1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ lục bát phạm thiên thư

102 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ lục bát phạm thiên thư
Tác giả Võ Thị Ngọc Hân
Người hướng dẫn T.S. Lê Thời Tân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 736,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi các tác phẩm của Phạm Thiên Thư được nhận giải thưởng, cũng là lúc sự nghiệp sáng tác của ông đã khẳng định vị trí của mình trong nền văn học dân tộc, đặc biệt là văn học miền Nam lú

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ 10

1.1 Vài nét về cuộc đời và thơ Phạm Thiên Thư 10

1.1.1 Cuộc đời Phạm Thiên Thư 10

1.1.2 Hành trình thơ Phạm Thiên Thư 11

1.1.3 Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc 14

1.1.2 Một tài năng thơ diễn ca lịch sử Việt Nam 19

1.2 Giới thiệu về thơ lục bát của Phạm Thiên Thư 26

1.2.1 Số lượng thơ lục bát của Phạm Thiên Thư 26

1.2.2 Một số nhận xét bước đầu về thơ lục bát của Phạm Thiên Thư 27

1.3 Vị trí của Phạm Thiên Thư trong lịch sử thơ ca Miền Nam 34

Chương 2: ĐẶC SẮC NỘI DUNG THƠ LỤC BÁT PHẠM THIÊN THƯ 37

2.1 Trữ tình hóa kinh kệ bằng thể thơ lục bát 37

2.2 Thơ lục bát Phạm Thiên Thư mang đậm tính lịch sử 52

Chương 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ LỤC BÁT PHẠM THIÊN THƯ 61

Trang 4

3.3 Giọng điệu thơ lục bát của Phạm Thiên Thư 70

3.4 Một số thủ pháp, bút pháp trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư 72

3.5 Nhạc điệu trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư 80

3.6 Ảnh hưởng ca dao, dân ca Việt Nam trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư

96

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 5

Lục bát là một thể thơ rất phổ biến trong văn học dân gian cũng như văn học viết Thể thư truyền thống này vốn đã tinh tế, giàu nhạc điệu trong những câu ca dao, đạt đến trình độ mẫu mực trong kiệt tác Truyện Kiều Và đến nay, nó vẫn không ngừng tìm ra hướng đi mới để làm phong phú nội dung và hình thức thể loại Cho dù phát triển theo hướng nào đi nữa, các nhà thơ vẫn chú ý phát huy tính mềm mại, uyển chyển của thanh điệu và nhịp điệu câu lục bát Đây chính là thế mạnh mà không một thể loại thơ nào khác có thể có và thay thế được

Tuy nhiên, thể thơ lục bát đã không còn sức quyến rũ đối với các nhà thơ Việt Nam nữa, nhất là các nhà thơ trẻ Ngày nay, họ chuộng thể tự do hơn, nhằm thể hiện rõ phong cách và tinh thần “Hậu hiện đại” Tuy nhiên, Phạm Thiên Thư

là người đưa thơ lục bát lên một bước tiến mới và cho nó cơ hội thêm một lần bung nở rực rỡ trong khu vườn văn nghệ Việt Nam

Ở thời đại Phạm Thiên Thư, những thể loại của Thơ mới và thơ sau Cách

mạng tháng Tám đã ổn định và đã đạt được những đỉnh cao giá trị Bên cạnh việc vận dụng dựa trên những thành tựu của Thơ mới, các nhà thơ giai đọan này còn phải cố gắng vượt ra khỏi cái bóng của những người đi trước Vì vậy, để tìm lại vị trí cho thơ, khẳng định gương mặt mình trong bức tranh chung của thi ca dân tộc hiện đại, nhiều nhà thơ đã phải nỗ lực rất nhiều Lúc này, có nhiều nhà thơ đã học tập và tiếp thu các yếu tố cơ bản của thơ hiện đại chủ nghĩa phương Tây như: chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực…và thể hiện nó qua các việc biến hóa hình thức thơ sao cho phù hợp với ý đồ diễn đạt của mình

Nhà thơ Phạm Thiên Thư, đã tìm ra được hướng đi riêng của mình,

khẳng định được phong cách của riêng mình giữa bối cảnh thơ ca khá phức tạp

Trang 6

gũi, nhà thơ còn tìm về lục bát – một thể thơ truyền thống của dân tộc đồng thời

biến lục bát thành “thương hiệu riêng” của mình trong sự nghiệp sáng tác Có thể

thấy được tình yêu đặc biệt của nhà thơ với thể loại này khi khảo sát trong tuyển tập thơ đã xuất bản của ông có đến 20.000 câu thơ lục bát trong tổng số toàn bộ

số sách được in và xuất bản

Trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư thơ lục bát chiếm một địa

vị quan trọng hàng đầu Nói tới Phạm Thiên Thư là nói tới những tác phẩm thi

về Phạm Thiên Thư và các tác phẩm của ông Khi các tác phẩm của Phạm Thiên Thư được nhận giải thưởng, cũng là lúc sự nghiệp sáng tác của ông đã khẳng định vị trí của mình trong nền văn học dân tộc, đặc biệt là văn học miền Nam lúc bấy giờ Mặc dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Phạm Thiên Thư, nhưng có nhiều chuyên luận của các tác giả Việt Nam đã đi đến những nhận định và nhất trí về tư tưởng thơ Phạm Thiên Thư Ông là một trong những nhà thơ xứng đáng tiêu biểu cho dòng thơ ca về lịch sử dân tộc

Trang 7

Cuốn Lục bát hậu truyện Kiều của Phạm Đan Quế, nhà xuất bản thanh niên

năm 2002 đã đánh giá cao về sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư: “Trong

những quyển hậu Kiều thì Đoạn trường Vô Thanh của Phạm Thiên Thư là thành

công hơn cả, ít nhất về cái bình dị, tự nhiên đậm chất ca dao dân ca trong câu thơ lục bát Tác phẩm đã đoạt giải nhất văn chương tại miền Nam tạm chiếm năm

1973 Tác giả là một tu sĩ, ông được phú cho một năng khiếu thơ bẩm sinh, đặc

biệt là thơ lục bát” [38 – tr 32] Ngoài ra, cuốn sách được xem như tài liệu quý

báu để nghiên cứu thơ lục bát của Phạm Thiên Thư Ở đây, tác giả có đề cập đến

Trên bài Báo An Ninh vào chủ nhật ngày 03 tháng 02 năm 2008 có bài viết

đánh giá về sự nghiệp văn học của Phạm Thiên Thư “người phá kỷ lục thơ lục

bát của Nguyễn Du” đã khẳng định rằng: “Với Đoạn trường vô thanh Phạm

Thiên Thư đã phá kỷ lục thơ lục bát của Nguyễn Du bằng 3.254 câu lục bát (hơn

20 câu) Và sau 200 năm Phạm Thiên Thư đã làm việc chưa từng có ở văn học Việt Nam là mạnh dạn viết tiếp Truyện Kiều bằng chữ “Việt 100%”, cốt truyện theo đánh giá của các nhà phê bình văn học nổi tiếng thì sức hấp dẫn không thua Kim Vân Kiều” [24]

Trên trieuxuan.info có bài viết của Thái Doãn Hiểu “Phạm Thiên Thư với

Đoạn trường vô thanh” cũng đề cập đến điểm cốt lõi trong sự nghiệp sáng tác

Trang 8

8

của ông là yếu tố thiền đạo ảnh hưởng sâu sắc trong từng tác phẩm Ngoài ra, ông còn nhận xét: “Toàn bộ thi phẩm của Phạm Thiên Thư nhuốm sắc thái đặc biệt khác người vừa đạo vừa đời, sắc bất dị không, không tức thị sắc và rất Việt Nam” [18]

Trên tạp chí văn hóa Nghệ An ngày 30 tháng 07 năm 2011 của Hồ Tấn Nguyên Minh cũng cho rằng: “Đến thề kỷ XX, một thế kỷ nhiều vinh quang nhưng cũng quá nhiều cay đắng của người Việt, văn học lại chứng kiến sự xuất hiện của một nhà thơ Phật giáo: Phạm Thiên Thư – “ người hiền sĩ ngồi bên lề cuộc sống ta bà, lặng yên thi hóa kinh phật” Đọc thơ ông, ta tìm thấy những điều phong phú và mới lạ về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên Giữa một thời đạn lửa, ông bình thản lập cho mình một cõi thi ca riêng: trong trẻo, trữ tình và đậm chất Thiền” [25]

Vào năm 2007 Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã ghi nhận Phạm Thiên

Thư là “người Việt Nam đầu tiên sáng tác Từ điển cười bằng thơ”, và năm 2009 tác phẩm Kinh Hiền Ngu của ông đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam công nhận kỷ lục “tác phẩm thi hoá theo thể thơ lục bát dài nhất Việt Nam”

Lê Thanh Cảnh với bài viết Đôi dòng cảm đề cũng đã bày tỏ cảm nhận của mình về Phạm Thiên Thư “ Qua tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh, Phạm Thiên

Thư, với lời thơ thanh nhã và siêu thoát đã xứng đáng đứng vào hàng ngũ con dân khả ái của Đất Nước vậy” [49 – tr 230]

Vương Mộng Giác với bài viết Cảm đề sau khi đọc xong Đoạn Trường Vô

Thanh cũng cho rằng: “Thi ca của Phạm tiên sinh tiếp nối suối nguồn thi ca dân

tộc Việt và thi ca Nguyễn Du Qua miền đoạn trường, kẻ thức giả chợt nhận ra rằng, thì ra thi ca cũng là tiếng kêu sâu thẳm của một thực tại vĩnh cửu, có năng lực diệu dụng độ khách lữ thứ qua bến hàn giang vào một chiều thu cô liêu”[49 –

tr 224]

Trang 9

9

Giáo sư Cao Xuân Hạo – Nhà ngôn ngữ học trong bài Đôi lời Vô

Thanh cũng có nhận xét về Phạm Thiên Thư, tác giả cuốn Đoạn Trường Vô

Thanh, kể đến nay thành công hơn cả Những dòng thơ lục bát rất gần gũi với câu Kiều và thiên tự sự đầy hình tượng và màu sắc của anh về đoạn sau của đời nàng Kiều mà Nguyễn Du chưa kịp viết” [49 – tr 202]

Trong Nhuận sắc của Trần Phế Phiệt khi bàn đôi nét về hát ru Việt sử thi

của nhà thơ Phạm Thiên Thư: “ Sự nghiệp văn chương của Phạm Thiên Thư gắn liền vơi thể thơ đậm đà sắc thái dân tộc và mang âm hưởng của ca dao Ông đã chuyển lịch sử thành những lời hát ru, những vần điệu mang đậm dấu ấn của hồn dân tộc để dạy lịch sử đất nước cho người Việt Nam ngay từ thuở nằm nôi, đó là một tư tưởng mới lạ độc đáo có một không hai” [53 – tr 264]

Ngoài ra Hòa Thượng Thích Tâm Giác trong Hội hoa đàm – NXB Văn

nghệ 2006 cũng có lời giới thiệu về nhà thơ Phạm Thiên Thư như sau: “Phạm

Thiên Thư đã mở ra một trang sử mới cho nền văn học Phật giáo Việt Nam trong việc thi hóa kinh Phật và mang giáo nghĩa giải thoát vào thi ca dân tộc Mỗi khi nghe lời thơ Đạo Ca, ngâm Đoạn trường vô thanh và đọc Kinh Ngọc, Kinh Thơ, Kinh Hiền của thi sĩ họ Phạm, người ta như thể không còn phân biệt nổi biên giới giữa Đạo và Đời mà dường như bị hút vào một dòng sinh lực không gian vô tận dung hòa mọi tư tưởng nhân sinh Phải chăng, đó là nét đặc thù của Phật giáo Việt Nam đã hơn một lần chói sáng qua triều đại Lý, Trần ?” [52 – tr 11]

Trên website http://www.thuvienso.info/index.php/sách của quản trị viên năm 2010 cũng có đề cập đến những nét chính về sự nghiệp văn học của Phạm Thiên Thư

Với số lượng thơ và nhiều công trình nghiên cứu về thi sĩ Phạm Thiên Thư đa phần chỉ tập trung nghiên cứu về nét độc đáo cõi lạ của thơ ông ở phương diện nội dung, chưa thật sự chú ý về phương diện nghệ thuật Mặt khác, các bài viết chỉ đi vào tìm hiểu một bài thơ, hoặc chỉ dừng lại nghiên cứu một

Trang 10

10

khía cạnh, một mặt nào đó trong thơ Phạm Thiên Thư, chưa có công trình nào nghiên cứu khảo sát toàn diện và có hệ thống về thơ ông để từ đó rút ra những đặc điểm khái quát về nội dung tư tưởng, nghệ thuật thơ Phạm Thiên Thư, đặc biệt là thể thơ lục bát, có sức quyến rũ cả một thế hệ và ảnh hưởng của nó lan toả sang cả thế hệ sau này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ được những đóng góp về nội dung và nghệ thuật của thơ lục bát

Phạm Thiên Thư

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát những nét chung về đời và thơ của Phạm Thiên Thư

- Khảo sát thơ lục bát của Phạm Thiên Thư

- Tìm hiểu những đặc điểm về nội dung trong thơ lục bát Phạm Thiên Thư

- Tìm hiểu nghệ thuật thơ lục bát của Phạm Thiên Thư

4 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và tư liệu, bản thân chỉ tập trung khảo sát những đóng góp của Phạm Thiên Thư ở thể thơ lục bát xoay quanh các tác phẩm:

- Phạm Thiên Thư - Đoạn trường vô thanh, Nxb Văn nghệ

- Phạm Thiên Thư – Trại hoa đỉnh đồi, Nxb Văn nghệ

- Phạm Thiên Thư – Thơ, Nxb Văn nghệ

- Phạm Thiên Thư - Kinh Hiền (Thi hoá Kinh Hiền Ngu)

Trong quá trình thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, tôi có thể sử dụng thêm một số tư liệu có sẵn được trích dẫn lại trong các công trình có liên quan đến nội dung đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi sẽ vận dụng chủ yếu các phương pháp sau:

Trang 11

11

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp của luận văn Qua luận văn này, tôi mong muốn hệ thống hóa các quan điểm đánh giá, phê

bình về thơ Phạm Thiên Thư, để chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuât trong thơ lục bát của ông, đặt trong mối tương quan so sánh với các nhà thơ cùng thời

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu chung về Phạm Thiên Thư Chương 2: Nội dung tư tưởng các tác phẩm thơ lục bát Phạm Thiên Thư Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ lục bát Phạm Thiên Thư

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ

1.1 Vài nét về cuộc đời và thơ Phạm Thiên Thư 1.1.1 Cuộc đời Phạm Thiên Thư

Phạm Thiên Thư tên thật Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 tại Lạc

Viên, Hải Phòng Quê cha ở xã Đình Phùng, huyện Kiên Xương, tỉnh Thái Bình Quê mẹ ở xã Trung Mẫu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Ông xuất thân trong một gia nhà nho, cha mẹ là thầy thuốc nổi danh ở vùng đất Thái Bình Thuở nhỏ, Phạm Thiên Thư từng hâm mộ cha mình, trong việc tham gia du kích chống Tây, nên mới 14 tuổi ông đã làm du kích Sau đó theo cha mẹ di cư vào miền Nam và ông tiếp tục làm thuốc, đồng thời rất yêu thích thơ văn Khi học xong bậc tú tài ở

Trang 12

12

trường Trung học Văn Lang, Phạm Thiên Thư tiếp tục theo học ở trường Phật học Vạn Hạnh Từ đó, ông đã gửi hồn mình qua lời kinh, tiếng kệ

Ông có tuổi thơ khá êm đềm, tạo tiền đề thuận lợi trong việc thực hiện ước

mơ của mình Nhưng để có một tài thơ bật hẳn lên thì phải là từ năm 1958, sau một biến động của cuộc đời, ông có nhóm bạn thơ họa Hồ Quý Ly, tụ tập đàn đúm thơ phú đêm ngày Thấy đám văn nghệ sĩ này cứ “ương ương, dở dở”, cảnh sát chế độ Sài Gòn cũ đã vây bắt Phạm Thiên Thư phải trốn vào chùa ẩn dật

Việc đi tu đối với Phạm Thiên Thư không hẳn là tìm một chốn nương náu, mà thông qua đó ông đã ngộ ra một điều: đó là, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành riêng Nhờ ở chùa, ông được tiếp xúc sâu sắc với giáo lý nhà Phật Và cũng nhờ ở chùa, ông đã không phải cầm súng bắn vào đồng bào mình do việc bắt lính gắt gao của chế độ Sài Gòn

Con người Phạm Thiên Thư là con người luôn sống theo cái qui luật của câu tục ngữ dân gian “thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa” nên dù mặc áo cà sa suốt 9 năm, nhưng ông vẫn hoàn tục và tiếp tục sáng tác thơ văn

Giữa một thi đàn với hàng ngàn cây bút, năm 1968, ngay tập thơ đầu tiên ông

đã lấy tên: Thơ Phạm Thiên Thư Là một tu sĩ Phật giáo, ông nghiên cứu về thiền

và bắt đầu làm thơ với những thi phẩm ở dạng khá độc đáo Từ đó ông liên tục

cho ra đời nhiều tác phẩm lớn có giá trị, đặc biệt là thơ đạo

Với những tác phẩm đầu tay của Phạm Thiên Thư, ông đã đem đem đến cho văn học miền Nam một tiếng thơ trẻ và rất lạ Chính tiếng thơ ấy đã rung

Trang 13

13

động nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ hàng đầu của Sài Gòn lúc đó Phạm Duy phổ nhạc liền mấy bài thơ tự do phá cách của Phạm Thiên Thư Cả miền Nam lên

“cơn sốt” với ca khúc Ngày xưa Hoàng thị, lời thơ gần với thơ dân gian:

“Em tan trường về Đường mưa nho nhỏ Chim non dấu mỏ Dưới cội hoa vàng”

Đến đầu thập niên 70 tập trường thi Động hoa vàng được nhiều người biết đến với nhạc phẩm Đưa em tìm động hoa vàng Động hoa vàng là một trong

những thi phẩm nổi tiếng nhất trong cõi thơ Phạm Thiên Thư Đó là một câu chuyện tình yêu trong sáng, cao khiết không nhuốm màu tục lụy mà trái lại thật hấp dẫn :

“Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”

Tựa một viên ngọc lung linh huyền ảo, nó dẫn người đọc tìm về một thế giới tịch lặng, đơn sơ đẫm hương Thiền Nơi ấy con người có thể tìm được con đường nuôi dưỡng chân tâm hầu mong một cuộc sống bình an, thanh thản Hẳn không mấy khó khăn để nhận ra rằng văn hóa Thiền thấm đẫm trong từng câu, từng chữ và làm nên nét đẹp thâm trầm, ý nhị cho bài thơ

Phạm Thiên Thư từng là một tu sĩ Phật giáo từ năm 1964 – 1973 với pháp danh Thích Tuệ Không Vì thế trong 9 năm ở chùa, ông đã tiếp cận và thấm nhuần tư tưởng nhà Phật và kinh Phật Có thể nói, giữa đạo và đời như đã hòa trộn vào vị tu sĩ - nhà thơ Phạm Thiên Thư Cho nên, suốt thời gian tu trong chùa, học đại học vạn hạnh, ông đã thi hóa 7 bộ kinh Phật với một lối ngôn ngữ thuần Việt Nội dung vẫn là kinh Phật nhưng những địa danh trong kinh Phật đã được đổi thành những địa danh của Việt Nam Ông muốn người Việt thấm kinh Phật theo kiểu của người Việt, để những người nông dân lam lũ bình dị cũng có

Trang 14

14

thể có được kinh thư trong chính mình Tiêu biểu các tác phẩm như: Kinh

Hiếu, Kinh Ngọc - Qua suối mây hồng (Kinh Kim Cương), Hội hoa đàm (Kinh

Hiền Ngu), Suối nguồn vi diệu (Kinh Pháp Cú)

Với quan niệm: “Cười vui đẩy lùi bệnh khổ”, từ năm 1970, ông ấp ủ mong

muốn dùng tiếng cười như là một phương pháp trị liệu để chữa bệnh, nhất là những bệnh xuất phát từ cái tâm Ông tập trung sáng tác vào năm 2000 Đến năm

2005, Nhà xuất bản Thanh niên đã cho xuất bản cuốn sách của ông Từ điển cười với cái tên y học là Tiếu liệu pháp, giải thích từ vựng dưới góc độ thơ hài hước

Cuốn sách đề cập đến mọi góc độ khác nhau của con người trong cuộc sống như:

“Cười” (tác giả đưa ra 106 cách hài hước khác nhau), “chết” (135 góc cạnh để

cười), hay “ăn” (có 53 cách)… Phương châm của tác giả khi viết Từ điển cười -

Tiếu liệu pháp đã được ông gửi gắm trong những câu thơ sau:

“Luôn biết mình dốt,

Để gột tính kiêu,

Để yêu như mới,

Để cởi mối hiềm,

Để thêm tinh tiến”

Có thể nói Từ điển cười - Tiếu liệu pháp là một phương cách sử dụng sự

hài hước, tiếng cười để chữa tâm bệnh và Phạm Thiên Thư là người Việt Nam đầu tiên biên soạn từ điển cười

Hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc, nhưng bằng sự sáng tạo riêng của mình vào năm 1969, Phạm Thiên Thư còn gây bất ngờ cho mọi người khi ông

dám chạm vào một vấn đề mà ít ai dám vọng tưởng: Viết tiếp hậu Truyện Kiều của Nguyễn Du bằng thi phẩm Đoạn trường vô thanh gồm 27 chương, 3.296 câu thơ lục bát Tác phẩm Đoạn trường vô thanh (Nỗi đau không nói thành lời)

Theo Phạm Thiên Thư, trường thi này đã mô tả quãng đời sau 15 năm lưu lạc của nàng Kiều sau khi hội ngộ với Kim Trọng Có thể khẳng định thành tựu rực

Trang 15

15

rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư bằng tác phẩm Hậu

Truyện Kiều - Đoạn trường vô thanh (1972), đoạt giải nhất văn chương miền

Nam tạm chiếm đã đưa Phạm Thiên Thư lên một vị trí xứng đáng trong ngôi đền thiêng của thi ca Việt Nam

Dù ngoài 70 tuổi, ông vẫn sáng tác hằng ngày Có điều khác người là ông kết hợp nghề làm thuốc với nghề làm thơ Từ năm 1973 ông đã sáng tạo ra phương pháp chữa bệnh hạn chế dùng thuốc, để cứu giúp những người nghèo khổ không có tiền mua thuốc đắt tiền Đó là nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công PHATHATA

Với tiến trình sáng tác của Phạm Thiên Thư, có thể thấy đây là một nhà thơ

có sức sáng tạo mạnh mẽ cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, trong văn học miền Nam Việt Nam

1.1.3 Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc

Từ Động hoa vàng đến Đoạn trường vô thanh, Hội hoa đàm đặc biệt là

thi phẩm hát ru Việt sử thi, thơ Phạm Thiên Thư là một thành tựu quan trọng, tạo nên khuôn mặt đẹp cho thơ ca miền Nam hiện đại

Động Hoa Vàng, tác phẩm dài 400 câu thơ lục bát, như một câu chuyện cổ

tích, khói sương bàng bạc kể về một nhà sư giũ áo đến chốn Thiên Thai:

“Ta về giũ áo mây trôi Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan Rằng xưa có gã từ quan Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

… Sư lên chót đỉnh rừng thiền Trong tim chợt thắp một viền tà dương”.

Cũng bằng thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc, Phạm Thiên Thư đã thi hóa lời kinh, làm cho giáo lí của đức Phật gần gũi và dễ nhớ đối với mọi người:

Trang 16

16

“Lời vàng dậy đỉnh non xưa,

Ngàn năm truyền đến bây giờ còn tươi

Còn vang vọng trái tim người, Tạo nên sức sống nơi nơi từ hòa”

Hay:

“Từ bi là cách nhiệm mầu, Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngàn Kiếm dùng ngăn ác phù chân, Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường”

Ngoài ra, để đưa người đọc về với từng bước chân của cha ông trong quá

trình làm nên lịch sử hào hùng, tạo dựng truyền thống văn hóa sáng ngời chủ

nghĩa nhân văn sâu sắc, tác giả đã gởi đến người đọc tác phẩm Hát ru Việt sử thi

Qua đó, Phạm Thiên Thư còn phơi diễn những kiến giải của riêng mình về lịch

sử nước nhà

Hát ru Việt sử thi, những câu thơ lục bát viết về lịch sử Việt Nam Với

3.320 câu lục bát hát ru sử Việt của thi sĩ Phạm Thiên Thư - người con Thái Bình vọng hướng về Đại lễ ngàn năm Thăng Long - Hà Nội như thể kể chuyện lịch sử bằng câu hát, lời ru cất lên tự đáy lòng, tự trái tim người Việt Nam, thấm đẫm

nghĩa tình Qua từng câu thơ lục bát trong Hát ru Việt sử thi Việt sử thi là sự

sống con người, Đời này, đời nọ qua siêu thức hát ru, từ tình cảm gia đình dân tộc, bà mẹ, chị em, con cháu…

Những lời ru ngọt ngào, từng vầng thơ như hòa quyện vào không gian bao la, phảng phất như gió thoảng bay qua cánh đồng ca dao bất diệt của ngàn đời dân tộc Việt Tầng tầng lớp lớp những bài hát ru nối tiếp nhau xuyên suốt trường kỳ lịch sử dân tộc từ thuở sương mù hình thành và quá trình dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước của cha ông ta xưa:

“Lạc Long Quân vốn dòng Rồng

Trang 17

17

Lấy Âu Cơ đẻ trăm dòng từ đây

Nửa theo mẹ tới non mây

Nửa theo cha xuống sum vầy biển vang

Con trưởng làm vua Văn Lang

Là Hùng Vương giữ ngai vàng truyền lưu”

Vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (năm 111 trước Tây lịch đến năm 39 sau

Tây lịch), nhà Hán sai sứ thần Tích Quang - Nhâm Diên sang nước ta truyền bá đạo Nho, trước tình trạng ngoại xâm văn hóa, ông cha ta lúc bấy giờ đã lấy Phật giáo làm chính đạo:

“Thế nên trí thức Văn Lang

Dễ theo Phật giáo - Ấn đang truyền vào

Đạo theo những cánh buồm cao

Du Tăng Đông Độ ghé vào Giao Châu

Tạo nên nề nếp ban đầu

Càng yêu dân tộc - càng sâu sức Thiền”

Bằng Hát ru Việt sử thi Phạm Thiên Thư đã khơi dậy lòng yêu nước, tinh

thần tự hào dân tộc về ý chí quật cường, sẵn sàng hy sinh xương máu để giành độc lập tự do cho dân tộc:

“Thà chết-cho sử thêm son

Hơn sống nô lệ cúi lòn ngoại bang”

Hay:

“Mình voi hai vị nữ lang

Uy nghi giáp bạc, giáp vàng như hoa

Dao gươm nhật nguyệt chói lòa

Điều quân toàn tướng đàn bà ngựa dong”

(Hát ru về Trưng Vương)

Trang 18

18

Với thể thức hát ru, một thể thức gần gũi với người nông dân, Phạm Thiên Thư đã thi hóa lịch sử Việt Khiến cho những vần thơ về lịch sử nước nhà dễ dàng đi vào lòng người:

“À ơi! cho cháu lời ru

Cất từ cái thuở sương mù cha ông

Chim Hồng chim Lạc qua song

Bay qua Việt sử từng dòng là thơ

Đêm đêm nhịp võng trăng mờ

Trăng soi câu hát ru hờ con tim

Tay bà hóa cánh chim lên

Nhẹ đưa nhịp võng ru - thuyền tương lai

Lòng bà thành chiếc võng đay

Hồn quê thơm điệu ru này, à ơi!

Mai sau khôn lớn làm người

Đi lên chân bước tuyệt vời mênh mông!”

Thơ Phạm Thiên Thư trở về với cách nói gần gũi, chân tình đằm thắm của thơ ca truyền thống Phạm Thiên Thư đã sử dụng thành công nhiều hình thức thơ dân tộc Thể lục bát được nhà thơ sử dụng khá nhiều, chính điều ấy đã nói lên tầm quan trọng của thể lục bát dối với thơ của Phạm Thiên Thư Thơ lục bát trong sáng tác của Phạm Thiên Thư thể hiện giọng điệu thơ đằm thắm, thiết tha

mang hồn quê hương đất nước đặc biệt là tác phẩm Đoạn trường vô thanh Ở

đây, Phạm Thiên Thư không sử dụng những điển tích từ chương của Trung Hoa

mà thay thế vào đó là một loạt các hình ảnh, nhân vật hoàn toàn thuần ty Việt Nam Người ta bắt gặp ở đó những tên tuổi quen thuộc, từ lâu đã đi vào tâm thức bao thế hệ: Tiên Dung, Chử người Đồng Tử, Thánh Gióng, Tản Viên, Bạch Vân… khiến cho người đọc khó có thể phân biệt được bút pháp tả cảnh, tả tình tài hoa của Phạm Thiên Thư với đại thi hào Nguyễn Du:

Trang 19

19

“ Sông dài cởi yếm hoàng hôn

Bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay Gió về đưa ngọn sóng say Tiếng ca mục tử cuối ngày gọi trâu

Bãi xa cỏ tím rầu rầu Mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa”

Từ đó, Phạm Thiên Thư đã trở thành một trong số những người làm thơ lục bát hay và đạt nhiều thành tựu trong lịch sử văn chương miền Nam lúc bấy giờ Ông còn làm một việc độc nhất ở Việt Nam nữa là chuyển thành thơ 7

bộ kinh Phật giáo với một lối ngôn ngữ thuần Việt Nội dung vẫn là kinh Phật nhưng những địa danh trong kinh Phật đã được đổi thành những địa danh của Việt Nam Ông muốn người Việt thấm kinh Phật theo kiểu của người Việt, để những người nông dân lam lũ bình dị cũng có thể có được kinh thư trong chính mình

Vẫn là giọng điệu trữ tình tha thiết, đằm ấm như tiếng nói của con tim, như một lời tâm sự dặn dò, vẫn là cái nhìn săc sảo trên dòng thời cuộc như bao nhà thơ cùng thời Thế nhưng phạm Thiên Thư vẫn mang một nét riêng, một phong cách riêng mà khong phải nhà thơ nào cũng có được

Phạm Thiên Thư đã trở thành một trong số những nhà thơ lục bát hay nhất

và có sức sáng tạo nhất của văn học miền Nam Mặc dù, thơ lục bát của Phạm

Thiên Thư gắn với mạch thơ của ca dao, của Truyện Kiều nhưng lại có sự hài

hòa giữa đạo và đời, giữa thơ và nhạc

Trang 20

20

1.1.2 Một tài năng thơ diễn ca lịch sử Việt Nam

Từ lâu trong văn hóa văn nghệ dân gian đã lưu truyền nhiều câu chuyện lịch sử, kể về các nhân vật thần thoại, các anh hùng dân tộc như: Thánh Gióng, Sơn Tinh, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn… Đây là những tác phẩm tự sự đầu tiên nảy sinh trong thực tiễn đấu tranh chống ngại xâm của dân tộc Nội dung của các tác phẩm này chú trọng ca ngợi các anh hùng dân tộc, các nhân vật kiệt xuất trong thần thoại có công giữ nước

Bên cạnh đó còn có những bài kệ kể về các nhân vật kiệt xuất của nhà chùa như: Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không… Đây là những tác phẩm tự sự

ra đời do chịu sự ảnh hưởng của sinh hoạt Phật giáo trong dân gian Nó có nội dung tôn giáo nhưng cũng có phần phản ánh cuộc sống của nhân dân

Tất cả các tác phẩm nói trên lúc đầu đều tồn tại dưới dạng truyền khẩu, về sau được chép lại bằng chữ Nôm, lúc này đã được gọt giũa đi ít nhiều, và chưa biết được là xuất hiện và thời gian nào Những tác phẩm này là cơ sở để xuất hiện các thể loại tự sự trong văn học chữ Hán và chữ Nôm sau này như: thơ vịnh

sử, diễn ca lịch sử…

Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam ít được giới trẻ quan tâm, thì việc

chuyển các sự kiện này thành thơ để có sức thu hút hơn đối với đọc giả, mà đặc biệt là thế hệ trẻ sau này Đó là một việc làm cần thiết, và Phạm Thiên Thư đã

dốc hết tâm trí của mình để hoàn thành được quyển Hát ru Việt sử thi - cuốn

sách có độ dài 3.325 câu thơ lục bát, mở đầu từ thời thượng cổ và kết thúc vào thời Tây Sơn Đây là một món ăn tinh thần nhằm nuôi dưỡng đời sống tâm hồn những người trẻ thời hiện đại Thuộc sử, nhớ sử Việt Nam bằng tiếng mẹ đẻ tức

là yêu nước, yêu tiếng nước mình” Bởi vì ông cha ta thường quan niệm rằng:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

Kể năm hơn bốn nghìn năm

Trang 21

21

(Hồ Chí Minh)

Để thực hiện được tác phẩm Hát ru Việt sử thi này, ông dựa một phần vào

bộ Việt Nam sử lược, phần còn lại được lấy từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau của Việt Nam Ông phân tích, tổng hợp và chắt lọc các sử kiện, sắp xếp chúng theo dòng thời gian, sau đó biện giải theo cách của mình Chỉ những diễn biến quan trọng, điển hình nhất trong mỗi thời kỳ, triều đại lịch sử mới được chọn mà khi nhắc đến nó ai thuộc sử cũng phải biết

Cũng bằng dòng suối ngọt ngào của thể thơ lục bát đã từng rót qua cánh đồng ca dao bất dệtt của dân tộc mình, qua siêu thức hát ru, Phạm Thiên Thư đã bộc lộ khát vọng muốn ru người đọc “Bớt khổ, dưỡng sinh, đại đồng” như trong

lời mở đầu Đôi dòng siêu thức

“Hát ru cho mạnh dưỡng sinh Vào câu vô thức cho tình nghìn thu

À ơi! Cho cháu lời ru Cất từ cái thuở sương mù cha ông Chim Hồng chim Lạc qua sông Bay qua Việt sử từng dòng là thơ Đêm đêm nhịp võng trăng mờ Trăng soi câu hát ru hờ con tim Tay bà hóa cánh chim lên Nhẹ đưa nhịp võng ru-thuyền tương lai Lòng bà thành chiếc võng đay Hồn quê thơm điệu ru nầy, à ơi!

Mai sau khôn lớn làm người

Đi lên chân bước tuyệt vời mênh mông”

Trang 22

22

Qua tầng tầng lớp lớp những bài hát ru nối tiếp nhau xuyên suốt

trường kì lịch sử dân tộc từ thuở sương mù hình thành và quá trình dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước của cha ông ta xưa, Phạm Thiên Thư đã khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc về ý chí quật cường, sẵn sàng hy sinh xương máu để giành độc lập tự do cho dân tộc:

“Thà chết-cho sử thêm son Hơn sống nô lệ cúi lòn ngoại bang”

Có thể nói, Hát ru Việt sử thi đã kế thừa văn học viết và văn học dân

gian, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc ta, tác giả đã ca ngợi những anh hùng, hào kiệt của đất nước, tự hào về đất nước con người Việt Tuy nhiên

tư tưởng của Hát ru Việt sử thi lại có phần tiến bộ, đó là quan niệm vì dân Trong

tác phẩm, tư tưởng vì dân gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Nghĩa là đấu tranh chống giặc là vì dân, đưa dân thoát khỏi cảnh lầm than cơ cực Quan niệm này có thể bắt gặp trong một số nhà Nho xuất sắc của các giai đoạn trước như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…Có nhiều đoạn trong tác phẩm thể hiện tư tưởng này như:

Hát ru về Trưng Vương:

“Mình voi hai vị nữ vương

Uy nghi giáp bạc, giáp vàng như hoa Giáo gươm nhật nguyệt sáng lòa Điều quân toàn tướng đàn bà ngựa dong”

Hát ru quân sử:

“Hy sinh vì nước vì non

Kể chi già trẻ, sống còn phải toan Hội cờ họp bến Bình Than Trái cam bóp nát-can tràng tuổi thơ”

Trang 23

Bây giờ con lại nằm trông Ngủ đi chút dậy cho bông hoa quì

Mẹ con ra chợ mua gì

Bố còn một cánh tay ghì ôm con Một chân vuông, một chân tròn Ngày về bố chỉ nguyên còn trái tim

À ơi! Con ngủ cho im

Ru con trang sử thi tìm hồn thơ”

Ngoài ra còn có những đoạn diễn ca về lịch sử tư tưởng văn hóa Việt Nam,

về sự giao thoa dung hòa tinh hoa của Nho giáo, Lão giáo của Trung Quốc và Phật giáo của Ấn Độ:

“Lý triều tam giáo đồng nguyên Gôm tinh hoa lại làm nên sức mình”

Vốn từng là nhà sư thông tuệ về Phật giáo Việt Nam, thi hóa thành công nhiều kinh Phật, nên tác giả đã có những khúc hát phơi diễn đạo Phật thật hay:

Trang 24

24

“Đạo theo những cánh buồm cao

Du tăng Đông Độ ghé vào Giao Châu

Tạo nên nề nếp ban đầu Càng yêu dân tộc, càng sâu sức thiền Bụt ra-Cô Tấm thành tiê Nắm xương cá bống cũng nên phượng hồng”

Một ngấn tích son của Phật giáo Việt Nam là nhập thế trong lòng dân tộc, giúp dân giúp nước cứu đời Khúc hát ru về Thiền Sư Vạn Hạnh cho ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc xuất thân của vua Lý Thái Tổ và nghĩa ân từ nhà chùa:

“Ngày xưa có một cảnh chùa

Có thầy Vạn Hạnh già nua bạc đầu Thầy trầm tư lẽ nhiệm mầu Làm sao hiện hóa Giao Châu diệu huyền

Giúp sao cho vạn đời lên Cho nhân sinh hóa uyên tuyền một phương

Tìm trong kinh sử cho tường Tìm trong thiền đạo con đường hội thông

Chăm lo dạy dỗ tiểu đồng Lòng thầy như ngọn lửa hồng sáng soi

Tre già cho lớp măng coi Dạy người để cứu giống nòi lầm than Dạy con nuôi Lý Khánh Vân

Là Lý Công Uẩn tinh thần sáng cao

Rõ ràng một bậc anh hào Thầy đem nhật nguyệt gửi vào tuổi thơ Truyền võ nghệ, giảng binh thơ Thiền tâm, học thuật mong chờ rồng bay

Trang 25

25

Biết bao tâm huyết đêm ngày

Con đường Vạn Hạnh trao tay một người

À ơi! Đi kiếm cả đời Mong sao gặp được như người mà trao”

Phạm Thiên Thư đã đưa người đọc về với từng bước chân lịch sử hào hùng, tô thắm truyền thống văn hóa lâu đời sáng ngời chủ nghĩa nhân văn của dân tộc Qua đó, Phạm Thiên Thư còn phơi diễn những kiến giải thâm thúy, mới

lạ, thật thú vị:

Hát ru về Phù Đổng Thiên Vương như là hát ru về lòng dân:

“Lòng người khiến ngựa sắt phi Trúc tre cũng biết đền nghì nước non”

Hát ru về sự tích trầu cau như là hát ru về những phẩm chất cao quí trong tâm hồn người dân Việt:

“Thẳng gì-Hơn những thân cau Mềm gì-Hơn những dây trầu leo quanh

Cứng gì-Hơn đá non xanh Trầu, cau, vôi quyện đỏ vành môi tươi”

Hát ru về bánh dày bánh chưng mà Lang Liêu được vua cha truyền ngôi như

là hát ru về đạo pháp trị đời giúp dân:

“Bệ rồng lệnh đã ban ra Các con thi cỗ để mà truyền ngôi Việc nầy hẳn ý xa xôi

Cỗ là pháp đại trị đời giúp dân

Bởi vì, theo nhà thơ:

Bánh tròn như một mặt trời Bánh vuông như ruộng lúa ngời nương xanh

“Tròn vuông” là nghĩa trọn tình

Trang 26

26

Hát ru về cổ tích Tấm Cám như là hát ru về diệu kì hóa thân Hát ru về thần Kim Quy như là hát ru về trí thức Việt giúp dân giúp nước:

“Ngày xưa có thần Kim Quy Người cầm qui cách khác chi khuôn vàng

Hẳn là trí thức Văn Lang Giúp dân giúp nước chẳng màng lợi danh

Hát ru về Từ Thức về trần”

Hát ru Việt sử thi đã được Phạm Thiên Thư đã diễn nôm lịch sử, nhắc nhớ lại lịch sử nước nhà một cách nhuần nhuyễn, ý vị Đồng thời Hát ru Việt sử

thi cũng đã thi hóa lịch sử Việt, mang lại cho người đọc, nhất là bạn đoc trẻ hôm

nay những khúc hát ru ngọt ngào tình tự dân tộc, ru hồn ta lớn lên bằng thể thơ của dân tộc, thể lục bát

Trang 27

Tác phẩm viết theo thể lục bát đầu tiên có thể kể đến là trường ca Động hoa

vàng với 400 câu thơ được viết theo thể lục bát xuất bản lần đầu vào năm 1970 ở

Sài Gòn và mới được NXB Văn Nghệ TPHCM tái bản tháng 1- 2006 Tác phẩm

được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc với bài hát cùng tựa đề Đưa em tìm động

hoa vàng

Sự xuất hiện bất ngờ khoảng thời gian 1969 với ba ngàn hai trăm năm

mươi bốn 3254 câu thơ lục bát có tên Đoạn Trường Vô Thanh được xem như hậu

Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du Tác phẩm đạt được giải Nhất Văn học (miền Nam) vào năm 1973

Ông còn chuyển thành thơ 7 bộ kinh Phật giáo bằng thơ lục bát dài 12.000 câulấy tên là Kinh Hiền Hội Hoa Đàm in lần đầu năm 1971 Năm 2006 Nhà xuất

bản Văn Nghệ TPHCM tái bản Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã xác nhận kỷ

lục “Kinh Hiền Hội Hoa Đàm bằng thơ lục bát dài nhất Việt Nam”

Gần đây ông còn cho ra đời một tập thơ lục bát nhưng theo thể thức hát ru

Đó là thi phẩm Hát ru Việt sử thi có độ dài 3.325 câu thơ lục bát, mở đầu từ thời

thượng cổ và kết thúc vào thời Tây Sơn Tác phẩm được xem là một món ăn tinh thần nhằm nuôi dưỡng đời sống tâm hồn của lớp trẻ thời hiện đại

Qua quá trình khảo sát trên, tôi thấy thơ lục bát chiếm số lượng khá lớn trong tổng số tác phẩm mà Phạm Thiên Thư đã sáng tác Vì thế, có thể khẳng định rằng trong sự nghiệp sáng tác Phạm Thiên Thư, thơ lục bát chiếm một địa

Trang 28

28

vị quan trọng hàng đầu Nói tới Phạm Thiên Thư là nói tới những tác phẩm thi ca lớn viết theo thể lục bát

1.2.2 Một số nhận xét bước đầu về thơ lục bát của Phạm Thiên Thư

Qua khảo sát thơ Phạm Thiên Thư, tôi thấy thể thơ lục bát được ông sử dụng nhiều nhất và rất thành công Nhiều bài lục bát của Phạm Thiên Thư mang phong vị ca dao rõ rệt, vì mang phong vị ca dao bất diệt của ngàn đời dân tộc Việt, nên dễ đi vào lòng quần chúng Không chỉ thế câu lục bát của Phạm Thiên Thư còn rất giàu có và đa dạng Nó vừa kết hợp được điệu lục bát biến thể cổ của tầng lớp bình dân đông đảo

“Rủ nhau kiếm củi trên nương Chất lên đống lửa bên đường lùi khoai Lên mình trâu đực nằm dài Nhìn mây nổi bỗng trở dài đăm đăm”

(Trại hoa đỉnh đồi)

Vừa phảng phất lối đối từng vế của những câu thơ cổ điển trong Truyện Kiều như:

“Trước sau chẳng bến chẳng bờ Bước chân theo tiếng trúc tơ dặt dìu”

(Đoạn trường vô thanh)

Phạm Thiên Thư là người kế thừa tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và có bản lĩnh của mình Tiếp thu phần hồn nhưng không dừng lại phần xác, mà đón lấy cái hương vị tinh hoa của thể thơ dân tộc, không dừng lại ở cái vẻ bề ngoài mà ở tâm hồn ben trong Có thể thấy những vần thơ của ông được viết ra từ những dư

ba của câu Kiều nào đó của Nguyễn Du nhằm làm tăng ý vị của câu thơ Nhiều

câu thơ trong Đoạn trường vô thanh mang dáng dấp của những câu thơ có sẵn

trong kho tàng văn hóa dân gian Ở đây Phạm Thiên Thư không phải lấy lại hoàn

Trang 29

“Khi tỉnh rựu, lúc tàn canh

Giật mình, mình lại thương mình xót xa”

( Truyện Kiều)

Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư như những bài hát ru nối tiếp nhau xuyên suốt trường kỳ lịch sử dân tộc từ thuở sương mù hình thành và quá trình dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước của cha ông, lời ru bỗng từ đâu vọng lại, hình như được cất lên từ lòng mẹ hiền:

“À! Ơi! Cho cháu lời ru Cất từ cái thuở sương mù cha ông Chim Hồng, chim Lạc qua sông Bay theo Việt sử từng dòng là thơ Đêm đêm nhịp võng trăng mờ Trăng soi câu hát ru hời con tim”

(Hát ru Việt sử thi)

Dù có nói ra hay không, lời ru câu hò, điệu hát chan chứa tình người, tình quê hương đất nước Chính tình cảm ấy của nhà thơ đã hóa thân vào các vần thơ lục bát:

“À! Ơi! Một giải giang sơn Hôm nay ta có phải ơn bao người

Trang 30

30

Đất không tính giá vàng mười

Tính bằng những lớp máu tươi anh hùng”

(Hát ru Việt sử thi)

Vẫn những dòng thơ lục bát, song Phạm Thiên Thư lại mang đến cho văn học miền Nam một nội dung mới Hình ảnh các vị anh hùng, các cuộc chiến của quân dân ta thời phong kiến, đều được sử thi hóa mang nội dung mới:

“Ngày xưa có thần Kim Qui Người cầm qui cách, khác chi muôn vàng

Hẳn là tri thức Văn Lang Giúp dân giúp nước không màng lợi danh”

(Hát ru Việt sử thi)

Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư, có thể thấy việc sử dụng thể thơ dân tộc – thể lục bát và lục bát theo thể thức hát ru chiếm số lượng rất lớn Chính vì thế mà thi sĩ họ Phạm này lại gần gũi với quần chúng hơn, mang đậm bản sắc dân tộc hơn Đó là những dòng ca dao mới, trao vào tay những bà mẹ mới, hát vào tai đứa trẻ con nhỏ mới vào đời cho tròn cuộc sum vầy:

“Đoạn trường sổ gói tên hoa Xua là giọt lệ, nay là hạt châu (Đoạn trường vô thanh)

“Bãi ngô nương sắn láng giềng

Trang 31

31

Con đường dẫn đến tương lai Phải chăng là nỗi cảm hoài trùng sinh”

(Trại hoa đỉnh đồi)

“Áo dài tối tối đèn nhang Rồi đem Quốc Sử dõi trang diệu huyền Thầy ngồi suy ngẫm triền miên Hương từ bàn lễ Gia Tiên thoảng về”

(Dã thoại quanh bếp lửa sương trắng)

Con người có quan điểm sống rạch ròi qua những lời ru tiếng hát:

“À! Ơi! Này nhớ một câu Chia là tự diệ t- Có đâu tại trời Phải nhìn cho rõ thế, thời Đâu là thù địch đâu người anh em”

(Hát ru một câu - Hát ru Việt sử thi)

Đó cũng chính là quan điểm, thái độ của Phạm Thiên Thư đối với vận mệnh của dân tộc, lịch sử nước nhà Đồng thời còn là thái độ câm phẫn của con người trước sự đàn áp của bọn giặc để giáo dục truyền thống yêu nước cho con cháu sau này cũng được cất lên từ tiếng hát ru da diết:

“ Giặc Minh chiếm giữ non sông Giả treo bảng dụ gọi dòng Trần ra Bắt quan lại, buộc người già Xin Minh chủ cải nước là Giao Châu”

(Giặc Minh- Hát ru Việt sử thi)

Phạm Thiên Thư đã sử dụng lời thơ lục bát để thi hóa lời kinh, làm cho giáo

lí của đức Phật gần gũi và dễ nhớ đối với mọi người:

“Lời vàng dậy đỉnh non xưa,

Trang 32

32

Ngàn năm truyền đến bây giờ còn tươi

Còn vang vọng trái tim người, Tạo nên sức sống nơi nơi từ hòa”

Hay:

“Từ bi là cách nhiệm mầu, Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngàn, Kiếm dùng ngăn ác phù chân, Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường”

Có thể nói rằng việc sử dụng thể thơ lục bát của Phạm Thiên Thư đã góp phần quan trọng đưa nhà thơ lên địa vị là nhà thơ của dân tộc

Thành công xuất sắc của Phạm Thiên Thư là đã đưa câu thơ lục bát cổ điển tới một hình thức phát triển và phong phú Những câu thơ ngọt ngào, uyển chuyển, nhịp nhàng, mà vẫn nói lên được điều cần nói về hiện thực lịch sử nước nhà cũng như về tình cảm của con người Những câu thơ viết theo thể thơ dân tộc đã đạt đến trình độ mẫu mực Giữa nội dung và hình thức có sự hài hòa nhuần nhuyễn, nên dễ nhớ và dễ hiểu Điều đó cũng có nghĩa là thơ Phạm Thiên Thư mang nội dung mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên và tính dân tộc chan hòa làm một, thành chỉnh thể thống nhất của thơ Phạm Thiên Thư Các bài thơ thuộc thể thơ dân tộc mang cách biểu hiện và hơi thở truyền thống và tính dân tộc nổi bật hơn cả Nghĩa là dân tộc và hiện đại đã hòa huyện gắn bó chặt chẽ với nhau trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư

Phạm Thiên Thư với những câu thơ lục bát đã nói lên cái đồ sộ, hùng tráng của cách mạng, lịch sử dân tộc Nhà thơ đã khai thác triệt để khả năng diễn đạt của câu thơ lục bát truyền thống với văn học dân tộc để miêu tả thật sinh động về cuộc sống

Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư gần gũi với cuộc sống hằng ngày, ngoài lời

ăn tiếng nói của nhân dân trong thơ Phạm Thiên Thư còn hay sử dụng những

Trang 33

33

thành ngữ, tục ngữ mang lại hiệu quả cao Nhờ thế, điệu thơ cũng như tình thơ, trở nên tha thiết, vương vấn hơn trong thơ Phạm Thiên Thư Chúng ta gặp lại cách làm đó, hay theo dạng thức đó trong một số bài thơ, câu thơ của Phạm Thiên Thư:

“À! Ơi! Cô bé nhà ta Giặc vào tự có đàn bà cầm gươm”

(Hát ru Việt sử thi)

“Mốt mai ta cũng theo chim

Về thâu ngọc rớt vàng chìm sông Ngô”

(Đoạn trường vô thanh)

Có những câu thơ được tác giả vận dụng theo ngôn ngữ của Nguyễn Du:

“Phải chăng từ cõi uyên tuyền Bước ta theo tiếng chim Quyên gọi hè

Rồi như hoa bưởi hoa lê Ứng thân trắng nốt cơn mê cháy hồng”

( Trại hoa đỉnh đồi)

“Dù muôn dặm có bao xa

Mà trong gang tấc vẫn là thiên thu”

Hay: “ Vượt qua đoạn lệ trở thành hoa tiên”

(Đoạn trường vô thanh)

Với Phạm Thiên Thư, đó là sự tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo thêm thành cái độc đáo, đạt giá trị cao Về phương diện này Phạm Thiên Thư đã đóng góp lớn vào thể thơ dân tộc Đặc biệt với sự sáng tạo này Phạm Thiên Thư làm cho tính dân tộc hiện lên khá rõ nét, sâu sắc hơn và độc đáo hơn Song đáng chú ý nhất là thể thơ lục bát của Phạm Thiên Thư tiếp nối suối nguồn của thi ca dân tộc Việt và thi ca Nguyễn Du, với lời thơ thanh nhã và siêu thoát

Trang 34

34

1.3 Vị trí của Phạm Thiên Thƣ trong lịch sử thơ ca Miền Nam

Trong số các nhà thơ hiện đại Việt Nam hình như ít có ai không một lần đến với thể thơ này Thậm chí nhiều người còn có thể đạt con số hàng chục, hàng

trăm bài chẳng hạn như: Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy,…Tuy nhiên, mỗi

nhà văn đều có phong cách thơ khác nhau: có khi ngang tàng, ngạo nghễ, có khi

da diết có khi dịu dàng đằm thắm Phạm Thiên Thư xuất hiện muộn ngưng bút sớm, mà sự nghiệp thi ca của ông vẫn đồ sộ Năm 1975, mới ba mươi lăm tuổi ông đã có ngót chục vạn câu

thơ Phong phú là một đặc điểm của thế hệ văn nghệ sĩ bấy giờ

Khi Phạm Thiên Thư đến với thi ca thì văn học có quá nhiều đỉnh cao chói lọi Bóng râm của những cây đa, cây đề từ ngày xửa ngày xưa như Nguyễn

Du, Nguyễn Đình Chiểu, rồi gần hơn là Tản Đà, tiếp đến là Nguyễn Bính, Tố Hữu, dường như đã tạo tiếng vang của một thời Đó là chưa kể những gương mặt cùng thời Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, vốn là những cây bút điêu luyện Nhưng theo quan niệm riêng của mình, bằng tình yêu đặc biệt cho văn học nhà thơ đã tìm đường mở lối cho thi ca miền Nam và tạo cho mình một giọng điệu riêng trên thi đàn

Nếu Nguyễn Bính thuộc thế hệ những nhà thơ mới, một thế hệ nhà thơ

đã có nhiều đóng góp cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Đặc biệt đây cũng là nhà thơ có sở trường về thể thơ lục bát với đủ mọi cung bậc cảm xúc của những buồn vui, ngậm ngùi, cay đắng vừa như kể chuyện lại vừa như trữ tình Song song đó Tố Hữu là gương mặt tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp Ông đưa vào thơ hình ảnh quần chúng, nói cái giọng quần chúng, nói cái tình kháng chiến, tình công dân Cái tôi chuyển hóa thành cái ta, thơ ông hướng về quần chúng mà kêu gọi, động viên chia sẻ Lối viết này tất nhiều nhà thơ đi sau ông bắt chước, thậm chí ảnh hưởng đến tư duy của cả giai đoạn thơ kháng chiến chống Mỹ

Trang 35

Hay Du Tử Lê thử nghiệm cách tân lục bát, bằng cách dùng nhịp lẻ, nhịp chỏi, ngắt câu, xuống hàng, Song với lối cách tân ấy Du tử Lê đã băm nát nhịp thơ, làm bầm dập thi thể, lục bát thành ngọng nghịu quá đổi

Đặc biệt đến với Phạm Thiên Thư tiếp bước Nguyễn Du bằng lục bát sang trọng, ngôn ngữ trong veo Lục bát của Phạm Thiên Thư đạt tới sự hòa điệu của tiếng Việt, giản dị, tính tư tưởng của thiền và chất trí tuệ phương Đông với

một hồn thơ thật tinh khôi Nếu Nguyễn Du có Ðoạn trường tân thanh, ông

có Ðoạn trường vô thanh Ở thi phẩm đồ sộ này, ông còn hơn cụ Nguyễn Du những 20 câu lục bát Nguyễn Du có thơ Chiêu hồn, ông cũng có Chiêu hồn ca Mặt khác, Phật có kinh Kim Cương, kinh Hiền Ngu, ông cũng phỏng soạn Kinh

Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ v.v

Nhìn lại hành trình sáng tác của Phạm Thiên Thư, ta thấy ông là một ngòi bút đầy trách nhiệm, luôn có những cân nhắc tìm tòi trong sáng tạo nghệ thuật Phạm Thiên Thư đã mang đến cho thơ một phong cách nghệ thuật độc đáo Với những thành công ấy, Phạm Thiên Thư đã khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn, góp phần thêm một tiếng nói mới cho thơ ca miền Nam hiện đại Đặc

biệt là thể thơ lục bát

Trang 36

36

Chương 2 ĐẶC SẮC NỘI DUNG THƠ LỤC BÁT PHẠM THIÊN THƯ

2.1 Trữ tình hóa kinh kệ bằng thể thơ lục bát Những tác phẩm thơ lục bát hoặc xen lục bát với các thể thơ khác của

Phạm Thiên Thư viết về kinh phật gồm có: Kinh Hiếu, Kinh Ngọc - Qua suối

mây hồng (Kinh Kim Cương), Hội hoa đàm (Kinh Hiền Ngu), Suối nguồn vi diệu (Kinh Pháp Cú)

Qua khảo sát chúng ta thấy có 12.000 câu thơ lục bát trong tổng số 20.000 câu viết về đề tài kinh phật, chiếm 24%

Kinh phật ở miền Nam trong giai đoạn này là một đề tài lớn mà thi ca luôn hướng tới Bên cạnh đó, bản thân Phạm Thiên Thư cũng từng là một tu sĩ phật giáo với pháp danh Thích Tuệ Không Vì thế, ông được phú một năng khiếu thơ bẩm sinh, đặc biệt là thể thơ lục bát Khác với các nhà thơ cùng thời, Phạm Thiên Thư đã có sự sáng tạo riêng từ nội dung đến hình thức trong sự nghiệp sáng tác của mình Đặc biệt, ông dùng thể thơ lục bát để thi hóa kinh phật

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, văn học Phật giáo chiếm một vị trí khá lớn Những thiền sư – thi sĩ như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Khuông Việt, Mãn Giác, Huyền Quang … đã tạo nên dòng thơ Thiền linh diệu suốt hai triều Lý – Trần Một dòng thơ mà cho đến bây giờ và chắc chắn mãi về sau chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp minh triết và tinh thần nhân văn của nó Đến thề kỷ

XX, một thế kỷ nhiều vinh quang nhưng cũng quá nhiều cay đắng của người Việt, văn học lại chứng kiến sự xuất hiện của một nhà thơ Phật giáo: Phạm Thiên

Thư – “ người hiền sĩ ngồi bên lề cuộc sống ta bà, lặng yên thi hóa kinh phật”

Trong thơ ông, ta tìm thấy những điều phong phú và mới lạ về tôn giáo Giữa một thời lửa đạn, ông bình thản lập cho mình một cõi thi ca riêng: trong trẻo, trữ tình và đậm chất Thiền

Trang 37

sáng soi rọi vào cái Trung Đạo chánh giác như Kinh Kim Cương thi hóa thành

Kinh Ngọc (Qua Suối Mây Hồng); Kinh Hiền Ngu thi hóa thành Kinh Hiền (Hội Hoa Đàm); Kinh Pháp Cú thi hóa thành Kinh Thơ (Suối Nguồn Vi Diệu)…

Cảm quan về nghệ thuật trong thơ của Phạm Thiên Thư mang đâm triết lý phật giáo:

“Rằng xưa có gã từ quan Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”

Từ một câu chuyện của gã từ quan coi thường danh lợi, chán ghét những thị phi, giành giật trong cõi đời mà tìm về nơi thông xanh suối biếc, nương náu chốn núi rừng, nhà thơ đưa người đọc đến với một không gian bát ngát, một không gian tĩnh lặng Dây cũng chính là không gian của các nhà Nho tìm đến để thanh lọc tâm hồn mình Tác giả bằng những thi ảnh mang đậm sắc thái tôn giáo để thể

hiện cảm quan về không gian nghệ thuật của cá nhân Đó là: miền tuyết thơm,

suối tơ huyền, suối hoa rừng, cội thu xanh, đồi dạ lan, miền cỏ hoa, bến hoa tươi, đường lặng im, non xanh, thềm trăng, lưng núi phượng… Đó là những hình

ảnh rất sang trọng, rất thanh thoát nhưng lại rất đơn sơ thuộc về một không gian thoát tục Một không gian yên tĩnh, không phù phiếm và tất cả đều trong trạng thái vắng lặng trầm mặc

Đặc biệt, không gian thoát tục ấy lại là một không gian được phủ đầy hoa, đầy trăng và tiếng chim làm cho không gian trở nên tịch lặng, linh thiêng, thấm đẫm thiền vị Đó là nơi con người có thể lắng lòng lại, thả hồn vào cõi thinh không để tìm sự bình an, thanh thản

“Ta về rũ áo mây trôi

Trang 38

“Tiếng chim trong cõi vô cùng

Nở ra bát ngát trên rừng quế hương”

Bên cạnh không gian yên tĩnh mang đậm thiền đạo, Phạm Thiên Thư còn

có quan niệm về thời gian là vĩnh cửu, đó là thời gian mùa xuân, thời gian khởi đầu cho một năm, mùa của hạnh phúc và niềm vui Đó là mùa xuân ở động hoa vàng, một không gian tĩnh lặng, tràm mặc, nơi con người sống giữa thiên nhiên

để tâm hồn thanh tịnh:

Trang 39

39

“Mùa xuân bỏ vào suối chơi

Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa”

“Có con cá mại bờ xanh Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân Giữa dòng cá gặp phù vân Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi”

Ngay cả khi hoài niệm về tình yêu thì thời gian hoài niệm vẫn là thời gian mùa xuân:

“Con khuyên nó hót trên bờ

Em thay áo tím thờ ơ giang đầu Nhớ xưa có kẻ lên lầu Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa”

Hiểu được lẽ vận hành của tạo vật, thoát khỏi tham, sân, si thì tâm hồn sẽ đạt đến cảnh giới của mùa xuân an lạc, không còn buồn khổ sầu lo Mùa xuân trong cảm quan của Phạm Thiên Thư không chỉ là mùa xuân của ngoại giới mà còn là mùa xuân của tâm tưởng khi con người đã từ bỏ tất cả những giành giật, đua chen mà tìm tới cõi tịch diệt của Thiền tông Đó có lẽ là mùa xuân vĩnh cửu

mà Mãn Giác Thiền Sư đã nói đến trong bài kệ nổi tiếng của mình:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

(Cáo tật thị chúng)

Sự sáng hóa do tâm thức Phạm Thiên Thư mong muốn kinh Phật đi thẳng vào tâm hồn người Việt một cách dễ dàng gần gũi, như một thừa truyền dân dã, thông thấu bình dị:

Đạo hiền tụng biến mưa mau:

“Thế gian như thể dưới cầu nước xuôi

Trang 40

40

Vô thường chuyển khắp trời, người,

Sinh ra khổ lụy nào rời tấm thân

Cõi đời, ôi, áng phù vân!

Hợp tan, tan hợp bao lần có không

Thân ta một nắm bụi hồng, Khác chi lòng suối in dòng chim bay.”

Nghe xong diệu pháp khai bày, Chép kinh thơ nọ sai người tụng rao

(Hội hoa đàm)

Là một nhà sư, Phạm Thiên Thư đã dốc toàn tâm tu hành Nhưng ông không phải là một tu sĩ khổ hạnh ép xác “khắc kỷ phục lễ”, Phạm Thiên Thư tu theo lối riêng Là một nhà sư, Phạm Thiên Thư đã dốc toàn tâm tu hành Nhưng ông không phải là một tu sĩ khổ hạnh ép xác “khắc kỷ phục lễ”, Phạm Thiên Thư

tu theo lối riêng Đạo Phật đã thấm vào tâm trí của Phạm Thiên Thư, Người đã mang hơi thở của thiền đạo đúng với cốt cách của một thi sĩ hào hoa hơn là một

đệ tử của Phật Lấy các giáo lý của đạo Phật làm nền tảng tư tưởng Ông luôn mang khát vọng dấn thân với ý tưởng táo bạo muốn Việt hoá, thi hoá, trẻ hoá đạo Phật Ông đã cả gan viết lại kinh Phật bằng ngôn ngữ của thi ca và người đã tỏ ra

khá tinh tế, lịch lãm trung thành với nguyên bản ý kinh

Chẳng hạn: Bài kệ chính yếu của Kinh Kim cương, Phật dạy: "Nhược dĩ sắc

kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai"

Dịch nghĩa: (Nếu đem sắc tướng để mong nhìn thấy ta, hoặc đem âm thanh để

nhận biết ta thì người ấy đã lạc đường, không thể nào gặp được Như Lai) Phạm

Thiên Thư đã thi hoá với hình tượng như sau:

“Dùng thân vàng thấy Phật Dùng khánh ngọc cầu ta Người đó lạc tà đạo

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN