Lí do ch ọn đề tài Trong xu thế hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì du lịch đã dần trở thành một ngành quan trọng, giữ vị trí then chốt mang lại hiệu quả kinh tế -
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công
bố ở các công trình khác
Tác gi ả luận văn
Cao Qu ốc Tuân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn cao học, tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Khoa Địa lý, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu
và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Đồng thời tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn TS Đào Ngọc Cảnh - người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình làm luận văn, bằng tất cả sự tận tâm và lòng nhiệt tình của một người thầy Bên cạnh
đó tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị cán bộ của Sở Văn hóa,
thể thao, du lịch tỉnh An Giang đã hỗ trợ và cung cấp một số tài liệu để tác giả có thể hoàn thành được luận văn này
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Tổng Giám đốc, anh chị em các Phòng, Ban của Công ty cổ phần Sách và Thiết bị Giáo dục Cửu Long - Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian trong suốt quá trình làm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ 9
MỞ ĐẦU 10
1 Lí do chọn đề tài 10
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 10
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
3.1 Mục tiêu của đề tài 11
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
4 Giới hạn - phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài 12
5.1 Quan điểm nghiên cứu 12
5.2 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Cấu trúc luận văn 13
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 15
1.1 Du lịch và vai trò của du lịch 15
1.1.1 Khái niệm du lịch 15
1.1.2 Vai trò của du lịch 15
1.1.3 Các loại hình du lịch 16
1.2 Tổ chức lãnh thổ du lịch 17
1.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch 17
1.2.2 Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch 18
1.2.3 Mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch 19
1.3 Các nhân tố ảnh hưỏng tới tổ chức lãnh thổ du lịch 20
1.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên 20
1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 23
1.3.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 27
1.3.3.1 Cơ sở hạ tầng 27
1.3.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 28
Trang 51.3.4 Nhân tố chính trị 30
1.3.5 Đường lối, chính sách 32
1.3.6 Một số nhân tố khác 32
1.4 Phát triển du lịch bền vững 33
1.4.1 Phát triển bền vững 33
1.4.2 Phát triển du lịch bền vững 34
1.4.2.1 Khái niệm 34
1.4.2.2 Những nguyên tắc của du lịch bền vững 35
1.4.2.3 Các biện pháp nhằm đạt đến sự bền vững trong du lịch 36
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN GIANG 38
2.1 Khái quát chung về tỉnh An Giang 38
2.1.1 Vị trí địa lí 38
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 39
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 39
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang 40
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 40
2.2.1.1 Địa hình và đất đai 40
2.2.1.2 Tài nguyên khí hậu 42
2.2.1.3 Tài nguyên nước 42
2.2.1.4 Tài nguyên sinh vật 42
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 43
2.2.2.1 Các di tích lịch sử, văn hóa 43
2.2.2.2 Các lễ hội 46
2.2.2.3 Các nghề và làng nghề thủ công truyền thống 47
2.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 48
2.2.3.1 Cơ sở hạ tầng 48
2.2.3.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật 50
2.2.4 Đánh giá về tài nguyên du lịch và sự phân bố tài nguyên du lịch ở An Giang 55
2.3 Hiện trạng phát triển du lịch An Giang 57
2.3.1 Hiện trạng khách du lịch 57
2.3.2 Các khu du lịch ở An Giang 58
2.3.3 Các tuyến du lịch điển hình 61
2.3.4 Doanh thu du lịch và đầu tư phát triển du lịch 62
Trang 62.3.5 Lao động du lịch 65
2.3.6 Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch An Giang 65
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN GIANG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 68
3.1 Cơ sở để tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang 68
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch bền vững Đồng bằng sông Cửu Long68 3.1.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh An Giang 69
3.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh An Giang 71
3.2.1 Xây dựng các trung tâm, tuyến, điểm du lịch 71
3.2.2 Thị trường và sản phẩm du lịch 73
3.2.3 Xây dựng và phát triển các loại hình du lịch 75
3.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật 75
3.2.5 Liên kết du lịch trong và ngoài tỉnh 76
3.3 Giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch tỉnh An Giang theo hướng bền vững 78
3.3.1 Quy hoạch, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch 78
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch 78
3.3.3 Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư du lịch 79
3.3.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá du lịch 79
3.3.5 Bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch 80
3.3.6 Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ du lịch 81
3.3.7 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển du lịch 81
3.3.8 Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSVCKTDL : Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
VH – TT – DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch ODA : Official Development Assistance
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9Hình 2.3: Bản đồ hiện trạng phân bố tài nguyên du lịch tỉnh An Giang
Hình 2.4: Biểu đồ thu nhập du lịch An Giang từ 2005 – 2009
Hình 3.1: Bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Trong xu thế hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì du lịch đã
dần trở thành một ngành quan trọng, giữ vị trí then chốt mang lại hiệu quả kinh tế - xã
hội và môi trường ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam nói chung và
tỉnh An Giang nói riêng
An Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh về tài nguyên tự nhiên và nhân văn, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, An Giang đã tận dụng được nguồn tài nguyên về du lịch để phát triển mạnh các loại hình
du lịch trong thời gian gần đây và đã đạt được kết quả đáng kể trong lĩnh vực này, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của An Giang Bên cạnh những mặt mạnh khai thác được, việc tổ chức lãnh thổ du lịch của An Giang vẫn còn nhiều tiềm năng chưa khai thác hết cũng như tồn tại nhiều hạn chế trong quá trình phát triển du lịch
Trước thực trạng trên tôi quyết định chọn đề tài: "Tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang theo hướng phát triền bên vững" làm luận văn tốt nghiệp
2 L ịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức là một du lịch là một khái niệm còn khá mới mẻ nhưng đã được chú ý
rất nhiều trong thời gian gần đây Vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch sao cho khai thác du
lịch nhằm mục đích bảo tồn và phát triển bền vững, đồng thời cải thiện đời sống nhân dân địa phương trong đó hoạt động giáo dục môi trường là yếu tố cơ bản Trong những năm gần đây khách du lịch quốc tế thường nhắm đến các nước nhiệt đới với mục đích hướng về tự nhiên Năm 1995, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam đã thực
hiện đề tài "Hiện trạng và những định hướng cho công tác quy hoạch phát triển du
l ịch vùng đồng bằng sông Cửu Long", nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã
đề xuất các loại hình du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long như: du lịch sông nước, tham quan miệt vườn, vui chơi giải trí và du lịch vùng biển, Năm 1998, công trình nghiên cứu của Phan Huy Xu và Trần Văn Thành về "Đánh giá tài nguyên du lịch tự
nhiên và định hướng khai thác du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long",
ựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế các tuyến điểm, cụm du lịch
Trang 11sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long Các đề tài nghiên cứu trên về cơ bản đã định hình được việc tổ chức lãnh thổ du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long Tại An Giang việc tổ chức rà soát, đánh giá tiềm năng du lịch của tỉnh cũng đã được tiến hành
nhằm thống kê tài nguyên du lịch của tỉnh và đã đề ra các giải pháp tổ chức lãnh thổ cho phù hợp với tài nguyên của tỉnh
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 M ục tiêu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh An Giang, trong đó đi sâu vào tìm hiểu thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh An Giang trên
cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát để tổ chức lãnh thổ du lịch của
tỉnh theo hướng phát triển bền vững
Trên cơ sở có chọn lọc những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ du lịch và phát triển bền vững làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài Phân tích thực trạng phát triển du
lịch cũng như thực trạng tổ chức lãnh thổ, đề xuất các định hướng và giải pháp để tổ
chức lãnh thổ du lịch An Giang trong tương lai, nhằm phát huy tiềm năng du lịch của
tỉnh
4 Giới hạn - phạm vi nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ thực tiễn tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh, phạm vi nghiên cứu của
đề tài chủ yếu tập trung ở các nội dung sau:
- Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ và phát triển bền vững;
- Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang;
- Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang theo hướng phát triển bền vững
Về mặt lãnh thổ, đề tài được nghiên cứu chủ yếu trên địa bàn tỉnh An Giang, tập trung vào các điểm, khu du lịch, bên cạnh đó còn tìm hiểu mối quan hệ với các tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là các tỉnh tiếp giáp
Trang 125 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp: đây là quan điểm nhằm nghiên cứu một cách tổng hợp tất
cả các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang, nghiên cứu mối quan
hệ tác động của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, các nhân tố kinh tế xã hội
và sự biến động của chúng đối với tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang, từ đó có thể đưa
ra những định hướng và giải tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang một cách hợp lí và hiệu
quả
- Quan điểm lịch sử viễn cảnh: trong quá trình nghiên cứu cần chú ý đến nguồn
gốc lịch sử đối tượng mà đề tài nghiên cứu, từ đó lý giải được sự hình thành phát triển
của đối tượng, mà cụ thể ở đây là xem xét việc tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang trong quá khứ, thực trạng phát triển hiện tại và đề ra những định hướng phát triển trong tương lai
- Quan điểm sinh thái: bản chất của tổ chức lãnh thổ du lịch là dựa trên môi trường tự nhiên, trong quá trình nghiên cứu phải hết sức chú ý tới mối tương tác của
hoạt động du lịch và môi trường sinh thái Phải xem xét một cách toàn diện tác động
của môi trường đến tổ chức lãnh thổ du lịch và ảnh hưởng của hoạt động của tổ chức lãnh thổ du lịch Dự báo được những nguy cơ, tác hại hoạt động du lịch có thể gây ra cho môi trường để từ đó có những biện pháp bảo vệ môi trường đảm bảo cho hoạt động du lịch An Giang phát triển
- Quan điểm phát triển du lịch bền vững: du lịch dù có phát triển đến đâu cũng
cần mang tính bền vững Trong quá trình nghiên cứu phải xem du lịch bền vững còn
có ý nghĩa rộng hơn cả việc bảo vệ môi trường thiên nhiên đó là phải xem xét một cách hợp lí nhất, thỏa đáng nhất các yếu tố về con người, cộng đồng dân cư, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống, đảm bảo cho du lịch phát triển cả trong hiện tại và tương lai
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp đánh giá tổng hợp so sánh: trong hầu hết các tài liệu có được đều liên quan đến vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang, hầu như các tài liệu đều rất
Trang 13rộng và khó có được cụ thể cho một đề tài nghiên cứu nên dựa vào những tài liệu này phân tích, tổng hợp, so sánh và rút ra những gì cần thiết và quan trọng cho đề tài, sắp
xếp lại theo trình tự một cách khoa học và logic
- Phương pháp thống kê, biểu đồ: khi thu thập tài liệu liên quan đến tổ chức lãnh
thổ du lịch An Giang, nguồn tư liệu rất đa dạng và phong phú nên phương pháp này giúp lựa chọn, xử lý thiết lập thành hệ thống để phục vụ cho việc nghiên cứu Nguồn thông tin, số liệu được thu thập từ nhiều nguồn tư liệu: cơ quan thống kê, sách báo, các bài nghiên cứu khoa học, mạng internet, để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho việc nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó cũng sử dụng phương pháp
biểu đồ, dựa vào nguồn số liệu thống kê để xây dựng thành các biểu đồ, thể hiện các con số một cách trực quan, sinh động, dễ nhìn ra vấn đề và cũng để minh họa cho vấn
đề
- Phương pháp bản đồ: đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống trong Địa lý,
phản ánh những đặc điểm không gian, sự phân bố các tài nguyên du lịch, cơ sở hạ
tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Sử dụng các bản đồ thể hiện địa hình, thổ nhưỡng, hành chính đến các bản đồ du lịch, là cơ sở để phân tích và phát hiện quy luật
hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch, trên cơ sở đó đưa ra định hướng phát triển và
tổ chức hoạt động du lịch trong tương lai
- Phương pháp thực địa: đây là một phương pháp cần thiết cho một nghiên cứu
về tổ chức lãnh thổ du lịch ở một vùng cụ thể, bên cạnh đó có thể kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích thị
hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn, điều tra Phương pháp này giúp nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, nắm bắt được nguyện vọng không chỉ
của khách du lịch mà ngay cả những người làm công tác phục vụ du lịch và quản lí du
lịch
Ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp: trao đổi, phỏng vấn thầy cô, bạn bè, sử
dụng các phần mềm trong địa lí để thành lập bản đồ cần thiết
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ và phát triển bền vững
Trang 14- Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh
An Giang
- Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang theo hướng phát triển bền vững
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC
1.1 Du lịch và vai trò của du lịch
1.1.1 Khái ni ệm du lịch
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy lạp với ý nghĩa là đi một vòng Thuật
ngữ này được latinh hóa thành tornus và sau đó thành touriste (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) Theo Robert Lanquar từ touriste lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800
Trong tiếng Việt, thuật ngữ touriste được dịch thông qua tiếng Hán Du nghĩa là
đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt nó mang ý nghĩa thông thường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí Mặt khác,
du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt với những kết
quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra
Du l ịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới sự di chuy ển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa
b ệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo vi ệc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (I.I Pirogionic-1985)
1.1.2 Vai trò c ủa du lịch
- Giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống cho du khách
Du lịch còn đáp ứng được nhu cầu về vui chơi, giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, xã
hội, nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi của con người Nhiều công trình nghiên cứu Y - Sinh học cho thấy: nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh hô hấp giảm 40%, bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh
thần kinh giảm 30%, bệnh về đường tiêu hóa giảm 20% Đồng thời, du lịch là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền văn hóa, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, phục hồi các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hóa Qua việc tiếp xúc với
Trang 16những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, du lịch làm tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp
phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội
- Đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Nhiều quốc gia, khu vực thông qua việc thỏa mãn thị trường hàng hóa và dịch vụ
du lịch đối với du khách đã có cơ hội làm giàu Vì vậy, du lịch đã kích thích sự phát triển của sản xuất, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia Các quốc gia càng phát triển thì vai trò của ngành du lịch càng lớn, chiếm tỷ trọng càng nhiều trong cơ
cấu nền kinh tế
- Góp phần sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nhờ sự phát triển của du lịch mà nhiều giá trị về tự nhiên, nhân văn được tái phát
hiện, được tôn tạo, được bảo tồn và phát triển, được biến thành các giá trị kinh tế Rất nhiều vùng núi, ven biển không thuận lợi cho phát triển và phân bố các ngành công nghiệp hay nông nghiệp, nhưng cảnh quan thiên nhiên lại rất độc đáo, môi trường không bị ô nhiễm, đó là những địa điểm lí tưởng cho du lịch
Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh trong quá trình du lịch còn tạo điều kiện cho du khách hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên Như vậy nó đã góp phần giáo dục cho du khách về mặt sinh thái học
- Du lịch như là một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc
tế, mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia
Thông qua việc giao lưu, tìm hiểu về thiên nhiên, xã hội, các nét đẹp văn hóa
của dân cư ở các vùng, miền khác nhau trên thế giới làm cho con người sống ở các
quốc gia, các châu lục khác nhau hiểu biết nhau và xích lại gần nhau hơn
1.1.3 Các lo ại hình du lịch
Hoạt động du lịch đa dạng và phong phú, có thể chia thành các loại hình sau:
- Theo nhu cầu của khách: du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, du lịch văn hóa,
du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao
- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch trong nước, du lịch quốc tế
Trang 17- Theo vị trí địa lí của các cơ sở du lịch: du lịch biển, du lịch núi
- Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày
Tổ chức lãnh thổ xã hội gồm hai hình thức chủ yếu: tổ chức lãnh thổ nền sản xuất
xã hội và tổ chức lãnh thổ địa bàn cư trú con người
Tổ chức lãnh thổ nền sản xuất xã hội bao gồm hàng loạt các hình thức tổ chức lãnh thổ cấp thấp hơn với tư cách là các ngành kinh tế như: tổ chức lãnh thổ công nghiệp, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Các hình thức này nếu được tổ chức hợp lí thì
sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội
Du lịch được hiểu "là một dạng hoạt động của cư dân trong thời gian nhàn rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức và văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên kinh tế và văn hóa" (I.I.Pirôgiônic, 1985) Là một dạng hoạt động của con người, du lịch cũng có các
chức năng: chính trị, kinh tế, xã hội, sinh thái
Trong nghiên cứu du lịch, tổ chức lãnh thổ là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động du lịch nếu không xem xét khía cạnh không gian lãnh thổ của nó, để hoạt động du lịch phát triển
hiệu quả, vừa mang tính chất nghỉ ngơi, chữa bệnh vừa là một ngành kinh tế mũi
nhọn của nhiều nước trên thế giới, tổ chức lãnh thổ du lịch phải hợp lí khoa học
Thực tế, tổ chức lãnh thổ du lịch chính là sự phân hóa không gian của du lịch căn
cứ trên các điều kiện tài nguyên du lịch, hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động ngành cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh của ngành với các ngành khác, với các địa phương khác và rộng hơn là mối liên hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 18Sơ đồ 1.1: Vị trí tổ chức lãnh thổ du lịch trong tổ chức lãnh thổ xã hội
Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, tổ chức lãnh thổ du lịch là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn nhân), kết cấu
hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất
1.2.2 Vai trò c ủa tổ chức lãnh thổ du lịch
Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch và xây dựng các hình thức tổ chức theo không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có điều kiện để sử dụng hợp lí và khai thác có hiệu quả các nguồn lực vốn có của cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng Sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch phù hợp chính là chìa khóa
để sử dụng hợp lí và hiệu quả hơn các nguồn du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch - điều kiện cần thiết để phát triển du lịch
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tạo điều kiên đẩy mạnh chuyên môn hóa du
lịch Khi nền sản xuất đã phát triển, nhu cầu du lịch càng cao thì sự chuyên môn hóa
du lịch càng sâu sắc, thông thường ngành du lịch có 4 hướng chuyên môn hóa sau:
Chuyên môn hóa theo loại hình dịch vụ
Chuyên môn hóa theo du lịch
Chuyên môn hóa theo giai đoạn của quá trình du lịch
Chuyên môn hóa theo các công đoạn sản xuất dịch vụ du lịch
Trang 19Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch nói chung và vạch ra các tuyến, điểm du lịch trên một đơn vị lãnh thổ nói riêng, góp phần quan trọng trong việc tạo ra những sản
phẩm du lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch, nhằm tăng khả năng cạnh tranh Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra
những sản phẩm du lịch đáp ứng yêu cầu khi có sự tổ chức lãnh thổ du lịch và việc xây
dựng các tuyến, điểm du lịch hợp lí
Việc tổ chức lãnh thổ du lịch tốt không những góp phần làm ra lợi ích, làm thay đổi bộ mặt kinh tế của mỗi vùng và cộng đồng, mà còn thúc đẩy vấn đề kiểm soát môi trường, bảo tồn di sản văn hóa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở cả những nơi không phong phú tài nguyên Tổ chức lãnh thổ du lịch cũng tạo sự thúc đẩy con người và các
quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau, làm cho du lịch có tính trao đổi xuyên văn hóa
Tuy nhiên, tổ chức lãnh thổ du lịch không có tính thống nhất và khoa học sẽ gây
ra nhiều thiệt hại như làm mất đi những lợi ích kinh tế tiềm năng, suy giảm môi trường, làm mất đi sự thống nhất bản sắc văn hóa
Vì vậy, để đạt được lợi ích du lịch và hạn chế tối đa những vấn đề nảy sinh, việc
tổ chức tốt và quản lí có hiệu quả du lịch là rất cần thiết
1.2.3 M ục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch
Tổ chức lãnh thổ du lịch có thể cung cấp một sự cải thiện về du lịch nếu như nó hướng trực tiếp đến hàng loạt các mục tiêu chủ yếu Ở đây những mục tiêu được xác định dựa trên sự khác nhau của các đối tượng du lịch Các đối tượng du lịch đó phải
thật sự cụ thể, rõ ràng để công tác tổ chức du lịch được diễn ra một cách thuận lợi và đồng bộ trong một thời gian nhất định Những mục tiêu này là tiền đề đối với sự hình thành ý tưởng cũng như xác định mục đích và cung cấp một nền tảng thống nhất cho
sự xác nhận của các chính sách du lịch Theo Clare A.Gunn (1993) có 4 mục tiêu cơ
bản khi tiến hành công tác tổ chức lãnh thổ du lịch:
+ Đáp ứng sự hài lòng và thỏa mãn của khách du lịch
+ Đạt được những thành quả về kinh doanh và kinh tế
+ Bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch
+ Sự thống nhất ở vùng du lịch và cộng đồng
Trang 20Các mục tiêu trên phải được xem như là những động cơ thúc đẩy đối với tất cả
những nhà nghiên cứu, các cơ quan hữu quan tham gia vào dự án phát triển du lịch có tính chiến lược và đối sách cần thiết nhằm thực hiện được chúng, đối với cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng
1.3 Các nhân t ố ảnh hưỏng tới tổ chức lãnh thổ du lịch
1.3.1.Tài nguyên du l ịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta được lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục đích du lịch Các thành phần tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch có tác động mạnh nhất đến hoạt động này là địa hình, khí hậu, nước, động - thực vật
Địa hình vùng đồi thường là nơi có không gian thoáng đãng thích hợp cho các
hoạt động dã ngoại, cắm trại, tham quan,…Nơi đây cũng có truyền thống sản xuất lâu đời, dân cư tập trung đông đúc; thường là nơi có nhiều di tích khảo cổ, tài nguyên văn hóa lịch sử độc đáo, phát triển loại hình du lịch tham quan theo chuyên đề
Miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch Khu vực này thuận lợi cho nghỉ ngơi, an dưỡng, tổ chức hoạt động thể thao mùa đông Miền núi còn là tập trung nhiều loài động thực vật, cùng với cảnh quan địa hình tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có giá trị cho phát triển du lịch
Các dạng địa hình đặc biệt hấp dẫn du khách nhất là địa hình karstơ và địa hình ven biển
Trang 21+ Địa hình karstơ là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong
các đá dễ hòa tan (đá vôi, đôlômit, thạch cao ) Ở nước ta chủ yếu là đá vôi Một trong những dạng địa hình karstơ được quan tâm nhất đối với du lịch là các hang động karstơ Trên thế giới có khoảng 650 hang động với 25 hang dài nhất, 25 hang sâu nhất Điển hình có: Hang Sistema de Trave (Tây Ban Nha) sâu 1380 m, hang Flint Mammauth Cave System (Hoa Kì) dài 530 km, hang Optimistices Kaya (Ucraina)
Ở nước ta, hang động karstơ tuy không sâu, không dài, nhưng phong cảnh rất đẹp Động Phong Nha (Bố Trạch - Quảng Bình) dài gần 8 km, cao 10 m là hang nước đẹp vào loại bậc nhất thế giới Ngoài ra phải kể đến Bích động (Ninh Bình), Hương Tích (Hà Tây), hang Bồ Nâu, hang Luồn (Quảng Ninh), vịnh Hạ Long
+ Địa hình ven biển có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch, có thể khai thác để
phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ mát, tắm biển, thể thao dưới nước, tham quan hệ sinh thái đảo ven bờ Để đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch
của các bãi biển, có nhiều tiêu chí như: dài, rộng, độ mịn của cát, độ dốc, độ mặn, độ trong của nước Du lịch biển là loại hình thu hút du khách đông nhất Ở Việt Nam
những bãi tắm đẹp nhất kéo dài liên lục từ Đại Lãnh đến Nha Trang Đây là tiềm năng
to lớn để phát triển du lịch biển có khả năng cạnh tranh với các nước trong du lịch
- Khí hậu:
Khí hậu cũng là một tài nguyên du lịch khá quan trọng Trong đó hai yếu tố của khí hậu: nhiệt độ và độ ẩm không khí là quan trọng nhất Ngoài ra gió, áp suất khí quyển, số giờ nắng, sự phân mùa và các hiện tượng thời tiết đặc biệt có tác động đến tổ
+ Mùa đông: là mùa du lịch trên núi, đặc biệt là loại hình du lịch thể thao
+ Mùa hè: là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại hình du
lịch, đặc biệt là du lịch biển, trên núi, các loại hình du lịch ngoài trời
+ Mùa du l ịch cả năm: thích hợp với du lịch núi, nước khoáng chữa bệnh Các
vùng khí hậu nhiệt đới và xích đạo mùa du lịch hầu như là cả năm
Trang 22Đối với tổ chức các dịch vụ du lịch, các tuyến du lịch cần chú ý đến các hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở kế hoạch du lịch như bão, gió mùa, gió phơn, lũ lụt, mùa mưa
Thông thường du khách thường ưa thích những điểm du lịch không quá nóng, quá lạnh, quá ẩm, quá khô hay nhiều gió
Trong tài nguyên nước cần phải nói đến nước khoáng với giá trị chủ yếu cho du
lịch an dưỡng và chữa bệnh
Nước khoáng là nước thiên nhiên có một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ ) hoặc có một số tính chất vật lí (nhiệt độ, độ pH ) có tác dụng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là để chữa bệnh Các nguồn nước khoáng là cơ sở để phát triển du lịch chữa bệnh, an dưỡng
Phân theo tác dụng chữa bệnh của các nguồn nước khoáng có các nhóm sau: Nhóm nước khoáng cacbonic: là nhóm nước khoáng quý có công dụng giải khát,
chữa một số bệnh cao huyết áp, xơ vữa động mạch nhẹ, các bệnh về thần kinh ngoại biên Tiêu biểu trên thế giới là nước khoáng Vichy của Pháp, nước ta có nước khoáng Vĩnh Hảo (Ninh Thuận)
Nhóm nước khoáng silic: có tác dụng chữa một số bệnh về đường tiêu hóa, thần kinh, thấp khớp, phụ khoa Ở nước ta có nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), Hội Vân (Bình Định)
Nhóm nước khoáng Brom - iot - bo: Có tác dụng chữa bệnh ngoài da, thần kinh,
phụ khoa Việt Nam có nước khoáng Quang Hanh (Cẩm Phả - Quảng Ninh) và Tiên Lãng (Hải Phòng)
Ngoài ra còn một số nhóm khác: sunfuahydro, asen - fluo, liti cũng có giá trị với
du lịch - nghỉ ngơi, chữa bệnh
Trang 23Bà Nà
Tài nguyên du lịch tự nhiên có tính chất tổng hợp và giá trị cao trong du lịch là các Di sản thiên nhiên thế giới Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động Phong Nha (Quảng Bình)
Ngày nay thị hiếu về du lịch ngày càng đa dạng, con người hướng về thiên nhiên nhiều hơn, thích du lịch sinh thái hơn Do vậy tài nguyên du lịch sinh vật có ý nghĩa
+ Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn là giải trí
+ Việc tìm hiểu diễn ra trong thời ngắn, do đó trong chuyến đi du lịch có thể đi tham quan nhiều đối tượng tài nguyên
+ Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các thành phố, ở các điểm
quần cư nên không cần xây dựng thêm cơ sở vật chất riêng
+ Tài nguyên du lịch nhân văn không có tính mùa vụ như tài nguyên du lịch tự nhiên
Trang 24+ Đối với tài nguyên du lịch nhân văn, khách quan tâm là những người có trình
độ văn hóa cao, có mức sống cao và hiểu biết rộng
+ Sở thích của người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, vốn trí thức của họ
(Điều 13, chương II Luật du lịch Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6 năm 2005)
Tài nguyên du lịch nhân văn được chia thành các loại sau:
- Các di tích lịch sử, văn hóa:
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản quý giá của mỗi dân tộc, nó thể hiện truyền
thống tốt đẹp, tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị về văn hóa, nghệ thuật của mỗi quốc gia Nói một cách khác, di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, về văn hóa do con người sáng
tạo ra trong lịch sử để lại
Ở Việt Nam theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng
cảnh, công bố ngày 4 tháng 4 năm 1984 được quy định:
" Di tích l ịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu
và các tác ph ẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, qua trình phát triển văn hóa - xã hội "
" Danh lam th ắng cảnh là những khu vực thiên nhiên hoặc có những công trình
c ổ nổi tiếng "
Do đó:
Chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật mới được coi là những di tích lịch sử văn hóa
Cần đánh giá đúng giá trị của các di tích theo các thang giá trị khác nhau, những
di tích cũng được phân thành những cấp khác nhau: các di tích cấp quốc gia và cấp địa phương, những di tích có giá trị đặc biệt được coi là di sản thế giới
+ Các di tích lịch sử - văn hóa nói chung được phân chia thành:
Di tích kh ảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về
thời kì lịch sử xa xưa
Trang 25Di tích l ịch sử: là các di tích gắn với đặc điểm và quá tình phát triển của mỗi dân
tộc, mỗi quốc gia Loại hình này gồm di tích ghi dấu về dân tộc học, di tích ghi dấu sự
kiện chính trị quan trọng, di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược, di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động, di tích ghi dấu tội ác của các thế lực phản động
Di tích v ăn hóa nghệ thuật: Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc, có giá
trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Nó chứa đựng giá trị kiến trúc và giá trị văn hóa tinh thần
Các lo ại danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công trình
mang tính chất văn hóa - lịch sử Tại đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc
Các b ảo tàng: bảo tàng là nơi lưu giữ các tài sản văn hóa dân tộc, truyền thụ tri
thức chấn hưng tinh hoa truyền thống
+ Các di tích nhân văn có giá trị đặc biệt được xếp vào di sản của thế giới: 7 kỳ quan thế giới (kim tự tháp Ai Cập; vườn treo Babilon; tượng khổng lồ Heliôt - trên đảo
Rôt; lăng mộ vua Mozon ở Halicacnasơ; đền thờ Actemic ở Ephedơ; tượng thần Dớt ở Olempia và ngọn hải đăng Alexandria)
Ở Việt Nam có các di sản văn hóa được công nhận là di sản văn hóa thế giới: Cố
đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nhã
nhạc Cung Đình Huế
- Các lễ hội:
Lễ hội là một dạng tài nguyên nhân văn quan trọng, là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp rất đa dạng và phong phú để con người hướng về tổ tiên, ôn lại truyền
thống, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện những ước mơ, khát khao mà
cuộc sống thực tại chưa giải quyết được
Lễ hội gồm có hai phần: phần lễ và phần hội
Ph ần lễ: với những nghi thức trang nghiêm, trọng thể, mở đầu ngày hội, mang
tính tưởng niệm lịch sử, hướng về lịch sử hay một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển xã hội Nghi thức lễ hội nhằm bày tỏ tôn kính với các bậc thánh hiền
và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh, hạnh phúc
Trang 26Ph ần hội: được diễn ra với các hoạt động điển hình, tượng trưng cho tâm trí cộng
đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với lịch sử, xã hội
và thiên nhiên Trong lễ hội thường có các trò chơi, thi hát Đình làng thường là nơi
diễn ra các lễ hội, các lễ hội làng thường vào mùa xuân
Từ rất lâu ngôi đình đã dựng mốc cho các chuẩn mực văn hóa, định hình cho đời
sống tâm linh và đạo đức của từng thành viên trong làng Mỗi làng đều có đình thờ Thành Hoàng làng Những ngày mất, ngày sinh của Thành Hoàng trở thành ngày hội
để người dân nhớ ơn, tưởng niệm
- Các nghề và làng nghề thủ công truyền thống:
+ Thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động
+ Thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người
+ Nước ta là nước có nhiều nghề thủ công truyền thống: chạm khắc đá, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề dệt mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Mỗi dân tộc có một điều kiện sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng và có địa bàn cư trú nhất định Khi khoảng cách về không gian địa lí được rút ngắn rất nhiều nhờ những thành tựu trong lĩnh vực giao thông, viễn thông và internet, trên Trái Đất không còn những nơi bí ẩn, những nơi chưa được khám phá Nhưng về nhiều mặt, các dân tộc vẫn còn xa lạ với nhau Đó chính là sức hút trong du lịch dân tộc học
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục lạ về
cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc
Trên thế giới, mỗi dân tộc đều thể hiện những sắc thái riêng của mình để thu hút khách du lịch Người Tây Ban Nha ở vùng biển Địa Trung Hải với nền văn hóa Phlamango và truyền thống đấu bò là đối tượng hấp dẫn khách du lịch ở Châu Âu Các đất nước Italia, Hy lạp là những cái nôi của nền văn minh Châu Âu Kho tàng văn hóa phong phú, độc đáo là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển
Trang 27Việt Nam với 54 dân tộc vẫn giữ được những phong tục tập quán, hoạt động văn
hóa văn nghệ đặc sắc, những làng nghề truyền thống với những sản phẩm nổi tiếng mang tính chất nghệ thuật cao, đặc biệt là các nghề trạm khắc, đúc đồng, dệt tơ lụa, sơn mài, gốm sứ Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ thuật cao về chế biến và nấu nướng
- Các đối tượng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác:
Các đối tượng du lịch văn hóa - thể thao thường tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn, đó là trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện
lớn và nổi tiếng, các trung tâm thường xuyên diễn ra liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thể thao
Đối tượng văn hóa - thể thao thu hút không chỉ khách tham quan nghiên cứu mà còn lôi cuốn nhiều khách du lịch với mục đích khác Khách du lịch có trình độ văn hóa trung bình trở lên đều có thể thưởng thức các giá trị văn hóa của đất nước mà họ đến tham quan Do vậy, tất cả các thành phố có các đối tượng văn hóa, hoặc tổ chức các
hoạt động văn hóa - thể thao đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa
1.3.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng là nhân tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch tại điểm đến Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các
mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện, hệ
thống cấp thoát nước và xử lí rác thải trong đó giao thông vận tải là nhân tố quan
trọng hàng đầu
*Giao thông v ận tải ảnh hưởng đến sự phát triển và phân vùng du lịch trên cả hai
phương diện: số lượng, chất lượng của các loại hình và phương tiện giao thông vận tải
Do đặc thù của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con người trên một khoảng cách
nhất định vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào giao thông Chiều dài của mạng lưới giao thông vận tải chứng tỏ mức độ dễ hay khó trong việc tiếp cận điểm du lịch, số lượng phương tiện giao thông vận tải chứng tỏ khả năng vận chuyển hành khách, số lượng
loại hình vận chuyển gia tăng sẽ làm cho hoạt động du lịch trở nên tiện lợi và linh
Trang 28hoạt, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu của du khách, về mặt chất lượng vận chuyển cần xét đến 4 khía cạnh là tốc độ, an toàn, tiện nghi và giá cả
- Tốc độ vận chuyển: việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời gian đi
lại và kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch
- Đảm bảo an toàn vận chuyển: ngày nay, sự tiến bộ kỹ thuật đã làm tăng tính an toàn trong vận chuyển hành khách và điều này sẽ thu hút được nhiều người tham gia vào hoạt động du lịch
- Đảm bảo tiện nghi của các phương tiện vận chuyển nhằm làm vừa lòng hành khách
- Vận chuyển có giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm, hợp lí thì nhiều tầng
lớp nhân dân có thể tham gia vào hoạt động du lịch
Nhìn chung mỗi loại hình giao thông có những ưu điểm riêng nên có những ảnh hưởng nhất định phù hợp với địa điểm du lịch cũng như đối tượng du khách Đặc biệt
sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển du
lịch ở cả mức độ quốc gia và quốc tế
*Thông tin liên l ạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du
lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc
tế Đối với hoạt động du lịch, thông tin liên lạc không những đảm nhận việc chuyển các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá du lịch Thông tin, hình ảnh của các điểm du lịch được quảng bá rộng khắp sẽ tạo một lực hút, kích thích nhu cầu của khách du lịch tiềm năng muốn khám phá vẻ đẹp và các giá trị
của điểm du lịch đó Nhân tố này ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là trong thời đại thông tin hiện nay
*Hệ thống điện, thiết bị xử lí cấp thoát nước, xử lí rác thải vừa góp phần tạo ra
những điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho du khách và các hoạt động du lịch vừa
tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách
1.3.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (CSVCKTDL) bao gồm toàn bộ các phương tiện
dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch
Trang 29CSVCKTDL là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và cung
cấp các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch
nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi, giải trí,
chữa bệnh, mua sắm Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKTDL của mỗi vùng, mỗi quốc gia được xem như một trong những biểu hiện cho sự phát triển cũng như hiệu quả của việc khai thác tài nguyên du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch tại vùng, quốc gia đó Sự kết họp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và CSVCKTDL giúp cho sự hoạt động có hiệu quả của cơ sở phục vụ du lịch, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Chính vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lí CSVCKT trên các vùng lãnh thổ và là tiền đề căn bản để hình thành các trung tâm du
lịch Ngược lại, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mật độ sử dụng tài nguyên du lịch, giữ gìn bảo vệ chúng và đến lượt mình, CSVCKTDL lại có thể tạo
ra, thực hiện các sản phẩm du lịch
CSVCKTDL bao gồm nhiều thành phần với những chức năng và ý nghĩa khác nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp; các cơ sở thể thao; cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và
cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của CSVCKTDL đó là: Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách
* Cơ sở phục vụ ăn uống lưu trú: là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ
thống CSVCKTDL gồm những công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn nghỉ và giải trí cho khách du lịch Đó là các cơ sở lưu trú du lịch xã hội, nhà hàng, khách sạn
*M ạng lưới cửa hàng thương nghiệp: đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của khách du
lịch thông qua việc bày bán các mặt hàng đặc trưng của du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác
* Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm tăng hiệu
quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch
* Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ
bổ sung tại các điểm du lịch
Trang 30*Các công trình ph ục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch nhằm mục
đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng như giúp họ cảm
thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình Đó là các trung tâm văn hóa - thông tin, phòng chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát
* Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu,
hiệu ảnh, bưu điện là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt để hơn tài nguyên du lịch, tạo ra những thuận tiện khi họ đi lại và lưu trú tại điểm du lịch
Như vậy, quá trình phát triển của ngành du lịch nói chung và tổ chức lãnh thổ du
lịch nói riêng chịu tác động đồng thời của nhiều nhân tố khác nhau Du lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định Trong số các nhân tố trên có những nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành nhu cầu du
lịch và tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch, bên cạnh đó có những nhân tố mang tính phổ biến nằm trong các mặt của đời sống xã hội và cũng có những điều kiện gắn
liền với đặc điểm của từng khu vực địa lí Tuy nhiên tất cả các nhân tố này đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát sinh, phát triển du lịch Mặt khác, bản thân sự có mặt, sự phát triển của du lịch cũng
trở thành một nhân tố của môi trường đó và do vậy nó có thể tác động hoặc tích cực
hoặc ngược lại
1.3.4 Nhân t ố chính trị
Bất cứ một sự xáo động chính trị, xã hội nào dù lớn hay nhỏ cũng đều ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động du lịch Ổn định và an toàn là yếu tố có ý nghĩa to lớn đối với
du khách và cơ quan cung ứng du lịch Theo Bậc thang nhu cầu của Maslow thì nhu
cầu được an toàn (không phải lo lắng, sợ hãi điều gì) là nhu cầu cơ bản xếp thứ hai sau nhu cầu sinh học Vì vậy, khi có một thông tin bất ổn về chính trị, xã hội xảy ra tại một điểm du lịch nào đó thì khó có thể thu hút được khách du lịch tới điểm đó Không khí chính trị hòa bình đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa chính trị giữa các dân tộc Một khu vực, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ có bầu không khí chính trị hòa bình và ổn định kết hợp với các tài nguyên du
lịch sẵn có của lãnh thổ sẽ tạo nên sức hấp dẫn với đông đảo quần chúng nhân dân - các khách du lịch tiềm năng Tại những vùng không có những biến cố về chính trị,
ự họ cảm thấy yên ổn, tính mạng được coi trọng và họ có điều kiện đi lại tự do
Trang 31mà không có cảm giác lo sợ, có thể gặp gỡ dân bản xứ, giao thiệp và làm quen với phong tục tập quán của địa phương mà không bị cản trở bởi sự phân biệt chủng tộc và tôn giáo nào Do vậy, nhờ du lịch mà các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, gần gũi nhau hơn
và có khuynh hướng hòa bình hơn Điều này giải thích tại sao các tổ chức quốc tế phát động năm 1987 là năm du lịch quốc tế dưới khẩu hiệu "Du lịch là giấy thông hành của hòa bình"
Ngược lại, sự phát triển của du lịch sẽ gặp khó khăn nếu tại phạm vi một lãnh thổ nào đó xảy ra các sự kiện (như đảo chính, bất ổn chính trị, nội chiến, khủng bố ) làm
xấu đi tình hình chính trị, hòa bình và ổn định thì sẽ trực tiếp và gián tiếp làm giảm sức hút du lịch, ảnh hưởng xấu đến lượng khách du lịch cũng như các công trình du lịch, lưu thông và cả môi trường tự nhiên Nam Tư, Ai Cập hay đất nước Thái Lan trong
những năm gần đây là những ví dụ về tác động của tình hình an ninh chính trị đến du
lịch Trước thập kỷ 90, Nam Tư là một điểm sáng trên bản đồ du lịch thế giới nhưng
do tình trạng bất ổn chính trị, chiến tranh nên đến nay hoạt động du lịch ở Nam Tư hoàn toàn trở nên mờ nhạt Thái Lan, đất nước hàng năm thu hút một lượng khách du
lịch lớn với những dịch vụ du lịch độc đáo nhưng hiện nay do sự xung đột giữa các đảng phái khiến cho lượng khách du lịch giảm một cách đáng kể Ngành du lịch của Thái Lan chiếm 5% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra 2 triệu việc làm, chiếm tới 7% trong tổng số lực lượng lao động của cả nước Theo chủ tịch Hiệp hội các công ty du
lịch Thái Lan Apichart Sankary, nhiều đoàn khách đã hủy chuyến đến Thái trong khi
những du khách đang ở Bangkok hối hả rời khỏi nơi này Ông Kongkrit Hiranyakit,
chủ tịch Hội đồng du lịch Thái Lan, khẳng định tình hình căng thẳng trong những ngày qua cùng với việc hai sân bay đóng cửa trước đây đã khiến doanh thu từ du lịch sụt
giảm 1/3, tương đương 4,2 tỉ USD Tình trạng này có thể kéo theo 200.000 người trong lĩnh vực khách sạn bị mất việc và các công ty kinh doanh liên quan đến ngành du
lịch - lĩnh vực tạo công ăn việc làm cho khoảng 2 triệu người Thái - bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Như vậy, rõ ràng nhân tố chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch và đến lượt mình du lịch thực sự là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, hiểu hơn về giá trị văn hóa, giúp
Trang 32các dân tộc xích lại gần nhau hơn Và hơn hết, thông qua hoạt động du lịch quốc tế con người thể hiện khát vọng tạo lập và chung sống trong hòa bình
1.3.5 Đường lối, chính sách
Trong những thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn chiếm
vị trí quan trọng trên quy mô toàn cầu và ở nhiều quốc gia Thực tế cho thấy, ở mỗi địa phương, vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia du lịch có trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả cao hay không thì ngoài tài nguyên du lịch sẵn có, nhân tố quyết định là nhân tố con người và cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp cho sự phát triển
du lịch Đường lối chính sách ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự phát triển du
lịch một quốc gia hoặc một đơn vị hành chính cụ thể Ở các nước có ngành du lịch phát triển đứng hàng đầu thế giới là những nước có nhiều chính sách quan tâm đầu tư phát triển du lịch, có hệ thống văn bản pháp luật, quy phạm hoàn thiện làm hành lang pháp lí cũng như sự điều chỉnh linh hoạt để thích ứng trong những điều kiện, hoàn
cảnh mới là nhân tố thúc đẩy du lịch phát triển
Cơ chế chính sách phát triển du lịch có tác động đến tất cả các hoạt động du lịch
từ khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, các hoạt động xúc tiến phát triển du lịch, đầu tư quy hoạch du lịch, các hoạt động kinh doanh du lịch Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dân không
thấp nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được một số nước ở Đông Nam Á từ thập niên 80
của thế kỷ XX như Thái Lan, Malayxia, Xingapo đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách phù hợp, đúng đắn, quan tâm đầu tư phát triển du lịch nên ngành du lịch đã
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả về nhiều mặt Ngược lại, ở nhiều nước có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn, đặc sắc thuận lợi cho phát triển du lịch song do chưa có cơ chế, chính sách phù hợp như Ấn Độ, Braxin nên ngành du lịch còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng
Ngoài các nhân tố trên thì tình hình thiên tai, dịch bệnh hay các cuộc khủng
hoảng kinh tế tài chính khu vực và quốc tế có tác động xấu đến sự phát triển du lịch Đặc biệt các nhân tố này xuất hiện ngoài dự tính và tầm kiểm soát của con người gây
Trang 33khó khăn không nhỏ đối với sự phát triển của ngành du lịch Nó đe dọa đến sức khỏe,
an toàn tính mạng, tâm lí hay khả năng tài chính của người dân, là vấn đề rất nhạy cảm
với hoạt động du lịch, kìm hãm sự phát triển của du lịch ở một quốc gia, một vùng lãnh thổ
1.4 Phát tri ển du lịch bền vững
1.4.1 Phát tri ển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại và đảm
bảo không làm tổn thương khả năng đáp ứng đòi hỏi của thế hệ tương lai…"
Trái ngược với hiểu biết phổ biến, phát triển bền vững không chỉ đơn thuần được
hiểu là sự phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế phát triển ở đây là sự nỗ
lực liên tục nhằm đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực Phát triển bền vững không được coi là một mục tiêu được đặt ra để đạt được mà đó là một quá trình duy trì
sự cân bằng cơ học của đòi hỏi của con người với tính công bằng, sự phồn vinh, chất lượng cuộc sống và tính bền vững của môi trường tự nhiên
Phát triển bền vững ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong mọi lĩnh vực khi xã hội bước vào thế kỉ 21 Vấn đề ô nhiễm môi trường từng ngày trở thành vấn đề đáng lưu tâm song song với sự đi lên nhanh chóng của nền kinh tế Thu
nhập của người dân ngày càng được cải thiện, mức sống được nâng dần lên cả ở thành
thị lẫn nông thôn, trong khi đó khoảng cách giàu nghèo trong xã hội cũng tăng lên rõ
rệt
Vì vậy phát triển bền vững sẽ giúp mọi người trong xã hội đều có quyền bình đẳng và luôn gắn phát triển kinh tế với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững phải đảm bảo ba yếu tố cơ bản:
• Kinh tế bền vững
• Xã hội bền vững
• Môi trường bền vững
Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân
bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên
phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài
Trang 34nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triến con người
và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện
sống chấp nhận được
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững Nó đòi
hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Khẳng định sự tồn
tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên
những nguyên tắc đạo lý cơ bản Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền
cơ bản của con người
1.4.2 Phát tri ển du lịch bền vững
Khái niệm du lịch bền vững xuất hiện trên cơ sở cải tiến và nâng cấp khái niệm
về du lịch mềm của những năm 90 và thực sự gây được sự chú ý rộng rãi trong những năm gần đây Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế thì "Du lịch bền vững là việc đáp ứng những nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những
khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai"
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lí tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó
để chúng có thể đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được
bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự
sống
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường
- Cải thiện tính công bằng trong xã hội
- Cải thiện chất lượng cuốc sống của cộng đồng bản địa
Trang 35- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách
- Duy trì chất lượng môi trường
Chiến lược để đạt đến du lịch bền vững chưa được xây dựng hoàn chỉnh, đang
cần cố gắng để chấp nhận rộng rãi Mỗi một tình huống đòi hỏi những tiếp cận và giải pháp khác nhau Tuy nhiên, nếu thực sự du lịch đem lại lợi ích cho môi trường, tự nhiên, xã hội và bền vững lâu dài thì tài nguyên không có quyền được sử dụng quá
mức Tính đa dạng tự nhiên, xã hội và văn hóa phải được bảo vệ; phát triển du lịch
phải được lồng ghép vào chiến lược phát triển của địa phương và quốc gia, người địa phương phải được tham gia vào việc hoạch định kế hoạch và triển khai hoạt động du
lịch, hoạt động nghiên cứu triển khai và giám sát cần được tiến hành Những nguyên
tắc này của tính bền vững cần phải được triển khai trong toàn bộ lĩnh vực phát triển du
lịch
1.4.2.2 Những nguyên tắc của du lịch bền vững
- Sử dụng tài nguyên một cách bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã
hội và văn hóa Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển du lịch lâu dài
- Giảm tiêu thụ quá mức và xã thải nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái môi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch
- Duy trì tính đa dạng: duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hóa là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, tạo ra sức bật cho ngành du lịch
- Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia
- Hỗ trợ nền kinh tế địa phương Du lịch phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế địa phương, phải tính toán chi phí môi trường vừa để bảo vệ nền kinh tế bản địa cũng như tránh gây hại cho môi trường
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường mà còn tăng cường đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của
du khách
- Sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng, tư vấn giữa công nghiệp du
lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan là đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh
Trang 36- Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch nhằm thực thi các sáng kiến và giải pháp du
lịch bền vững nhằm cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch
- Marketing du lịch một cách có trách nhiệm Phải cung cấp cho du khách thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường
tự nhiên, xã hội và văn hóa du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn nhu cầu của du khách
- Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề mang lại lợi ích cho du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và cho du khách
1.4.2.3 Các biện pháp nhằm đạt đến sự bền vững trong du lịch
- Tiếp thị và nhãn sinh thái:
Chiến lược tiếp thị cho du lịch bền vững cung cấp đầy đủ và chân thực các thông tin về sản phẩm du lịch, xác định, đánh giá và xem xét toàn diện về cung ứng các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa Mục tiêu chính của quá trình tiếp thị là làm cho du khách nhận thức rõ ràng những tác động có thể gây ra cho môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội, huấn luyện du khách trước khi họ lên đường, làm cho hoạt động du lịch phù hợp với khả năng của du lịch về mặt quy mô, số lượng và loại hình du lịch
Nhãn sinh thái của sản phẩm du lịch nhằm tăng cường chiến lược tiếp thị định hướng vào bảo vệ chất lượng môi trường Nguyên tắc của nhãn sinh thái dựa trên việc xác định các tiêu chuẩn môi trường có thể ứng dụng cho sản phẩm và dịch vụ du lịch
- Phát triển một số chính sách tiêu thụ có ý nghĩa môi trường:
Chính sách tiêu thụ xanh vừa mang lại lợi ích cho kinh doanh du lịch vừa cho
nền kinh tế địa phương Nguyên tắc cơ bản của chính sách này là:
+ Tránh các sản phẩm sản xuất từ các nguyên liệu gây nguy hại cho môi trường (thú nhồi bông, thịt thú rừng, vật lưu niệm làm từ san hô, )
+ Chỉ mua những thứ thật sự cần và nên ở dạng hàng rời
+ Tránh các hàng hóa quá nhiều bao bì
+ Mua các sản phẩm tái chế hoặc có thể tái chế
+ Mua các sản phẩm chất lượng tốt, dùng bền, có thể sửa chữa
+ Mua các sản phẩm địa phương
Trang 37- Giao thông vận tải:
Tăng cường vận tải công cộng và các phương tiện vận tải mới đáp ứng nhu cầu
du khách (xe ngựa, xe trâu, thuyền chèo tay, ) nhưng tiết kiệm năng lượng và giảm tác động xấu đến môi trường
- Đào tạo:
Đào tạo cán bộ nhân viên du lịch là cốt lõi của sự thành công du lịch bền vững, trong đó quan trọng nhất là chương trình lồng ghép mục tiêu môi trường vào hoạt động kinh doanh du lịch Phát triển những chương trình đào tạo mới nhằm tăng cường hiểu
biết về các đặc trưng văn hóa và thiên nhiên của địa phương, phổ cập các nguyên tắc
của du lịch bền vững và bảo tồn thiên nhiên là vấn đề bức xúc nhằm đào tạo các thế hệ
quản lí kinh doanh du lịch mới
Trang 38Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN
Trang 39An Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, nằm về phía Tây Nam Tổ
Quốc, có tọa độ địa lý từ 10°54' đến 10°31' vĩ độ bắc; 104°46' đến 105°12' kinh độ đông Phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp Thành phố Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp
Các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh An Giang gồm có: thành phố Long Xuyên,
thị xã Châu Đốc và 9 huyện gồm: Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, với 150 đơn vị hành chính cơ sở (trong
- Đồi núi: Đồi núi An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã Phú Hữu huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, lũ hàng năm do sông Cửu Long tràn về ngập 70% diện tích tự nhiên của tỉnh Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.132 mm Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất
là 37°C, thấp nhất là 23°C; hàng năm có hai tháng nhiệt độ trung bình là 27°C, tháng
lạnh nhất là tháng 12 Các hiện tượng gió lốc, mưa đá vào tháng 5 và 6 hàng năm
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
- Sơ lược về xã hội:
Theo thống kê năm 2009 dân số của tỉnh An Giang là 2.170.095 người, với mật
độ dân số khá cao khoảng 632 người/km2 Dân cư trong tỉnh gồm bốn dân tộc chủ yếu:
Trang 40dân tộc Kinh chiếm 91%, dân tộc Hoa chiếm 4 - 5%, dân tộc Khơmer chiếm khoảng 4.31%, dân tộc Chăm chiếm khoảng 0.61%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác Dân
tộc Hoa sống tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, dân tộc Chăm sống chủ yếu ở hai huyện Tân Châu và Phú Tân, một số ít ở huyện Châu Thành Dân tộc Khơme sống tập trung ở vùng núi thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn
Thành phần tôn giáo ở An Giang rất đa dạng: đạo Phật chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,66% dân số, đạo Hòa Hảo chiếm 42,68% dân số, đạo Cao Đài chiếm 3,85% dân số, đạo Công giáo chiếm 3,18% dân số, đạo Hồi giáo chiếm 0,64% dân số, các đạo khác chiếm 2,76% dân số Riêng hộ không có đạo là chiếm 2,24% dân số Một trong những
lợi thế của An Giang là có bề dày về văn hóa, lịch sử truyền thống, gắn liền với các khu du lịch, di tích lịch sử, văn hóa, tập tục lễ hội cổ truyền
- Sơ lược về kinh tế:
Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, thu nhập bình quân đầu người đạt xấp xỉ mức trung bình cả nước (trên 1.140 USD) Khu vực thương mại - dịch vụ tăng khá Kinh tế biên mậu và du lịch có bước phát triển, cây lúa, cá nước ngọt có giá trị và sản lượng đứng hàng đầu khu vực và cả nước, nông nghiệp, nông thôn ngày càng đổi mới, đời
sống nhân dân từng bước được cải thiện
Cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang năm 2009: khu vực I chiếm 33,46%, khu vực II chiếm 12,82%, khu vực III chiếm 53,72% Trong cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang, khu
vực III chiếm một tỉ lệ lớn (hơn 50%) và không ngừng phát triển qua từng năm Điều này chứng minh rằng lĩnh vực du lịch đóng góp một phần rất lớn trong tổng thu nhập
của tỉnh
2.2 Các nhân t ố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
2.2.1 Tài nguyên du l ịch tự nhiên