hoạt động phát triển du lịch
Trang 1Việt Nam, NXB ĐHSP, 2004) Không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế du lịch còn có ý
nghĩa xã hội quan trọng, tạo thêm việc làm cho ngời lao động, mở mang kiến thức, tăng cờng sự hiểu biết về phong tục tập quán giữa các quốc gia …
Việc nghiên cứu đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của lãnh thổ, các không gian du lịch, nhằm quy hoạch hợp lý việc phát triển hoạt động du lịch là một nhiệm vụ cần có những đóng góp tích cực, mạnh mẽ của khoa học địa lý - địa
lý du lịch Do vậy, với t cách là một ngành kinh tế thì vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo nhằm thu hút đông đảo du khách trên cơ sở dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực của lãnh thổ
Phần I: Cơ sở lí luận về tổ chức l nh thổ du lịchã
I Quan niệm về du lịch và tổ chức l nh thổ du lịch ã
I.1 Quan niệm về du lịch
Du lịch là một trong những hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ Đó là một lĩnh vực quan trọng ảnh hởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội Một lĩnh vực kinh tế mà đang nổi lên và trở thành một trong những nghành đợc quan tâm vì nó mang lại lợi nhuận rất lớn, ngời ta còn gọi nó là “nghành công nghiệp không có ống khói” Xét về nguồn gốc, ngành dịch vụ ra đời cùng với sự
Trang 2xuất hiện của nền kinh tế hàng hoá Các Mác đã cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh đòi hỏi một
sự lu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngời thì dịch vụ càng phát triển”
Lúc đầu, ngời ta chỉ quan niệm dịch vụ là ngành thơng nghiệp làm nhiệm vụ chủ yếu trong khâu lu thông, phân phối đồng thời ngời ta quan niệm dịch vụ nh là
sự mua bán hàng hoá Gắn với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của dịch vụ…ngày càng quan trọng, quan niệm về dịch vụ cũng dần dần thay đổi Lĩnh vực dịch
vụ không chỉ đơn thuần làm chức năng lu thông, phân phối mà còn đợc phát triển đa dạng với nhiều ngành khác nhau nh: bu chính viễn thông, y tế, giáo dục, vận tải, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ, hành chính, t vấn, …
Xã hội càng phát triển, các ngành dịch vụ phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lợng cuộc sống con ngời (vật chất và tinh thần) ngày càng đợc mở rộng Trong
đó, ngành du lịch - 1 ngành phục vụ trực tiếp cho việc hồi phục sức khoẻ thể chất,
th giãn về tinh thần, mở rộng hiểu biết của con ng… ời - không ngừng phát triển cả
về chiều rộng và bề sâu, phong phú và đa dạng về loại hình, hoàn thiện về chất ợng.Là một ngành trong lĩnh vực dịch vụ du lịch đợc hiểu theo một số quan niệm sau:
l-“ Du lịch là một dạng hoạt động của dân c trong thời gian rỗi liên quan với
sự di chuyển và c trú tạm thời bên ngoài nơi c trú thờng xuyên nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ các giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá”(I.I.Pirojnik,1985)
Theo Pháp lệnh du lịch do Chủ tịch nớc ta kí ngày 20/02/1999 thì “du lịch là một hoạt động của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ dỡng trong thời gian nhất định ”
Theo tổ chức du lịch thế giới WTO “Du lịch là tổng thể những hiện tợng và những qun hệ phát sinh do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, ngời kinh doanh
du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân c địa phơng trong quá trình thu hút và
lu giữ khách du lịch”
Trang 3Nh vậy, ngành du lịch - 1 ngành phục vụ trực tiếp cho việc hồi phục sức khoẻ thể chất, th giãn về tinh thần, mở rộng hiểu biết của con ng… ời đã và đang đ-
ợc phát triển không ngừng cả về chiều rộng và bề sâu, phong phú và đa dạng về loại hình, hoàn thiện về chất lợng Sự phát triển du lịch có ảnh hởng mạnh đến nền kinh
tế của mỗi nớc, là nhân tố để phát triển nền kinh tế ở các điểm quần c và các đối ợng đón khách đến thăm, tạo lợi nhuận lớn cho các vùng đó Xét về lợi ích kinh tế,
t-du lịch có ảnh hởng mạnh đến nềm kinh tế của các nớc, nó là nhân tố để phát triển nền kinh tế ở các điểm quần c và các đối tợng đón khách đến thăm, tạo nguồn lợi nhuận lớn cho các vùng đó; trên phạm vi toàn thế giới, nó là ngành có đóng góp hàng đầu cho nền kinh tế thế giới
I.2 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch
Tổ chức lãnh thổ du lịch là một hình thức của tổ chức lãnh thổ nền sản xuất xã hội Bản chất của việc tổ chức xã hội theo lãnh thổ là do con ngời trong quá trình lao động và sản xuất đã tạo ra đợc một hệ thống mối quan hệ qua lại hợp lí nhất giữa con ngời với tự nhiên Hệ thống này, một mặt cho phép con ngời sử dụng tốt nhất các nhân tố lãnh thổ của sản xuất với chi phí xã hội thấp nhất, hiệu quả kinh tế cao nhất và mặt khác tạo nên các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và lao động của mình
Vấn đề tổ chức hợp lí nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội.“Tổ chức lãnh thổ du lịch là một hệ thống liên kết không gian của các đối tợng du lịch và các cơ sở phục
vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối u các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác) nhằm đạt kết quả kinh tế - xã hội, môi trờng cao nhất”- Tổ chức lãnh thổ du lịch- Sách bồi dỡng thờng xuyên-(1997-
2000)- PGS TS Lê Thông, PGS TS Nguyễn Minh Tuệ
Tổ chức lãnh thổ du lịch là một dạng của tố chức lãnh thổ xã hội, do đó nó cũng mang tính chất lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, trớc hết là của sức sản xuất, đã dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
I.3 Các nhân tố ảnh hởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch
Trang 4I.3.1 Tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hớng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hởng trực tiếp đến tố chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hoá các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó là yếu tố quyết định, cho phép xây dựng và khai thác lãnh thổ du lịch về quy mô cũng nh các loại hình du lịch
Tài nguyên du lịch có thể hiểu là tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử cùng các thành phần của chúng đợc sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp hoặc cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực cũng
nh kĩ năng lao động và sức khoẻ con ngời
(ảnh:Đỉnhnúi Everest)
Theo pháp lệnh du lịch thì tài nguyên du lịch là:
“cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con ngời có thể đợc sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu
du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn khách du lịch”.
Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn:
Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tợng, hiện tợng trong môi trờng tự nhiên xung quanh chúng ta đợc lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục đích du lịch Thuộc vào nhóm này là các yếu tố tự nhiên nh: địa hình, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật
Trang 5Tài nguyên du lịch nhân văn, nói một cách ngắn gọn là các đối tợng, sự vật hiện tợng do con ngời tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho
nhu cầu du lịch Nhóm tài nguyên này có những đặc trng riêng Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn giải trí, ít bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, thờng tập trung ở các khu vực quần c và thu hút khách du lịch có mức thu nhập, trình độ văn hoá cũng nh yêu cầu nhận thức cao hơn Thuộc nhóm tài nguyên này có: các di tích lịch sử - văn hoá, các lễ hội, các đối tợng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tợng văn hoá - tinh thần
và các hoạt động nhận thức khác
I.3.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội, chính trị
Dân c và lao động: dân c là lực lợng sản xuất quan trọng của xã hội, cùng với hoạt động lao động, dân c còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Sự gia tăng dân số
và sự gia tăng số ngời hoạt động sản xuất và dịch vụ sẽ khiến cho kinh tế du lịch gia tăng Đặc biệt, điều kiện sống của dân c nâng cao (chủ yếu do gia tăng thu nhập) sẽ
là nhân tố then chốt để nhu cầu du lịch tăng và hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tác dụng trớc hết làm ra đời hoạt động du lịch rồi sau đó thúc
đẩy du lịch phát triển với tốc độ nhanh hơn Giữa nhu cầu và hiện thực tồn tại một khoảng cách nhất định, khoảng cách ấy phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội, trình độ phát triển càng cao thì khoảng cách ấy càng rút ngắn
Sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào việc giải quyết các nhu cầu ăn ở, đi lại, nghỉ ngơi và các loại hình dịch vụ khác của con ngời Những đảm bảo thiết yếu nhất cho khách du lịch nh giao thông, cơ sở lu trú, thông tin liên lạc, phải dựa vào…một nền sản xuất xã hội phát triển
Trang 6Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: đây là hình thức thực hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với môt trờng bên ngoài, giữa điều kiện sống cần có và điều kiện sống hiện có thông qua các dạng nghỉ ngơi khác nhau Cụ thể hơn đó là nhu cầu của con ngời về khôi phục sức khoẻ, kĩ năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống và lao động.
Điều kiện sống: Du lịch chỉ phát triển khi mức sống (vật chất và tinh thần) của con ngời đạt đến một trình độ nhất định Nhân tố then chốt nhất chính là thu nhập Không có mức thu nhập (của cá nhân và xã hội) cao thì khó nghĩ đến việc nghỉ ngơi - du lịch ở các nớc có nền kinh tế phát triển, có mức thu nhập bình quân
đầu ngời cao thì nhu cầu và hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ
Thời gian rỗi: Đây là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhăm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con ngời Số thời gian rỗi nhiều hay ít phụ thuộc vào năng suất lao động, đặc điểm của quan hệ sản xuất và dân c Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian rỗi là giảm độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ
Nhân tố chính trị: Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hoà bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngợc lạ chiến tranh ngăn cản các hoạt động du lịch, tạo nên tình trang mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch Đồng thời, du lịch có tác động ngợc trở lại đến việc cùng tồn tại hoà bình, du lịch đợc coi là “giấy thông hành” của hoà bình.
I.3.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch quan trọng hàng đầu là mạng lới và phơng tiện giao thông, thông tin liên lạc và hệ thống các công trình cung cấp điện nớc Đây là những điều kiện thiết yếu đểt đảm bảo sự lu thông và sự giao lu và trao đổi thông tin của khách du lịch và để phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của khách Chỉ khi những điều kiện tiền đề này đợc đảm bảo thì du lịch mới trở thành hiện tợng phổ biến trong xã hội
Cơ sở vật chất - kĩ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần mang những chức năng khác nhau và có ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện sản phẩm du lịch Để đảm bảo cho việc tham quan, du lịch trên qui mô lớn cần phải xây dựng cơ
sở vật chất kĩ thật tơng ứng nh hệ thống khách sạn, nhà hàng, nơi vui chơi giải trí,
Trang 7Tổ chức lãnh thổ du lịch
Tài nguyên du lịch Nhân tố KT - XH, chính trị Cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kĩ thuậtTài nguyên tự nhiên Tài nguyên nhân văn
- Các đối tượng văn hoá
tinh thần và hoạt động nhận thức khác
- Mạng lưới thông tin liên lạc
II.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế
Hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế là phơng thức kết hợp các yếu tố kinh tế (đầu vào) của quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra những sản phẩm, hàng hoá dịch vụ (đầu ra) cho xã hội một cách có hiệu quả
Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế có các đặc trng sau:
Hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế là một thực thể khách quan, nó chỉ ra đời
và phát huy tác dụng khi có đủ điều kiện hoạt động theo các qui luật của nó
Hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế là một phân hệ trong hệ thống kinh tế quốc dân và bản thân nó cũng là một hệ thống, nghĩa là các hình thức tố chức lãnh thổ kinh tế hợp thành nền kinh tế, là bộ phận của nền kinh tế thống nhất nó bị chi
Trang 8phối bởi hệ thống cả về mặt hình thức cũng nh mặt cơ chế quản lí Đồng thời lại mang nét đặc thù của chính nó.
Hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế mang tính lựa chọn, đa dạng và đợc đánh giá bằng hiệu quả kinh tế
II.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
Cùng với sự phát triển của xã hội, mà trớc hết là của sức sản xuất, đã dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Có thể có 3 hình thức chủ yếu là hệ thống lãnh thổ du lịch, thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, vùng du lịch
II.2.1 Hệ thống lãnh thổ du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch nh một thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ
có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định Một trong những chức năng quan trọng nhất là hồi phục và tái sản xuất sức khoẻ, khả năng lao động, thể lực và tinh thần của con ngời
Vì vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch đợc coi là hệ thống xã hội đợc tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ qua lại: tự nhiên, văn hoá du lịch, vănhoá lịch sử, các công trình kĩ thuật, đội ngũ cán bộ công nhân viên và bộ phận tổ chức quản lí Nét đặc tr-
ng quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng và về lãnh thổ [Từ điển Bách khoa Địa lí - Các khái niệm và thuật ngữ 1988]
Về phơng diện cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối liên quan chặt chẽ với nhau Có thể coi các điều kiện và nhân tố
du lịch trong sự thống nhất của chúng là một hệ thống mở phức tạp gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài Cấu trúc bên trong gồm các nhân tố hoạt động với
sự tác động qua lại với nhau Cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện
Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
Hệ thống l nh thổ du lịch ã Thể tổng hợp l nh thổ du lịch ã Vùng du lịch
Trang 9phát sinh và với các hệ thống khác (tự nhiên, kinh tế, xã hội) Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗn hợp, nghĩa là áo có đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều loại qui luật cơ bản.
Xét trên quan điểm hệ thống, hệ thống lãnh thổ du lịch đợc cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau cơ bản về chất nhng có mối liên hệ mật thiết với nhau Đó
là các phân hệ khách du lịch, thể tổng hợp tự nhiên; lịch sử - văn hoá; công trình kĩ thuật; cán bộ nhân viên phục vụ, bộ điều khiển
- Phân hệ khách du lịch: là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu
đối với các thành phần khác của hệ thống, bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào
đặc điểm (xã hội - nhân khẩu, dân tộc) của khách du lịch Các đặc trng của phân hệ khách là cấu trúc và lợng nhu cầu, tính lựa chọn, tính mùa vụ và tính đa dạng của luồng khách du lịch Đây là nhân tố quan trọng nhất, nó quyết định đến các nhân tố
khác, không có phân hệ khách du lịch thì không có các hoạt động du lịch và các phân hệ tiếp theo
(ảnh bên:
Lễ hội nến ở Shinto – Nhật Bản)
- Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hoá: tham gia hệ thống với t cách
là tài nguyên, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi - du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống Tổng thể này có sức chứa, có độ tin cậy, tính thích hợp, tính ổn định và tính hấp dẫn Nó đợc đặc trng bằng lợng nhu cầu, diện tích phân bố và thời gian khai thác
Trang 10- Phân hệ công
trình kĩ thuật: đảm bảo
cho cuộc sống bình thờng của khách du lịch, nhân viên phục vụ (ăn, ở, đi lại)
và những nhu cầu giải trí
đặc biệt (chữa bệnh, tham quan, du lịch Toàn bộ công trình kĩ thuật tạo nên cơ sở hạ tầng của du lịch Nét đặc trng của phân hệ
là tính thích hợp, mức độ chuẩn bị khai thác…
(ảnh:Khách sạn Raffles ở Singapore)
Phân hệ cán bộ nhân viên phục: hoàn thành chức năng dịch vụ cho khách
và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thờng Số lợng, trình độ chuyên môn - nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân viên và mức độ đảm bảo lực lợng lao động là những đặc trng chủ yếu của phân hệ
Phân hệ điều khiển: có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từng phân
hệ nói riêng hoạt động tối u
Trang 11(Nguồn: Tổ chức lãnh thổ du lịch PSG.PTS Lê Thông) Chú giải :
I Môi trờng với các điều kiện phát sinh
Các mối liên hệ với hệ thống khác
Các mối liên hệ thông tin giữa I và
II.2.2 Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch
Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng đợc liên kết với nhau bằng các liên hệ kinh tế, sản xuất
và cùng sử dụng chung vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và kinh tế của lãnh thổ
Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch bắt nguồn từ học thuyết về các thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ do N.N.Koloxovxki đa ra từ những năm 40 của thế kỉ XX Về cơ bản nó đợc hiểu nh một khái niệm để chỉ một thể tổng hợp từ cấp lớn nhất đến cấp nhỏ nhất
Mỗi thể tổng hợp có lịch sử hình thành riêng và ở mỗi giai đoạn có cấu trúc
và tổ chức lãnh thổ tơng ứng Động lực chủ yếu của nó là nhu cầu du lịch xã hội
Trang 12Các tiền đề làm nảy sinh thể tổng hợp là các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.Có
3 giai đoạn hình thành thể tổng hợp lãnh thổ du lịch:
- Giai đoạn I: Tập trung đơn giản các cơ sở, xí nghiệp du lịch
- Giai đoạn II: Phát triển các ngành chuyên môn hoá và tập trung các xí nghiệp du lịch theo dấu hiệu ngành và lãnh thổ
- Giai đoạn III: Hình thành cấu trúc lãnh thổ của thể tổng hợp
II.2.3 Vùng du lịch
Phân nhóm các đối tợng và hiện tợng du lịch theo không gian là một yêu cầu cấp thiết để phát triển du lịch Tuy nhiên, một đặc điểm của hoạt động du lịch là tính phân tán trong không gian, vì vậy tổ chức lãnh thổ du lịch cần có một không gian rộng lớn Nếu tổ chức tốt lãnh thổ một cách hợp lí ngoài ý nghĩa về kinh tế còn các thể tiết kiệm không gian để sử dụng hợp lí cho các mục đích khác Trong nhiệm
vụ nặng nề này có công sức không nhỏ của phân vùng du lịch Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vùng du lịch
Theo E.A.Kôlliarôp (1978) vùng du lịch đợc hiểu là một lãnh thổ hoàn chỉnh với sự kết hợp các điều kiện, đối tợng và chuyên môn hoá du lịch Đó không chỉ là lãnh thổ để chữa bệnh nghỉ ngơi - du lịch mà còn là một cơ chế kinh tế, hành chính phức tạp, trong đó có các xí nghiệp nông nghiệp, công nghiệp , vận tải, xây dựng và các cơ sở văn hoá; đợc hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trong lĩnh vực phi sản xuất.
Theo N.X Mirônicô và I.T.Tirôđôkhôlêbok (1981) thì vùng du lịch là một cộng đồng lãnh thổ của các xí nghiệp du lịch chuyên môn hoá phục vụ du khách có quan hệ về mặt kinh tế nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách trên cơ sở sử dụng tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử hiện có và các điều kiện kinh tế của lãnh thổ.
Quan niệm của I.I Pirojnik (1985) đợc xem là đầy đủ và tiêu biểu hơn cả Theo quan niệm này vùng du lịch đợc hiểu là hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp của các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh
Trang 13thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển du lịch.
Trên quan điểm hệ thống có thể hiểu vùng du lịch là một tập hợp hệ thống lãnh thổ đợc tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: hệ thống lãnh thổ
du lịch và không gian kinh tế - xã hội xung quanh nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả
Phần II tổ chức lãnh thổ du lịch ở Việt Nam
I Tài nguyên du lịch chủ yếu
I.1.tài nguyên du lịch tự nhiên
I.1.1 Địa hình:
Các dạng địa hình đợc coi là tài nguyên du lịch ở nớc ta, địa hình đăc biệt chủ yếu gồm có địa hình Karstơ (đá vôi), địa hình bờ biển và đảo ở nớc ta theo điều tra, thống kê có khoảng 60.000km2 đá vôi lộ ra trên bề mặt, tập trung chủ yếu từ 160
vĩ Bắc trở lên, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên rất thuận lợi cho quá trình Karstơ phát triển Cũng nh các vùng khác trên thế giới, ở nớc ta có đủ các dạng Karstơ trên bề mặt, lẫn các dạng Karstơ ngầm (hang, động) có khả năng hấp dẫn khách du lịch
Qua khảo sát, đến nay đã phát hiện ra hàng trăm hang động với tổng chiều dài
là 135km Các hang động lớn tập trung chủ yếu trong các khối đá vôi ở Kẻ Bàng ( Quảng Bình ) tổng chiều dài là 73km, ở Cao Bằng gần 26km, ở Lạng Sơn là hơn 13km, ở Sơn La là trên 12km Hang động ở các khối đá vôi Kẻ Bàng tạo thành một
hệ thống liên hoàn, dài nhất và đẹp nhất là Động Phong Nha (7.729m) Có thể chia hang động ở Việt Nam thành 3 khu vực chính ở Đông Bắc, các hang chỉ phát triển theo chiều ngang và ngắn ở Tây Bắc thì ngợc lại, các hang phần lớn phát triển theo chiều thẳng đứng và phân bậc rõ rệt ở Bắc Trờng Sơn, các hang hầu nh chỉ phát triển theo chiều ngang và hầu hết là tuyến chảy của sông hiện nay
Trang 14Nhìn chung hang động ở nớc ta có cấu tạo phức tạp ở các hang động lớn có nhiều phòng, nhiều nhánh và đợc thông ra bằng nhiều cửa Tuy nhiên, cũng có hang
động chỉ có một phòng rộng (hang Dơi ở Hữu Lũng – Lạng Sơn) Bên cạnh đó còn
có dạng Karstơ ngập nớc (Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long), Karstơ đồng bằng (“Hạ Long Cạn” ở Ninh Bình), Karstơ núi (hang động), địa hình Karstơ có sức hấp dẫn khách du lịch
Bảng 1 – Một số hang động dài nhất nớc ta (theo tài liệu năm 1997) Tên hang Tỉnh Chiều
dài (m)
Độ sâu (m)
Tên hang Tỉnh Chiều
dài (m)
Độ sâu (m) Phong Nha
7.729 5.258 5.050 3.927 3.351 3.342 3.248 3.244 2.836 2.800
83 80 145 45 133 123 77 103 49 45
Ngờm Sập Hang Rắn Hang én Hang Hổ
Rù Moóc Khe Ry Pitch Cave Pắc Nàng Hang Pygmy Ngờm Khu
Cao Bằng Sơn La Quảng Bình Quảng Bình Lạng Sơn Cao Bằng Quảng Bình Lạng Sơn Quảng Bình Cao Bằng
2.184 1.718 1.645 1.616 1.560 1.387 1.075 1.071 845 804
31 87 49 46 42 120 60 0 94 36
Nớc ta có bờ biển dài 3260km với nhiều bãi biển đẹp, hệ thống các đảo ven
bờ từ Móng Cái đến Hà Tiên có hàng loạt bãi biển đẹp nh: Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Hải Thịnh , Sầm Sơn, Cửa Lò, Đá Nhảy, Nhật Lệ, Thiên Cầm, Cửa Tùng, Thuận An, Cảnh Dơng, Sa Huỳnh, Vũng Tàu …
Trang 15Theo đánh giá của các chuyên gia thuộc Tổ chức du lịch Thế Giới (WTO), dải bờ biển có những bãi tắm đẹp nhất nớc ta, kéo dài liên tục từ bãi Đạm Lãnh (Khánh Hoà) dới chân đèo Cả qua vịnh Văn Phong cho đến Nha Trang, Ninh Chữ Nơi đây có tiềm năng du lịch to lớn và đặc biệt là vịnh Văn Phong, có thể cạnh
tranh với các khu du lịch biển của các nớc trong khu vực
Nhìn chung, các bãi biển ở nớc ta dài, rộng, nền chắc, đợc cấu tạo bằng cát,
độ dốc trung bình 2 – 30 Độ mặn nớc biển ở các bãi tắm đại bộ phận không vợt quá 30 %0 Độ trong của nớc biển dao động trong khoảng 0,3 – 0,5m ở Đại Lãnh đạt 3 – 4m, ở Văn Phong từ 4 – 5m Với nguồn tài nguyên này, nớc ta có nhiều thuận lợi để phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng
Nớc ta có hệ thống đảo và quần đảo phong phú, trải dài từ vùng biển Quảng Ninh cho đến Kiên Giang gồm 9 huyện đảo Các đảo này có giá trị lớn đối với hoạt
động du lịch đặc biệt là đảo Phú Quốc ( ở Kiên Giang ), đảo Cát Bà (ở Hải Phòng )
hệ thống đảo ven bờ có giá trị lớn về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng,
…
trong đó có du lịch Theo số liệu thống kê năm 1995 của đề tài KT 03 – 12 thuộc Chơng trình nhiên cứu biển , nớc ta có 2.773 đảo ven bờ ( cách xa bờ trong khoảng 100km) với tổng diện tích 1.720km2 Trong số này có 84 đảo có diện tích từ 1km2
trở lên, chiếm 1.596km2 (92,7% tổng diện tích đảo ven bờ) Có 24 đảo tơng đối lớn
có diện tích trên 10km2 và có 3 đảo có diện tích lớn trên 100km2 Một số đảo lớn nhất phân theo diện tích gồm có:
Trang 16Đảo có diện tích trên 100Km2 gồm: Phú Quốc (557km2), Cái Bầu (194 km2), Cát Bà (153 km2).
Từ 50 đến 100 km2 bao gồm: Trà Bản (76,4 km2), Côn Lôn (57,4 km2)
Từ 10 đến 49 km2 gồm: Hòn Lớn (45,1 km2), Hòn Tre (38,4 km2), Vĩnh Thực (32,6 km2), Phú Dự (32,5 km2), Đồng Rui (32,3 km2), Ba Mùn (23,4 km2), Phú Quí (18 km2), Thanh Lam (16,8 km2), Cái Lim (16,1 km2), Vạn Cảnh (16,1 km2), Định
Khí hậu cũng đợc coi là một tài nguyên du lịch Trong các chỉ tiêu khí hậu ,
đáng lu ý nhất là 2 chỉ tiêu: nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác nh: gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và nhất
là các hiện tợng thời tiết đặc biệt
Điều kiện khí hậu có ảnh hởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc các hoạt động dịch vụ du lịch ở mức độ nhất định, cần phải lu ý đến các hiện tợng thời tiết đặc biệt làm cản trở kế hoạch du lịch Đó là những sự cố thời tiết đáng kể ở Việt Nam nh bão trên các vùng biển và duyên hải, hải đảo, gió mùa Đông Bắc, gió Tây khô nóng, lốc, lũ lụt trong mùa ma …
Du lịch có tính mùa rõ rệt, điều đó đợc cắt nghĩa chủ yếu bởi tính mùa của khí hậu Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hởng của yếu tố khí hậu Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc chỉ một vài tháng:
Mùa du lịch cả năm thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối khoáng,
du lịch trên núi ( cả mùa đông và mùa hè ) ở vùng có khí hậu nhiệt đới nh các tỉnh phía Nam nớc ta, mùa du lịch hầu nh cả năm
Mùa đông là mùa du lịch trên núi Sự kéo dài của mùa đông có ảnh hởng tới khả năng phát triển du lịch thể thao mùa đông và loại hình du lịch mùa đông khác
Trang 17Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại hình du lịch nh du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và ở khu vực đồng bằng - đồi Khả năng du lịch ngoài trời về mùa hè rất phong phú và đa dạng.
Nhiều nhà khí hậu học trên thế giới còn sử dụng các chỉ tiêu khí hậu sinh học để xác định mức độ thích hợp của khí hậu đối với sức khoẻ con ngời Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hoà thờng đợc khách du lịch a thích Nhiều cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thờng tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô Những nơi có nhiều gió không thích hợp cho việc phát triển du lịch cũng nh
đối với sức khoẻ của du khách…
ở nớc ta, do tính mùa của khí hậu, nên du lịch có thể diễn ra quanh năm nh
Sa Pa ở Lào Cai hay Đà Lạt ở Lâm Đồng có thể phát triển thành loại hình du lịch quanh năm Bên cạnh đó, vào mùa hè nớc ta có thể phát triển loại hình du lịch biển
du lịch sông nớc Còn n… ớc dới đất nhìn chung, ít có ý nghĩa đối với du lịch
Do khí hậu nhiệt đới gió mùa và nhiều nguyên nhân khác, mạng lới sông ngòi của nớc ta tuy dày đặc nhng không có nhiều tác dụng trong việc phát triển du lịch Có giá trị hơn cả là mạng lới sông ngòi ở Đông Bằng Sông Cửu Long và một vài con sông khác nh sông Hơng
Nớc ta có nhiều hồ với nguồn gốc khác nhau Một trong những hồ tự nhiên lớn nhất Việt Nam có giá trị du lịch là Hồ Ba Bể Hồ ở độ cao 145m trên mực nớc biển, có diện tích mặt nớc khoảng 500ha, dài 7km, chỗ rộng nhất là 2km., độ sâu trung bình 30m, bị thắt khúc thành ba hồ nhỏ (Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng) nên đợc gọi
là hồ Ba Bể Hồ nhân tạo có hai nguồn gốc: thuỷ điện và thuỷ lợi Các hồ nớc có giá trị hàng đầu đối với du lịch là hồ Hoà Bình, hồ Dầu Tiếng ở Tây Ninh, hồ Thác Bà ở
Trang 18Trong số các loại tài nguyên nớc, nguồn nớc khoáng có giá trị đặc biệt Nớc khoáng là nớc thiên nhiên (chủ yếu ở dới đất) chứa một số thành phần vật chất đặc biệt ( các nguyên tố hoá học, khí, nguyên tố phóng xạ ) hoặc một số tính chất vật lí ( nhiệt độ, độ pH ) có tác dụng cho sức khoẻ con ng… ời Một trong những công dụng của nớc là chữa bệnh và gắn nó với du lịch chữa bệnh Hiện nay nớc ta đã phát hiện vài trăm nguồn nớc khoáng tự nhiên Để phục vụ chữa bệnh ngời ta đã phân loại nớc khoáng thành các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm nớc khoáng cacbônic ( nh nớc khoáng Vĩnh Hảo) là nhóm nớc khoáng quí, có công dụng giải khát rất tốt và chữa một số bệnh nh: cao huyết áp, xơ vữa
động mạch nhẹ, các bệnh về thần kinh ngoại biên
Nhóm nớc khoáng silic có tác dụng đối với bệnh về đờng tiêu hoá, thấp khớp
ở n
… ớc ta điển hình là nguồn nớc khoáng Kim Bôi ( Hoà Bình) và Hội Vân (Bình
Định) Nớc khoáng Kim Bôi nhiệt độ quanh năm tợng đối ổn định là 370C, có hàm lợng Na, Ca khá lớn, thích hợp cho việc chữa các bệnh về khớp, dạ dày, viêm đại tràng Nớc khoáng Hội Vân có hàm lợng silic cao, nhiệt độ tới 790C chữa các bệnh viêm loét dạ dày, thành đại tràng, thành tá tràng, cổ tử cung, điều hoà chức năng tiêu hoá …
Nhóm nớc khoáng Brôm – Iốt – Bo có tác dụng chữa bệnh ngoài da, thần kinh, phụ khoa ở Việt Nam có hai nhà nghỉ sử dụng nguồn nớc khoáng này là ở Quang Hanh (Cẩm Phả, Quảng Ninh) và Tiên Lãng (Hải Phòng)
Ngoài ba nhóm trên còn có một số nhóm nớc khoáng khác (Sunfuahyđrô, Asen – Fluo, Liti ) cũng có giá trị đối với du lịch nghỉ ngơi.…
I.1.4 Tài nguyên sinh vật :
Hiện nay, thị hiếu về du lịch ngày càng trở nên đa dạng Sau những ngày làm việc căng thẳng, con ngời muốn đợc th giãn và hoà mình với thiên nhiên Từ đó xuất hiện loại hình du lịch sinh thái, trong đó các khu bảo tồn thiên nhiên đóng vai trò quan trọng
Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái,
mà còn có giá trị du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng Động vật ở
Trang 19n-ớc ta đa dạng, nhất là trong các đai rừng nội chí tuyến chân núi Động vật biển cũng tơng đối phong phú về thành phần loài Có giá trị là các sân chim, đặc biệt ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau.
Không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối tợng của du lịch tham quan ứng với các mục đích du lịch khác nhau thì có các hệ thống chỉ tiêu khác nhau Ví dụ, đối với loại hình săn bắn thể thao, chỉ tiêu bao gồm các loài qui định săn bắn là phổ biến, không ảnh hởng tới số lợng quĩ gen, loài động vật (ở dới nớc, ở trên cây, trên mặt đất) phải nhanh nhẹn, khu dành cho săn bắn phải rộng, xa khu dân c, đảm bảo tầm bay của đạn và sự an toàn của khách …
Về phơng diện tài nguyên du lịch cần chú ý đến các khu bảo tồn thiên nhiên Hiện nay cả nớc ta đã thành lập đợc 105 khu bảo vệ tự nhiên gồm 27 vờn quốc gia,
44 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử – môi trờng với tổng diện tích là 2.092.466 ha ((Nguồn:Lê Thông(cb), Địa lý kinh tế xã hội Việt–
Nam,NXB ĐHSP,2004 )
Bảng 2 - Các vờn quốc gia của nớc ta tính đến năm 2003
(ha)
Năm thành lập
Đặc điểm đặc trng
1 Ba Bể Bắ Kạn 7.610 1992 Rừng, hổ, voọc mũi hếch
3 Bạch Mã Thừa Thiên – Huế 22.031 1991 Rừng á nhiệt đới miền Trung Trĩ
sao, voọc chà và
4 Bái Tử Long Quảng Ninh 15.783 2001 Rừng trên đảo
5 Bến En Thanh Hoá 38.153 1992 Rừng nhiệt đới thờng xanh
6 Cát Bà Hải Phòng 15.200 1986 Rừng nhiệt đới trên núi đá vôi
10 Ch Mom Ray Kon Tum 56.621 2002 Các kiểu rừng khu vực Đông Dơng
11 Ch Yang Sin Đăc Lăk 58.947 2002 Rừng trên núi cao Tây Nguyên
12 Hoàng Liên Sơn Lào Cai 29.845 2002 Rừng á nhiệt đới
13 Xa Mát Tây Ninh 18.756 2002 Rừng chuyển tiếp
14 Pù Mát Nghệ An 91.113 2001 Các kiểu rừng miền Trung
15 Phong Nha – Kẻ
Bàng
Quảng Bình 85.754 2001 Các kiểu rừng miền Trung Thú linh
trởng mang lớn
16 Phú Quốc Kiên Giang 31.422 2001 Rừng trên đảo
17 Tam Đảo Vĩnh Phúc, Tuyên 36.883 1996 Rừng á nhiệt đới, sam bông,
Trang 2018 Tràm Chim Đồng Tháp 7.588 1998 Rừng tràm – sếu đầu đỏ
19 U Minh Thợng Kiên Giang 8.053 2002 Rừng tràm
20 Vũ Quang Hà Tĩnh 55.029 2002 Rừng Bắc Trờng Sơn
21 Xuân Sơn Phú Thọ 15.045 2002 Rừng kín thờng xanh, cây họ dầu
22 Yok Đon Đăc Lăk 58.200 1992 Rừng khộp, voi, bò rừng
Bò tót
23 Bù Gia Mập Bình Phớc 26.032 2002 Rừng nhiệt đới ẩm
24 Kôn Ka Kinh Gia Lai 41.780 2002 Rừng kín thờng xanh, ma nhiệt đới
25 Xuân Thuỷ Nam Định 7.100 2003 Rừng ngập mặn.Chim nớc, di trú
26 Núi Chúa Ninh Thuận 29.865 2003 Rừng khô Nam Trung Bộ
Một trong những mục tiêu xây dựng hệ thống vờn quốc gia nói trên là bảo vệ các khu cảnh quan tự nhiên, phục vụ mục đích khoa học, giáo dục và du lịch sinh thái
Nh vậy, nớc ta có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên Để phát huy thế mạnh về các tài nguyên thiên nhiên này cũng chính là việc phát huy thế mạnh của ngành du lịch, phát huy thể mạnh kinh tế của đất nớc phải đi đôi với bảo
vệ môi trờng
I.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Di tích văn hoá lịch sử của Việt Nam là một tài nguyên du lịch quan trọng Hiện nay cả nớc có khoảng 2.715 di tích đợc Bộ văn hoá xếp hạng, trong đó có 5 di tích đợc UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới :cố đo Huế(1993),vịnh Hạ Long (1994), đô thị cổ Hội An, tháp Chàm Mỹ Sơn (1999), Phong Nha –Kẻ Bàng (2003)(Nguồn:Lê Thông(cb), Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam,NXB ĐHSP,2004– )
Lễ hội cũng là một tài nguyên du lịch hấp dẫn khách du lịch, phần lớn các lễ hội ở Việt Nam tập trung vào mùa xuân, chủ yếu là tháng giêng và tháng hai Lễ hội
là đối tợng hấp dẫn khách du lịch không thua kém gì các di tích lịch sử văn hoá nhằm tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống cũng nh truyền thống của địa phơng
Ngoài ra, Văn hoá dân tộc là đối tợng hấp dẫn của hoạt động du lịch.Nớc ta
có 54 dân tộc tạo nên bản sắc văn hoá đa dạng và phong phú thu hút sự quan tâm của nhiều du khách
II Hiện trạng phát triển ngành du lịch Việt Nam
II.1 Sự tăng trởng về số lợng khách
Trang 21II.1.1 Khách quốc tế.
Ngành du lịch Việt Nam đã có quá trình hoạt động từ những năm 60 của thế
kỷ XX.Tuy nhiên, thời kì này ngành du lịch phát triển chậm.Lợng khách chủ yếu là khách nội địa, lợng khách quốc tế không đáng kể và phần lớn là du khách từ các n-
ớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa
Từ thập niên 90 trở lại đây do những chính sách đổi mới trong phát triển kinh
tế, xây dựng nền kinh tế mở, thực hiện đa phơng hoá đa dạng hoá mối quan hệ quốc
tế mà ngành du lịch Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt.Ngành du lịch đợc coi là một ngành kinh tế quan trọng, ngành có khả năng thu ngoại tệ lớn Lợng khách quốc tế đến với Việt Nam không ngừng gia tăng với sự đa dạng về quốc tịch và mang lại một nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho ngân sách quốc gia Trong số khách quốc tế đến Việt Nam đáng kể nhất là khách đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Kiều sống ở nớc ngoài
Trang 22
27.5
10.6 9.9
35.5
4.2 2.7
1.6
8 Trung Quốc Nhật Bản Hoa Kỳ
Thái Lan Các quốc tịch khácBiểu đồ thể hiện cơ cấu khách du lịch nớc ngoài đến nớc ta ( Nguồn:Lê Thông(cb), Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam,NXB ĐHSP,2004– )Trong số khách quốc tế đến Việt Nam đáng kể nhất là khách đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Kiều sống ở nớc ngoài Điều này phản ánh chất lợng cha cao của khách du lịch, điều này cũng phản ánh khả năng thu hút cha đủ mạnh của ngành du lịch nớc ta Khách du lịch chủ yếu là khách du lịch trong khu vực và phần lớn trong đó là khách có thu nhập cha cao Do vậy, mặc dù số lợng khách đến tăng nhng doanh thu tăng không đáng kể
II.1.2 Khách trong nớc
Số lợng khách trong nớc cũng tăng mạnh Từ những năm 90 nền kinh tế của nớc ta có sự tăng trởng mạnh mẽ, mức sống của nhân dân đợc cải thiện đặc biệt là một số bộ phận dân c ở các thành phố lớn Điều này dẫn đến nhu cầu du lịch tăng lên rõ rệt
Kháchdu lịch
(Nghìnlợtngời)
1.000 1.500 2.000 2.700 3.500 5.500 6.500 11.200 13.000
( Nguồn:Lê Thông(cb), Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam,NXB ĐHSP,2004– )
II.2 Cơ sở vật chất - kỹ thuật và lao động trong ngành du lịch
II.2.1 Thuận lợi