1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Tài chính Quốc tế Học viện tài chính

270 467 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Tài chính quốc tế
Tác giả PGS.TS Phan Duy Minh, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Tâm, TS Nhữ Trọng Bách, Th.s Lê Thanh Hà, Th.s Nguyễn Thị Hương Trà, Th.s Phan Tiến Nam, C.n Bùi Thị Nguyệt Dung, TS Đoàn Ngọc Xuân, Th.s Cao Phương Thảo, Th.s Đào Duy Thuần, Th.s Trần Thị Phương Mai, Th.s Vũ Việt Ninh, Th.s Phạm Quỳnh Mai
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Minh Tâm, Th.s Vũ Việt Ninh, PGS.TS Nhữ Trọng Bách, Th.s Cao Phương Thảo, Th.s Đào Duy Thuần, Th.s Trần Thị Phương Mai, Th.s Vũ Việt Ninh, PGS.TS Nhữ Trọng Bách
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Tài chính quốc tế
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 270
Dung lượng 751,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế đã làm nảy sinh các Quan hệ về kinh tế, văn hóa - xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao…giữa các quốc gia và cùng với sự xuất hiện

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Tài chính quốc tế là môn học chuyên ngành, mang tính chất lý luậnnghiệp vụ, trình bày những vấn đề cơ bản có liên quan đến việc quản lý, sử dụngcác luồng tiền tệ vận động giữa các quốc gia và trên phạm vi toàn cầu Môn học

đã được đưa vào giảng dạy chính thức tại Học viện Tài chính cho hệ đại họcchính qui, chuyên ngành Tài chính quốc tế từ năm học 2000 - 2001, sau đó đượctiếp tục mở rộng cho các đối tượng khác, như Cao học, Nghiên cứu sinh, Caođẳng, liên thông đại học… Từ năm học 2003 - 2004 trở đi, môn học này cònđược Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định là môn chuyên ngành bắt buộc trongchương trình khung đối với tất cả các chuyên ngành thuộc ngành đào tạo Tàichính – Ngân hàng, với thời lượng chuẩn là 4 đơn vị học trình, tương đương 60tiết học

Cuốn Giáo trình Tài chính quốc tế của Học viện Tài chính được biên soạnlần đầu xuất bản năm 2012, do PGS.TS Phan Duy Minh và PGS.TS Đinh TrọngThịnh chủ biên có nội dung chính được trình bày qua 8 chương, với sự tham giabiên soạn như sau

PGS.,TS Phan Duy Minh, chủ biên, trực tiếp viết chương 1, chương 5,tham gia viết các chương 2, 3 và 7;

PGS.,TS Đinh Trọng Thịnh, chủ biên, trực tiếp viết chương 8 và tham giaviết chương 7;

PGS.,TS Nguyễn Thị Minh Tâm, Phó Trưởng bộ môn Tài chính quốc tế

và TS Nhữ Trọng Bách, Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng và tư vấn tài chính kếtoán, Học viện Tài chính, viết chương 6;

Th.s Lê Thanh Hà, Giảng viên chính bộ môn Tài chính quốc tế, viếtchương 4;

Th.s Nguyễn Thị Hương Trà, Th.s Phan Tiến Nam, Giảng viên của bộmôn Tài chính quốc tế, tham gia viết chương 3;

C.n Bùi Thị Nguyệt Dung, Giảng viên của Bộ môn Tài chính quốc tế,tham gia viết chương 2;

TS Đoàn Ngọc Xuân, Phó Hiệu trưởng Đại học Y Hà nội, tham gia viếtchương 7

Sau 5 năm lưu hành đã trở thành tài liệu bổ ích cho nhiều khóa đào tạo sinh viêncũng như Cao học và Nghiên cứu sinh

Trang 2

Tuy vậy, do những thay đổi về nội dung chương trình đào tạo như đã đề cập ởtrên, đồng thời, trải qua một quảng thời gian khá dài như vậy, những nhận thức

về Tài chính quốc tế, cả về lý luận và thực tiễn, có khá nhiều vấn đề cần phảichỉnh sửa, bổ sung, đổi mới và cập nhật hơn Trước yêu cầu đó, Giám đốcHọc viện Tài chính đã quyết định giao cho PGS.,TS Nguyễn Thị Minh TâmPhụ trách bộ môn Tài chính quốc tế và Ths Vũ Việt Ninh phó bộ môn Tàichính quốc tế của Học viện Tài chính, chủ nhiệm cùng một số giảng viêntham gia chỉnh sửa, bổ sung …viết lại cuốn giáo trình theo quyết định số 182/

QĐ-HVTC ngày 28 tháng 02 năm 2017, về việc “ giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2017 cho các cá nhân, đơn vị của Học viện Tài chính năm 2017 ”

Cuốn giáo trình được chỉnh sửa lần này chủ yếu dựa trên nội dung củacuốn giáo trình Tài chính quốc tế 2012, cũng như chỉnh sửa, bổ sung, cập nhậtthêm các nội dung mới cho phù hợp Nội dung chính được trình bày qua 8chương, với sự tham gia chỉnh sửa như sau

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Tâm, Chủ nhiệm, tham gia chỉnh sửa chương 1 Th.s Cao Phương Thảo tham gia chỉnh sửa chương 2 và chương 4

Th.s Đào Duy Thuần tham gia chỉnh sửa chương 3

Th.s Trần Thị Phương Mai thư ký đề tài, tham gia chỉnh sửa chương 5

Th.s Vũ Việt Ninh, chủ nhiệm tham gia chỉnh sửa 6

Th.s Phạm Quỳnh Mai tham gia chỉnh sửa chương 7

PGS.TS Nhữ Trọng Bách tham gia chỉnh sửa chương 8

Mặc dù các tác giả đã hết sức nỗ lực, cố gắng, nhưng vì những khó khănchủ quan và khách quan, những hạn chế về nhận thức, nên chắn chắn còn nhiềukhiếm khuyết cả nội dung và hình thức Tập thể tác giả mong tiếp tục nhận được

ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các học viên và nhữngngười quan tâm đến môn học này để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

BAN QUẢN LÝ KHOA HỌC - HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Trang 3

GIỚI THIỆU MÔN HỌC

Vị trí của môn học Tài chính quốc tế tại Học viện Tài chính

Môn học Tài chính quốc tế là khoa học nghiên cứu có hệ thống những vấn

đề cơ bản về lý luận và nghiệp vụ của hoạt động Tài chính quốc tế (TCQT) Mặc

dù Tài chính quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, song nghiên cứu một cách

có hệ thống hoạt động của chúng thì trên thế giới cũng đặt ra chưa lâu (khoảng những năm 80 của Thế kỷ 20) và tương đối mới mẻ ở Việt Nam (những giáo trình viết về Tài chính quốc tế xuất bản đầu tiên ở Việt Nam là những năm 1999, 2000) Ở Học viện Tài chính, môn học TCQT được đưa vào giảng dạy chính

thức đầu tiên tại năm học 2000 - 2001 cho sinh viên chuyên ngành Tài chínhquốc tế Đến năm học 2003 - 2004, theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo,sinh viên các chuyên ngành thuộc ngành Tài chính - Ngân hàng đều được họcmôn học này Qua quá trình đào tạo môn học này đến nay các khoá học của sinhviên chuyên ngành Tài chính quốc tế và các khoá học của sinh viên các chuyênngành khác đã cho thấy môn học TCQT có nội dung phong phú và hàm chứanhiều vấn đề mới mẻ, thiết thực, thời sự cấp bách, phù hợp với xu thế hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam và quá trình toàn cầu hoá Môn học đãthực sự khẳng định được vị trí của mình và mang lại nhiều bổ ích cho người học

Đối tượng của môn học

Môn học TCQT tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính qui luật vàbản chất của sự vận động các luồng tiền tệ giữa các quốc gia gắn với từng chủthể cụ thể thông qua các quan hệ tiền tệ quốc tế Các quan hệ đó được tổ chức,thực hiện trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với các chủ thể khi tham gia cácquan hệ quốc tế về kinh tế, văn hóa – xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao…,với các yếu tố là điều kiện, môi trường cần thiết có liên quan để hình thành và

sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho chính các chủ thể này trong các quan hệquốc tế

Mục đích của môn học

Môn học TCQT nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, có

hệ thống về hoạt động TCQT và các nghiệp vụ chủ yếu của chúng để từ đó giúp

họ có thể độc lập xử lý tốt các vấn đề có liên quan đến hoạt động TCQT, kể cả

tổ chức thực hiện các hoạt động TCQT, cũng như có khả năng nắm bắt nhanhchóng và thích ứng với những thay đổi không ngừng trong lĩnh vực TCQT

Trang 4

Yêu cầu của môn học

Về kiến thức Đòi hỏi người học phải nắm được những lý thuyết cơ bản,

những tinh thần cốt lõi, xuyên suốt của các chính sách và cơ chế trong hoạt độngtài chính quốc tế, các luận cứ khoa học và thực tiễn, cũng như tính quy luật và

xu hướng vận động của chúng trong tương lai

Về kỹ năng Môn học đòi hỏi người học phải nắm và xử lý được các nghiệp vụ chủ yếu của hoạt động tài chính quốc tế (trên góc độ phương pháp luận) gắn với các chủ thể cụ thể thông qua các bài tập, câu hỏi thảo luận trong

quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp Từ đó làm cơ sở

để có thể xử lý được các tình huống do hoạt động thực tiễn đặt ra

Về năng lực nhận thức và tư duy Người học phải biết vận dụng những

kiến thức đã được trang bị vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá các hoạtđộng tài chính quốc tế và làm tốt công tác dự báo cho tương lai

Về phẩm chất nhân văn Người học phải có tầm nhìn tổng quát, thấy được

vai trò vị trí của tài chính quốc tế để xử lý hài hoà các mối quan hệ quốc gia vàquốc tế, phục thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ của quốc gia, lợi ích của dân tộc

Phương pháp nghiên cứu môn học

Tài chính quốc tế là môn học khá mới mẻ, bao gồm nhiều nội dung khácnhau và có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều môn khoa học khác Do vậy, để cóthể tiếp cận môn học một cách hiệu quả nhất, đòi hỏi phải vận dụng tổng hợpnhiều phương pháp nghiên cứu Trong đó, phương pháp luận duy vật biệnchứng, luôn xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến, toàn diện vớithế giới xung quanh, vận động và phát triển, gắn liền với điều kiện lịch sử cụthể , phải luôn được vận dụng xuyên suốt trong cả quá trình Đồng thời, các

phương pháp tổng hợp và phân tích (qui nạp và diễn giải), đánh giá, so sánh,

phương pháp chuẩn tắc và thực chứng cũng phải được kết hợp vận dụng nhuầnnhuyễn và là những phương pháp quen thuộc trong quá trình nghiên cứu kinh tếnói chung, cũng như đối với môn học này

Quan hệ của môn học với các môn học khác

Là môn học có tính chất chuyên môn nghiệp vụ đi sâu nghiên cứu về mộtlĩnh vực tài chính, lĩnh vực Tài chính quốc tế, đòi hỏi chúng phải có những luận

cứ lý luận nền tảng được xây dựng có hệ thống từ nhiều môn học khác nhau,

như: Kinh tế học (Kinh tế học vĩ mô và Kinh tế học vi mô); Kinh tế học quốc tế;

Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đồng thời, những luận cứ đó còn được bổ sung,củng cố thêm bằng hàng loạt các môn học khác, nhất là các môn học đi sâu vào

Trang 5

các lĩnh vực và các hoạt động tài chính khác, như Quản trị Tài chính doanh

nghiệp; Quản lý Tài chính nhà nước (Tài chính công); Bảo hiểm; Thị trường

chứng khoán v.v Do vậy, để học tốt môn học này, người học cần có một nềntảng kiến thức tốt của tất cả các môn học nói trên Ngược lại, việc học tốt mônTài chính quốc tế cho phép người học củng cố cả về bề rộng , cả về bề sâunhững kiến thức đã được tích luỹ của mình

Nội dung cơ bản của môn học

Để phù hợp với thời lượng học tập dành cho sinh viên các chuyên ngànhthuộc ngành Tài chính - Ngân hàng và thích ứng với cả hình thức đào tạo theotín chỉ, môn học Tài chính lựa chọn và trình bày những nội dung cần thiết, chủyếu sau đây

- Tổng quan về Tài chính quốc tế;

- Những nội dung cơ bản của các yếu tố có tính chất là điều kiện, môitrường, công cụ quản lý gắn liền với các hoạt động TCQT, như Tỷ giá hốiđoái, Cán cân thanh toán quốc tế, Thị trường tài chính quốc tế và các nghiệp

vụ có liên quan của chúng;

- Thanh toán quốc tế;

- Đầu tư quốc tế (đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp) và Tài chính công ty

đa quốc gia;

- Hoạt động viện trợ, vay và nợ quốc tế của các quốc gia;

- Liên minh quốc tế về thuế;

- Một số tổ chức tài chính quốc tế và quan hệ với Việt Nam

Là môn học nghiệp vụ chuyên ngành, Tài chính quốc tế trình bày có hệthống những vấn đề lý luận nghiệp vụ trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vớithực tiễn sinh động của hoạt động tài chính quốc tế Nghiên cứu môn học nàychắc chắn sẽ giúp người học nâng cao hiểu biết cả về lý luận cũng như kinhnghiệm thực tiễn, tích luỹ kiến thức, trau dồi tay nghề, phục vụ có hiệu quả nhấtcho sự nghiệp xây dựng đất nước

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

1.1.1 Điều kiện hình thành và phát triển Tài chính quốc tế

Tài chính quốc tế (TCQT) được hiểu là sự vận động của các luồng tiền tệ

giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế Như vậy, tài chính quốc tế là một bộphận cấu thành của tài chính quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vàcác chính sách của quốc gia đó trong quan hệ với cộng đồng quốc tế

Lịch sử phát triển của mọi quốc gia độc lập cho thấy hội nhập ngày càngsâu, rộng vào kinh tế thế giới là một xu hướng tất yếu để phát triển Hợp tácquốc tế giúp phân bổ nguồn lực mỗi quốc gia hiệu quả hơn do tận dụng được ưuthế đối với nguồn lực ngoài nước và phát huy tốt hơn tiềm năng của nguồn lựctrong nước

Quá trình hợp tác quốc tế được thực hiện trên cơ sở phân công lao độngquốc tế, được diễn ra không chỉ trong phạm vi của một quốc gia mà trên phạm

vi toàn thế giới, khi đó nền kinh tế thế giới được xem như một chỉnh thể và nềnkinh tế mỗi quốc gia là một bộ phận cấu thành có quan hệ khăng khít, phụ thuộclẫn nhau

Khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế đã làm nảy sinh

các Quan hệ về kinh tế, văn hóa - xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao…giữa các quốc gia và cùng với sự xuất hiện của tiền thực hiện được chức năng tiền tệ thế giới là hai điều kiện tiền đề cơ bản làm xuất hiện và phát triển Tài chính

quốc tế

Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, xuất hiệnsản phẩm dư thừa và họ có nhu cầu trao đổi với nhau Việc trao đổi đó khôngchỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia, mà còn được thực hiện giữa các quốc gia Lúc

đầu hoạt động trao đổi chủ yếu được thực hiện trực tiếp hàng đổi hàng (H - H),

đến khi có tiền tệ xuất hiện và thực hiện được chức năng tiền tệ thế giới thì hành

vi trao đổi trên được thực hiện qua tiền tệ (H - T - H), thực chất là tách ra thành hai quá trình Bán (H - T) – xuất khẩu và Mua (T - H) – nhập khẩu, tiếp đó các

hoạt động thanh toán được thực hiện để hoàn tất giao dịch này.Như vậy, khi

quốc gia A bán hàng cho quốc gia B thì hàng (H) chảy từ A sang B, khi thanh toán thì tiền (T) chảy ngược lại từ B sang A, làm phát sinh hoạt động tài chính

Trang 7

quốc tế Tuy nhiên, đồng tiền trong trao đổi của hai quốc gia là khác nhau, do đócần phải có đồng tiền chung mà được các nước tham gia giao dịch thừa nhận thìhoạt động thương mại mới được thực hiện thuận lợi Cùng với sự xuất hiện củacủa tiền tệ như một trung gian, dần đã đầy đủ các chức năng trong trao đổi, trongthanh toán, trong dự trữ và chức năng tiền tệ thế giới Trong quá trình thanhtoán, các quốc gia phải lựa chọn đồng tiền thanh toán và xử lý mối quan hệ giữađồng tiền nên xác định tỷ giá hối đoái và quản lý tỷ giá hối đoái trở thành mộtnội quan trọng của TCQT.

Thương mại quốc tế càng phát triển thì cũng nảy sinh nhiều hiện tượng mua vàbán chịu; thiếu hụt vốn cũng như dư thừa vốn tạm thời trong thanh toán tiềnhàng từ đó làm xuất hiện những hoạt động huy động và cho vay vốn của các tổchức trung gian quốc tế

Sự tham gia phân công lao đông quốc tế phát triển đến mức độ cao hơnđược thực hiện qua Đầu tư quốc tế (ĐTQT) lúc đầu chủ yếu được thực hiện dướihình thức các nước phát triển hơn đi khai phá, vơ vét của các nước thuộc địa củacác nước mạnh, mà phổ biến nhất là các nước tư bản phương Tây Họ đưa máymóc, chuyên gia đến và dùng nhân công của nước sở tại khai thác tài nguyên,khoáng sản, kim khí quí đưa về chính quốc Đến khi tiền tệ xuất hiện và thựchiện được chức năng tiền tệ thế giới, ĐTQT càng được đẩy mạnh thông qua cácdòng tiền vốn di chuyển từ nước đầu tư để hình thành các cơ sở sản xuất ngaytại các nước tiếp nhận đầu tư và sau đó là những dòng tiền lợi nhuận từ nướctiếp nhận đầu tư chảy về chính quốc Tiếp nối sự phát triển của TMQT vàĐTQT, kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp quốc tế, Tín dụng quốc tế

(TDQT), Du lịch quốc tế, Xuất khẩu lao động quốc tế, Chuyển giao công nghệ

quốc tế và các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về văn hoá - xã hội; chính trị,quân sự, ngoại giao đã lần lượt xuất hiện và phát triển Những hoạt động nàydiễn ra trong điều kiện tiền tệ thực hiện được chức năng tiền tệ thế giới, đã làmdịch chuyển, vận động các luồng tiền tệ từ quốc gia này sang quốc gia khác, làmnẩy sinh các hoạt động TCQT

Tóm lại, Tài chính Quốc tế xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các điều kiện

cần và đủ sau đây

- Các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về kinh tế; văn hoá - xã hội;

chính trị, quân sự, ngoại giao là điều kiện cần tạo cơ sở cho sự hình thành vàphát triển của TCQT

Trang 8

- Tiền tệ với chức năng tiền tệ thế giới là điều kiện đủ để TCQT vận hànhthông suốt

1.1.2 Vài nét về quá trình hình thành, phát triển của Tài chính quốc tế

TCQT ra đời và phát triển từ hình thức giản đơn đến hình thức đa dạng vàphức tạp, gắn với những điều kiện khách quan của sự phát triển kinh tế, xã hộicủa mỗi quốc gia cũng như quốc tế Có thể nói, TCQT xuất hiện đầu tiên gắnliền với các hoạt động buôn bán giữa các quốc gia khi mà đã có tiền tệ xuất hiệnlàm trung gian trao đổi, thanh toán Lúc này tiền được sử dụng là tiền vàng và

phát triển rực rỡ trên Con đường tơ lụa từ Trung Đông sang Trung Quốc Giao

lưu buôn bán quốc tế càng phát triển khi đầu máy hơi nước ra đời và sự pháttriển thịnh vượng của chủ nghĩa tư bản, cũng là đồng nghĩa với sự phát triển củaTCQT hoạt động của TCQT không chỉ bó hẹp trong phạm vi thanh toán cho cáchoạt động mua bán hàng hoá, mà phát triển thêm các hoạt động, như: dịch vụbảo hiểm đầu tư quốc tế, (bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp) tíndụng quốc tế Du lịch quốc tế, Xuất khẩu lao động, Chuyển giao công nghệ hoạt động hợp tác quốc tế giữa các quốc gia về văn hoá - xã hội; về chính trị,quân sự, ngoại giao cũng được diễn ra thuận lợi và mở rộng khôngngừngcũng đồng nghĩa với hoạt động TCQT phát triển mạnh mẽ ngày càng đadạng, phong phú và mang lại những hiệu quả rất thiết thực Ngày nay, với xuthế ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới nên những biếnđộng kinh tế - tài chính xảy ra tại mỗi quốc gia ngay lập tức ảnh hưởng và lantruyền trên phạm vi khu vực và toàn thế giới, thực tế đó đã khẳng định tác độngcủa TCQT đã mang tính toàn cầu hóa

Ở Việt Nam, hoạt động TCQT cũng đã có manh nha từ lâu, là quốc gia có

vị trí thuộc một trong những đầu mối giao lưu buôn bán quốc tế khá sớm của thếgiới Tuy vậy, có thể nói, hoạt động TCQT mang tính chính thức và thực sự sôiđộng kể từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa, giao lưu toàndiện với cộng đồng quốc tế Thật vậy, nếu thanh toán quốc tế gắn với hoạt độngxuất nhập khẩu của cả nền kinh tế năm 1987 chỉ mới trên dưới 2 tỷ USD, thìnăm 2005 con số đó là xấp xỉ 70 tỷ USD, đến năm 2010 đạt 157 tỷ USD; dự

kiến 2017 sẽ đạt này dự kiến sẽ hơn 400 tỷ USD; gần 30 năm qua (1987 2017) Vốn đăng ký FDI vào Việt Nam lũy kế các dự án còn hiệu lực đến

-T12/2017 là 297.001,721 triệu USD , đã tăng khoảng 4 lần sau với năm 2006 làmức cao nhất từ trước đến nay

Trang 9

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Thu hút FDI 12005 21348 71727 23107 19887 15619 16348 22352 20230 22757 24733 35880

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Đó là chưa kể hàng chục tỷ USD kiều hối được chuyển về năm 2015 vớitổng cộng 13,2 tỷ USD kiều hối đổ về Việt Nam Đến năm 2016, con số này

giảm còn 9 tỷ USD Đặc biệt, từ năm 2007, khi Việt Nam là thành viên chính

thức của WTO, quan hệ hợp tác với thế giới càng sâu rộng và toàn diện hơn, hứahẹn hoạt động TCQT có nhiều cơ hội mới mở rộng và phát triển hơn

1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

1.2.1 Khái niệm Tài chính quốc tế.

Trên các góc độ xem xét khác nhau, có thể có những quan niệm không giốngnhau về hoạt động tài chính quốc tế:

Đứng trên góc độ từng quốc gia để nhìn nhận thì hoạt động Tài chính nói

chung bao gồm: hoạt động Tài chính nội địa của quốc gia và hoạt động Tàichính đối ngoại và hoạt động tài chính quốc tế thuần túy Từ đó, hoạt động Tàichính quốc tế bao gồm hoạt động Tài chính đối ngoại của quốc gia và hoạt độngTài chính quốc tế thuần túy; còn hoạt động Tài chính quốc tế thuần túy đượchiểu là hoạt động Tài chính có tính toàn cầu của các tổ chức quốc tế, cả tổ chức

Trang 10

quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ và hoạt động Tài chính của các Công ty

đa và xuyên quốc gia, hay còn gọi là các công ty quốc tế Quan niệm này đượchình thành gắn với quá trình hình thành và phát triển của TCQT tồn tại phổ biến

ở các nước đang phát triển với mức độ hội nhập quốc tế còn hạn chế

Đứng trên phạm vi toàn cầu để nhìn nhận TCQT thì hoạt động Tài chính nói

chung bao gồm hoạt động Tài chính của các quốc gia và hoạt động Tài chínhquốc tế Trong đó, hoạt động Tài chính của mỗi quốc gia lại gồm có hoạt độngTài chính đối nội và hoạt động Tài chính đối ngoại của chính quốc gia đó Cònhoạt động TCQT chính là phần TCQT thuần tuý Quan niệm này thường được

sử dụng tại các quốc gia phát triển có mức độ hội nhập quốc tế cao

Xuất phát từ thực tế phát triển của Việt Nam nên quan niệm về TCQTtrong môn học TCQT này được tiếp cận theo trên giác độ từng quốc gia trênđây Từ cách tiếp cận này nên TCQT có thể được nhìn nhận như sau

- Tài chính quốc tế có thể hiểu là tất cả các hoạt động tài chính phát sinhtrên bình diện quốc tế gắn với các chủ thể tham gia vào các quan hệ quốc tế vềkinh tế; văn hoá - xã hội; chính trị, quân sự, ngoại giao chủ thể thực hiện cáchoạt động TCQT là: Chính phủ, các tổ chức kinh tế - xã hội, các công dân củacác quốc gia hoặc là các tổ chức quốc tế

- Nội hàm cơ bản của hoạt động TCQT là sự vận động của các luồng tiền

tệ giữa các quốc gia gắn với các quan hệ quốc tế nói trên Sự vận động của cácluồng tiền tệ giữa các quốc gia thường được thực hiện thông qua nhiều đồng tiềnkhác nhau, đồng thời cũng dẫn tới việc hình thành các quĩ tiền tệ trực thuộc cácchủ thể cụ thể của TCQT và để thực hiện các quan hệ quốc tế của các chủ thể cụthể này

Tóm lại, Tài chính quốc tế là một lĩnh vực tài chính mà hoạt động củachúng diễn ra trên bình diện quốc tế với nội hàm cơ bản là sự vận động của cácluồng tiền tệ giữa các quốc gia gắn với các quan hệ quốc tế về kinh tế, văn hoá -

xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao… giữa các chủ thể của các quốc gia thôngqua tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng nhu cầu khácnhau của các chủ thể đó trong quan hệ quốc tế

1.2.2 Đặc điểm hoạt động của Tài chính quốc tế

Hoạt động TCQT là một bộ phận trong tổng thể hoạt động tài chính nóichung, bởi vậy nó cũng có những đặc điểm chung của các hoạt động tài chínhnhư: gắn liền với tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ, các luồng tiền tệ vận động

Trang 11

thông qua các quan hệ tiền tệ v.v Ngoài ra, còn có những đặc điểm riêng cósau đây.

- TCQT có phạm vi hoạt động rộng, Hoạt động TCQT là sự vận động của

các luồng tiền tệ giữa các quốc gia, có nghĩa là, giờ đây địa bàn hoạt động củaTCQT không giống như nhiều lĩnh vực tài chính khác là chỉ diễn ra chủ yếutrong phạm vi quốc gia, mà mở rộng hơn đó là quan hệ giữa các quốc gia Nhưvậy, phạm vi hoạt động của TCQT là rất rộng lớn, trải ra trên phạm vi toàn cầu.Hoạt động TCQT của các chủ thể của một quốc gia được tiến hành trong quan

hệ với các chủ thể của các quốc gia khác hoặc với các tổ chức quốc tế, nên thểchế chính trị, chính sách quản lý kinh tế cũng như môi trường văn hóa – xã hộicủa các đối tác sẽ tác động không nhỏ đến hoạt động TCQT như:

+ Quy định luật lệ, chính sách, chế độ về thanh toán, đầu tư, tín dụng,thuế của các quốc gia: Thay đổi quan điểm, đường lối, thể chế nhà nước, chế độchính trị của các quốc gia Do đảng phái chính trị mới lên cầm quyền, thực thinhững đường lối, chính sách, luật lệ mới, kéo theo những sự thay đổi rất lớn

về thể chế nhà nước, thậm chí là chế độ chính trị những biến động này sẽ tácđộng đến hoạt động TCQT

+ Văn hóa, tín ngưỡng của mỗi quốc gia, vùng miền: do văn hóa cũngnhư tín ngưỡng của các quốc gia thường có bản sắc riêng mang tính vùngmiền.Tất cả các yếu tố trên ảnh hưởng đến sự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, qui

mô đầu tư, hiệu quả hoạt động đầu tư, kinh doanh nên tất yếu tác động đếncác hoạt động TCQT

Do vậy, trong hoạt động TCQT, các chủ thể của một quốc gia khôngnhững phải nắm vững các chính sách của quốc gia mình trong quan hệ quốc tế

mà còn phải có hiểu biết về thể chế chính trị, chính sách kinh tế - xã hội, vănhóa của các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác mà mình hợp tác để hoạtđộng TCQT được thực hiện thuận lợi và có hiệu quả

- Có sự tham gia của nhiều đồng tiền khác nhau Mỗi quốc gia hay vùng

lãnh thổ đều lưu thông một đồng tiền riêng (đồng nội tệ) nên mọi hoạt động kinh

tế của mỗi quốc gia đều được thực hiện thông qua đồng tiền đó (chỉ một số ítquốc gia cho phép lưu thông đồng tiền khác ngoài đồng nội tệ (ngoại tệ) ) khi

có các luồng tiền tệ vận động đến hoặc đi khỏi một quốc gia nào đó đều phải có

sự hoán đổi tiền tệ giữa đồng tiền nội tệ của nước sở tại và đồng tiền quốc giakhác Quốc gia nào có hoạt động TCQT càng phát triển thì các đồng tiền thamgia vào hoạt động tài chính càng nhiều với khối lượng chuyển đổi giữa các loại

Trang 12

tiền tệ lớn Chính từ đây mà TCQT thường phải đối mặt với một loại rủi ro

riêng có đó là rủi ro tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái phản ánh tương quan sức

mua giữa các đồng tiền, chúng bị chi phổi bởi rất nhiều nhân tố khác nhau, nênrất dễ bị biến động và từ đó có thể gây ra rủi ro, thiệt hại kinh tế cho các chủ thểtham gia hoạt động TCQT

- Hoạt động của tài chính quốc tế đang phát triển theo xu hướng ngày càng đa dạng và phức tạp

Hội nhập quốc tế đang diễn ra với tốc độ cao và qui mô ngày càng lớn đãthúc đẩy các hoạt động TCQT ngày càng đa dạng và phức tạp

+ Sự phát triển nhanh chóng của các công ty đa quốc gia (MNCs) vừa tạonhu cầu, vừa là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động TCQT phát triển vìcông ty MNNs dẫn dắt xu hướng và qui mô vốn đầu tư nhất là đầu tư trực tiếpFDI toàn cầu, các quyết định đầu tư của các MNCs kéo theo sự di chuyển dòngvốn, nhân công, công nghệ …

+ Hệ thống các trung gian tài chính ngày càng mở rộng với qui mô lớn,nhiều sản phẩm tín dụng mới ra đời đã tạo cơ hội để tăng cường hợp tác quốc tế

về tài chính – tiền tệ giữa các quốc gia

+ Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của thị trường vốn đã tạo điều kiện

để các nhà đầu tư, các Chính phủ, các tổ chức quốc tế có thể huy động và đầu tưvốn dưới nhiều hình thức khác nhau, tại nhiều quốc gia khác nhau với sự thamgia của nhiều đồng tiền khác nhau làm cho các hoạt động TCQT trở nên đadạng, phong phú và phức tạp hơn

Xu hướng phát triển kinh tế quốc tế đã làm xuất hiện nhiều công cụtài chính mới giúp đẩy mạnh luân chuyển dòng vốn trên thế giới nhanh vàmạnh hơn từ đó đã tạo điều kiện cho hoạt động TCQT phát triển cả bề rộng

và chiều sâu

1.3 CẤU THÀNH (NỘI DUNG) CỦA TCQT

Bất cứ một lĩnh vực hoạt động tài chính nào cũng được cấu thành bởi ba

yếu tố cơ bản là, Chủ thể, các Quỹ tiền tệ trực thuộc chủ thể và các Quan hệ tiền

tệ gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ đó Ngoài ra, bên

cạnh ba yếu tố chính trên đây, có thể còn có một số các yếu tố khác gắn bó chặtchẽ với lĩnh vực hoạt động tài chính, có tính chất như là điều kiện, môi trường cho lĩnh vực tài chính này tồn tại và hoạt động

1.3.2.1 Các chủ thể thuộc Tài chính quốc tế

Trang 13

Chủ thể của TCQT là các tác nhân (tổ chức, cá nhân) tham gia vào các

quan hệ quốc tế về kinh tế, văn hoá - xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao và sửdụng tiền tệ thực hiện các quan hệ quốc tế đó Với cách hiểu như vậy, chủ thểcủa TCQT bao gồm nhiều loại gắn với các hoạt động TCQT cụ thể như sau

- Các chủ thể tham gia vào hoạt động Tài chính đối ngoại của quốc gia.

Đây vốn là các chủ thể của các lĩnh vực tài chính nội địa, song trong điều kiện

mở cửa và hội nhập quốc tế, có nhiều quan hệ với các quốc gia khác nên các chủthể này đồng thời cũng là chủ thể của các hoạt động tài chính quốc tế Gồm có:Nhà nước, cá nhân, hộ gia đình, các định chế tài chính trung gian, các doanhnghiệp của quốc gia có tham gia vào các quan hệ đối ngoại về kinh tế, văn hoá

- xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao

- Các chủ thể của TCQT thuần túy Đây là các chủ thể tham gia vào các

hoạt động tài chính có tính chất thuần túy quốc tế, tức là không chỉ vì lợi ích cụthể của một hay một vài quốc gia nào mà vì lợi ích chung của tất cả hoặc đại đa

số các quốc gia trên thế giới Thuộc về các chủ thể này gồm các tổ chức quốc tế

và các công ty đa, xuyên quốc gia

+ Các tổ chức quốc tế Là các tổ chức được hình thành, hoạt động vì lợiích chung của nhiều quốc gia Chúng gồm Các tổ chức quốc tế liên Chính phủ

(WB; IMF; ADB…) và Các tổ chức quốc tế phi chính phủ (Nongovernment Orgnization - NGO) + Các công ty quốc tế Các công ty này lấy địa bàn toàn

cầu, thị trường thế giới làm phạm vi hoạt động Trước đây chúng thường được

chia thành các công ty đa quốc gia (MNCs) và các công ty xuyên quốc gia (TNCs), nhưng xu hướng gần đây chúng được gọi chung là công ty đa quốc gia

hay công ty quốc tế

1.3.2.2 Các Quỹ tiền tệ thuộc Tài chính quốc tế

Các quỹ tiền tệ nói chung đều phản ánh nội dung vật chất của hoạt độngtài chính, thể hiện bằng những lượng tiền nhất định dành cho các mục đích hoạtđộng nào đó Các quỹ tiền tệ đều trực thuộc những chủ thể nhất định và chịu sựchi phối của các chủ thể này thông qua quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc cả haiquyền đó Các quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng thông qua các quan hệtiền tệ Như vậy, thuộc TCQT có các loại quĩ tiền tệ sau đây

- Các quĩ tiền tệ gắn với hoạt động Tài chính đối ngoại

+ Với Chủ thể Nhà nước, đó là các khoản đi vay và cho vay quốc tế, cáckhoản nhận và viện trợ quốc tế

Trang 14

+ Với các hộ gia đình, là kiều hối và các khoản thu nhập khác từ nướcngoài chuyển về

+ Với các định chế tài chính trung gian, là các khoản tiền trong thanh toánquốc tế, Các khoản vay và cho vay nước ngoài

+ Với các doanh nghiệp của quốc gia, gồm:Vốn đầu tư nước ngoài, gồmgóp vốn vào, đầu tư ra của các doanh nghiệp, Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

- Các quỹ tiền tệ của hoạt động TCQT thuần tuý Đó là các quỹ tiền tệ

thuộc các chủ thể của TCQT thuần tuý

+ Đối với các tổ chức quốc tế liên chính phủ Ở đây bao gồm các quỹ tiền

tệ để duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của các tổ chức này, như Quỹcủa Liên hợp quốc, của WTO, của EU ; Các quỹ tiền tệ chuyên dùng, như vốn

và các khoản cho vay của các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế (của WB, IMF, ADB )…

+ Đối với các tổ chức quốc tế phi chính phủ Chúng cũng bao gồm cácquỹ tiền tệ như đối với tổ chức quốc tế liên chính phủ nói trên, nhưng chủ yếu làcác quỹ có tính chất ngân sách để duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thườngcủa các tổ chức này, như Quỹ tiền tệ của Hội Chữ thập đỏ quốc tế, của HộiTrăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, của Tổ chức Green Peace

+ Đối với các công ty quốc tế Các quỹ tiền tệ này cũng tương tự như đối

với các quỹ tiền tệ thuộc lĩnh vực Tài chính Doanh nghiệp, như vốn kinh doanh,thu nhập, lợi nhuận, các quĩ chuyên dùng , nhưng mang tính quốc tế, toàn cầu

1.3.2.3 Các Quan hệ tiền tệ thuộc Tài chính quốc tế

Trong hoạt động thực tiễn, các quan hệ tiền tệ nói chung thường phát sinhgắn liền với các hoạt động thanh toán, đầu tư, tín dụng và chuyển giao mộtchiều; đồng thời, đây cũng chính là các loại quan hệ tiền tệ phổ biến nhất Tronghoạt động TCQT cũng có đầy đủ bốn loại quan hệ tiền tệ này, song chúng có

tính chất riêng, đó là tính quốc tế.

- Thanh toán quốc tế Đó là hoạt động chi trả và thụ hưởng tiền tệ cho

việc mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia

Thanh toán quốc tế luôn mang đặc trưng cơ bản là, vận động ngược chiềuvới luồng tiền tệ chi trả giữa các quốc gia là luồng hàng hoá, dịch vụ đối ứng

Thanh toán quốc tế được thực hiện gắn với các hoạt động Thương mạiquốc tế, du lịch quốc tế, xuất khẩu lao động quốc tế, chuyển giao công nghệquốc tế, quan hệ quốc tế về văn hoá - xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao v.v

Trang 15

- Đầu tư quốc tế Là sự vận động của các luồng tiền và các nguồn lực tài

chính khác giữa các quốc gia, chuyển hóa chúng thành vốn kinh doanh nhằmmục đích kiếm lời trong tương lai

Đặc trưng của đầu tư quốc tế là tiền vận động từ quốc gia này đến quốcgia khác với kỳ vọng sẽ thu lợi nhuận tối đa trong tương lai

Đầu tư quốc tế thường được thực hiện thông qua Đầu tư trực tiếp và Đầu

tư gián tiếp quốc tế Giữa thanh toán quốc tế và Đầu tư quốc tế thường có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Nói chung, sau hoạt động đầu tư là hoạt động thanhtoán, hoạt động thanh toán là cụ thể hoá, triển khai thực hiện hoạt động đầu tư

- Tín dụng quốc tế Đó là quan hệ vay mượn tiền tệ giữa các quốc gia.

Đặc trưng của tín dụng quốc tế là tiền vận động từ quốc gia này đến quốcgia khác nhưng sau một thời gian nhất định phải hoàn trả lại vốn gốc và có thểkèm theo lãi

- Chuyển giao tiền tệ quốc tế một chiều Đây là hoạt động tài trợ, viện trợ

không hoàn lại, chuyển giao thu nhập, tặng, biếu quốc tế bằng tiền

Đặc trưng của chuyển giao tiền tệ quốc tế một chiều là tiền vận động chỉmột chiều từ quốc gia này đến quốc gia khác mà không có chiều ngược lại.Chuyển giao tiền tệ quốc tế một thường được thực hiện dưới các hình thức chủyếu như: Viện trợ quốc tế không hoàn lại, Cứu trợ quốc tế, Kiều hối, Chuyểngiao thu nhập, Quà tặng

1.2.2.4 Các yếu tố khác

Thuộc về nội hàm cấu thành nên TCQT gồm ba loại yếu tố cơ bản trênđây Các yếu tố còn lại tiếp theo chủ yếu là thuộc về môi trường và điều kiện đểđảm bảo cho TCQT hoạt động Chúng gồm có một số yếu tố chính sau đây

- Tỷ giá hối đoái Đây là công cụ vô cùng quan trọng để quy đổi, chuyển

đổi các luồng tiền tệ trong hoạt động TCQT

- Thị trường TCQT Là một trong những yếu tố có tính chất môi trường

quan trọng nhất cho nhiều quan hệ tiền tệ thuộc TCQT được thực hiện

- Liên minh thuế quốc tế Đây là các biện pháp để giải quyết các rào cản

trong hoạt động TMQT, cũng là điều kiện cho các luồng tiền tệ vận động trôichảy hơn giữa các quốc gia

- Cán cân thanh toán quốc tế Là một trong những công cụ chủ yếu nhất

để ghi chép, phản ánh các hoạt động TCQT của một quốc gia trong từng khoảngthời gian nhất định

1.4 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Trang 16

Thông qua hoạt động trong thực tiễn, TCQT phát huy vai trò to lớn củamình trên các giác độ chủ yếu sau đây.

1.4.1 Khai thác các nguồn lực ngoài nước để tăng vốn đầu tư phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại của các quốc gia đòi hỏi một khốilượng vốn đầu tư rất lớn mà nếu chỉ dựa vào huy động vốn trong nước thì khó cóthể đáp ứng được Xét về mặt kinh tế vĩ mô, khi các nước tiếp nhận vốn nước ngoài

đã góp phần không nhỏ vào việc lấp đầy những lỗ hổng của nền kinh tế đang tồn tạinhư tiết kiệm và đầu tư, nhất là đối với các quốc gia nghèo và đang phát triển với

cơ sở vật chất – kỹ thuật còn thấp kém, tích lũy trong nước còn có hạn

Thứ nhất, đối với các nước nghèo và đang phát triển Nhờ có các luồng

vốn lớn và các nguồn lực tài chính khác từ bên ngoài được thu hút vào mà cácquốc gia có điều kiện để khai thác, phát huy được các tiềm lực, thế mạnh sẵn có

về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, khoáng sản, lực lượng lao động , từ đó màtăng được GDP, tăng thu nhập bình quân đầu người, cải thiện mức sống Đồngthời, cũng từ đây mà có điều kiện tăng tích luỹ cho nền kinh tế, tăng thu Ngânsách nhà nước, có điều kiện để phát triển các mặt của đời sống kinh tế - xã hội

- Đi đôi với sự thu hút các nguồn lực tài chính là sự thâm nhập của trình

độ công nghệ và năng lực quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tiên tiến hơn,

ưu việt hơn so với trình độ sẵn có của nền kinh tế sở tại Từ đó làm cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, hìnhthức phù hợp, giá thành hạ hơn Tức là, đã tạo ra sức cạnh tranh cao hơn chosản phẩm và nền kinh tế, giúp cho việc chiếm lĩnh thị trường không chỉ trongnước, mà còn đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu nhập ngoại tệ Đây chính là cơ hội

để tăng xuất khẩu, cũng là có điều kiện dành được tích luỹ và đóng góp choNgân sách nhà nước ngày càng nhiều hơn, làm cơ sở cho cải thiện mọi mặt đờisống kinh tế - xã hội

Thứ hai, Đối với các nước giàu, phát triển Cho phép các quốc gia này mở

rộng hoạt động đầu tư vốn ra phạm vi toàn cầu để không những giải quyết đượcvấn đề dư thừa vốn đầu tư tương đối mà còn thu được lợi nhuận tối đa, cao hơnnhiều so với đầu tư tại quốc gia

- Nhiều hoạt động TCQT, đặc biệt là Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI),

đã góp phần tạo ra sức cạnh tranh mới cho nền kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tếtheo hướng hiện đại hoá, áp dụng các công nghệ tiên tiến, tiết kiệm nhiên liệu,

Trang 17

tăng hàm lượng khoa học kỹ thuật thông qua đầu tư quốc tế thực hiện đa dạnghóa lĩnh vực đầu tư hạn chế rủi ro.

1.4.2 Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính

Thông qua hoạt động TCQT, cụ thể là hoạt động đầu tư quốc tế, các nguồnlực về vốn, khoa học công nghệ, lao động được phân bổ trên phạm toàn cầu đemlại lợi ích cho tất cả các bên tham gia

Trên phương diện nhà đầu tư, các chủ thể lựa chọn việc di chuyển vốn đầu

tư đến các quốc gia có môi trường thuận lợi và lĩnh vực đầu tư đem lại lợi nhuậncao hơn so với đầu tư trong nước cũng như các quốc gia đã đầu tư nhưng chưađạt được lợi nhuận kỳ vọng

Trên phương diện người cần vốn: với các hình thức hoạt động tài chính đadạng như: phát hành trái phiếu quốc tế, vay các tổ chức tín dụng nước ngoài…các chủ thể TCQT có nhiều cơ hội để lựa chọn các hình thức vay người cungcấp vốn tại các quốc gia khác nhau, với đồng tiền vay phù hợp, lãi suất vay thấpnhất để huy động được nguồn vốn với chi phí cạnh tranh, nhanh, đầy đủ, kịpthời để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển

Như vậy, Việc mở rộng và phát triển các hoạt động TCQT đã làm choviệc di chuyển các nguồn lực tài chính giữa các quốc gia thuận lợi hơn, tạo điềukiện cho các chủ thể TCQT khai thác và sử dụng các nguồn lực tài chính mộtcách tốt nhất không chỉ trong phạm vi mỗi quốc gia mà còn nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn trên phạm vi toàn cầu

1.4.3 Là yếu tố tích cực thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Có thể nói, cơ chế kinh tế thị trường và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ là các yếu tố quyết định nhất cho quá trình hội nhập quốc tế của các quốc gia (Intergration) và toàn cầu hoá (Globalization) Song quá trình

đó chỉ có thể thực hiện được và thực hiện nhanh chóng nhờ có hoạt động TCQTcung cấp các nguồn lực tài chính để giải quyết các nhu cầu về vốn đầu tư vàthanh toán quốc tế

Thật vậy, với tác động mạnh mẽ của cơ chế kinh tế thị trường, mỗi quốcgia trên cơ sở lợi thế so sánh vốn có của mình đều có thể tính toán, chủ độngtham gia vào các quá trình trao đổi và phân công lao động quốc tế trên các lĩnhvực, các hoạt động cụ thể sao cho có lợi nhất Đồng thời, với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, thì việc “quốc tế

Trang 18

hoá” đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia đang trở thành xu thế tất yếu của

thời đại không gì có thể cưỡng lại được Biên giới của các quốc gia giờ đây chủyếu chỉ có ý nghĩa về mặt hành chính, còn về các mặt kinh tế, văn hoá đang

mờ nhạt rất nhanh Các hàng hoá, dịch vụ được cung cấp ngày càng đầy đủ vàsâu rộng giữa các quốc gia Thị trường cũng đang vận động theo hướng một thịtrường thế giới thống nhất, trước hết là thị trường tài chính và thị trường các sảnphẩm chủ yếu

Tuy thế có thể nói, tất cả các quá trình hội nhập và toàn cầu hoá diễn ratrên đây chỉ có thể thực hiện được khi có sự hiện diện của hoạt động TCQT,cung cấp các nguồn lực tài chính để thực hiện các quá trình đó Hàng hoá, dịch

vụ được xuất nhập khẩu từ quốc gia này đến quốc gia khác là nhờ có hoạt độngthanh toán quốc tế của TCQT; Các tiến bộ khoa học công nghệ muốn đượcnghiên cứu, triển khai ứng dụng cần phải có các nguồn lực tài chính đầu tư ứngtrước, muốn chuyển giao kết quả đến các quốc gia lại phải có thanh toán củaTCQT v.v Đến lượt mình, khoa học công nghệ càng phát triển sẽ giúp cho cácthị trường quốc tế ngày càng hoàn thiện, trong đó, đặc biệt là Thị trường tàichính quốc tế Thị trường phát triển lại tạo đà thuận lợi cho khoa học công nghệphát triển, cứ như vậy quá trình hội nhập và toàn cầu hoá được đẩy nhanh hơnbao giờ hết

Trang 19

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

1 Cơ sở khách quan cho sự hình thành, phát triển của tài chính quốc tế là sự

ra đời và phát triển các quan hệ quốc tế về kinh tế- chính trị cùng với sự hiệndiện của tiền tệ và thực hiện chức năng tiền tệ thế giới

2 Ngoài những đặc điểm của tài chính nói chung thì Tài chính quốc tế còn

có những đặc điểm riêng đó là:Tài chính quốc tế có phạm vi hoạt động rộng liênquan đến nhiều quốc gia trên thế giới với sự tham gia của nhiều đồng tiền cũngnhư chịu sự tác động bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cácquốc gia khác và đang phát triển theo xu hướng ngày càng đa dạng và phức tạp

3 Tài chính quốc tế đóng vai trò quan trọng trong khai thác các nguồn lựcngoài nước tăng vốn đầu tư phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cácquốc gia cũng như góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính

và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Trang 20

Chương 2

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

2.1 HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế

2.1.1.1 Khái niệm hệ thống tiền tệ quốc tế

Tiền tệ xuất hiện lúc đầu là mang tính tự phát, theo yêu cầu của trao đổisản phẩm, hàng hoá; tiền tệ cũng được xuất hiện theo vùng, sau đó lan rộng dần

ra theo thị tộc, bộ lạc, quốc gia ; chỉ đến khi Nhà nước đứng ra nhận tráchnhiệm phát hành và thống nhất tổ chức quản lý lưu thông tiền tệ thì lúc này sựxuất hiện và tồn tại của tiền tệ mới chuyển sang mang tính tự giác Như vậy, tiền

tệ thời kỳ đầu chủ yếu chỉ có ý nghĩa cho từng quốc gia; hình thức tồn tại cũng

đa dạng và chỉ có thể phát huy các chức năng vốn có của chúng trong từng phạm

vi quốc gia Cho đến khi vàng được lựa chọn để đúc tiền (tiền vàng xuất hiện),thì loại tiền này không chỉ thực hiện được các chức năng của mình trong phạm

vi quốc gia, mà còn mở rộng ra phạm vi của nhiều quốc gia, tức là chúng đãthực hiện được chức năng tiền tệ thế giới, đóng vai trò là đồng tiền quốc tế bêncạnh các đồng tiền quốc gia và hình thành nên hệ thống tiền tệ quốc tế Sau đó,cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại và sự khan hiếm của vàng, tiềnvàng được thay thế dần bằng tiền dấu hiệu, song các đồng tiền dấu hiệu này vẫntiếp tục đảm nhận vai trò đồng tiền quốc tế thông qua những sự cam kết, bảođảm của các quốc gia Do đó, ngày nay bên cạnh những đồng tiền của các quốcgia, hệ thống tiền tệ quốc tế tồn tại như là một tất yếu khách quan và có vị trí hếtsức quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội thế giới

Như vậy, có thể hiểu, hệ thống tiền tệ quốc tế là những thoả thuận, cam kết, qui định của nhiều quốc gia về việc lựa chọn đơn vị tiền tệ chung và cách thức tổ chức thực hiện chế độ lưu thông cho đơn vị tiền tệ chung đó.

Qua khái niệm trên cho thấy, hệ thống tiền tệ quốc tế bao gồm hai yếu tố

cơ bản

Thứ nhất, Đơn vị tiền tệ chung được lựa chọn

Đơn vị tiền tệ chung được hiểu là đơn vị tiền tệ được sử dụng thống nhấttrong các giao dịch kinh tế hoặc trong dự trữ, theo thỏa thuận của các quốc gia

Trang 21

trong hệ thống tiền tệ Để được lựa chọn là đơn vị tiền tệ chung, trước hết, đồngtiền đó phải có giá trị nội tại hoặc đại diện cho một lượng giá trị, tức là phải cósức mua xác định Đồng thời, nó là đồng tiền phát huy được ảnh hưởng ở nhữngphạm vi tương đối rộng lớn, có uy tín ngày càng cao, được nhiều người tintưởng, chấp nhận.

Trong lịch sử từ trước đến nay, đồng tiền chung thường có các dạng sau:+ Là đồng tiền của một quốc gia nào đó có uy tín lớn trong giao dịch quốc

tế (Đồng Dina của Batư trước đây, GBP, USD hiện nay);

+ Là đồng tiền chung của một số quốc gia (Đồng Rúp chuyển nhượng trước đây, EUR );

+ Là đồng tiền hoàn toàn chung của nhiều quốc gia (SDR là điển hình).

Ngày nay, trong hệ thống tiền tệ quốc tế có thể cùng đồng thời tồn tại một

số đồng tiền chung được lựa chọn tự giác và tự phát

Thứ hai, Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ quốc tế

Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ quốc tế cũng bao gồm cả chế độ lưuthông tiền đủ giá(tiền vàng) và chế độ lưu thông tiền dấu hiệu

Chế độ lưu thông tiền vàng bao gồm các qui định, thoả thuận của cácquốc gia về tiêu chuẩn giá cả của đơn vị tiền tệ chung; tỷ giá hối đoái với cácđồng tiền quốc gia; hệ thống thập phân, các mệnh giá lớn của đơn vị tiền tệchung; chế độ thanh toán, dự trữ

Trong chế độ lưu thông tiền dấu hiệu cũng bao gồm những qui định, thoảthuận tương tự như trong chế độ lưu thông tiền vàng Điểm khác biệt ở đây là cónhiều cam kết, thoả thuận được thực hiện bằng các văn ở cấp chính phủ củacác quốc gia thông qua các Hiệp ước, Hiệp định quốc tế

2.1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển hệ thống tiền tệ quốc tế

Xuất phát từ yêu cầu của các quốc gia trong các quan hệ quốc tế về kinh

tế, văn hoá - xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao ngày càng mở rộng và pháttriển đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc tế phải được hình thành là một tất yếu kháchquan và chúng cũng không ngừng phát triển, hoàn thiện Từ đó, hệ thống tiền tệquốc tế đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:

- Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành tự phát Đó là hệ thống tiền tệ quốc

tế được hình thành chủ yếu gắn với chế độ bản vị vàng trong lịch sử Khi vàngđược lựa chọn để đúc tiền thì tiền vàng không chỉ trở thành đồng tiền quốc gia

mà còn được chấp nhận trên phạm vi quốc tế một cách tự phát, tự nhiên Từ đó

hệ thống tiền tệ quốc tế đã được hình thành tự phát kèm theo chế độ lưu thông

Trang 22

tiền vàng Trong lịch sử loại hình hệ thống tiền tệ này đã tồn tại rõ nét thời trung

cổ bằng Chế độ bản vị đồng Dina vàng của Batư và Chế độ bản vị vàng cổ điểngia đoạn 1875 - 1914

- Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành tự giác Đó là những hệ thống tiền tệ

quốc tế được hình thành trên cơ sở có sự cam kết, thoả thuận của chính phủ cácquốc gia thông qua các Hiệp ước, Hiệp định quốc tế Điển hình ở đây có Hệthống tiền tệ Bretton Woods, Hệ thống tiền tệ Jamaica, Hệ thống tiền tệ châu Âu

- Hệ thống tiền tệ quốc tế hỗn hợp Đó là những hệ thống tiền tệ quốc tế

được hình thành tự giác và tự phát cùng tồn tại đan xen Hiện nay trên thực tế thếgiới đang tồn tại sự đan xen của các hệ thống tiền tệ quốc tế tự giác, như Hệ thốngtiền tệ Jamiaca, Hệ thống tiền tệ châu Âu với các hệ thống tiền tệ khác, như hệthống đồng USD, GBP tồn tại như là những hệ thống tiền tệ quốc tế tự phát

2.1.2 Các hệ thống tiền tệ quốc tế chủ yếu

- Chế độ bản vị vàng

Trong chế độ bản vị vàng, vàng được lựa chọn là đơn vị tiền tệ quốc tế vàchế độ lưu thông tiền vàng được thực hiện Chế độ này được áp dụng từ trướcChiến tranh thế giới lần thứ nhất trở về trước, song hình thành một cách tự phát

và không liên tục Trong đó, có hai giai đoạn khá điển hình

+ Chế độ bản vị vàng thời trung cổ Chế độ này được hình thành gắn liềnvới hoạt động buôn bán Đông - Tây bằng đường bộ thời trung cổ và được mệnh

danh là “Con đường tơ lụa” từ Trung đông đến Tung quốc Lúc này, đồng Dina

vàng của vương quốc Ba-tư được sử dụng phổ biến như là đồng tiền quốc tế đầutiên để dùng làm trung gian trao đổi, thanh toán trong hoạt động buôn bán giữacác quốc gia

+ Chế độ bản vị vàng cổ điển ở châu Âu Có thể nói, chế độ tiền tệ nàytồn tại gần một thế kỷ, từ năm 1821, khi ở nước Anh bắt đầu thực hiện chế độbản vị vàng, và kết thúc vào thời điểm trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất,năm1914

Trong chế độ tiền tệ này, vàng được coi là yếu tố đảm bảo quan trọngnhất, thậm chí là duy nhất đối với hệ thống tiền tệ của nhiều quốc gia; các đồngtiền hầu như đều có tiêu chuẩn giá cả; giữa vàng và các đồng tiền dấu hiệu đượcchuyển đổi cho nhau một cách dễ dàng; còn tỷ giá của các đồng tiền giữa cácquốc gia được xác định khá đơn giản và dễ dàng bằng cách chỉ cần so sánh tiêuchuẩn giá cả của chúng với nhau là đủ Tuy nhiên, trong giai đoạn này cũng cónhững khoảng thời gian nhất định, bên cạnh vàng, bạc cũng được một số quốc

Trang 23

gia lựa chọn để đúc tiền và tổ chức lưu hành song song với tiền vàng (nên còn được gọi là chế độ lưỡng kim bản vị, hay song bản vị) Nhưng dần dần, bạc càng

kém giá trị so với vàng, nên sau này những đồng tiền bằng bạc chỉ được coitương tự như là những đồng tiền dấu hiệu khác

Đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914), hầu hết các quốc gia đều tuyên

bố xoá việc chuyển đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng Vì thế, chế độ bản vị vàng

cơ bản bị huỷ bỏ Sau này, một số quốc gia đã có những nổ lực cố gắng để khôiphục lại chế độ tiền vàng, nhưng không thành và mặc dù trong nhiều trường hợpvàng vẫn còn được sử dụng với tư cách là tiền, song chế độ lưu thông tiền vànghầu như đã chấm dứt vĩnh viễn

- Chế độ bản vị đồng Bảng Anh (1922 - 1929)

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) các quốc gia ở châu

Âu bị kiệt quệ về kinh tế Nước Anh cũng ở trong tình trạng này Tuy nhiên,London vẫn giữ được vị trí mạnh về kinh tế và tài chính so với các nước trongkhu vực Lợi dụng vị thế này chính phủ Anh đã có ý tưởng thiết lập hệ thống

tiền tệ quốc tế, lấy chính đồng bảng Anh (GBP) làm đồng tiền chủ chốt Được

nhiều nước ủng hộ và Hoa Kỳ hậu thuẫn, cuối cùng hệ thống tiền tệ quốc tế lấybảng Anh (GBP) là đồng tiền chủ chốt đã ra đời năm 1922

Tuy nhiên trong thời kỳ này nhiều quốc gia vẫn muốn quay trở lại chế độbản vị vàng Nhưng do khối lượng hàng hoá, dịch vụ lưu thông gia tăng, trongkhi khối lượng vàng dự trữ lại có hạn, buộc các ngân hàng không thể đổi lấygiấy bạc ngân hàng ra vàng cho mọi đối tượng được Do đó ngân hàng Anh quiđịnh, các đối tượng muốn đổi giấy bạc ra vàng phải có 1700 GBP để đổi lấy

một thoi vàng 400 ounce (1 ounce = 31,135 g) tức 12,4414 kg vàng Vì vậy, chế

độ tiền tệ quốc tế này còn được gọi là chế độ bản vị vàng thoi, hay chế độ bản vịvàng hối đoái

Hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên bảng Anh được hình thành là nhằm phục

vụ cho ý đồ kinh tế và chính trị của nước Anh Do đó, khi kinh tế của nước Anhsuy thoái, hệ thống thuộc địa của Anh bị co hẹp mạnh mẽ và nhất là cuộc khủng

hoảng kinh tế lớn của thế giới (1929-1933) đang đến gần, thì vị trí quốc tế của

GBP cũng không còn nữa

Khi Đại khủng hoảng bùng nổ (1929), chính phủ Anh buộc phải huỷ bỏ

việc đổi GBP lấy vàng thoi nói trên Từ đây GBP mất vị trí là đồng tiền quốc tế,

nó trở lại chỉ là đồng tiền quốc gia và chế độ bản vị GBP cũng chấm dứt Nhưng

Trang 24

do vị thế tài chính của nước Anh trên thị trường quốc tế còn rất lớn, nên cho đếnngày nay GBP vẫn là đồng tiền mạnh trên thế giới.

- Chế độ bản vị Dollar Mỹ (1944 - 1971)

Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) kết thúc, vị trí kinh tế - tài

chính của Hoa Kỳ trở thành nước đứng đầu thế giới Tháng 7 năm 1944 Hoa Kỳ

triệu tập Hội nghị tài chính - tiền tệ họp ở Bretton Woods (Mỹ).

Một trong những nội dung của Hội nghị Bretton Woods là bàn cách khôiphục lại chế độ bản vị vàng hối đoái và lấy USD làm phương tiện thanh toán và

dự trữ quốc tế

Chế độ bản vị USD ra đời sau hội nghị này Nội dung cơ bản của chế độbản vị USD căn bản cũng tương tự như chế độ bản vị GBP trước đây, là: cácđồng tiền khác xác định tỷ giá với USD, còn USD được thiết lập tỷ giá cố định

với vàng theo mức 35 USD = 1 ounce vàng (1USD = 0,88867 g vàng) và sẵn

sàng chấp thuận đổi giấy bạc ngân hàng của Hoa Kỳ ra vàng

Nhưng cũng như chế độ bản vị GBP trước đây là phụ thuộc vào nướcAnh, chế độ bản vị USD giờ đây bị phụ thuộc nặng nề vào vị trí kinh tế - tàichính của Hoa Kỳ Cuối thập kỷ 60, kinh tế của Hoa Kỳ suy thoái nhiều, khôngcòn vị thế như những năm 50 Đầu năm 1971, Hoa Kỳ đã đơn phương từ bỏ camkết đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng theo mức 35 USD/1 ounce Tháng 8/1971Hoa Kỳ tuyên bố phá giá USD 7,89% trong quan hệ ngoại thương Đến đây cóthể nói, chế độ bản vị USD về cơ bản đã chấm dứt

Hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên USD tuy không còn tồn tại nữa, nhưng

do tiềm lực kinh tế của Hoa Kỳ gần như đứng đầu thế giới, do đó USD vẫn được

ưa chuộng Hiện nay, USD vẫn là đồng tiền có khả năng thanh toán mạnh Nó làđồng tiền chuyển đổi hoàn toàn, được coi là đồng tiền chuẩn để tính thu nhậpquốc dân, thu nhập tính theo đầu người, tính giá trị dự trữ ngoại hối, kim ngạchxuất khẩu của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới

- Chế độ Rúp chuyển nhượng của SEV (1964 - 1991)

Các nước XHCN là thành viên của khối SEV, đã ký Hiệp định thanh toánnhiều bên bằng Rúp chuyển khoản ngày 20/10/1963 Đồng thời thành lập Ngân

hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES) để theo dõi và thực hiện quá trình thanh

toán Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 01/01/1964

Như vậy từ đầu năm 1964, Rúp chuyển nhượng (RCN) là đồng tiền tập thể

của 10 nước khối SEV, đó là: Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba lan, Hungari, Rumani, Mông

Trang 25

Cổ, CHDC Đức, Bungari, Cuba và Việt Nam Tuy nhiên, RCN chỉ tồn tại trên tàikhoản của các nước thành viên SEV và được sử dụng để thanh toán bù trừ.

Khi hệ thống XHCN tan rã, thì khối SEV cũng không còn nữa RCN đãchấm dứt vai trò lịch sử của nó vào ngày 31/12/1991, sau 27 năm tồn tại

- Hệ thống tiền tệ châu Âu

Euro (EUR) là đồng tiền chung của Liên minh Châu Âu (EU) Đồng tiền

này được hình thành trên cơ sở Hiệp ước Maastricht được ký kết giữa cácnguyên thủ các nước thành viên của EU năm 1992 tại Hà lan

Từ ngày 01/01/1999, 11/15 nước của khối EU đã sử dụng EUR trong cácgiao dịch chuyển khoản song song với bản tệ Lúc này ECU, đơn vị thanh toán

cũ của EU đã bị bãi bỏ

Từ ngày 01/01/2002, 12 nước trong EU đã lưu thông EUR tiền mặt thaythế hoàn toàn cho các đồng bản tệ của 12 quốc gia này

EUR là đồng tiền chung của hệ thống tiền tệ khu vực, cho đến nay là của

12 nước (EU-12) với số dân hơn 300 triệu người Hiện tại EUR là một trong

những đồng tiền mạnh nhất của thế giới, bên cạnh USD Tương lai của đồng tiềnnày ra sao, lịch sử sẽ phán quyết

- Hệ thống tiền tệ toàn cầu

Trên thực tế không có hệ thống tiền tệ toàn cầu, mà chỉ có một cơ chế thanh

toán và tín dụng do IMF thiết lập cho các nước hội viên Cơ chế này gọi là “quyền rút vốn đặc biệt”, theo thuật ngữ tiếng Anh là Special Drawing Right - SDR.

SDR được tạo ra với mục đích giúp các nước thành viên của IMF thanhtoán các khoản nợ cho nhau, mà không phải sử dụng vàng hoặc ngoại tệ Đểthuận lợi cho quá trình thanh toán và tín dụng, năm 1973 các nước thành viêncủa IMF đã ký Hiệp định tại Jamaica thừa nhận SDR là đơn vị tiền tệ trong giaodịch thanh toán giữa các nước của IMF

Giá trị của SDR lúc đầu (1973) được xác định tương đương với USD (1 SDR = 1 USD), nhưng đến năm 1976 giá trị của SDR được xác định trên nguyên tắc “rổ tiền tệ” Rổ tiền tệ lúc đầu gồm 16 đồng tiền mạnh nhất thế giới

Ngoài USD, EUR, JPY, GBP, từ 2016, rổ tiền tệ quốc tế có thêm đồngtiền thứ năm là CNY

SDR là đơn vị tiền tệ để xác định khối lượng tín dụng mà các nước thànhviên có quyền được vay từ IMF, có quan hệ tỷ giá với các đồng tiền hiện thực,nhưng bản thân nó thì lại không phải là đồng tiền hiện thực Nó chỉ có ý nghĩa làđồng tiền ghi sổ của các quốc gia tại IMF

Trang 26

Mỗi nước hội viên tuỳ theo vốn góp của mình vào IMF sẽ được hưởngmột khoản SDR nhất định Mặc dù các nước đã có quyền sở hữu SDR, nhưng họchỉ được sử dụng nó khi cán cân thanh toán bội chi Cụ thể, khi cán cân thanhtoán của một nước nào đó bị bội chi, thì họ được quyền sử dụng SDR trongphạm vi sở hữu để thanh toán cho nước chủ nợ Tuy SDR là của mình, nhưngmỗi khi sử dụng, nước sở hữu lại phải trả lãi cho IMF Còn nước vừa nhận đượcSDR, được IMF ghi tăng số SDR trên tài khoản của nước này và coi như IMFphải vay số SDR đó Khi cán cân thanh toán của nước vừa nhận được SDR bịbội chi, nước này được phép sử dụng SDR trong quyền sở hữu và SDR vừa nhậnđược để thanh toán

Vòng thanh toán cứ tiếp diễn như vậy và IMF trở thành trung tâm thanhtoán và tín dụng quốc tế IMF vừa là người đi vay vừa là người cho vay trongquá trình thanh toán giữa các nước hội viên

Qua xem xét một số hệ thống tiền tệ quốc tế gần đây cho thấy, xu hướngvận động chung của chúng là:

• Được hình thành từ một liên minh hoặc thoả ước kinh tế giữa một sốquốc gia có quyền lợi gắn bó hoặc phụ thuộc lẫn nhau

• Sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế đạt đỉnh cao khi quyền lợi kinh

tế giữa các quốc gia trong khối được giải quyết hài hoà và không xung đột vềmục tiêu chính trị

• Một hệ thống tiền tệ sẽ bắt đầu suy thoái khi một số quy định bị vi phạm,đặc biệt là khi xuất hiện tình trạng suy thoái kinh tế của các nước thành viên

• Hệ thống tiền tệ quốc tế nào cuối cùng cũng đi đến tan vỡ, nhường chỗcho một liên minh tiền tệ mới đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn Vì vậy, hệthống tiền tệ quốc tế là một sản phẩm có tính chất lịch sử

2.2 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

2.2.1 Khái niệm và phương pháp xác định

2.2.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là một trong các chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng nhấttrong nền kinh tế

Tỷ giá hối đoái được hiểu là giá cả của một đồng tiền được biểu hiện thông qua một đồng tiền khác Trong trường hợp này, tỷ giá được coi như giá cả

của hàng hóa ngoại tệ được mua bán trên thị trường ngoại hối Thị trường hốiđoái là nơi thực hiện việc mua bán các loại tiền tệ, khi đó, tiền tệ cũng được coi

là hàng hóa và tỷ giá là giá cả của hàng hóa

Trang 27

Khi tỷ giá hối đoái (từ đây gọi tắt là tỷ giá) được hiểu là giá cả, thì vị thế

của hai đồng tiền trong quan hệ tỷ giá đó là khác nhau Một đồng tiền ở vị trí yết

giá (được xác định giá) với tư cách là hàng hoá và được mua bán; đồng tiền kia làm nhiệm vụ định giá (xác định giá) cho đồng tiền yết giá và với tư cách là tiền

tệ, đảm nhiệm chức năng thanh toán cho việc mua bán đồng tiền yết giá Ngàynay, tỷ giá không chỉ được sử dụng rộng rãi trên thị trường hối đoái, mà cònđược sử dụng khá thường xuyên trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt

là trong các hoạt động về nghiên cứu, thống kê, phân tích, tính toán, đánh giá,

dự báo các hoạt động kinh tế quốc tế Lúc này, bên cạnh việc hiểu tỷ giá là giá

cả, hay là tỷ lệ qui đổi, chuyển đổi giữa các đồng tiền, tỷ giá còn được xem như

một công cụ phản ánh tương quan giá trị giữa các đồng tiền với nhau

Mọi đồng tiền đều có một điểm chung, hoặc là chúng có giá trị nội tại,hoặc là đại diện cho một lượng giá trị, tức là hoàn toàn có thể trao đổi để lấy một

lượng giá trị tương ứng Đó chính là “sức mua” của các đồng tiền Vậy, thực chất tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua của các đồng tiền với nhau.

Tóm lại, có thể hiểu một cách đầy đủ nhất về tỷ giá hối đoái như sau

Tỷ giá hối đoái được biểu hiện bằng hình thức bên ngoài là tỷ lệ trao đổi (giá cả), qui đổi, chuyển đổi giữa các đồng tiền, về thực chất, là phản ánh tương quan sức mua giữa các đồng tiền.

2.2.1.2 Các phương pháp xác định tỷ giá hối đoái

Có ba phương pháp xác định tỷ giá hối đoái, bao gồm: phương pháp sosánh tiêu chuẩn giá cả của các đồng tiền, phương pháp ngang giá sức mua vàphương pháp xác định tỷ giá thông qua đồng tiền trung gian

(1) So sánh tiêu chuẩn giá cả của các đồng tiền

Giả sử đồng tiền A có tiêu chuẩn giá cả là a, đồng tiền B có tiêu chuẩn giá

cả là b, thì: A/B = a/b, hoặc B/A = b/a

Phương pháp này rất đơn giản, độ chính xác cao và đã được áp dụng phổbiến trong các chế độ bản vị vàng trước đây Tuy vậy, hiện không còn khả thitrên thực tế vì ngày nay hầu hết các đồng tiền đều không có tiêu chuẩn giá cả

(2) Phương pháp ngang bằng sức mua (Purchasing Power Parity - PPP)

Nội dung của phương pháp này có thể tóm tắt như sau

Để xác định tỷ giá của hai đồng tiền A và B, trên thị trường của các đồngtiền đó chọn ra hai rổ hàng hoá đều gồm n hàng hoá giống hệt nhau Tổng giá cảcủa rổ hàng hóa nói trên tính theo đồng tiền A là  Pi(A), và tính theo đồng tiền

Trang 28

B là Pi(B) Tỷ giá giữa các đồng tiền sẽ được xác định khi so sánh tổng giá cảtheo hai đồng tiền khác nhau của cùng một rổ hàng hóa

A/B = Pi(B)/ Pi(A), hoặc B/A = Pi(A)/ Pi(B)Phương pháp này phản ánh được bản chất của tỷ giá hối đoái là tươngquan sức mua giữa các đồng tiên Tuy nhiên, độ chính xác của tỷ giá sẽ bị phụthuộc vào chủng loại, số lượng trong rổ hàng hóa và khả năng loại trừ được cácyếu tố không hợp lý cấu thành trong giá khi so sánh trong rổ hàng hóa (chi phívận chuyển, bảo hiểm, thuế…)

(3) Phương pháp tỷ giá chéo

Phương pháp tỷ giá chéo là phương pháp xác định tỷ giá giữa hai đồngtiền thông qua đồng tiền trung gian thứ ba Tỷ giá giữa đồng tiền A và C có thểđược tính toán khi biết tỷ giá của hai đồng tiền này với đồng tiền trung gian B

Phương pháp này tương đối đơn giản và rất khả thi trên thực tế Tuy vậy,

độ chính xác có thể bị hạn chế vì phải qua các tỷ giá trung gian Hơn nữa, sẽ kháphức tạp khi xác định tỷ giá theo tỷ giá mua, bán

Hộp 2.1 Minh họa phương pháp tính tỷ giá chéo

Giả sử: Tỷ giá A/B = a/b

Tỷ giá B/C = c/d

Tỷ giá mua:

Khi khách hàng bán A lấy B, tỷ giá ngân hàng áp dụng là 1A = aB

Khi khách hàng bán B lấy C, tỷ giá ngân hàng áp dụng là 1B = cC

 1A = a.c C

Tỷ giá bán:

Khi khách hàng mua B bằng C, tỷ giá ngân hàng áp dụng là 1B = dC

Khi khách hàng mua A bằng B, tỷ giá ngân hàng áp dụng là 1A = bB

 1A = b.d C

Như vậy, A/C = a.c/b.d

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng và biến động thườngxuyên, liên tục Do tỷ giá được xem là giá cả của hàng hóa ngoại tệ, do đó, giá

cả này sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự thay đổi trong cung – cầu hàng hóa ngoại

tệ Ngoài ra, một số nhân tố khác như chênh lệch tỷ lệ lạm phát giữa các đồngtiền, chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền, sự can thiệp của nhà nước, tâm lýdân chúng, nạn đầu cơ tiền tệ… sẽ tác động đến cung – cầu ngoại tệ, khiến tỷgiá hối đoái thay đổi

2.2.2.1 Cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

Trang 29

Trên thị trường ngoại hối của các quốc gia, tỷ giá chính là giá cả của các

loại ngoại tệ được đưa ra mua bán Lúc này ngoại tệ là “hàng hoá”, tỷ giá là

“giá cả” của ngoại tệ Giá cả của bất cứ hàng hoá nào cũng đều phụ thuộc vào

cung, cầu của hàng hoá đó, có thể nhận định rằngtỷ giá chịu ảnh hưởngcủa sựtăng giảm của cung - cầu ngoại tệ trên thị trường Có 8 trường hợp chủ yếu (khixem xét cho một ngoại tệ cụ thể nào đó) xẩy ra sau đây:

(1) Cung ngoại tệ (S) không đổi, cầu ngoại tệ (D) tăng Tỷ giá (E) tăng.

Các tình huống có thể xẩy ra

+ Kim ngạch xuất khẩu không

đổi, kim ngạch nhập khẩu tăng;

+ Đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ

vào không đổi, đầu tư ra bằng ngoại tệ tăng;

+ Vay nợ quốc tế bằng ngoại tệ

không đổi, trả nợ hoặc cho vay ra tăng;

+ Khách du lịch quốc tế, du học

sinh, các đoàn khác mang ngoại tệ vào

không đổi, mang ngoại tệ ra tăng;

+ Trên thị trường lãi suất ngoại tệ

tăng so với lãi suất nội tệ;

(2) S không đổi, D giảm Tỷ giá giảm giảm.

Các tình huống có thể xẩy ra

+ Kim ngạch xuất khẩu không

đổi, kim ngạch nhập khẩu giảm;

+ Đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ

vào không đổi, đầu tư ra bằng ngoại tệ giảm;

+ Vay nợ quốc tế bằng ngoại tệ

không đổi, trả nợ hoặc cho vay ra giảm;

+ Khách du lịch quốc tế, du học

sinh, các đoàn khác mang ngoại tệ vào

không đổi, mang ngoại tệ ra giảm;

+

Hình 2.2 - S không đổi, D giảm, E giảm

E

Trang 30

(3) D không đổi, S tăng Tỷ giá giảm.

Các tình huống có thể xảy ra

Là những tình huống ngược với các

tình huống của trường hợp (1) trên đây

Hình 2.3 - D không đổi, S tăng, E giảm

(4) D không đổi, S giảm Tỷ giá tăng.

Các tình huống có thể xảy ra

Là những tình huống ngược với các

tình huống của trường hợp (2) trên đây

Hình 2.4 – D không đổi, S giảm, E tăng

2.2.2.2 Chênh lệch tỷ lệ lạm phát giữa các đồng tiền

Tỷ lệ lạm phát đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của các đồng tiền Vìvậy, trong một khoảng thời gian nhất định nếu hai đồng tiền nào đó có tỷ lệ lạmphát không giống nhau, giả sử các yếu tố khác không thay đổi, có nghĩa là,tương quan sức mua giữa chúng không còn như cũ, mà đã thay đổi Tức là, tỷgiá đã thay đổi Cụ thể như sau

Nếu tỷ giá đầu kỳ của hai đồng tiền A và B là A/Bđk = E0, trong kỳ tỷ lệ

lạm phát của A là a(%), B là b(%), (a  b), nếu các yếu tố khác không thay đổi,

thì tỷ giá cuối kỳ của A và B sẽ là: A/Bck = E0 [(1 + b)/(1 + a)]

Nhìn chung, đồng tiền nào có tỷ lệ lạm phát càng cao thì càng bị mất giá

hơn so với đồng tiền kia

Trang 31

Hộp 2.2 Kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và

tỷ giá bằng mô hình kinh tế lượng VAR

Mô hình hồi quy sẽ gồm 1 biến phụ thuộc là tỷ giá hối đoái (Exrate)

và 3 biến độc lập lần lượt là lạm phát (tính theo chênh lệch CPI), dự trữ ngoại hối (DTNH), lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng (Rate) Các biến số này

có mối liên hệ trên lý thuyết và thực tiễn Chúng ta có phương trình hồi quy:

Exrate = β 1 + β 2 CPI + β 3 DTNH + β 4 Rate + u

Trong đó: β1 là hệ số chặn của đường hồi quy tổng thể, β2, β3, β4 là

hệ số hồi quy riêng của các biến độc lập, U là sai số ngẫu nhiên Các chuỗi

dữ liệu được sử dụng trong mô hình có thời gian từ quý I/2000 đến quý I/2013, do Tổng cục Thống kê NHNN và Vietcombank công bố.

Kết quả kiểm định bằng phần mềm Eview cho thấy, nhân tố tác động mạnh nhất đến tỷ giá là lạm phát (β 2 = 0,36), còn DTNH biến động ngược chiều với tỷ giá (β3=-0,6), điều này là phù hợp với thực tế Khi NHNN mua ngoại tệ vào làm tăng lượng DTNH thì tỷ giá sẽ biến động tiêu cực, ngược lại khi NHNN bán ngoại tệ ra nhằm mực đích bình ổn tỷ giá thì tỷ giá sẽ biến động tích cực Lãi suất có ảnh hưởng đến tỷ giá theo nguyên tắc cân bằng lãi suất trên thị trường vốn (β4= 0,06) Tuy nhiên, lãi suất tại Việt Nam ảnh hưởng không lớn đến tỷ giá, vì lãi suất danh nghĩa của tại Việt Nam tương đối cao, nhưng đồng thời lạm phát cũng ở mức cao Do đó, lãi suất thực tế tại thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian nghiên cứu là không cao.

Nguồn: TS Đào Thanh Bình, TS Phạm Thị Thu Hà,

NCS Hoàng Đình Minh (2014), “Mối quan hệ giữa lạm phát –

tỷ giá: Một số khuyến nghị”, Tạp chí Tài chính số 4 - 2014

2.2.2.3 Chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền

Lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau Đây là haicông cụ song hàng quan trọng của chính sách tiền tệ, việc cải cách chính sáchđiều hành ngân hàng hai yếu tố này đòi hỏi phải được tiền hành đồng thời.Trong điều kiện một nền kinh tế mở, với nguồn được tự do vận động, nếu lãisuất trong nước tăng lên nguồn vốn nước ngoài sẽ đổ vào đẩy cầu nội tệ lên cao,với mức cung tiền nhất định tỷ giá sẽ bị nâng lên ảnh hưởng đến hoạt động

Trang 32

ngoại thương của quốc gia Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống, vốn trong nướckhoác áo ra đi làm cho cầu ngoại tệ cao tỷ giá tụt xuống.

Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá được giải thích thông qua học thuyếtNgang giá lãi suất (Interest Rate Parity – IRP)

2.2.2.4 Các nhân tố khác

(1) Sự can thiệp của Nhà nước

Tùy vào các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng thời kì cụ thể, Chính phủ

có thể sử dụng công cụ chính sách để điều tiết tỷ giá như:

+ Nhà nước can thiệp nhằm giữ ổn định tỷ giá Sự can thiệp này thể hiện

rõ nét nhất khi Nhà nước chủ trương thực hiện chính sách tỷ giá cố định, tức là,

Hộp 2.3 Học thuyết ngang giá lãi suất

Học thuyết ngang giá lãi suất được hiểu là khi việc đầu tư hay đi vay trên thị trường tiền tệ quốc tế có bảo hiểm rủi ro ngoại hối, thì mức lãi suất đầu tư hay đi vay là như nhau cho dù đồng tiền đầu tư hay đi vay là đồng tiền nào, nhưng phải thỏa mãn 3 điều kiện sau:

- Chu chuyển vốn quốc tế là tự do

- Các quốc gia điều có rủi ro như nhau

- Không có chi phí giao dịch và thuế

Lý thuyết ngang giá lãi suất chú ý luận giải vì sao tỷ giá kỳ hạn khác với tỷ giá giao ngay và mức độ chênh lệch sẽ có Lý thuyết này liên quan đến một thời điểm nhất định (tỷ giá kỳ hạn), khẳng định tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng sự sai biệt trong lãi suất.

Theo lý thuyết ngang giá về lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào

đó có lãi suất thấp hơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia nọ có lãi suất cao hơn.

Ví dụ:

+ Lựa chọn A, dùng ngoại tệ đầu tư vào chính nước đó với lãi suất phi rủi ro trong một khoảng thời gian xác định Ngay lập tức sau đó, nhà đầu tư thực hiện hợp đồng kỳ hạn để chuyển số tiền sẽ nhận được sang đồng Đô la

Mỹ theo tỷ giá kỳ hạn sẽ thực hiện vào cuối thời gian đầu tư.

+ Lựa chọn B là sẽ chuyển đồng ngoại tệ sang Đô la Mỹ với tỷ giá giao ngay rồi đầu tư số Đô la đó vào một ngân hàng Mỹ với lãi suất phi rủi ro trong cùng khoảng thời gian như lựa chọn A

Theo IRP, khi không tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch (arbitrage) nữa thì dòng tiền mặt thu được từ hai lựa chọn trên phải bằng nhau.

Trang 33

giữ cho tỷ giá ổn định, thậm chí là cố định trong một thời gian dài Muốn đượcnhư vậy, nhiều khi Nhà nước đã áp dụng các biện pháp chủ quan để can thiệpvào thị trường ngoại hối như: quy định biên độ giao động tỷ giá thấp; bán ngoại

tệ ra với giá thấp khi tỷ giá có xu hướng tăng cao để kéo tỷ giá xuống; hoặc muangoại tệ vào với giá cao khi tỷ giá có xu hướng giảm thấp để kéo tỷ giá lên

+ Phá giá nội tệ Đây là giải pháp mà thỉnh thoảng chính phủ của một số

quốc gia vẫn chủ trương thực hiện Nội dung chính của giải pháp này là khichính phủ bị lâm vào tình trạng bội chi NSNN một cách trầm trọng mà với cácgiải pháp đã có hầu như không thể xử lý được, lúc này Chính phủ buộc phải pháthành một khối lượng lớn nội tệ vào lưu thông để bù đắp thiếu hụt NSNN vàđồng thời tuyên bố phá giá đồng nội tệ Với động thái này, ngay lập tức tỷ giá có

sự tăng lên đột biến tuỳ theo khối lượng nội tệ được phát hành vào lưu thông và

sự tác động kéo theo của các yếu tố khác

(2) Tâm lý dân chúng

Thông thường ở những quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao và diễn ra thường

xuyên trong một khoảng thời gian dài, tức là đồng nội tệ giảm giá nhanh và liêntục, sẽ có tâm lý thiếu tin tưởng vào đồng nội tệ trong dân chúng Với tâm lýnày, mọi người đều có xu hướng chối bỏ việc nắm giữ nội tệ, mà thay vào đó làtìm mọi cách để nắm giữ các loại hàng hoá có giá trị, vàng bạc, ngoại tệ Trong

đó, nhu cầu về nắm giữ ngoại tệ, đặc biệt là một vài đồng ngoại tệ mạnh nhiềukhi là rất lớn Động thái này đã đẩy cầu về ngoại tệ tăng giả tạo, thị trường rơivào tình trạng khan hiếm ngoại tệ, kéo theo là tỷ giá bị đẩy lên cao

(3) Nạn đầu cơ tiền tệ quốc tế

Có những người kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ đã áp dụng biện pháp đầu

cơ tiền tệ để kiếm lời

Đầu cơ tiền tệ là hiện tượng một hoặc một số tác nhân kinh doanh tiền tệtrong một khoảng thời gian ngắn đã tập trung mua vào một đồng tiền nào đó có

bán trên thị trường (thường là một đồng ngoại tệ mạnh), găm giữ lại mà không

bán ra, gây ra khan hiếm giả tạo đồng tiền đó, làm cho tỷ giá của đồng tiền đótăng lên một cách đột biến.Nhà đầu cơ chờ đến khi tỷ giá đạt tới đỉnh điểm sẽbán đồng tiền đó ra nhằm thu chênh lệch giá

Hậu quả của nạn đầu cơ tiền tệ quốc tế là có thể gây ra cơn sốc, thậm chí

là khủng hoảng về tỷ giá, đồng nội tệ bị phá giá mạnh Thông thường, nạn đầu

cơ này cũng tạo ra tâm lý dân chúng như đã trình bày ở trên, và cuối cùng chúngcộng hưởng với nhau, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Một ví dụ

Trang 34

điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á xảy ra vào ngày02/07/1997 tại Thái Lan, mà một trong những nguyên nhân trực tiếp là việc đầu

cơ tiền tệ của nhà tỷ phú người Mỹ George Soros, một chuyên gia đầu cơ quốc

tế trên lĩnh vực tiền tệ

2.2.3 Chế độ tỷ giá hối đoái

2.2.3.1 Khái niệm về chế độ tỷ giá

Có thể nói, tỷ giá là phạm trù tồn tại khách quan gắn liền với hoạt độngkinh tế quốc tế giữa các quốc gia Tuy vậy, việc lựa chọn và vận dụng tỷ giáphục vụ cho lợi ích kinh tế - xã hội của các quốc gia là không hoàn toàn giốngnhau và cũng không phải là bất biến trong mọi giai đoạn Hay nói cách khác,trong từng thời kỳ gắn với các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, mỗi quốc giađều lựa chọn áp dụng một chế độ tỷ giá cụ thể

Chế độ tỷ giá hối đoái (Exchange rate regime) có thể được hiểu “là các cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối”.

Sự can thiệp nhằm tác động tới tỷ giá hối đoái được thực hiện thông qua cáchoạt động mua vào hoặc bán ra ngoại tệ của ngân hàng Trung ương trên thị trườngngoại hối Mức độ can thiệp của Trung ương vào sự hình thành tỷ giá hối đoái trênthị trường phụ thuộc vào chế độ tỷ giá hối đoái mà quốc gia đó áp dụng

2.2.3.2 Phân loại chế độ tỷ giá

a) Căn cứ vào số lượng tỷ giá cùng đồng thời tồn tại, có chế độ tỷ giá

đơn và chế độ tỷ giá kép

- Chế độ tỷ giá đơn là chế độ tỷ giá mà ở đó ở đó chỉ tồn tại một tỷ giá cho mọi giao dịch tiền tệ (chế độ một giá).

Như vậy, chế độ tỷ giá đơn tạo ra sự công bằng, bình đẳng trong các giao

dịch tiền tệ và chúng được áp dụng phổ biến trong điều kiện tỷ giá được thiết lậpchủ yếu trên cơ sở thị trường

- Chế độ tỷ giá kép là chế độ tỷ giá mà ở đó cùng đồng thời tồn tại ít nhất hai tỷ giá trở lên trong các giao dịch tiền tệ (chế độ nhiều giá).

Trong chế độ tỷ giá này đã tạo ra sự phân biệt của các giao dịch tiền tệ

thuộc các chủ thể khác nhau Chế độ tỷ giá này thường tồn tại trong điều kiện tỷgiá chính thức được giữ cố định trong khoảng thời gian dài và không còn phùhợp với thực tế

b) Căn cứ vào mức độ linh hoạt của tỷ giá được áp dụng, có chế độ tỷ

giá cố định và chế độ tỷ giá linh hoạt

Trang 35

- Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá mà ở đó tỷ giá được giữ ổn định,

thậm chí là không thay đổi trong một thời gian dài

Thông thường, tỷ giá chính thức do nhà nước qui định và được giữ ở mức

cố định trong một khoảng thời gian dài Chế độ tỷ giá này đã góp phần tạo ra sự

ổn định tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xãhội Tuy thế, nếu tỷ giá được giữ cố định quá lâu sẽ không còn phù hợp với thực

tế, dễ phát sinh tỷ giá phi chính thức

- Chế độ tỷ giá linh hoạt là chế độ tỷ giá mà ở đó tỷ giá biến động theo

những tác động của thị trường

Trong chế độ tỷ giá linh hoạt, tỷ giá được hình thành theo những yếu tốcủa thị trường nên thường phản ánh sát với điều kiện của thị trường Tuy vậy, vì

là linh hoạt, nên tỷ giá rất dễ biến động và có thể xẩy ra hiện tượng “sốc” tỷ giá,

dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ

Từ ưu nhược điểm của hai chế độ tỷ giá trên, nhiều quốc gia hiện nay đã

áp dụng hế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý (điều tiết) của nhà nước, với các

đặc điểm như:

+ Tỷ giá được hình thành chủ yếu dựa theo các yếu tố của thị trường;

+ Nhà nước sẽ điều tiết thị trường trong một số trường nhợp nhất địnhnhằm hạn chế sốc tỷ giá bằng các biện pháp: i) Can thiệp vào thị trường ngoạihối lúc cần thiết; ii) Qui định biên độ giao động tỷ giá

2.2.3.3 Chế độ tỷ giá của Việt nam

Một số chế độ tỷ giá đã được áp dụng ở Việt nam qua các thời kỳ bao gồm:

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây: Trong thời kỳ này, chế

độ tỷ giá được áp dụng là chế độ tỷ giá kép và chế độ tỷ giá cố định đối với tỷgiá chính thức Tỷ giá chính thức do Nhà nước qui định, áp dụng cho các giaodịch tiền tệ thuộc khu vực nhà nước và được giữ cố định Tỷ giá không chínhthức hình thành tự phát trên thị trường tự do và chênh lệch rất lớn với tỷ giáchính thức

Có thể nói, trong giai đoạn này, công cụ tỷ giá đã góp phần cung cấp đượccác sản phẩm thiết yếu trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn.Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã phát triển, công cụ này đã không còn phát huy tácdụng và không phù hợp với điều kiện thực tế

Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường đến nay: Cùng với công cuộc

đổi mới nền kinh tế nói chung, cơ chế tỷ giá đã có nhiều thay đổi quan trọngnhư:

Trang 36

- Xoá bỏ chế độ tỷ giá kép Chính phủ chủ trương đưa về thực hiện chế độmột tỷ giá Đến năm 1993, về cơ bản khoảng cách giữa tỷ giá do Ngân hàng Nhànước qui định và tỷ giá thị trường không còn khác biệt đáng kể.

- Xoá bỏ dần việc Nhà nước định tỷ giá chính thức

- Qui định biên độ giao động tỷ giá ngày hôm sau so với ngày hôm trước,quy định biên độ dao động tỷ giá tối đa áp dụng cho các tổ chức tài chính - tíndụng có giao dịch ngoại tệ ngày hôm sau so với cuối ngày hôm trước

Tóm lại, chế độ tỷ giá của Việt Nam đang được xây dựng theo hướng chế

độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của nhà nước và bước đầu đã góp phần tíchcực thực hiện chính sách ổn định tiền tệ của quốc gia

Hộp 2.4 Điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam

Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 1997, chính phủ đó áp dụng tỷ giá hốiđoái linh hoạt có sự quản lý của nhà nước, chủ yếu là neo giữ và quy đổi VNDqua một số ngoại tệ trong đó, USD chiếm một tỷ trọng lớn Tuy nhiên, trongmột thời gian dài chế độ này cũng bộc lộ một số nhược điểm là đã khôngkhuyến khích được xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu

Để thích ứng hơn với thị trường và đặc biệt là hạn chế những tác độngcủa cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á ( 02/7/1997), Ngân hàng nhànước Việt Nam (NHNN) khi đó đã liên tục thay đổi tỷ giá hối đoái:

+ Ngày 13/10/1997, mở rộng biên độ giao dịch lên mức +/- 10%

+ Ngày 01/2/1998, nâng tỷ giá chính thức từ 1 USD = 11.175 VND lênmức 1 USD = 11.800; tăng 5,6%

+ Ngày 7/8/1998, thu hẹp biên độ giao dịch xuống còn +/- 7%, đồng thờinâng tỷ giá chính thức lên 1 USD = 12.998 VND

+ Từ ngày 6/11/1998 đến 15/1/1999 là một chuỗi những điều chỉnh giảmliên tục trong tỷ giá chính thức

+ Từ ngày 26/2/1999 tỷ giá chính thức được công bố hàng ngày Tỷ giánày được xác định trên cơ sở tỷ giá bình quân mua bán thực tế trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng của thị trường giao dịch gần nhất trước đó Đây chính là

sự thay đổi cơ chế quản lý, hướng đến việc điều hành tỷ giá phù hợp với cơ chếthị trường Đồng thời biên độ giao dịch cũng được rút xuống +/- 0,1%

Trong giai đoạn đầu, tỷ giá mua của ngân hàng thấp hơn tỷ giá chínhthức, còn tỷ giá bán thì cao hơn tỷ giá chính thức Nhưng chỉ gần một tháng saukhi thay đổi tỷ giá chính thức, tỷ giá mua và bán của ngân hàng luôn cao hơn tỷ

Trang 37

Ngày 8/12/2004, Thống đốc ngân hàng nhà nước ra quyết định số1452/2004/ QĐ-NHNH về điều chỉnh giao dịch hối đoá của tổ chức tín dụng đốivới khách hàng thay thế quy định được ban hành năm 1998 Quy chế mới thôngthoáng hơn, nới lỏng những quy định về kiểm soát, đồng thời cung cấp thêmcho thị trường hối đoái một công cụ phòng ngừa rủi ro về lãi suất, về tỷ giá chodoanh nghiệp và các thành viên của thị trường ngoại hối

Ngày 31/12/2015, NHNN ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN vềviệc công bố tỷ giá trung tâm của VND và USD, tỷ giá tính chéo của VND vàcác ngoại tệ khác Tỷ giá trung tâm sẽ được xác định trên cơ sở diễn biến của 3yếu tố chính: 1/ Diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệliên ngân hàng ngày hôm trước; 2/ Diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của 8đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với ViệtNam (gồm USD, EUR, CNY, Bath, JPY, SGD, KRW, TWD); 3/ Các cân đốikinh tế vĩ mô, tiền tệ và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ

Việt Nam đang dần chuyển chế độ điều hành tỷ giá từ neo tỷ giá với biên

độ điều chỉnh sang thả nổi có quản lý Cơ chế điều hành tỷ giá mới của NHNNkhá tương đồng với cách thức mà Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đó thayđổi từ ngày 11/8/2015

Bên cạnh việc thay đổi tỷ giá trung tâm, NHNN cũng sẽ thực hiện cácnghiệp vụ phái sinh trong giao dịch giữa NHNN với các ngân hàng thương mại(NHTM) Trước đây NHNN chỉ sử dụng nghiệp vụ giao ngay trong giao dịchngoại tệ với NHTM Tuy nhiên với cơ chế mới, NHNN sử dụng cả công cụ pháisinh nhằm đảm bảo nguồn cung ngoại tệ, giúp can thiệp thị trường tốt hơn và

Trang 38

thúc đẩy phát triển thị trường phái sinh trong nước Tuy nhiên việc NHNN bánngoại tệ kỳ hạn cho các ngân hàng đến quý I/2016, tỷ giá chênh lệch 1% so vớicuối năm 2015, cho thấy NHNN vẫn xác định một “vùng mục tiêu” 1% cho việcđiều chỉnh tỷ giá trong quý I/2016.

2.3 CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

2.3.1 Khái niệm và đặc điểm

Cán cân thanh toán quốc tế là bảng tổng hợp tất cả các giao dịch kinh tế tiền tệ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời giannhất định

-Cán cân thanh toán quốc tế có đặc điểm

+ Chỉ tổng hợp phản ánh các giao dịch tiền tệ giữa người cư trú của quốcgia với người không cư trú;

+ Mang tính thời kỳ cho một khoảng thời gian nhất định, thường là 1tháng, 1 quí, 1 năm; hoặc từ đầu năm đến một thời điểm cụ thể nào đó trongnăm;

+ Chỉ phản ánh thông qua duy nhất một đồng tiền Mọi giao dịch kinh tế tiền tệ đều qui về một đồng tiền duy nhất Đồng tiền được lựa chọn phổ biến là

-đồng tiền mạnh và có khả năng chuyển đổi của thế giới (USD, EUR, GBP ).

2.3.2 Nội dung của CCTTQT

Thông thường nội dung của CCTTQT gồm 5 hạng mục chính sau

2.3.2.1 Cán cân vãng lai

(Tên gọi khác: Tài khoản vãng lai, Current Account - CA)

Phản ánh các giao dịch trong thanh toán và chuyển giao một chiều Gồm:

(1) Cán cân thương mại

- CCTM hàng hoá

+ Xuất khẩu hàng hoá: Bên Có;

+ Nhập khẩu hàng hoá: Bên Nợ

- CCTM dịch vụ

+ Cung cấp dịch vụ: Bên Có;

+ Nhận dịch vụ: Bên Nợ

(2) CC chuyển giao một chiều

- CC chuyển giao thu nhập

+ Thu nhập chuyển về: Bên Có;

Trang 39

+ Thu nhập chuyển đi: Bên Nợ.

- CC viện trợ quốc tế không hoàn lại:

+ Tiếp nhận viện trợ: Bên Có;

+ Thực hiện viện trợ: Bên Nợ

- CC quà tặng quốc tế(kể cả kiều hối)

+ Tiếp nhận: Bên Có;

+ Chuyển đi: Bên Nợ

2.3.2.2 Cán cân vốn và tài chính

(Tên gọi khác: Tài khoản vốn, Capital Account - KA)

Bao gồm các khoản tín dụng và đầu tư quốc tế

(1) CC vốn ngắn hạn Các khoản tín quốc tế ngắn hạn (dưới 1 năm)

- Vay quốc tế ngắn hạn: Bên Có;

- Cho vay quốc tế ngắn hạn: Bên Nợ

(2) CC vốn dài hạn Các khoản tín dụng và đầu tư quốc tế dài hạn

- CC đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

+ Tiếp nhận FDI: Bên Có;

+ Thực hiện FDI: Bên Nợ

- CC đầu tư gián tiếp nước ngoài:

+ Tiếp nhận đầu tư: Bên Có;

+ Thực hiện đầu tư: Bên Nợ

- CC tín dụng quốc tế ưu đãi (ODA)

+ Tiếp nhận ODA: Bên Có;

+ Thực hiện ODA; Bên Nợ

(3) CC vốn khác

- Vốn chảy vào: Bên Có;

- Vốn chảy ra: Bên Nợ

(2) CC tiền gửi ngoại tệ (CCTGNT)

- Tiền gửi ngoại tệ vào: Bên Nợ

- Tiền gửi ngoại tệ ra: Bên Có

2.3.2.3 Lỗi và sai sót (Error - ER)

Dùng để phán ánh những phần sai sót do công tác thống kê, ghi chépkhông đầy đủ hoặc sai lệch

2.3.2.4 Cán cân tổng thể (Overall Balance – OB)

Đó là tổng hợp của CC vãng lai và CC vốn vào thời điểm cuối kỳ: OB =

CA + KA

Trang 40

2.3.2.5 Cán cân bù đắp chính thức (Official Finance Balance-OFB

Cán cân này dùng vào thời điểm cuối kỳ để phản ánh các dòng tiền thực tế

“chảy vào”, “chảy ra” quốc gia trong kỳ đó.

- Dòng tiền chảy vào: Bên Nợ;

- Dòng tiền chảy ra: Bên Có

Các trường hợp xẩy ra:

+ Bên Nợ > Bên Có: Dư Nợ, CC bù đắp chính thức (OFB) thặng dư Dự

trữ ngoại tệ tăng

+ Bên Nợ < Bên Có: Dư Có, CC bù đắp chính thức ( OFB) thâm hụt Dự

trữ ngoại tệ giảm

Mối quan hệ giữa OFB, ER và OB như sau:

- Dư Có OFB = Dư Nợ OB, hoặc = Dư Nợ OB + ER

-> ER = Dư Có OFB - Dư Nợ OB

- Dư Nợ OFB = Dư Có OB, hoặc = Dư Có OB + ER

-> ER = Dư Nợ OFB - Dư Có OB

2.3.3 Phương pháp lập CCTTQT

2.3.3.1 Lập các cán cân chi tiết

Các hạng mục chi tiết được lập riêng rẽ theo phương pháp ghi đơn Tức

là, các nội dung phát sinh liên quan đến bên nào của hạng mục thì ghi vào đúng bênđó

+ Chuyển vào: N KA(TGNT): Phần bằng tiền

N.CA(CCTM-NK): Giá trị hiện vật nhập khẩu

C.CA(CCCGMC): Giá trị phần chuyển giao

+ Chuyển ra: N.CA(CCCGMC): Giá trị phần chuyển ra

C.KA(TGNT): Phần chuyển ra bằng tiền

C.CA(CCTM-XK): Giá trị hiện vật xuất khẩu

(4) Vay ngắn hạn nhập khẩu hàng hoá

N.CA (CCTM-NK)/C.KA (CCVNH): Số tiền vay

(Cho vay: Ghi ngược lại)

Ngày đăng: 26/04/2023, 13:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w