ ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau Ngân hàng trung ương không thể cùng một lúc đạt được cả ba mục tiêu Do vậy, đưa mục tiêu nào lên hàng đầu là tuỳ theo điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ Đa số các nước coi ổn định tiền tệ là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ
Trang 9b Mục tiêu trung gian
Là mục tiêu được Ngân hàng trung ương lựa chọn để đạt tới mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương các nước thường dựa vào ba mục tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu trung gian:
+ Phải đo lường được mục tiêu cao nhất
+ Phải kiểm soát được mục tiêu cao nhất
+ Phải có khả năng tác động trực tiếp tới mục tiêu cao nhất
Các chỉ tiêu được lựa chọn thường là khối tiền tệ cung ứng MS (M1, M2, M3,
…) hoặc lãi suất thị trường (ngắn hạn hoặc dài hạn) Ngân hàng trung ương chỉ chọn một trong hai chỉ tiêu trên làm mục tiêu trung gian, bởi lẽ nếu khối lượng tiền cung ứng thì phải chịu sự biến động của lãi suất và ngược lại
Cả hai chỉ tiêu: khối lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường đều đáp ứng đầy
đủ cả ba tiêu chuẩn trên, vì vậy nó đều có thể được chọn làm mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách tiền tệ ở nhiều nước, thường thiên về lựa chọn khối lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian hơn là chọn lãi suất thị trường
Chỉ tiêu dự trữ của Ngân hàng thương mại được chọn trong trường hợp hệ thống tài chính chưa phát triển hoặc các điều kiện kinh tế ít nhạy cảm với tác động của lãi suất Chỉ tiêu lãi suất thị trường liên ngành ngân hàng được chọn trong trường hợp hệ thống tài chính tương đối phát triển, các mức lãi suất thị trường có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau
Các loại mục tiêu của chính sách tiền tệ có mối liên quan chặt chẽ với nhau Mục tiêu cao nhất được coi là mục tiêu cơ bản nhất, là đích cuối cùng của chính sách tiền tệ
5.2.2 Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ
a Chính sách tín dụng
Nội dung của chính sách tín dụng là cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Dựa vào các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội và với chính sách tín dụng đã được xác định, vốn tín dụng vận động hợp lý tới nơi cần
Chính sách tín dụng bao gồm hai nội dung cụ thể:
- Chính sách lãi suất, căn cứ vào trình độ phát triển và cơ chế quản lý kinh tế, Ngân hàng trung ương sẽ xây dựng và ban hành chính sách lãi suất thích hợp, để thi hành thống nhất trong hệ thống ngân hàng Đó có thể là lãi suất sàn, lãi suất trần, lãi suất cơ bản, lãi suất thoả thuận…
Trang 10- Chính sách và quy chế tín dụng, tuỳ thuộc vào khả năng nguồn vốn, nhu cầu vốn của nền kinh tế, Ngân hàng trung ương xây dựng chính sách và quy chế tín dụng
để huy động nguồn vốn trong xã hội và mở rộng cho vay ở mức cao nhất
b Chính sách ngoại hối
Chính sách ngoại hối nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các loại ngoại hối (vàng, ngoại tệ và các phương tiện có giá trị thanh toán ngoại hối) phục vụ có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách ngoại hối bao gồm các nội dung:
- Chính sách tỷ giá hối đoái Ngân hàng trung ương lựa chọn một chế độ tỷ giá
và quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái khi cần thiết Bởi lẽ, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu, đến việc làm cho người lao động
- Chính sách quản lý ngoại hối: Chính sách này hướng vào việc ngăn chặn dự trữ ngoại hối không hợp lý trong các pháp nhân và thể nhân, quản lý việc mua bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng
- Chính sách dự trữ ngoại hối: Dự trữ một lượng ngoại hối để phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền trong nước là cần thiết cho mỗi quốc gia Bởi vậy, Ngân hàng trung ương cần có chính sách mua bán ngoại tệ và vàng
để tăng quỹ dự trữ ngoại hối theo kế hoạch nhà nước đề ra hoặc điều chỉnh tỷ giá hối đoái khi cần thiết
c Chính sách đối với ngân sách
Chính sách này nhằm đảm bảo cung cấp phương tiện thanh toán cho chính phủ trong trường hợp Ngân sách nhà nước bội chi, Ngân hàng trung ương thực hiện cho vay để chính phủ giảm bớt khó khăn Tuy nhiên, khi cho vay sẽ làm tăng khối lượng tiền tệ, gây áp lực lạm phát tiềm tàng Nhưng trong trường hợp cần thiết Ngân hàng trung ương phải đảm bảo phương tiện thanh toán cho chính phủ
5.2.3 Công cụ của chính sách tiền tệ
a Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
Tuỳ theo mức độ phát triển của cơ chế quản lý tín dụng, Ngân hàng trung ương
có thế sử dụng công cụ này trên hai phương diện sau:
+ Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
Nếu lãi suất tiền gửi quy định cao, sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm tăng tiền vốn cho vay, giảm tỷ lệ lạm phát Nếu lãi suất tiền gửi thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng tín dụng
Trang 11Nếu lãi suất cho vay quy định thấp, các doanh nghiệp có cơ hội vay được nhiều vốn cho sản xuất kinh doanh Nếu lãi suất cho vay cao, nó sẽ kìm bớt sự phát triển
“quá nóng” của một số ngành
Nhược điểm của biện pháp này là làm cho các ngân hàng thương mại mất đi tính linh hoạt và quyền tự chủ kinh doanh, nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ ngoại
tệ, bất động sản trong khi ngân hàng bị thiếu hụt về tiền mặt cũng như vốn cho vay
Hơn nữa, khi ngân hàng cho vay với mức lãi suất thấp là thể hiện cơ chế “xin cho”
làm cho vốn vay sử dụng kém hiệu quả
+ Ấn định khung lãi suất tiền gửi cho vay
Ngân hàng trung ương có thể quy định khung lãi suất dưới các hình thức: Lãi suất sàn và lãi suất trần, lãi suất trần và mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất tiền gửi bình quân, lãi suất trần, lãi suất cơ bản… Và bắt buộc các ngân hàng thương mại phải xây dựng biểu lãi suất kinh doanh nằm trong khung lãi suất
Biện pháp này có ưu điểm là các ngân hàng thương mại được phép xây dựng các mức lãi suất linh hoạt hơn và bước đầu có quyền tự chủ quy định mức lãi suất kinh doanh Đồng thời giúp cho các Ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho vay, loại bỏ được những dự án kinh tế kém hiệu quả Nhìn chung việc ẩn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay ngày càng ít được áp dụng ở các nước theo cơ chế thị trường Bởi vì, trong cơ chế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nó phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
b Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa Ngân hàng trung ương cho phép các ngân hàng thương mại cấp cho nền kinh tế Hạn mức này được quy định cho từng ngân hàng, căn cứ vào đặc điểm kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho các đối tượng chính sách và nằm trong tổng dư nợ tín dụng của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian nhất định Ngân hàng thương mại chỉ được cấp tín dụng cho nền kinh tế tối đa bằng hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng cung ứng cho nền kinh tế nhằm đảm bảo tăng trưởng khối lượng tiền cung ứng theo mục tiêu đã đề ra
Công cụ này kém hiệu quả điều tiết, thiếu linh hoạt, không thể thay đổi thường xuyên vì ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việc xác định hạn mức tín dụng cho các Ngân hàng thương mại rất khó, nhiều khi thiếu chính xác Khi nó lớn hơn nhu cầu tín dụng thì công cụ này không có ý nghĩa Ngược lại, nếu hạn mức tín dụng quá nhỏ, nó có thể làm tăng lãi suất tín dụng, thúc đẩy “thị trường vốn ngầm” ra đời và phát triển
5.2.3.2 Công cụ gián tiếp
Đó là công cụ Ngân hàng trung ương có thể sử dụng để tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động, nhờ sự lan truyền của cơ chế thị trường ảnh hưởng tới mục tiêu trung gian, từ đó đạt được mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ Các công cụ gián tiếp thường được sử dụng ở những nền kinh tế thị trường phát triển và có mối liên hệ chặt chẽ giữa các mức lãi suất thị trường
Trang 12a Lãi suất tái chiết khấu
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá chưa đến thời hạn thanh toán
Ngân hàng thương mại ấn định lãi suất tái chiết khấu cho từng thời kỳ, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ Lãi suất này được sử dụng để kiểm soát sự biến động lãi suất trên thị trường và điều tiết lượng tiền cung ứng
Cơ chế sử dụng:
+ Khi lãi suất tái chiết khấu tăng lên, các ngân hàng thương mại sẽ bất lợi trong việc vay vốn của Ngân hàng trung ương Trong điều kiện đó, các Ngân hàng thương mại không có khả năng mở rộng tín dụng Nghĩa là nhu cầu vay vốn của các Ngân hàng thương mại giảm, lượng tiền cung ứng giảm
+ Ngược lại, khi lãi suất tái chiết khấu giảm, các ngân hàng thương mại có khả năng mở rộng cho vay đối với khách hàng, do được lợi trong việc vay vốn của Ngân hàng trung ương Như vậy số lượng tiền cung ứng tăng lên
Sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu được coi như dấu hiệu của sự định hướng chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương Khi có chiều hướng biến động lãi suất tái chiết khấu tăng lên là dấu hiệu của chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc giảm xuống là dấu hiệu của chính sách tiền tệi mở rộng Tuy nhiên, hiệu ứng thông báo chỉ có hiệu quả khi lãi suất tái chiết khấu phù hợp với mức lãi suất thị trường
Công cụ lãi suất tái chiết khấu có khả năng điều tiết một cách linh hoạt các mục tiêu trung gian Tuy nhiên mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này căn cứ vào mức
độ phụ thuộc về vốn của Ngân hàng thương mại vào Ngân hàng trung ương, vì thế nó
là công cụ kém chủ động Để khắc phục nhược điểm này người ta thường sử dụng kết hợp với công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
b Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Theo luật định, khi các ngân hàng thương mại huy động được vốn tiền gửi trong
xã hội, phải trích ra một phần của số tiền gửi này để gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng trung ương và để tại quỹ của mình Số tiền gửi được trích là theo tỷ lệ
dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền dự trữ bắt buộc và tổng số
dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc các ngân hàng thương mại thu hút được trong khoảng thời gian nhất định
Tuỳ theo điều kiện của từng nước, trong từng thời kỳ, có nhiều quy định về việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc thể quy định riêng cho từng ngân Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
có thể quy định chung cho toàn bộ các loại tiền gửi hoặc có thể quy định đối với từng loại tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi ngắn hạn dưới một năm, tiền gửi có kỳ hạn dưới hai năm…)
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tạo điều kiện để ngân hàng trung ương kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại và quan trọng hơn là ngân hàng trung ương sử dụng để tác động đến mức cung tiền tệ
Cơ chế sử dụng:
Trang 13Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, làm thay đổi mức dự trữ bắt buộc, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng trên các phương diện sau:
+ Khi ngân hàng trung ương quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, làm giảm hoặc tăng khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh
tế Từ đó, làm giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền tệ
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần quan trong mẫu số của công thức tạo tiền Vì thế sự tăng lệ hoặc giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hoặc tăng hệ số mở rộng tiền gửi và do đó khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống ngân hàng sẽ giảm hoặc tăng lên
Cơ chế sử dụng:
Công cụ này được sử dụng theo cơ chế là mua hoặc bán các chứng từ có giá của ngân hàng trung ương với các thành viên tham gia thị trường mở
- Khi muốn gia tăng khối lượng tiền lưu thông, mở rộng tín dụng cho nền kinh
tế, Ngân hàng trung ương thực hiện mua các chứng từ có giá trên thị trường
- Ngược lại, khi muốn giảm mức cung tiền, thu hẹp tín dụng, Ngân hàng trung ương bán các chứng từ có giá đang nắm giữ
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5
Câu 1: Trình bày quá trình ra đời và phát triển của NHTW?
Câu 2: Khái niệm, chức năng của NHTW?
Câu 3: Các mô hình ngân hàng trung ương trên thế giới? Đưa ra ví dụ cụ thể? Chỉ ra
những điểm khác biệt với ngân hàng trung ương Việt Nam?
Câu 4: Vai trò của NHTW?
Câu 5: Chính sách tiền tệ là gì? Chính sách tiền tệ có thể được điều chỉnh theo những
hướng nào? Tác động của từng chính sách cụ thể đó tới nền kinh tế?
Câu 6: Mục tiêu của chính sách tiền tệ? Phân tích mối quan hệ của các mục tiêu này? Câu 7: Các mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ là gì? Phân tích các mục tiêu này? Câu 8: Có thể cùng một lúc đạt được ba mục tiêu trong nhóm mục tiêu cao nhất của
chính sách tiền tệ không? Giải thích?
Câu 9: Phân tích các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ?
Câu 10: Phân tích các mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ?
Câu 11: Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ?
Trang 14Câu 12: Các công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ? Ưu điểm và nhược điểm của
công cụ trực tiếp?
Câu 13: Công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ? Ưu điểm và nhược điểm của công
cụ gián tiếp?
Câu 14: Hiện nay, NHNN Việt Nam đang sử dụng những công cụ nào để điều tiết
lượng tiền trong lưu thông? Hiệu quả của những công cụ đó?
Câu 15: Lấy ví dụ cụ thể để minh họa cơ chế tác động của lãi suất tái chiết khấu đến
lượng cung tiền vào lưu thông?
Câu 16: Lấy ví dụ cụ thể để minh họa cơ chế tác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc đến
lượng cung tiền vào lưu thông?
Trang 15Chương 6 CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN
6.1 Những vấn đề chung về tổ chức tài chính trung gian
6.1.1 Sự ra đời của các tổ chức tài chính trung gian
Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai chủ thể đối lập nhau: người có vốn tạm thời nhàn rỗi và người cần vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng Dù là người
có vốn mong muốn tìm được người cần vốn để cho vay kiếm lời hay người cần vốn muốn tiếp xúc với người có vốn thì đều phải tốn kém chi phí giao dịch Bởi vì những người đó không thể gửi tiền, vay vốn ở những nơi không quen biết hoặc thiếu tin tưởng mà không cần luật sư, trung gian môi giới hoặc những người làm chứng khác
Những trung gian tài chính ra đời và hoạt động nhằm mục tiêu tối thiểu hóa những chi phí giao dịch giữa những người có vốn và người cần vốn, giúp người có món tiết kiệm nhỏ có cơ hội đầu tư sinh lời, giúp người cần vốn có cơ hội vay vốn Vậy những trung gian tài chính đã giảm chi phí giao dịch như thế nào?
Trước hết đó là vấn đề tiết kiệm do quy mô Việc gom vốn từ nhiều người có món tiết kiệm nhỏ và đảm bảo cho họ một lợi tức thỏa đáng, đồng thời có thể cho vay nhiều người với các món tiền lớn, nhỏ khác nhau, đem lại những lợi ích to lớn nhờ phương pháp tiết kiệm theo quy mô Theo phương pháp này, quy mô vốn đầu tư và các
vụ giao dịch tăng lên đã làm giảm chi phí giao dịch cho mỗi đơn vị tiền tệ được đầu tư
Bên cạnh đó, do đa dạng hóa danh mục đầu tư của các trung gian tài chính hoặc
số vốn gom được đủ lớn để mua một danh mục chứng khoán đa dạng hóa nên các trung gian tài chính đã phân tán rủi ro cho chính mình và cho những người có vốn
Vấn đề chuyên môn hóa trong nghề nghiệp Do tính chuyên môn hóa, các trung gian tài chính có khả năng tốt hơn để bảo toàn vốn, sử dụng vốn hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, hạ thấp chi phí giao dịch Họ sẵn sàng đưa ra những hợp đồng vay nợ ít tốn kém
và cung cấp những dịch vụ tài chính tiện lợi giá rẻ
Vì những lý do trên, các tổ chức tài chính trung gian đã ra đời và ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc truyền dẫn vốn giữa các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là các nguồn vốn ngắn hạn
6.1.2 Chức năng của các tổ chức tài chính trung gian
Các tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn vốn từ những người
có vốn tới những người cần vốn nhưng khác với tài chính trực tiếp trong thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện quá trình dẫn vốn thông qua cầu nối (có nghĩa
là để người cần vốn đến được người có vốn phải thông qua người thứ ba) Một trung gian tài chính đứng giữa người cho vay và người đi vay, giúp chuyển vốn từ người này sang người kia được gọi là tài chính gián tiếp
Các trung gian tài chính thực hiện những chức năng chủ yếu sau đây:
- Chức năng tạo vốn Để có thể cho vay hoặc đầu tư, các trung gian tài chính
tiến hành huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, phương thức huy động vốn hoặc theo thể thức tự nguyện thông qua cơ chế lãi suất hoặc theo thể thức bắt buộc qua cơ chế điều hành của Chính phủ Với chức
Trang 16năng này, các trung gian tài chính đem lại lợi ích cho chính mình và cho những người
có tiền nhàn rỗi đem gửi tại các tổ chức này
- Chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế Tiền vốn được huy động từ những
người có vốn là để thực hiện mục tiêu cung ứng vốn cho những người cần nó Trong nền kinh tế thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài Với chức năng này, các tổ chức tài chính trung gian đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu về vốn của các cá nhân và doanh nghiệp
- Chức năng kiểm soát Các trung gian tài chính thực hiện chức năng kiểm soát
nhằm giảm tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra (rủi ro kinh doanh, rủi ro đạo đức ) Yêu cầu của chức năng này là các trung gian tài chính phải thường xuyên kiểm soát người vay vốn, cả trước, trong và sau khi vay
6.1.3 Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian
Các tổ chức tài chính trung gian với nhiều loại hình khác nhau vừa đóng vai trò
là trung gian tài chính, vừa góp phần đa dạng hoá các dịch vụ tài chính cho nền kinh
tế Sự góp mặt của các tổ chức này vào hệ thống tài chính đã mang lại những tác động thiết thực hữu ích
a Tập trung các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ lẻ
Nguồn vốn tiết kiệm của cá nhân, gia đình được tạo ra nhờ có sự vượt trội giữa thu nhập với chi phí hiện tại Người có tiền tiết kiệm luôn có ý thức dùng nó để dự phòng và để sinh lãi Vì vậy họ đem số tiền đó để cho vay và các tổ chức tài chính là nơi tương đối an toàn cung cấp các dịch vụ tài chính sinh lợi Ngoài các ngân hàng thì các tổ chức tài chính phi ngân hàng với mạng lưới rộng lớn, với sự linh hoạt trong hoạt động đã tập trung được các nguồn tiết kiệm, đặc biệt là các món tiền nhỏ, lẻ để đưa vào thị trường tài chính Khi cần tăng cường huy động vốn, họ gửi tín hiệu đến người tiết kiệm dưới hình thức lãi suất cao hơn và điều này sẽ khuyến khích các gia đình giảm bớt tiêu dùng tăng cường tiết kiệm để cho vay
b Tạo cơ hội đầu tư sinh lời cho các cá nhân
Bản thân mỗi cá nhân không thể dễ dàng làm lợi từ chính món tiền của mình Món tiền đó có thể là quá nhỏ, đầu tư trực tiếp không những rủi ro cao mà phí giao dịch thì quá lớn, việc đăng ký các thủ tục kinh doanh quá phiền hà Nhờ có các tổ chức tài chính phi ngân hàng các cơ hội đầu tư cho cá nhân tăng lên Nguồn lợi sẽ mang lại cho cả hai nhờ tính kinh tế do quy mô, nhờ sự phân tán rủi ro do đa dạng hoá và nhờ việc giảm phí giao dịch trong tổng thể
c Thúc đẩy đầu tư, cạnh tranh và tiến bộ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng
Đầu tư, cho vay là một chức năng sinh lợi của các tổ chức tài chính Các tổ chức tài chính cung cấp tín dụng để hỗ trợ cho việc mua sắm hàng hoá, dịch vụ, tài trợ cho đầu tư, xây dựng nhà cửa, xa lộ, cầu cống và những công trình kiến trúc khác, đầu
tư để mua máy móc thiết bị và kết quả là làm tăng của cải xã hội, tạo ra mức sống cao hơn cho các cá nhân và gia đình Sự tham gia của ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng làm cho đầu tư thêm sôi động, làm tăng tính cạnh tranh, giảm giá vốn
và thúc đẩy sự ra đời nhiều tiến bộ tài chính mới Những năm gần đây, do xuất hiện nhiều loại hình trung gian tài chính mới nên sản phẩm tài chính ngày càng trở nên đa dạng hơn Áp lực cạnh tranh trong hệ thống đã làm cho chất lượng phục vụ được cải thiện, giá vốn đầu tư ngày càng giảm, tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho khách hàng
Trang 17Nếu như các ngân hàng đặc biệt chú trọng đến những khoản đầu tư ở những doanh nghiệp lớn thì các tổ chức tài chính phi ngân hàng tạo ra nguồn đầu tư chủ yếu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho các cá nhân, gia đình Mỗi loại hình có thế mạnh riêng nhưng tất cả đều góp phần tăng cường hiệu quả kinh tế, xã hội
d Đáp ứng nhu cầu trong việc bảo vệ tài chính
Trong cuộc sống thường nhật, rủi ro luôn là nguy cơ đối với tất cả chúng ta Rủi
ro xảy ra làm tổn thất tài chính vì vậy mọi người đều phải có dự phòng và tìm ra cách
để bảo vệ tài chính Các tổ chức tài chính phi ngân hàng là nơi giúp chúng ta thực hiện vấn đề này Họ cung cấp các hợp đồng bảo hiểm, các dịch vụ trả lương hưu…Trong hoạt động đầu tư, họ đáp ứng các nhu cầu về thông tin nếu như chúng ta muốn hoặc nhận các uỷ nhiệm nếu chúng ta cần Với nhiều loại dịch vụ khác nhau nhưng tất cả đều nhằm mục đích bảo vệ tài chính, phân tán rủi ro cho mọi người Đây là một khía cạnh đặc thù mà các tổ chức tài chính phi ngân hàng cung cấp cho xã hội
6.2 Các loại hình trung gian tài chính
Căn cứ vào những đặc trưng cơ bản về cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu sử dụng vốn, các tổ chức tài chính trung gian được chia thành:
6.2.1 Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt và là một đơn
vị kinh tế kinh doanh trong ngành dịch vụ tài chính ngân hàng
Nói ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế nghĩa
là ngân hàng thương mại hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước như các đơn
vị kinh tế khác
- Hoạt động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh Để hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại phải có vốn (vốn được cấp nếu là ngân hàng Nhà nước, được cổ đông góp vốn nếu là ngân hàng cổ phần….); phải tự chủ về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí); đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó Tuy nhiên, việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước
- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng Đây là lĩnh vực đặc biệt, vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và mặt khác,
lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm” nó đòi hỏi một sự thận trọng và
khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội
Trang 18Lĩnh vực hoạt động này của ngân hàng thương mại góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế - xã hội
Tóm lại, ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Đây là tổ chức tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển
6.2.1.2 Các loại hình ngân hàng thương mại
Người ta có thể căn cứ vào một số tiêu thức để phân chia thành các loại hình ngân hàng thương mại:
* Căn cứ tiêu thức sở hữu và góp vốn:
Ngân hàng thương mại chia thành bốn loại:
- Ngân hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước, được thành lập bằng 100% vốn của ngân sách Nhà nước cấp
- Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng được thành lập dưới hình thức một công ty cổ phần, vốn của nó là do cổ đông đóng góp
- Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng được thành lập dưới hình thức góp vốn liên doanh giữa các đối tác sở hữu khác nhau
- Ngân hàng thương mại nước ngoài (chi nhánh) là ngân hàng được thành lập theo pháp luật và thuộc sở hữu của nước ngoài Được Chính phủ nước sở tại cấp giấy phép hoạt động và tuân thủ theo luật pháp của nước đó
* Căn cứ vào tiêu thức số lượng chi nhánh:
Ngân hàng thương mại chia thành hai loại:
- Ngân hàng thương mại duy nhất là loại hình ngân hàng thương mại chỉ có một hội sở hoạt động duy nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia
- Ngân hàng thương mại mạng lưới là loại hình ngân hàng thương mại có hội sở Trung ương và các chi nhánh hoạt động trên lãnh thổ quốc gia và ở nước ngoài
* Căn cứ tiêu thức chuyên môn hoá hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại chia thành hai loại:
- Ngân hàng thương mại chuyên ngành là ngân hàng phục vụ cho một hay một nhóm ngành kinh tế
- Ngân hàng thương mại đa ngành là ngân hàng phục vụ cho mọi ngành kinh tế trên một địa bàn nhất định
Ngoài các tiêu thức trên, người ta còn có thể dựa vào một số tiêu thức khác để phân chia các loại ngân hàng thương mại, như doanh số hoạt động, cơ quan cấp giấy phép, nghiệp vụ kinh doanh…Tuy nhiên, cách phân loại dựa vào tiêu thức sở hữu và góp vốn được coi là ưu việt nhất Bởi lẽ, phân loại các ngân hàng thương mại theo tiêu thức này là một trong những nội dung quan trọng để Nhà nước quản lý và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng ngân hàng thương mại
6.2.1.3 Chức năng của ngân hàng thương mại
a Chức năng trung gian tín dụng
Trang 19Thứ nhất, Ngân hàng thương mại huy động các khoản tiền nhàn rỗi của các chủ
thể kinh tế trong xã hội, từ các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, cơ quan nhà nước, Ngân hàng trung ương, Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác… để hình thành nguồn vốn cho vay
Thứ hai, Ngân hàng thương mại dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay
đối với chủ thể kinh tế thiếu vốn – có nhu cầu bổ sung vốn, gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc hoặc tài khoản thanh toán tại Ngân hàng trung ương, Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng khác
Chức năng trung gian tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tác trong quan hệ tín dụng:
- Người gửi tiền thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi với khoản lãi tiền gửi Hơn nữa, Ngân hàng còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi
- Người đi vay thoả mãn được nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, mà không phải tốn kém nhiều chi phí và thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung cấp vốn
- Bản thân Ngân hàng thương mại sẽ thu được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới Lợi nhuận này là có sở để tồn tại và phát triển ngân hàng
- Đối với nền kinh tế, chức năng này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì
nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và
để mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
b Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán trên cơ sở những hoạt động đi vay và cho vay Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện chức năng này Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như không an toàn, chi phí lớn… đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng
Khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mại tiến hành các nghiệp vụ như: Mở tài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản và thanh toán theo yêu cầu của khách hàng Trong đó, thanh toán theo yêu cầu của khách hàng là kết quả sau khi thực hiện hai công việc trên Ngân hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng
để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi, tiền thu bán hàng và các khoản thu theo lệnh của khách hàng
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế:
- Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội vào ngân hàng, nên mọi khoản thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ trở nên thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội
Trang 20- Do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của khách hàng tới mức tối đa, mở rộng cho vay và đầu tư, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Qua chức năng này, Ngân hàng thương mại đã góp phần giám sát kỷ luật hợp đồng kinh tế, tài chính và thanh toán theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước
c Chức năng tạo tiền chuyển khoản (bút tệ)
Chức năng này được thực hiện trên cơ sở:
- Khi hệ thống Ngân hàng hai cấp đã được hình thành, các ngân hàng không còn hoạt động riêng lẻ mà theo hệ thống Trong đó Ngân hàng trung ương giữ độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và với vai trò ngân hàng của các ngân hàng Còn các ngân hàng thương mại chuyên kinh doanh tiền tệ trong mối quan hệ với các doanh nghịêp và cá nhân…
- Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, Ngân hàng sử dụng số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để thanh toán chuyển khoản cho khách hàng ở ngân hàng khác và chỉ thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền
Từ một khoản tiền gửi ban đầu, thông qua hoạt động cho vay trong hệ thống ngân hàng thương mại, số tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi ban đầu
VD: Ngân hàng Trung ương đưa ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% Ngân hàng thương mại A nhận được 100 triệu đồng tiền gửi từ khách hàng
Tình hình tài chính của ngân hàng thương mại A như sau:
- Dự trữ bắt buộc: 10 triệu
- Tín dụng: 90 triệu
- Tiền gửi của khách hàng: 100 triệu
Giả sử ngân hàng thương mại B vay hết số tiền này của A Tình hình tài chính của ngân hàng thương mại B như sau:
- Dự trữ bắt buộc: 9 triệu
- Tín dụng: 81 triệu
- Tiền đi vay: 90 triệu
Giả sử ngân hàng thương mại C vay hết số tiền này của B Tình hình tài chính của ngân hàng thương mại C như sau:
- Dự trữ bắt buộc: 8,1 triệu
- Tín dụng: 72,9 triệu
- Tiền đi vay: 81 triệu
Đến lượt ngân hàng thương mại C cho vay, tình hình cũng diễn ra tương tự Vì các ngân hàng thương mại phải thực hiện dự trữ bắt buộc tại ngân hàng Trung ương nên số tiền cho vay giảm dần và đi tới triệt tiêu Nói cách khác, quá trình huy động tiền gửi và cho vay của các ngân hàng thương mại trên cơ sở lượng tiền mặt khách hàng gửi vào ban đầu sẽ được kéo dài và chỉ dừng lại khi nào toàn bộ lượng tiền gửi ban đầu
đó quay trở về ngân hàng Trung ương dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc
Trang 21Khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại phụ thuộc vào các yếu tố như: tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ dư thừa và tỷ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi thanh toán
Mở rộng tiền gửi là chức năng vốn có của hệ thống ngân hàng thương mại, gắn liền với hoạt động tín dụng và thanh toán Hay nói cách khác, khi ngân hàng cung ứng tín dụng bằng chuyển khoản là nó tạo ra tiền và tăng lượng tiền cung ứng, khi thu nợ, lượng tiền cung ứng giảm xuống
Như vậy, lượng tiền trong giao dịch không chỉ là giấy bạc ngân hàng do ngân hàng Trung ương phát hành, mà một bộ phận quan trọng là tiền chuyển khoản (bút tệ)
do các ngân hàng thương mại tạo ra
Chức năng tạo tiền có ý nghĩa quan trọng:
- Khối lượng tiền do các Ngân hàng thương mại tạo ra có ý nghĩa lớn, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quá trình sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền của xã hội
- Việc tạo ra tiền chuyển khoản để thay thế cho tiền mặt là một sang kiến quan trọng thứ hai của lịch sử hoạt động ngân hàng Chính nhờ phương thức tạo tiền đã tiết kiệm được chi phí lưu thông và ngân hàng trở thành trung tâm của đời sống kinh tế -
- Vốn điều lệ: Là vốn được ghi trong điều lệ hoạt động và trong giấy phép hoạt
động của ngân hàng Vốn điều lệ là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp, vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc tối thiểu bằng vốn pháp định, vốn điều lệ phụ thuộc vào hình thức sở hữu của ngân hàng
Nếu là ngân hàng quốc doanh thì vốn điều lệ là vốn của Nhà nước Nếu là ngân hàng cổ phần thì vốn điều lệ là vốn góp của các cổ đông Nếu là ngân hàng tư nhân thì vốn điều lệ là vốn góp của cá nhân Nếu là ngân hàng liên doanh thì vốn điều lệ là vốn góp của ngân hàng bản xứ và ngân hàng nước ngoài
- Các quỹ và lợi nhuận chưa chia:
Các quỹ của ngân hàng thương mại thường có:
+ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ
+ Quỹ phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng
+ Quỹ khen thưởng phúc lợi
Các quỹ này của ngân hàng thương mại đều được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm để lập quỹ Như vậy ngân hàng thương mại nào kinh doanh có lãi cao thì nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tăng nhanh, còn ngân hàng thương mại nào kinh doanh có lãi thấp thì nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tăng chậm
Trang 22Ngoài việc trích lập các quỹ trên từ lãi ròng hàng năm, ngân hàng thương mại phải lập quỹ dự phòng tài chính (quỹ dự phòng rủi ro), quỹ này được tính vào chi phí của ngân hàng
Nguồn vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của một ngân hàng thương mại, nó là tiền đề, là cơ sở để ngân hàng thu hút nguồn vốn huy động Đồng thời vốn tự có là cơ sở để xác định hệ số an toàn trong kinh doanh
a2/ Nguồn vốn huy động
Huy động vốn nhàn rỗi là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại, nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh Vốn huy động gồm có huy động tiền gửi, huy động bằng việc phát hành các giấy tờ có giá trị như kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…
* Nguồn vốn huy động tiền gửi:
Ngân hàng thương mại tập trung huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
xã hội để hình thành quỹ cho vay của mình bằng cách nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại ngoại tệ khác
- Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào,
nó có thể là tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Với tiền gửi thanh toán, người sở hữu nó chuyên dùng để thanh toán chuyển khoản và có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo trước về thời hạn
và khối lượng tiền cần rút Khách hàng gửi tiền loại này không với mục đích kiếm lời
mà chủ yếu để thực hiện các khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ
Với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, người sở hữu cũng có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào mà không cần báo trước, tuy nhiên khách hàng gửi loại tiền này không nhằm mục đích kiếm lời hay thanh toán mà chỉ để an toàn và khi họ cần sử dụng tiền thì có thể ngay lập tức rút ra
Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm các khoản tiền gửi tạm thời của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế…với mục đích chính là thanh toán chuyển khoản
Đặc trưng của loại nguồn vốn này đối với ngân hàng thương mại là biến động thường xuyên vì khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào làm cho ngân hàng bị động
sử dụng vốn kinh doanh Nhưng trong thực tế khách hàng vẫn gửi, rút thường xuyên hoặc gửi, rút mang tính chất gối đầu nên ngân hàng vẫn sử dụng vào hoạt động cho vay và đầu tư của mình trên cơ sở số dư ổn định, do kết quả bù trừ của số tiền gửi vào
và rút ra trong thời kỳ nhất định với điều kiện ngân hàng thương mại phải tính toán đầy đủ khả năng chi trả của mình, điều này đặc biệt cần được chú ý đến trong thời kỳ
có nhiều biến động trong nền kinh tế
- Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà chủ sở hữu nó chỉ có thể rút ra và có quyền hưởng 100% lãi suất theo thời hạn đã định Nhưng trong thực tế, do quy luật cạnh tranh chi phối, để thu hút được nhiều tiền gửi của khách hàng, ngân hàng thương mại cho phép khách hàng rút tiền ra trước thời hạn, nhưng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn
Trang 23Tiền gửi có kỳ hạn thường bao gồm các khoản tiền gửi của các nhà kinh doanh tiền tệ, các công ty, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
Khách hàng gửi tiền có kỳ hạn với mục đích là nhắm đến khả năng sinh lời của tiền tệ, vì vậy đối với loại tiền gửi này ngân hàng thương mại phải thực hiện chính sách lãi suất thỏa đáng cho khách hàng
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn kinh doanh mang tính chất ổn định, ngân hàng thương mại có thể sử dụng một cách chủ động để cho vay Vì vậy ngân hàng thương mại rất quan tâm và sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ để huy động loại tiền gửi này, chẳng hạn như: quy định nhiều loại thời hạn (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 2 năm, 3 năm…) Quy định nhiều mức lãi suất thích hợp, theo nguyên tắc thời gian càng dài thì lãi suất tiền gửi càng cao Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn đưa ra rất nhiều chương trình khuyến mại khác nhằm thu hút bộ phận tiền gửi này
Tiền gửi có kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn ở chỗ: Tiền gửi không kỳ hạn không phải tiền để tích lũy, mà là bộ phận tiền tệ đang chờ thanh toán, khách hàng
có thể rút hoặc sử dụng thanh toán bất kỳ lúc nào, khách hàng được sử dụng: séc, giấy chuyển tiền để thanh toán, không ổn định như tiền gửi có kỳ hạn
* Nguồn vốn huy động do phát hành các giấy tờ có giá trị:
Ngoài huy động tiền gửi, ngân hàng thương mại còn huy động vốn bằng cách phát hành các giấy tờ có giá trị Trong hình thức này, ngân hàng chủ động phát hành chứng từ có giá theo đợt để bổ sung nguồn vốn kinh doanh, bộ phận này được huy động không thường xuyên, không liên tục mà chỉ mang tính định kỳ hoặc đột xuất khi ngân hàng cần tăng vốn
- Chứng chỉ tiền gửi: Là công cụ vay nợ ngắn hạn do ngân hàng thương mại phát hành, thanh toán lãi định kỳ và thanh toán gốc khi đến hạn cho người sở hữu nó
- Trái phiếu ngân hàng: Là giấy tờ có giá trị trung và dài hạn, phổ biến là loại chứng chỉ có thời hạn một năm trở nên
b Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn ngày càng đa dạng và được thực hiện dưới nhiều hình thức:
b1/ Nghiệp vụ cho vay
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có thể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên mục đích sử dụng tiền vay Đối với các ngân hàng truyền thống, cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu và được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến sau:
+ Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ cho vay ngắn
hạn trong đó ngân hàng mua những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với giá trị bằng giá trị thương phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí Đến thời hạn thanh toán của thương phiếu, ngân hàng đòi người mắc nợ thương phiếu theo giá trị của thương phiếu
+ Cho vay ứng trước: Cho vay ứng trước là một thể thức cho vay được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó người đi vay được phép sử dụng một mức
Trang 24cho vay trong một thời hạn nhất định Để thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản cho vay, chuyển số tiền cho vay vào tài khoản đó để khách hàng sử dụng
+ Cho vay vượt chi (thấu chi): Đây là hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trước,
thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó người vay được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai Gọi là cho vay thấu chi vì về nguyên tắc, khách hàng luôn phải có số dư Có trên tài khoản tiền gửi thanh toán để sẵn sàng chi trả và chỉ được chi trong số vốn đã có của mình Như vậy ngân hàng đã tự động cho vay một số tiền theo nhu cầu thanh toán của khách hàng
Nghiệp vụ này giúp cho khách hàng sử dụng vốn chủ động, tiện lợi nhưng ngân hàng phải theo dõi chặt chẽ tài khoản này để tránh vượt chi quá hạn mức Nó thường được áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính mạnh và có uy tín
+ Tín dụng uỷ thác thu hay bao thanh toán (Factoring)
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại thông qua công ty con mình sẽ đứng ra mua nợ trên cơ sở hoá đơn, chứng từ của người bán hàng (giá mua bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị thực của khoản nợ), nhờ đó người bán (người chủ nợ) có được tiền ngay để đáp ứng nhu cầu của họ Khi đến hạn, người mua (con nợ) phải thanh toán toàn bộ số tiền cho ngân hàng (lúc này là chủ nợ mới) Thực ra factoring gần giống với nghiệp vụ chiết khấu nhưng số tiền khấu trừ trong nghiệp vụ factoring cao hơn nhiều so với nghiệp vụ chiết khấu bởi vì factoring có hệ số rủi ro cao hơn
+ Cho vay thuê mua: Cho vay thuê mua là hình thức tín dụng trung, dài hạn
được thực hiện thông qua việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác Ngân hàng sẽ dùng vốn của mình để mua tài sản theo yêu cầu của người thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước hạn Khi hết thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng Đây chính là một nghiệp vụ cho vay, bởi vì thay cho việc cho vay bằng tiền để khách hàng mua tài sản, ngân hàng đã đứng ra mua và cho thuê lại Số tiền thuê phải bù đắp được chi phí khấu hao, chi phí tài chính (ứng với lãi của số vốn ngân hàng bỏ ra mua tài sản), chi phí quản lý, lãi của người cho thuê (ngân hàng)
b2/ Nghiệp vụ đầu tư
Đầu tư là hình thức bỏ vốn nhằm thực hiện và thu được một kết quả nhất định
về kinh tế - xã hội Theo nghĩa hẹp hơn thì đầu tư là một hình thức bỏ vốn để kiếm lời
Trang 25Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, ngoài việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng còn được quyền thực hiện các nghiệp vụ đầu tư tạo ra tài sản Có sinh lời càng nhiều càng tốt, đây là nghiệp vụ mang lại khoản thu nhập đáng kể cho các ngân hàng thương mại
Đầu tư cuả ngân hàng có thể phân chia thành hai nhóm:
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức ngân hàng bỏ vốn đầu tư trực tiếp quản lý và sử
dụng phần vốn của mình, để tạo ra lợi nhuận Các ngân hàng chỉ được quyền sử dụng vốn của mình (vốn chủ sở hữu) để đầu tư trực tiếp Các hình thức đầu tư này gồm:
+ Hùn vốn liên doanh trong nước và ngoài nước
+ Mua cổ phần của các công ty, đơn vị kinh tế
+ Mua cổ phần của các ngân hàng cổ phần
+ Cấp vốn thành lập các công ty con (công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư,công ty bảo hiểm…)
- Đầu tư tài chính (đầu tư chứng khoán): Đầu tư tài chính là hình thức đầu tư
linh hoạt, người đầu tư có thể dễ dàng thay đổi danh mục đầu tư theo hướng có lợi, vì vậy đây là hình thức đầu tư thường được các ngân hàng thương mại sử dụng khá phổ biến Trong điều kiện có sự hoạt động của thị trường chứng khoán, các chứng khoán đều có tính thanh khoản cao, do đó đầu tư vào chứng khoán không những tạo ra khoản
mục đầu tư có mức sinh lời tương đối ổn định mà còn tạo ra khoản “dự trữ thứ cấp”
sẵn sàng hỗ trợ các nhu cầu thanh toán phát sinh nhanh ngoài dự kiến của ngân hàng Đầu tư tài chính rõ ràng là loại hình đầu tư khôn khéo và linh hoạt
Đầu tư tài chính được thực hiện bằng cách:
+ Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của ngân hàng Trung ương Đầu tư loại này có hệ số rủi ro bằng không vì vậy các ngân hàng có vốn khả dụng lớn thường đầu tư vào loại này
+ Đầu tư vào trái phiếu công ty: Trái phiếu công ty có lãi suất thường cao hơn trái phiếu Chính phủ và trái phiếu ngân hàng Trung ương song tỷ lệ rủi ro cũng cao hơn
c Hoạt động dịch vụ
Dịch vụ ngân hàng được phát triển mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa lại nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng thương mại Hoạt động dịch vụ được thực hiện dưới các hình thức sau:
- Thanh toán: Ngân hàng thương mại là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán cho khách hàng Dịch vụ này bao gồm thanh toán không dùng tiền mặt hoặc thu – chi tiền mặt qua ngân hàng Đây là một nghiệp vụ truyền thống, đồng thời được phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường Thông qua hoạt động thanh toán, ngân hàng thu được lệ phí, tập trung được nhiều nguồn vốn và thông qua đó kiểm soát được chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân vì ngân hàng vừa đóng vai trò trung gian thanh toán vừa là người kiểm soát quá trình thanh toán
Các dịch vụ thanh toán có thể chia thành hai nhóm:
+ Dịch vụ thanh toán quốc nội (thanh toán bằng séc, nhờ thu, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng…)
Trang 26+ Dịch vụ thanh toán quốc tế (Tín dụng thư, nhờ thu, chuyển tiền, thẻ tín dụng quốc tế…)
- Chuyển tiền: Ngân hàng nhận chuyển tiền để chuyển tiền từ địa phương này
sang địa phương khác ở trong nước hoặc từ nước này sang nước khác theo yêu cầu của khách hàng Nhịp sống hiện đại đòi hỏi hoạt động chuyển tiền do ngân hàng thực hiện phải nhanh chóng và chính xác với hệ thống trang thiết bị hiện đại cho phép các ngân hàng thực hiện việc chuyển nhanh trong nứơc và quốc tế đã và đang đáp ứng nhu cầu của khách hàng
- Bảo lãnh: Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm trả
tiền thay cho bên được bảo lãnh, nếu họ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với yêu cầu của một đối tác nào đó Bảo lãnh được thực hiện dưới nhiều hình thức, như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng và khối lượng hàng hoá…
- Kinh doanh ngoại tệ và vàng: Ngân hàng mua bán ngoại tệ và vàng ở thị
trường trong nước và quốc tế Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là chênh lệch giữa giá bán và giá mua
- Môi giới kinh doanh chứng khoán: Ngân hàng làm môi giới cho hoạt động
mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng
- Hoạt động uỷ thác: Ngân hàng làm theo sự uỷ thác của khách hàng về một số
công việc như quản lý tài sản, đại lý và làm đại diện tại các tổ chức kinh tế hoặc cơ quan pháp luật
- Hoạt động thông tin, tư vấn tài chính, tiền tệ:
+ Ngân hàng thương mại là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán Hơn nữa, ngân hàng là tổ chức có khá đầy đủ và cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả do vậy nó có thể cung cấp các thông tin theo yêu cầu của khách hàng trong giới hạn cho phép
+ Do có trình độ nghiệp vụ, có thông tin và kinh nghiệm nên ngân hàng thương mại có thể tư vấn cho khách hàng về xây dựng dự án đầu tư, phương án huy động vốn, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp…
- Các dịch vụ khác: Cho thuê két sắt, mobile banking, internet banking…
6.2.2 Các ngân hàng trung gian khác
Cũng là ngân hàng nên các ngân hàng trung gian khác (còn gọi là ngân hàng chuyên doanh) tuân thủ nguyên tắc hoạt động ngân hàng tương tự như các ngân hàng thương mại Tính chất đặc biệt của nó so với ngân hàng thương mại thể hiện ở mục đích hoạt động và do đó cơ cấu nguồn vốn cũng như sử dụng vốn Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, các ngân hàng hoạt động vì mục đích đặc biệt gồm: ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng đầu tư và các quỹ tín dụng
6.2.2.1 Ngân hàng phát triển
Trên thế giới, nhiều nước đã và đang có mô hình ngân hàng phát triển tồn tại song song với ngân hàng thương mại và các loại hình ngân hàng khác Nhưng ở mỗi nước khác nhau thì tính chất và mục tiêu hoạt động cũng khác nhau tuy chúng có cùng một tên gọi Tuy vậy, hầu hết các nước đều thống nhất khái niệm sau: Ngân hàng phát triển là ngân hàng có chức năng chủ yếu là huy động các nguồn vốn trung và dài hạn
Trang 27dưới hình thức nhận tiền gửi, phát hành chứng từ có giá và vay vốn để đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cấp tín dụng, góp vốn mua cổ phần
Căn cứ vào mục tiêu đầu tư, có hai hình thức ngân hàng phát triển: Thứ nhất, ngân hàng phát triển chuyên cho vay trung và dài hạn vào các dự án cơ sở hạ tầng hoặc các lĩnh vực kinh tế ưu tiên của Nhà nước (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc ) Thứ hai, ngân hàng phát triển chuyên hoạt động dưới hình thức hùn vốn, góp vốn vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực tư nhân và cho vay trung, dài hạn các doanh nghiệp này
- Tính chất sở hữu: Ngân hàng phát triển có thể được tổ chức dưới hình thức sở
hữu Nhà nước với 100% vốn điều lệ thuộc Ngân sách Nhà nước hoặc hình thức cổ phần mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối Nó cũng có thể là ngân hàng liên doanh với nước ngoài
- Mục tiêu hoạt động: Ngân hàng phát triển hoạt động mang tính chất phục vụ
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở tập trung vốn cho khu vực kinh
tế quan trọng có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mục tiêu lợi nhuận là thứ yếu Vì thế mạng lưới tổ chức của ngân hàng phát triển không mở rộng, thông thường nó chỉ mở các chi nhánh ở những địa điểm trọng tâm
- Nguồn vốn: Các ngân hàng phát triển chủ yếu huy động các nguồn vốn trung
và dài hạn từ các nguồn tiền gửi có kỳ hạn của công chúng, phát hành các chứng khoán có giá để thu hút vốn, vay trên thị trường tiền tệ và vay ngắn hạn từ ngân hàng Trung ương, tiếp nhận các khoản vốn từ ngân sách cho mục tiêu phát triển Có những nước ngân hàng phát triển còn có thể huy động tiền gửi không kỳ hạn từ những khách hàng nhận vốn đầu tư
- Sử dụng vốn: Chủ yếu là cấp tín dụng trung và dài hạn (đôi khi có cấp các
khoản tín dụng ngắn hạn – như ở Đài Loan) cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất, cho các doanh nghiệp; đầu tư vào cổ phiếu, hùn vốn bằng vốn tự có theo tỷ lệ quy định tuỳ từng nước; thực hiện bảo lãnh vay vốn, thanh toán, thực hiện hợp đồng, dự thầu và các hoạt động bảo lãnh khác cho cá nhân và các tổ chức kinh tế
Ngoài ra các ngân hàng phát triển có thể cung ứng các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ đại lý, uỷ thác cho khách hàng
6.2.2.2 Ngân hàng chính sách
Ngân hàng chính sách là ngân hàng của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện các chính sách kinh
tế xã hội nhất định của quốc gia
- Tính chất sở hữu: Ngân hàng chính sách phải là ngân hàng quốc doanh thuộc
sở hữu Nhà nước, hoặc ngân hàng cổ phần trong đó Nhà nước nắm cổ phần chi phối, các cổ đông còn lại là các doanh nghiệp Nhà nước Điều này nhằm đảm bảo trách nhiệm và sự chủ động trong việc phục vụ các mục tiêu chính sách của Nhà nước
- Mục tiêu hoạt động: Nhằm tài trợ vốn cho các đối tượng chính sách vì mục
đích xã hội và phát triển kinh tế, nên ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên muốn tồn tại và phát triển ngân hàng chính sách phải đảm bảo mục tiêu bảo toàn vốn trên cơ sở tính chất vay - trả sòng phẳng Bên cạnh đó ngân hàng chính sách được hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước như: cấp bù chênh lệch lãi suất, miễn giảm thuế, bù đắp rủi ro
Trang 28- Nguồn vốn: Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng chính sách là từ vốn
ngân sách Nhà nước, có thể coi đây là nguồn vốn cuối cùng đảm bảo cho ngân hàng chính sách hoạt động bình thường vì mục tiêu xã hội Bên cạnh đó, với tư cách là một ngân hàng, ngân hàng chính sách có thể huy động vốn từ xã hội bằng các hình thức: phát hành chứng từ có giá, huy động tiền gửi có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn (và qua đó
mà cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng) Phần lãi suất chênh lệch giữa huy động và cho vay sẽ được cấp bù bởi ngân sách Nhà nước Đây là hai nguồn vốn chủ yếu, ngoài ra ngân hàng chính sách có thể tiếp nhận vốn từ các dự án tài trợ không hoàn lại hay vay nợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ của các nước
- Sử dụng vốn: Mục tiêu chủ yếu là phục vụ các đối tượng chính sách (như
người nghèo, sinh viên, lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực xuất nhập khẩu ) theo các đặc điểm: Trước hết, vì hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận nên sự phân bổ vốn đầu tư phụ thuộc vào quy mô của dự án và định hướng chính sách Thứ hai, thủ tục và điều kiện vay nói chung là đơn giản và linh hoạt theo từng đối tượng vay Thứ ba, lãi suất tiền vay thường quy định thấp hơn mức lãi suất thị trường với việc quy định thời hạn vay không quá khắt khe Ngoài mục tiêu chủ yếu trên, ngân hàng chính sách còn thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh với các chính sách ưu đãi cho các đối tượng thuộc diện chính sách
6.2.2.3 Ngân hàng đầu tư
Ngân hàng đầu tư là loại hình ngân hàng đặc biệt được tổ chức khác nhau ở châu Âu và Mỹ Các nghiệp vụ và dịch vụ được cung ứng bởi ngân hàng đầu tư tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chứng khoán, nhưng ở các nước châu Âu phạm vi hoạt động ngân hàng đầu tư còn lan sang cả lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thương mại Tuy nhiên khi phân biệt ngân hàng đầu tư với ngân hàng thương mại và các loại hình ngân hàng khác, người ta thường căn cứ vào hoạt động chủ yếu của nó
Ngân hàng đầu tư là ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động chủ yếu là lĩnh vực chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến phát hành, bảo lãnh chứng khoán
Nói chung các ngân hàng đầu tư được hình thành từ rất sớm Ngân hàng đầu tư đầu tiên ở Anh đã bắt đầu hoạt động từ cuối thế kỷ 18 với nghiệp vụ ban đầu là chấp nhận hối phiếu trong thanh toán quốc tế giống như các ngân hàng thương mại Vào khoảng những năm 30, các ngân hàng đầu tư bắt đầu chuyển hướng sang lĩnh vực kinh doanh và đặc biệt phát triển vai trò của chúng trên thị trường sơ cấp khi các ngân hàng này thực hiện việc cung ứng các dịch vụ tài chính doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành chứng khoán và trở nên chuyên môn hoá trong lĩnh vực này Do vậy, một ngân hàng đầu tư truyền thống có thể được xếp vào dạng các tổ chức tài chính phi ngân hàng Trong điều kiện hệ thống tài chính được điều tiết theo hướng tách rời hoạt động chứng khoán và hoạt động ngân hàng thì việc thành lập và tồn tại ngân hàng đầu tư là tất yếu Tuy nhiên, cải cách hệ thống tài chính đang diễn ra ở hầu hết các nước theo
xu hướng đa năng hoá các ngân hàng thương mại, theo đó các ngân hàng thương mại tham gia cả lĩnh vực hoạt động của ngân hàng đầu tư, hoặc là có sự sáp nhập giữa ngân hàng đầu tư với ngân hàng thương mại và hình thành nên các tổ hợp tài chính lớn
- Tính chất sở hữu: Ngân hàng đầu tư có thể tồn tại dưới hình thức sở hữu Nhà
nước, cổ phần hoặc tư nhân và chịu sự quản lý về nghiệp vụ của Uỷ ban chứng khoán Quốc gia
Trang 29- Mục tiêu hoạt động: Ngân hàng đầu tư hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu
tư chứng khoán và dịch vụ liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận
- Nguồn vốn: Các ngân hàng đầu tư là các ngân hàng “bán buôn”, nhận tiền gửi
với số lượng lớn, hầu hết là có kỳ hạn của các định chế tài chính, công ty và cá nhân
Nó cũng được quyền phát hành chứng từ có giá để thu hút vốn hoặc đi vay các định chế tài chính khác
- Sử dụng vốn: Các ngân hàng đầu tư theo mô hình châu Âu hiện nay được tổ
chức theo mô hình ngân hàng thương mại đa năng toàn phần hoặc từng phần và thực hiện các hoạt động sau:
+ Chấp nhận hối phiếu: Mặc dù hiện nay nghiệp vụ này được thực hiện phổ biến bởi các ngân hàng thương mại nhưng nó là nghiệp vụ đầu tiên của các ngân hàng đầu tư và vẫn tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Chấp nhận hối phiếu nghĩa là ngân hàng đứng ra đảm bảo khả năng thanh toán của hối phiếu và là người có trách nhiệm đầu tiên trả tiền cho hối phiếu khi đến hạn Nghiệp vụ này làm tăng thêm uy tín của hối phiếu và làm cho nó dễ được chấp nhận trong thanh toán hoặc chiết khấu
+ Tư vấn cho các hoạt động tài chính công ty: Như phát hành các chứng khoán mới, bổ sung vốn, các hoạt động sáp nhập, hợp nhất công ty cũng như các nghiên cứu liên quan đến tăng cường hiệu quả của hoạt động tài chính công ty Thông thường trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng đầu tư, có một phòng nghiệp vụ riêng về tài chính công ty đảm trách hoạt động này
+ Giao dịch chứng khoán: Các ngân hàng đầu tư cũng tham gia kinh doanh chứng khoán như một thành viên trong Sở giao dịch chứng khoán trên thị trường thứ cấp Chúng có thể hoạt động môi giới cho khách hàng hoặc kinh doanh cho bản thân ngân hàng Các ngân hàng đầu tư ở Mỹ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực này
+ Quản lý đầu tư: Ngân hàng thực hiện quản lý quỹ đầu tư của bản thân nó hoặc quản lý quỹ đầu tư khác, bao gồm:
i/ Quản lý vốn nhàn rỗi cho cá nhân: Trong những trường hợp cần thiết, các cá nhân có thể nhờ ngân hàng đầu tư quản lý và bảo toàn vốn nhàn rỗi của mình với một mức vốn nhàn rỗi tối thiểu cho phép
ii/ Quản lý vốn cho các công ty: Nếu công ty đang chuẩn bị vốn cho một hoạt động nào đó, ví dụ để mua một công ty khác hoặc tham gia dự thầu một dự án, tạm thời nó có thể thuê ngân hàng đầu tư quản lý hộ
iii/ Quản lý quỹ hưu trí và quỹ đầu tư tập thể: Trong trường hợp các quỹ này cảm thấy không đủ trình độ, kinh nghiệm để quản lý lượng vốn của quỹ, nó có thể thuê ngân hàng đầu tư làm hộ việc này Thông thường các quỹ hưu trí là khách hàng lớn nhất của ngân hàng đầu tư trong nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư
Việt Nam chưa có mô hình ngân hàng đầu tư độc lập nhưng các ngân hàng thương mại, theo tinh thần của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, cũng được phép kinh doanh chứng khoán thông qua các công ty con theo mô hình ngân hàng đa năng từng phần Nghị định 48/1998/ND-CP ngày 11/07/1998 đã quy định cụ thể chức năng của công ty chứng khoán mà hiện nay là các công ty con của các ngân hàng thương mại Theo Nghị định, các công ty chứng khoán được kinh doanh trong các lĩnh vực môi giới, tự doanh, quản lý đầu tư, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng khoán Các ngân hàng thương mại có lợi thế về chuyên môn, khả
Trang 30năng thu thập và phân tích thông tin, mạng lưới các chi nhánh và hệ thống thanh toán
sẽ thích hợp với chức năng kinh doanh chứng khoán trong giai đoạn trước mắt Sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như kỹ năng và nhu cầu đầu tư chứng khoán sau này sẽ là căn cứ thực tế quan trọng để quyết định sự ra đời của một ngân hàng đầu tư độc lập
6.2.2.4 Các tổ chức tín dụng hợp tác
Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể hoặc cổ phần, được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện bằng vốn góp của các thành viên và chủ yếu cho các thành viên vay nhằm mục tiêu tương trợ nhau phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống
Việc hình thành tổ chức tín dụng hợp tác là xu thế tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá có cạnh tranh Nó giúp cho các chủ thể kinh tế yếu về khả năng cạnh tranh cũng như quyền lực chi phối thị trường và khả năng thâm nhập vào thị trường vốn (như các lực lượng sản xuất cá thể, tư nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ) có khả năng ổn định và phát triển nhờ sự hợp tác và tương trợ về vốn cũng như các điều kiện tài chính khác
Các tổ chức tín dụng hợp tác được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau căn
cứ vào đặc điểm cụ thể của từng nước Nó có thể là ngân hàng Quốc gia, ngân hàng tương hỗ, ngân hàng nhân dân, hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng, trung tâm Quốc gia
về quỹ tiết kiệm và tương hỗ, công ty dịch vụ tài chính chuyên ngành
- Về tổ chức hệ thống: Hệ thống tổ chức tín dụng hợp tác thường được chia
thành ba cấp: cấp cơ sở, khu vực và cấp trung ương, độc lập với nhau về tổ chức, hoạt động và tài chính Tuy nhiên tổ chức tín dụng hợp tác khu vực có những hạn chế và trùng lặp nên xu hướng chung là biến thành chi nhánh của tổ chức tín dụng hợp tác trung ương (điển hình là ở Đức) Mặc dù vậy giữa các cấp này có mối liên hệ tự nguyện với nhau thông qua sự tương hỗ về vốn
- Nguồn vốn: Các tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động trên cơ sở các nguồn vốn
iii/ Vốn huy động các tổ chức tín dụng hợp tác có thể huy động vốn dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn theo các nguyên tắc huy động của ngân hàng thương mại Tức là phải có mức lãi suất hấp dẫn, có các hình thức huy động vốn phong phú và phải tạo lập lòng tin đối với người gửi tiền
Trang 31- Sử dụng vốn: Thực hiện cho vay đối với các thành viên có nhu cầu, bao gồm
cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn phục vụ cho nhu cầu kinh doanh và tiêu dùng
Các tổ chức tín dụng hợp tác thực chất làm các nghiệp vụ như một ngân hàng
và theo xu hướng một ngân hàng thương mại đa năng Điểm khác biệt cơ bản giữa loại hình này và ngân hàng thương mại là ở hình thức sở hữu tập thể và mục tiêu hợp tác tương trợ cộng đồng Có nghĩa là các tổ chức này thực hiện mục tiêu của mình thông qua hoạt động kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng
Tuy nhiên mức độ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng khác nhau tuỳ loại hình
tổ chức tín dụng hợp tác Theo tinh thần Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam, tổ chức tín dụng hợp tác bao gồm: ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân và hợp tác
xã tín dụng Mỗi loại hình có đặc thù riêng về tổ chức và hoạt động
Hợp tác xã tín dụng là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác sơ khai, hoạt động nghiệp vụ đơn giản, phù hợp với những nơi kinh tế hàng hoá chưa phát triển và khả năng quản lý thấp Đặc điểm chủ yếu của hợp tác xã tín dụng ở Việt Nam là chúng thuộc sở hữu tập thể và thành viên ban đầu là các hộ gia đình, các cá nhân; được thành lập để phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp và nông dân trong phạm vi một xã; hoạt động bị giới hạn trong một số nghiệp vụ ngân hàng nhất định, chỉ huy động vốn của xã viên và cho xã viên vay
Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức phức tạp hơn với các nghiệp vụ phong phú hơn Cụ thể quỹ tín dụng nhân dân có thể thuộc sở hữu tập thể hoặc quỹ cổ phần; hệ thống tổ chức được chia thành ba cấp: trung ương, khu vực và cơ sở liên hệ với nhau theo cơ chế tự nguyện hoặc bắt buộc (điều hoà vốn giữa các cấp hoặc qua các tổ chức phụ thuộc); trong hệ thống có những đơn vị thuộc hệ hợp tác xã, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và hệ doanh nghiệp, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận; phạm vi hoạt động nghiệp vụ bao gồm huy động, cho vay và các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là thành viên và không phải là thành viên, ở trong và ngoài địa bàn; hệ thống kiểm tra giám sát được yêu cầu gắt gao
Ngân hàng hợp tác là loại hình cao nhất trong hệ thống các tổ chức tín dụng hợp tác Nó là tổ chức thuộc sở hữu tập thể hoặc cổ phần được thành lập bởi các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế; ngân hàng hợp tác được thực hiện mọi nhiệm vụ và dịch vụ ngân hàng theo mô hình ngân hàng đa năng Các ngân hàng có thể huy động vốn và cho vay với mọi đối tượng và cũng không giới hạn về địa bàn hoạt động
Loại hình tổ chức tín dụng hợp tác dưới hình thức hợp tác xã tín dụng ở Việt Nam xuất hiện từ năm 1956 ở miền Bắc và 1983 ở miền Nam Cho đến năm 1985 hầu hết các xã đã có hợp tác xã tín dụng, với tổng số 7.160 cơ sở Từ năm 1986 đến 1990 phát triển thêm gần 500 hợp tác xã tín dụng đô thị, đưa tổng số hợp tác xã tín dụng tới 7.700 trong cả nước Ra đời và hoạt động theo cơ chế bao cấp, các hợp tác xã tín dụng
Trang 32thiếu sự tự chủ trong nguồn vốn và hoạt động Nguồn vốn chủ yếu là sự tài trợ của ngân hàng Nhà nước và do đó các hợp tác xã tín dụng hoạt động như một đại lý của ngân hàng Nhà nước cơ sở, vì thế hiệu quả tương trợ và thúc đẩy sản xuất khu vực nông thôn rất hạn chế Mặc dù hệ thống hợp tác xã tín dụng đã được sắp xếp lại sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực vào tháng 5/1990, nhưng hoạt động của nó chưa phát huy được vai trò tích cực đối với nền kinh tế và chưa lấy được lòng tin của nhân dân
Từ năm 1993, một mô hình quỹ tín dụng nhân dân đã bắt đầu được thí điểm theo Quyết định 390/TTg Đây là mô hình dựa vào kinh nghiệm của Canada và có sự tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới Hành lang pháp lý hoạt động của tổ chức này là Luật hợp tác xã ngày 01/01/1997, Luật ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng tháng 12/1997 Mặc dù hoạt động ban đầu mới chỉ dừng lại
ở huy động vốn và cho vay, nhưng quỹ tín dụng nhân dân bước đầu đã thể hiện được
vị trí của nó trong việc cung cấp vốn cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua hệ thống các quỹ từ Trung ương tới cơ sở Trong tương lai, mô hình ngân hàng hợp tác
sẽ ra đơì do sự phát triển quy mô cũng như các dịch vụ ngân hàng được cung ứng bởi các quỹ tín dụng nhân dân hiện tại
6.2.3 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
6.2.3.1 Công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính mà hoạt động chủ yếu là nhằm bảo
vệ tài chính cho những người có hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro về
tử vong, thương tật, tuổi già, tài sản hoặc các rủi ro khác
Sự tồn tại và phát triển của các tổ chức bảo hiểm là tất yếu khi con người hàng ngày phải đối mặt với những rủi ro trong mọi lĩnh vực làm ảnh hưởng đến khả năng tài chính cá nhân Đó có thể là một tai nạn, một vụ cháy, mất mát tài sản, một căn bệnh hiểm nghèo… để chống đỡ những rủi ro tài chính trong những trường hợp này người
ta tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm Dựa vào nguyên tắc phân tán rủi ro theo qui luật số lớn, các tổ chức bảo hiểm có khả năng bù đắp rủi ro tài chính cho các khách hàng Các hợp đồng bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp hoặc
do các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản cung cấp
Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Bảo hiểm là một loại dịch vụ tài chính đặc biệt
Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình không như các hàng hóa khác Sản phẩm bảo hiểm, trước hết là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm và kèm theo là các dịch vụ liên quan Người ta thường coi rủi ro là cơ sở của các hoạt động bảo hiểm, là nguồn gốc phát sinh các hoạt động dự trữ bảo hiểm Để bảo
vệ mình, người tham gia bảo hiểm nộp phí cho nhà bảo hiểm để đổi lấy lời hứa, cam kết của nhà bảo hiểm là sẽ trả tiền bảo hiểm khi rủi ro xảy ra Như vậy, ở đây chỉ có cam kết từ hai phía - nhà bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, trong đó, người tham gia bảo hiểm phải cam kết nộp phí, còn nhà bảo hiểm lúc đó trở thành con nợ của những người tham gia bảo hiểm, cam kết sẽ bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có sự
cố bảo hiểm xảy ra
Trong hoạt động bảo hiểm, sản phẩm được bán ra trước - doanh thu được thực hiện trước, sau đó mới phát sinh chi phí - khi sự cố bảo hiểm xảy ra Theo chu trình này, các tổ chức bảo hiểm nhận phí bảo hiểm trước và thực hiện nghĩa vụ sau với bên
Trang 33được bảo hiểm khi xảy ra sự cố bảo hiểm thực tế Đặc điểm này tạo ra tính nhàn rỗi của nguồn vốn bảo hiểm trong những thời gian nhất định, cho phép các tổ chức bảo hiểm có thể sử dụng chúng tham gia vào thị trường tài chính để sinh lời nhằm tăng khả năng tài chính cho bồi thường, trả tiền bảo hiểm và có thể làm tăng thu nhập cho các tổ chức bảo hiểm
- Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu không có rủi ro xảy ra gây thiệt hại hoặc xảy ra biến cố bảo hiểm làm ảnh hưởng đến bên mua bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm không phải bồi thường hay trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Ngược lại, nếu xảy ra sự cố, đối tượng bảo hiểm bị ảnh hưởng hay thiệt hại thì bên mua bảo hiểm sẽ được bồi thường, trả tiền bảo hiểm Như vậy, quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm và người mua bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn Đặc điểm này
đã tạo ra khả năng nhàn rỗi của nguồn vốn bảo hiểm Nghĩa là khi không xảy ra rủi ro bảo hiểm hoặc chưa xảy ra biến cố bảo hiểm thì các tổ chức bảo hiểm sẽ không phát sinh hoặc chưa phát sinh chi phí, nguồn vốn này sẽ được tham gia đầu tư nhằm tăng khả năng tài chính của các tổ chức bảo hiểm
Để đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong hoạt
động bảo hiểm thường áp dụng nguyên tắc ”số đông bù số ít”, tức là phải cung cấp
nhiều loại sản phẩm bảo hiểm, cho nhiều loại khách hàng, trên nhiều thị trường khác nhau để lấy phí bảo hiểm đóng góp từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro, bị thiệt hại Trong thực tế, trong bảo hiểm kinh doanh, đối với những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn hoặc trường hợp có khả năng tổ chức bảo hiểm phải bồi thường cho nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt trách nhiệm tài chính đối với rủi ro bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường thực hiện nghiệp vụ tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm Mặt khác, để giảm bớt chi bồi thường, các tổ chức bảo hiểm phải tăng cường giám sát người được bảo hiểm để đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm
Khác với các khâu tài chính khác, việc bồi hoàn, chi trả của bảo hiểm có tính bất ngờ cả về thời gian, không gian cũng như quy mô Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, các tổ chức bảo hiểm phải xây dựng nhiều quỹ dự phòng để đảm bảo thực hiện những cam kết của mình trước người tham gia bảo hiểm khi sự cố bảo hiểm xảy
ra
a Các công ty bảo hiểm nhân thọ
Hợp đồng bảo hiểm do Công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp sẽ bảo vệ tài chính cho bản thân hoặc nhân thân của người có hợp đồng bảo hiểm Có hai loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
- Hợp đồng bảo hiểm kỳ hạn: Người có hợp đồng này sẽ nhận được một nguồn tài chính từ công ty bảo hiểm, tuỳ theo giá trị hợp đồng khi hết kỳ hạn Nếu trong kỳ hạn đó chẳng may họ gặp phải rủi ro thì bản thân hoặc gia đình họ sẽ được chu cấp tài chính tuỳ thuộc vào giá trị hợp đồng và mức độ rủi ro mà họ gặp phải
- Hợp đồng bảo hiểm trọn đời: Người có hợp đồng này sẽ được cấp một khoản thu nhập đều đặn hàng tháng kể từ khi nghỉ hưu hoặc mất sức lao động cho đến hết đời Trường hợp bị chết thân nhân của họ cũng được trợ cấp một khoản tiền tuỳ theo giá trị hợp đồng bảo hiểm
Trang 34Sự ra đời và lớn mạnh của các Công ty bảo hiểm nhân thọ đã mang lại những lợi ích rất cơ bản cho cộng đồng Trước hết đó là việc bảo vệ tài chính cho những người tham gia bảo hiểm Bằng việc bán ra các hợp đồng bảo hiểm, họ đã tập trung được một khối lượng lớn các nguồn vốn tiết kiệm từ các cá nhân số vốn này ngoài việc dùng để bù đắp những tổn thất cho những người có rủi ro, còn dược dùng để đầu tư hoặc cho vay, làm lợi cho những thành viên tham gia bảo hiểm Như vậy việc huy động vốn tiết kiệm để cho vay, đầu tư sinh lời chính là lợi ích thứ hai mà các công ty bảo hiểm nhân thọ đem đến cho nền kinh tế
Nguồn vốn mà các công ty bảo hiểm nhân thọ huy động được bao gồm:
+ Phí bảo hiểm từ các hợp đồng: Các công ty bảo hiểm nhân thọ bán ra các hợp đồng bảo hiểm với các mức độ bảo hiểm khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng Với một hợp đồng bảo hiểm, khách hàng sẽ được cung cấp một nguồn thu nhập khi có biến cố xảy ra hoặc khi tuổi già Đối với công ty bảo hiểm thì nguồn tiền thu được từ việc bán ra các hợp đồng là rất lớn Nó chi phối và quyết định hoạt động cơ bản của công ty bảo hiểm
+ Thu nhập từ đầu tư: Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư của các công
ty bảo hiểm cũng là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng trong ngành bảo hiểm Với những công ty lớn, hoạt động lâu năm, có vị thế lớn trong ngành thì nguồn vốn này có mức độ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nguồn vốn của công ty
+ Các hợp đồng đầu tư bảo lãnh (GIC): Đây cũng là nguồn huy động quan trọng khác của ngành bảo hiểm Các công ty bảo hiểm bán ra các hợp đồng đầu tư bảo lãnh với lời hứa trả lãi suất cố định dài hạn cho những người mua Thực chất đây chính
là việc huy động vốn dài hạn bằng cách phát hành GIC của công ty bảo hiểm GIC cũng giống như chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng, nhưng lãi suất phải trả chi GIC thường rất cao, cho nên đây là nguồn vốn có nguy cơ rủi ro cao đối với các công ty bảo hiểm
+ Các tài khoản riêng biệt của các doanh nghiệp, cá nhân, các quỹ trợ cấp, hưu bổng do công ty bảo hiểm quản lý: Nguồn vốn này không nằm trong tài khoản chung của công ty bảo hiểm Họ quản lý, điều hành và kinh doanh đầu tư nguồn vốn này theo
sự uỷ thác của các doanh nghiệp, cá nhân Các quý trợ cấp để được hưởng một phần thu nhập theo thoả thuận với các chủ đầu tư Các chương trình hưu bổng, các khoản trợ cấp cho công nhân trong các doanh nghiệp do công đoàn hoặc đại diện doanh nghiệp quản lý vì lợi ích của nhân công trong doanh nghiệp tạo nên phần lớn các tài khoản riêng biệt trong các công ty bảo hiểm
Như vậy cùng với hợp đồng bảo hiểm, tài khoản riêng biệt và các loại GIC là nguồn huy động bổ sung vốn cho công ty bảo hiểm Nó làm tăng tính cạnh tranh, phong phú hoạt động của công ty nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ rủi ro của ngành bảo hiểm hiện nay
Trong chiến lược đầu tư vốn của mình, các công ty bảo hiểm nhân thọ dành phần lớn nguồn vốn cho đầu tư dài hạn, vì thực chất các khoản bồi thường của bảo hiểm nhân thọ thường phải chờ thời gian dài Đa số người mua bảo hiểm muốn có hợp đồng bảo hiểm từ lúc còn trẻ và thường nhận bồi thường sau rất nhiều năm hoặc tuổi già Đặc điểm này cho phép công ty bảo hiểm có thể dự đoán khá chính xác mức bồi thường cho từng thời gian Chẳng hạn căn cứ vào tỷ lệ số người già trên tổng số khách
Trang 35hàng hoặc tỷ lệ tử vong trung bình ở các độ tuổi, ngành bảo hiểm nhân thọ có thể dự kiến được mức phí bồi thường trong thời gian đó và những thời gian tiếp theo Phí bồi thường cùng một số khoản chi trả thường xuyên khác tạo nên tài sản lưu hoạt mà công
ty bảo hiểm buộc phải nắm giữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng Còn lại các nguồn vốn đều mang tính chất dài hạn cho nên công ty bảo hiểm dễ dàng thực hiện đầu tư dài hạn, vừa mang lại lợi tức cao, vừa có tính cạnh tranh trên thị trường tài chính Các loại đầu tư mà công ty bảo hiểm quan tâm thường bao gồm:
+ Chứng khoán Chính phủ: Công ty bảo hiểm tăng cường nắm giữ loại chứng khoán này vì sự an toàn cao và tính lỏng của nó Do tài sản lưu hoạt (là phần tài sản có của Quỹ bao gồm tiền mặt và các tài sản khác có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt trong thời hạn 15 ngày - quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của Ủy ban chứng khoán nhà nước) của công ty thường được dự trữ ở mức thấp cho nên các chứng khoán Nhà nước rất được ưa chuộng trên thị trường thứ cấp sẽ là dự trữ thanh khoản bổ sung vì tính chất an toàn trong ngành bảo hiểm
+ Trái phiếu công ty: Các loại trái phiếu mà công ty bảo hiểm nhân thọ quan tâm chủ yếu là trái phiếu của ngành công nghiệp và sản xuất chế tạo phát hành Đặc biệt là những trái phiếu của các ngành công nghệ mới như công nghệ truyền thông, điện tử, tiện ích công cộng Đầu tư vào trái phiếu là hoạt động quen thuộc và chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong ngành bảo hiểm hiện nay Ở những nước phát triển, lượng trái phiếu công ty mà công ty bảo hiểm nắm giữ chiếm khoảng 40% tài sản Có
Họ đầu tư một lượng rất lớn vào tài sản này vì khả năng lợi nhuận cao và ổn định mà chúng mang lại cho công ty
+ Cổ phiếu công ty: Loại này chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản của công ty bảo hiểm Chúng mang lại thu nhập lâu dài nhưng cũng có nhiều nguy cơ Vì chiến lược đầu tư tiềm năng và dài hạn mà các tài khoản riêng biệt chiếm chỗ chủ yếu trong loại đầu tư này
+ Cho vay thế chấp về thương mại, nông nghiệp, bất động sản Công ty bảo hiểm nhân thọ thực hiện cho vay thế chấp được đảm bảo bằng bất động sản, trung tâm thương mại dịch vụ, cơ sở chế biến nông sản…vì lợi tức khá cao và vì chất lượng đầu
tư bảo đảm Hoạt động đầu tư này khá an toàn nhưng nó phải chịu một áp lực rất lớn trước tác động của lạm phát Điều này khiến các công ty bảo hiểm phải xem xét một cách thận trọng hơn trước khi đưa ra các quyết định đầu tư theo hướng này
+ Đầu tư trực tiếp vào bất động sản: Hoạt động này xảy ra nhằm đương đầu với thực trạng lạm phát kéo dài Công ty bảo hiểm gia tăng sở hữu bất động sản cũng là một hình thức tự bảo vệ và tăng cường cho chiến lược đầu tư lâu dài của công ty
+ Cho vay ứng trước đối với người được bảo hiểm: Loại này được áp dụng đối với những người có hợp đồng bảo hiểm trọn đời Thực chất đây là hình thức nhận tiền thanh toán trước Tuy số lượng không nhiều, nhưng vì quyền lợi của khách hàng, công
ty bảo hiểm nhân thọ sẵn sàng cho vay và điều này đã gây ra không ít khó khăn đặc biệt là về vốn cho công ty
b Các công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn
Khác với công ty bảo hiểm nhân thọ, công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn chuyên cung cấp các hợp đồng bảo hiểm liên quan đến rủi ro về tai nạn, sở hữu tài sản, thiết bị kinh doanh, sản phẩm nông nghiệp, tàu thuyền, các phương tiện giải trí và những tài sản giá trị khác Người ta coi công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn như một bách hoá
Trang 36tổng hợp với một phạm vi bảo hiểm rất rộng và phổ biến Tuy nhiên, khác với lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các tổ chức bảo hiểm này phải đối mặt với một khó khăn rất lớn đó
là khả năng dự đoán chính xác mức bồi thường và thời điểm bồi thường Ngoài ra, tình trạng lạm phát cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động này Lạm phát làm tăng chi phí sửa chữa tài sản, chi phí y tế và các chi phí khác cho những người được bảo hiểm
Nguồn vốn của công ty bảo hiểm tài sản – tai nạn chủ yếu là phí bảo hiểm từ các hợp đồng Ngoài ra họ cũng có thu nhập từ các hoạt động đầu tư và các nguồn vốn khác, như dự trữ tổn thất, dự trữ bổ sung…
Từ nguồn vốn có được, công ty bảo hiểm này dành một phần đáng kể cho dự trữ tài sản lưu hoạt, gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng Phần còn lại được dùng vào các hoạt động đầu tư Do tính chất bất định của các yêu cầu bồi thường nên công ty bảo hiểm phải có dự trữ một phần chứng khoán loại an toàn, có tính thanh khoản cao Loại tài sản chủ yếu là trái phiếu Chính phủ Đây là loại tài sản được công ty bảo hiểm rất quan tâm vì chúng có thu nhập ổn định, khá an toàn và dễ tiêu thụ trên thị trường
Một loại chứng khoán khác cũng chiếm vị trí quan trọng là trái phiếu công ty - đặc biệt là trái phiếu do các công ty tư nhân phát hành Loại này được ưu tiên đầu tư vì chúng mang lại thu nhập ổn định, tương đối cao cho ngành bảo hiểm
Ngoài ra công ty bảo hiểm tài sản – tai nạn còn đầu tư một phần nhỏ vào cho vay thế chấp, chủ yếu là thế chấp thương mại, văn phòng, trung tâm thương mại, cao
ốc, nhà hàng lớn và một số ít là cho vay thế chấp dân cư
Như trên đã nói, điều hết sức quan trọng đối với công ty bảo hiểm tài sản – tai nạn là việc chi trả bồi thường cho khách hàng một cách kịp thời trong mọi trường hợp,
mà khối lượng tiền chi trả thì lại khó dự đoán trước Vì vậy ưu tiên hàng đầu trong
hoạt động đầu tư của họ là những đầu tư ngắn hạn, đầu tư vào tài sản “lỏng” Đây là
một biện pháp quan trọng của công ty trong việc dự phòng, phân tán rủi ro Vì vậy tỷ trọng tài sản chủ yếu của các công ty bảo hiểm này là các trái phiếu Chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương hoặc trái phiếu tư nhân an toàn khác
Hiện nay ngành bảo hiểm này cũng đang phải đối mặt với những khó khăn lớn
Đó là tình trạng lừa đảo bảo hiểm, rủi ro gia tăng, thua lỗ trong đầu tư, thiên tai mất mùa và áp lực cạnh tranh nội bộ Vấn đề này đã thúc đẩy công ty bảo hiểm phải mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hoá các khoản mục đầu tư và xa hơn là các kế hoạch tái bảo hiểm, giảm chi phí, nâng cao chất lượng các quyết định quản trị và những kỹ thuật phòng thủ nhằm giảm thiểu quy mô rủi ro, đảm bảo an toàn trong toàn hệ thống
6.2.3.2 Các quỹ trợ cấp
Qũy trợ cấp được hình thành từ những khoản đóng góp của những người lao động khi còn đang làm việc và được sử dụng để chi trả trợ cấp khi họ về hưu hoặc mất sức lao động tạm thời
Quỹ hoạt động theo nguyên tắc: Huy động vốn trực tiếp theo định kỳ với một tỷ
lệ nhất định theo thu nhập của những người tham gia để trợ cấp và đầu tư vào các tài sản chính Như vậy quỹ đóng vai trò là một trung gian tài chính thực hiện các chuyển đổi tài chính theo những mục tiêu nhất định
Mục đích hoạt động của quỹ hưu trí là nhằm đảm bảo một mức thu nhập ổn định cho người lao động khi về hưu Để đạt được mục đích này, giới chủ, người làm công và các tổ chức công đoàn, Chính phủ cùng nhau xây dựng kế hoạch lương hưu
Trang 37trí, trong đó quy định tỷ lệ đóng góp định kỳ, thường xuyên của những người lao động trong suốt thời gian họ còn đang làm việc Chi phí trả cho người về hưu diễn ra hàng năm, có thể dưới hình thức trả một lần hoặc dưới hình thức trả đều đặn theo định kỳ
Dù trả dưới hình thức nào thì khả năng dự đoán về mức và thời gian chi trả các quỹ khá chính xác nên nguồn vốn nhàn rỗi của các quỹ này thường được đầu tư vào các công cụ đầu tư dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu Chính phủ hoặc cho vay cầm cố nhà cửa Ngoài ra các quỹ này có thể đâù tư vào các tài sản có tính an toàn như tiền gửi ngân hàng hoặc các kỳ phiếu do ngân hàng phát hành Như vậy, hoạt động của các quỹ hưu trí không những đảm bảo thu nhập thường xuyên ổn định cho những người về hưu mà còn là trung gian tài chính di chuyển vốn nhàn rỗi đến tay các chủ thể đầu tư
Hiện nay các quỹ hưu trí được quản lý theo hai phương thức:
- Chương trình trợ cấp riêng do các công ty kinh doanh lớn lập ra Các quĩ này được lập ra vì lợi ích của nhân công trong công ty Quỹ được quản lý bởi một ngân hàng, một công ty bảo hiểm nhân thọ hoặc một người quản lý chuyên trách Mục đích của quỹ là thực hiện chương trình trợ cấp cho nhân công khi họ có đủ thời gian làm việc tối thiểu cho công ty Trường hợp không đủ thời gian làm việc theo quy định, dù
là tự ý ra đi hoặc bị thải hồi, đều không được hưởng quyền trợ cấp Cái khó khăn của chương trình này là các khoản đóng góp và thu nhập của quỹ qua các năm không đủ để trả trợ cấp khi đến kỳ hạn thanh toán và các quỹ có nguy cơ thua lỗ kéo dài Để khắc phục tình trạng đó Nhà nước thường là người tham gia đóng góp với tư cách hỗ trợ cho các chủ doanh nghiệp để đảm bảo thu nhập hưu trí cho những người làm công
- Chương trình trợ cấp công cộng được quản lý bởi Chính phủ Theo chương trình này hầu hết mọi cá nhân làm công ăn lương đều được trợ cấp hưu trí Đây là chương trình trợ cấp quan trọng nhất mà người ta quen gọi là bảo hiểm xã hội Vốn là chương trình thu được từ đóng góp định kỳ của những người lao động được tính theo một tỷ lệ nhất định trên mức lương của họ Các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội bao gồm tiền thu nhập hưu trí, tiền thanh toán y tế và trợ cấp mất sức lao đông Chương trình này hoạt động như một chương trình trợ cấp riêng nhưng đến nay nó rơi vào tình trạng thiếu vốn khi nhu cầu thanh toán ngày càng tăng lên Điều này xảy ra khi chương trình kế hoạch hoá sinh đẻ được thực hiện tốt cùng với mức sống và các điều kiện y tế được cải thiên, tỷ trọng người về hưu - những được hưởng trợ cấp so với số người đang làm việc tăng lên thì quỹ sẽ lâm vào tình trạng thiếu hụt Đây là điểm đáng lo ngại trong việc thực hiện chính sách xã hội mà các Chính phủ đang cố găng để can thiệp Đến một lúc nào đó thì các khoản trợ cấp sẽ được thanh toán theo những đóng góp hiện hành
6.2.3.3 Công ty tài chính
Công ty tài chính là trung gian tài chính hình thành nguồn vốn bằng cách huy động tiền gửi có kỳ hạn hoặc phát hành các chứng khoán nợ hay vay của các ngân hàng Nguồn vốn huy động được sử dụng để cho vay ngắn, trung và dài hạn các đối tượng sản xuất hoặc tiêu dùng, thực hiện nghiệp vụ factoring hoặc thuê mua So với các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính không chịu sự điều tiết khắt khe của ngân hàng Trung ương nên nó có thể cung ứng các khoản tín dụng hơn cho khách hàng
Trang 38Các công ty tài chính thường do các công ty kinh doanh lớn lập ra và đó là các công ty tài chính phụ thuộc, một số khác thì hoạt động độc lập và được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần
Mục đích của công ty tài chính phụ thuộc là huy động vốn một cách nhanh nhất cho các công ty mẹ và đáp ứng các nhu cầu vay chủ yếu là nhỏ lẻ phục vụ cho tiêu dùng của các cá nhân, gia đình Như vậy mỗi công ty tài chính phụ thuộc có hai nhiệm
vụ cơ bản: Huy động vốn cho công ty Mẹ và kinh doanh tiền tệ Còn các công ty tài chính độc lập thì chủ yếu tập trung vào việc kinh doanh tiền tệ
Có ba loại hình công ty tài chính cơ bản: Công ty tài chính tiêu dùng, Công ty tài chính bán hàng (bán lẻ) và công ty tài chính thương mại (kinh doanh) Mỗi loại hình lựa chọn một phạm vi cung ứng dịch vụ với những khách hàng riêng biệt
Công ty tài chính tiêu dùng: Đây là công ty tài chính cung ứng phần lớn nguồn
vốn của mình cho các gia đình và cá nhân vay vào mục đích mua sắm hàng hoá tiêu dùng Hầu hết các khoản cho vay đều được trả góp theo kỳ Một cách cho vay khác là công ty tài chính tiêu dùng cấp thẻ tín dụng cho khách hàng để họ mua sắm ở hệ thống cửa hàng bán lẻ Do các loại cho vay của họ rất bấp bênh cho nên họ thường chỉ cho vay những khoản tiền nhỏ và với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro
Công ty tài chính bán hàng: Kiểu mẫu công ty này cũng gần gũi với công ty tài
chính tiêu dùng nhưng họ cung cấp tín dụng gián tiếp cho người tiêu dùng để mua sắm hàng hoá do công ty Mẹ hoặc một nhà sản xuất nào đó bán ra Người tiêu dùng sẽ thoả thuận với nơi bán hàng một hợp đồng mua hàng trả góp, trong đó khách hàng phải trả tiền hàng với lãi suất theo kỳ Các công ty tài chính bán hàng mua lại các hợp đồng đó
và họ thường thống nhất với nơi bán hàng về các mẫu hợp đồng và thời hạn trả góp mà
họ chấp nhận được Khi công ty tài chính mua các hợp đồng bán hàng trả góp tức là họ
đã mua lại khoản nợ của người mua hàng do vậy mà người ta gọi là hình thức tài trợ gián tiếp Quan hệ giữa công ty tài chính bán hàng và người bán hàng rất khăng khít Những người bán hàng được tài trợ theo phương thức này thường là người bán hàng cho công ty Mẹ của công ty tài chính đó Họ bán lại toàn bộ các hợp đồng trả góp cho công ty tài chính, đổi lại họ phải chịu sự kiểm tra hàng ngày của công ty tài chính Khi các hợp đồng trả góp đến hạn, người tiêu dùng trả tiền cho người bán hàng và người bán hàng hoàn đủ lại số tiền đó cho công ty tài chính Trong trường hợp người bán hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì công ty tài chính có quyền xiết nợ, thậm chí
là thu hồi số hàng hoá trên để trả lại nơi sản xuất Đây là hình thức tài trợ áp dụng phổ biến ở những công ty tài chính phụ thuộc
Công ty tài chính thương mại: Đây là công ty tài chính chuyên cung cấp tín
dụng bằng cách mua lại hoặc chiết khấu các khoản phải thu (factoring) của doanh nghiệp Ngoài ra họ còn cung cấp các hợp đồng cho thuê tài chính (tín dụng thuê mua)
và cung ứng một số loại tín dụng khác
Các khoản phải thu của doanh nghiệp thường là vốn lao động Doanh nghiệp bán hàng chưa thu được tiền ngay nhưng lại cần tiền để mua nguyên liệu phục vụ cho sản xuất liên tục, để trả lương và thanh toán các chi phí khác Vì nhu cầu về thanh khoản nên các doanh nghiệp có thể đem thế chấp các khoản phải thu để được vay tại công ty tài chính Công ty tài chính gọi đây là hình thức tài trợ các khoản phải thu Ngoài hình thức trên cũng có trường hợp công ty tài chính thương mại mua đứt các
Trang 39khoản phải thu của doanh nghiệp, còn gọi là mua nợ Công ty tài chính đã chấp thuận một rủi ro cao hơn nhưng hoàn toàn có quyền khống chế các con nợ của doanh nghiệp
Một hình thức kinh doanh khác của công ty tài chính thương mại là cung cấp các hợp đồng tài chính cho thuê thiết bị Công ty tài chính mua thiết bị và giao thiết bị
đó cho doanh nghiệp cần thuê để họ quản lý và sử dụng Người thuê có trách nhiệm sử dụng, bảo quản thiết bị và trả tiền thuê cho đến khi mãn hạn hợp đồng Các công ty tài chính thương mại rất có kinh nghiệm trong các hợp đồng này Họ biết cách làm thế nào để định giá giá trị của thiết bị cho thuê dựa trên tuổi đời của chúng hoặc làm thế nào để định đoạt số phận thiết bị đó nếu như khách hàng không trả nợ đúng thời hạn
mà hợp đồng cho thuê đã ràng buộc
Thời gian gần đây, sự phân biệt giữa ba loại hình công ty tài chính như trên đã
mờ nhạt dần Tuy vẫn còn có những công ty chuyên môn hoá theo phương thức này hoặc phương thức khác trong hoạt động tín dụng nhưng tất cả đều nhằm vào thị trường tín dụng thương mại và thị trường tín dụng tiêu dùng
Ngày nay, hoạt động kinh doanh tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của các công ty tài chính Các loại tín dụng không ngừng được mở rộng, trong đó nổi bật nhất là tín dụng thuê mua và kinh doanh chứng khoán
6.2.3.4 Quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư hay còn gọi là công ty uỷ thác đầu tư là định chế tài chính thực hiện việc huy động vốn của người tiết kiệm thông qua việc bán các chứng chỉ góp vốn Quỹ này đặt dưới sự quản lý chuyên nghiệp của các công ty quản lý quỹ và thực hiện đầu tư vào các chứng khoán vì lợi ích của các cổ đông Mọi nguồn tiết kiệm đều được huy động để tạo vốn cho quỹ, tuy nhiên các công ty đầu tư chủ yếu tạo điều kiện cho những người tiết kiệm nhỏ có cơ hội đầu tư vào các khoản mục lớn mà bản thân họ không thể thực hiện được Thực chất đây là hình thức chung vốn đầu tư giữa các cá nhân và các tổ chức nhằm tăng tính chuyên nghiệp của việc đầu tư, tạo điều kiện giảm thiểu rủi ro và các chi phí liên quan đến quá trình đầu tư Mục tiêu của công ty đầu tư
là tăng trưởng vốn, tức là tăng giá trị thị trường của tài sản Có, làm cho giá trị của mỗi
cổ phần tăng lên so với giá trị ban đầu Để đạt được mục tiêu này, họ đặc biệt quan tâm đến việc phân tán rủi ro, đa dạng hoá danh mục đầu tư, lựa chọn các loại chứng khoán…mà chỉ các nhà đầu tư chuyên nghiệp có nhiều kinh nghiệm mới thực hiện được
Các loại quỹ đầu tư:
Các quỹ đầu tư khác nhau về quy mô, phương thức tổ chức hoạt động và đối tượng hoạt động Căn cứ vào các tiêu thức này có các loại quỹ đầu tư sau:
- Căn cứ vào quy mô của vốn góp có thể chia thành quỹ đầu tư tư nhân và quỹ đầu tư tập thể
Quỹ đầu tư tư nhân được hình thành do một số tổ chức và cá nhân góp vốn và thuê công ty quản lý quỹ nhằm đầu tư vốn của mình có lợi nhất Qũy đầu tư tập thể là loại quỹ mà người góp vốn đông hơn, các chứng chỉ góp vốn được mua bán trên thị trường Ở loại hình này, do số lượng người góp vốn đông hơn và phần lớn không có chuyên môn sâu về nghiệp vụ đầu tư nên luật pháp các nước thường có những quy định khá chặt chẽ để bảo vệ lợi ích của người đầu tư
- Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn có thể chia thành quỹ đóng và quỹ mở
Trang 40Qũy đầu tư mở là những quỹ bán ra số lượng cổ phần không hạn chế, sẵn sàng mua lại cổ phần của cổ đông bất kỳ lúc nào với giá được xác định bằng giá trị tài sản ròng của cổ phần quỹ Giá trị này được xác định bằng tổng giá trị thị trường của tài sản
Có trừ đi các tài sản Nợ (không kể vốn cổ phần) chia cho số lượng cổ phần của công
ty Cả giá mua lại và giá bán ra đều gắn liền với giá trị tài sản Có của quỹ tại thời điểm
mua, bán Hành vi này làm cho các cổ phần quỹ trở lên ”lỏng” hơn trên thị trường tài
chính
Quỹ đầu tư đóng, trái lại, có số lượng cổ phần bán ra cố định, không thực hiện việc mua lại cổ phần của cổ đông Số cổ phần này được giao dịch trên thị trường như một loại cổ phiếu thường Giá của các cổ phần do thị trường quyết định tuỳ theo tính lỏng của cổ phần, cung và cầu về cổ phần đó và chất lượng quản lý quỹ Gần như ít có
sự kết hợp giữa giá của cổ phần trên thị trường với giá trị tài sản dòng của cổ phần
quỹ Điều này làm cho các cổ phần của công ty đầu tư đóng kém ”lỏng” hơn so với
các cổ phần của quỹ đầu tư mở
Về quy chế hoạt động, các công ty đầu tư thực hiện việc mua bán cổ phần bằng cách trực tiếp hoặc thông qua môi giới Người có cổ phần sẽ được hưởng thu nhập trong suốt thời kỳ công ty hoạt động Còn những người quản lý được hưởng lệ phí quản lý do cổ đông thanh toán Thu nhập của cổ đông và lệ phí quản lý lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào sự tăng trưởng tài sản có trong năm hoạt động
- Căn cứ vào cơ cấu tổ chức điều hành, các quỹ đầu tư có thể được tổ chức dưới dạng công ty hoặc tín thác
Theo mô hình tín thác, có ba chủ thể tham gia quá trình quản lý và đầu tư: Quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ đầu tư và ngân hàng giám sát Trong đó, quỹ đầu tư chỉ là một khối lượng vốn được tập trung lại không có tư cách pháp nhân, công ty quản lý quỹ chỉ làm chức năng hướng dẫn đầu tư cho quỹ đầu tư, ngân hàng có vai trò là người đảm bảo an toàn vốn và tài sản cho người đầu tư, giám sát việc chấp hành điều lệ quỹ Theo mô hình công ty thì các quỹ đầu tư là một pháp nhân đầy đủ với cổ đông và hội đồng quản trị, đứng ra thuê các công ty quản lý quỹ nhằm đảm bảo an toàn và kinh doanh có lời
- Căn cứ vào đối tượng đầu tư có các loại quỹ: Quỹ cổ phần thường, quỹ trái phiếu và quỹ thị trường tiền tệ
Quỹ cổ phần thường là quỹ chỉ đầu tư vào các cổ phiếu thường có độ an toàn cao
Quỹ trái phiếu chuyên đầu tư vào các loại trái phiếu với mức độ rủi ro nhất định
Quỹ thị trường tiền tệ chuyên đầu tư vào các công cụ trên thị trường tiền tệ Điểm khác biệt chủ yếu của quỹ này với các loại quỹ khác là ở chỗ: khi bán lại cổ phần cho quỹ, người đầu tư có thể phát hành séc thanh toán và được rút tiền ra từ một ngân hàng mà quỹ đang có tài khoản Nhờ cách này các cổ phần trong quỹ thị trường tiền tệ có tác dụng như một món tiền gửi vừa có thể phát hành séc vừa được hưởng lãi suất So với các cổ phần của quỹ khác thì các cổ phần này có tính thanh khoản cao hơn nhiều Khi xem xét hoạt động của quỹ, người ta đặc biệt để ý đến tính trực tiếp trong mua bán cổ phần và đầu tư chứng khoán ngắn hạn Đa số các quỹ đều bán cổ phần trực tiếp cho người mua, không tính phí và thường bán theo giá cố định Khi đầu tư chứng khoán, các quỹ tập trung vào những loại chứng khoản ngắn hạn, có lợi tức ổn định và