1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ và các biện pháp tu từ trong thơ trữ tình phạm thiên thư

107 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Ngữ Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Thơ Trữ Tình Phạm Thiên Thư
Tác giả Phạm Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 823,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Tìm hiều từ ngữ và các biện pháp tu từ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư, luận văn hướng đến hai mục đích : Thứ nhất, nhận diện những nét đặc sắc trong từ ngữ và các

Trang 1

PHẠM THỊ THANH HUYỀN

TỪ NGỮ VÀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ

TRONG THƠ TRỮ TÌNH PHẠM THIÊN THƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN HOÀI NGUYÊN

Trang 3

Trường Đại học Vinh Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích

lệ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp

đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,

TS Nguyễn Hoài Nguyên, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, mặc dù đã cố gắng song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng tất cả các bạn

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trang 4

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Mấy vấn đề về thơ và thơ Việt Nam đương đại 8

1.1.1 Mấy vấn đề về thơ 8

1.1.2 Thơ Việt Nam đương đại 19

1.2 Thơ trữ tình và thơ trữ tình Phạm Thiên Thư 24

1.2.1 Khái quát về thơ trữ tình 24

1.2.2 Thơ trữ tình Phạm Thiên Thư 25

1.3 Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 TỪ NGỮ TRONG THƠ TRỮ TÌNH PHẠM THIÊN THƯ 32

2.1 Từ trong tiếng Việt và từ trong văn chương 32

2.1.1 Giản yếu về từ trong tiếng Việt 32

2.1.2 Từ trong văn chương 34

2.2 Các lớp từ nổi bật trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư 36

2.2.1 Từ đơn 36

2.2.2 Từ láy 41

2.2.3 Từ ghép 47

2.3 Tiểu kết chương 2 56

Trang 5

3.1.3 Câu hỏi tu từ 71

3.2 Những kết hợp bất thường về ngữ nghĩa 76

3.2.1 Dẫn nhập 76

3.2.2 Những biểu hiện bất thường về ngôn từ 77

3.3 Một số hình ảnh trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư 82

3.3.1 Tiểu dẫn 82

3.3.2 Hình ảnh em 83

3.3.3 Hình ảnh chim 85

3.3.4 Hình ảnh hoa 88

3.4 Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

Trang 6

Bảng 2.4 Từ ghép trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư 48 Bảng 3.1 So sánh tu từ trong thơ Phạm Thiên Thư và Chế Lan Viên 59 Bảng 3.2 Ý nghĩa của câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư 76

Trang 7

tư cách là phương tiện của nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật được tiếp cận trên nhiều phương diện và tìm hiểu đặc điểm từ ngữ của một tác giả là hướng tiếp cận vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành hiện nay Sự lựa chọn đề tài nghiên cứu của chúng tôi xuất phát từ định hướng khoa học đó

Trong nền thơ ca Việt Nam đương đại, Phạm Thiên Thư được biết đến như một nhà thơ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách tân thơ Việt Bằng những cách tổ chức ngôn từ đầy sáng tạo, Phạm Thiên Thư đã thực sự tạo nên dấu ấn phong cách nghệ thuật của mình trên thi đàn Đọc thơ Phạm Thiên Thư, độc giả không khỏi kinh ngạc trước những hình ảnh mới lạ, những cách diễn đạt vô cùng độc đáo bằng những “ẩn ngữ”, “mật ngữ” Điều này được thể hiện khá rõ trong tuyển tập thơ trữ tình của ông Sự hấp dẫn nhưng cũng không ít thách thức của ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư có sức hút lớn đối với chúng tôi, mặc dù vẫn ý thức rõ rằng, bước vào cõi thơ Phạm Thiên Thư là đi vào một lãnh địa đầy thử thách và không ít chông gai

Nhắc đến Phạm Thiên Thư là ta nhớ ngay đến Đoạn trường vô thanh,

Từ điển cười, cho đến Động hoa vàng và Ngày xưa Hoàng Thị, v.v Sự xuất

hiện của Phạm Thiên Thư đã làm cho nền thơ ca Việt Nam cuối thập niên 70 trở nên nhộn nhịp, mới mẻ Đặc biệt, ở mảng thơ trữ tình, Phạm Thiên Thư

đã trở thành một “hiện tượng” tại miền Nam nước Việt Rất nhiều bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và trở thành làn sóng lan truyền

Trang 8

nhanh chóng trong lòng giới học sinh, sinh viên lúc bấy giờ Sở dĩ, Phạm Thiên Thư được đông đảo bạn đọc đón nhận bởi thơ ông rất phong phú ở cách ngắt nhịp, dùng từ, hình ảnh, với những câu thơ đẩy cái đạo đời bồng bềnh trên cõi phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo

Phạm Thiên Thư đã sáng tác một khối lượng tác phẩm đồ sộ Các tác phẩm của ông rất phong phú và đa dạng: thơ, kinh Phật, sáng tác từ điển cười, v.v Ở một người cầm bút như Phạm Thiên Thư, tính cả về số lượng và chất lượng thì ở mỗi thể loại đều cần thiết phải có những chuyên luận nghiên cứu một cách công phu và toàn diện Thế nên, thơ Phạm Thiên Thư đã trở thành một đối tượng nghiên cứu lý tưởng xét từ nhiều góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau, trong đó có cách tiếp cận của ngôn ngữ học

Từ nhận thức trên, chúng tôi chọn nghiên cứu Từ ngữ và các biện pháp

tu từ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư làm luận văn cao học

1.2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiều từ ngữ và các biện pháp tu từ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư, luận văn hướng đến hai mục đích :

Thứ nhất, nhận diện những nét đặc sắc trong từ ngữ và các biện pháp tu

từ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư, qua đó thấy được đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư

Thứ hai, luận văn xác lập một cái nhìn tổng quan về sự vận động của

ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư, qua đó nhận ra những nét cơ bản về sự vận động của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về thơ trữ tình

Thơ trữ tình từ lâu đã được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm Từ góc độ lý luận, có các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử (1987), Phan Ngọc (1985), Mã Giang Lân (2000), Nguyễn Xuân Kính (1993), Bùi Văn Nguyên,

Trang 9

Hà Minh Đức (1971), Phan Diễm Phương (1998), Nguyễn Duy Bắc (1998),

Lê Lưu Oanh (1975, 1990), Trần Khánh Thành (2002), v.v Nghiên cứu thơ trữ tình dưới góc độ ngôn ngữ học có các tác giả Mai Ngọc Chừ (1991), Nguyễn Phan Cảnh (1985), Nguyễn Tài Cẩn (1998), Hữu Đạt (1998), Đỗ Đức Hiểu (1993), Đỗ Lai Thúy (1992), v.v

Gần đây, một số luận văn, luận án ở các trường đại học đã có những nghiên cứu về thơ trữ tình dưới góc độ ngôn ngữ nhưng không nhiều, vẫn chưa khai thác hết được những bí ẩn trong ngôn ngữ thơ Vậy là, công việc này vẫn còn phải tiếp tục

2.2 Những nghiên cứu về thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

Cho đến thời điểm này, thơ Phạm Thiên Thư vẫn chưa có cuốn sách giáo khoa nào đề cập đến Thế nhưng, những bài thơ của ông được đông đảo độc giả hân hoan đón nhận Mặc dù, không xuất hiện trong sách học nhà

trường nhưng nhiều bài thơ của Phạm Thiên Thư lại là những bức thư tình bỏ

túi của biết bao thế hệ học sinh, sinh viên một thời Đã có rất nhiều nhà

nghiên cứu, nhà báo, nhạc sỹ giới thiệu về thơ Phạm Thiên Thư trên các trang báo viết, báo mạng

Vốn xuất thân từ một tu sĩ nhưng lại làm thơ tình, mà lại là những bài

thơ tình rất hay, vì thế, nhiều người đã phong Phạm Thiên Thư là vị tu sĩ lãng

mạn Thái Tú Lạp trong bài viết Phạm Thiên Thư non cao tìm động hoa vàng

đã có cùng quan điểm với nhà văn Võ Phiến khi nhận xét về Phạm Thiên

Thư: “Thử tưởng tượng, nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một

bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những

em nầy em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới Kinh Hiền Kinh Ngọc, không biết chuông mõ gì ráo, thì trong kho tàng thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt đi chứ ”

Trang 10

Trong bài viết Những kỷ niệm của tôi về văn học miền Nam, Nguyễn Đức Tùng [70] viết: “Ngôn ngữ của Phạm Thiên Thư không mới mà lại mới,

mới mà lại không mới Nhưng rõ ràng nó khác cách nói của các nhà thơ cổ điển và các nhà thơ ngoài Bắc cùng thời” Sở dĩ, Nguyễn Đức Tùng nói như

vậy bởi nhà phê bình đã nhận ra thơ Phạm Thiên Thư có nhiều nét lạ, lạ cả ở cách dùng từ, hình ảnh Lời thơ tiêu dao, thơ táo bạo, nhiều nét lạ Vậy là, không chỉ Nguyễn Đức Tùng, Võ Phiến mà tác giả Nguyên Anh [1] cũng cùng quan điểm như vậy khi nhận xét về ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư

(Phạm Thiên Thư tự cứu mình bằng thơ trên trang báo Vietnam.net số ra ngày 28/06/2009)

Lời thơ táo bạo, nhiều nét lạ nhưng thơ Phạm Thiên Thư lại dịu dàng như chính con người ông vậy: “Thơ ông dịu dàng mà cũng cay đắng, nhưng

không phải lỗi ở ông, đó là lỗi ở cuộc đời” [70]

Trịnh Y Thư với bài viết Thơ lục bát: một duyên phận long đong, đã đánh giá rất cao về mảng thơ lục bát của Phạm Thiên Thư: “Chính thi sĩ

Phạm Thiên Thư mới là người đưa thơ lục bát lên một cầu vực mới và cho nó

cơ hội thêm một lần bung nở rực rỡ trong khu vườn văn nghệ Việt Nam” Còn

về nhạc điệu trong thơ Phạm Thiên Thư thì: “Véo von như ca dao nhưng

thánh thót hơn và nếu phải so sánh với lục bát Nguyễn Bính thì “sang cả” hơn, như nhạc Mozart bên cạnh nhạc Salieri”

Trong bài viết Đường mưa nho nhỏ anh theo Ngọ về của Hoàng Nguyên Nhuận [53], để trả lời cho câu hỏi Thế nào là mới với người sáng tác

văn học nghệ thuật? tác giả viết: “Phạm thiên Thư đã không biết lấy kéo mà hớt câu ngắn câu dài cho lạ mắt Không biết biến thi ca thành những mật ngữ đồng bóng khúc mắc khó hiểu, hoặc chẳng ai hiểu gì cả vì thưởng ngoạn là đồng trật sáng tạo, đọc thơ là làm thơ Nên những vần thơ bốn chữ, năm chữ, hoặc lục bát của Phạm thiên Thư có thể trở thành vật tế thần - bên cạnh

Trang 11

những con vật tế thần khác là thơ Mới, Thơ Đường luật, trên bàn thờ Cái Mới một vài người đang hí hửng trật duột dựng lên” Cuối cùng, Hoàng Nguyên

Nhuận cho rằng: “Mỗi tác phẩm đích thực là một thực tại mới, tất yếu mới

Còn mới hay hay mới không hay lại là chuyện khác”

Trang báo phongdiep.net có đăng bài Thơ Việt, một hành trình chưa

ngừng nghỉ của Hoàng Lan [44], tác giả khẳng định: “Dẫu thế nào, thì Hoàng Cầm, Phạm Thiên Thư cũng là những thi sĩ tài hoa bậc nhất của thơ Việt Nam đương đại"

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết nghiên cứu về thơ Phạm Thiên Thư

như: Phạm Thiên Thư và ngày xưa Hoàng Thị đăng trên Vietnam.net (số ra

ngày 27/11/2005) của Trọng Thịnh Trần Văn Thưởng, Nguyễn Đức Vân, tác

giả bài viết Phạm Thiên Thư - hồn thơ ‘không ngủ yên Hoàng Nguyên Vũ với

bài Cõi lạ Phạm Thiên Thư đăng trên báo Người lao động online (ngày

19/08/2007), v.v

Nhìn chung, những nghiên cứu về Phạm Thiên Thư, thơ Phạm Thiên Thư, trong đó, chủ yếu ở mảng thơ trữ tình là chưa nhiều Hơn nữa, các bài viết về thơ trữ tình Phạm Thiên Thư chủ yếu xuất phát từ phê bình văn học, chưa có một bài viết nào tìm hiểu từ góc độ ngôn ngữ học Do đó, nghiên cứu ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư là hoàn toàn mới mẻ Đề tài của chúng tôi cố gắng nhận diện một số đặc điểm ngôn ngữ thơ trữ tình của Phạm Thiên Thư nhằm làm nổi bật một cá tính thơ độc đáo, mới lạ

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Như đã biết, Phạm Thiên Thư sáng tác rất nhiều thể loại: thơ trữ tình,

thi hóa kinh Phật, sáng tác từ điển cười để đẩy lùi tâm bệnh Ngoài ra, ông

còn nghiên cứu phương pháp chữa bệnh có tên là Phathata (pháp, thân, tâm)

Ở mỗi thể loại đều cần có một chuyên luận nghiên cứu một cách công phu và

Trang 12

toàn diện Vì giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu mảng thơ trữ tình của Phạm Thiên Thư (trong tuyển tập thơ do nhà thơ Phan Đức Nam tuyển chọn) làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn của mình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những nội dung dưới đây:

- Xác định lý thuyết về thơ, ngôn ngữ thơ, thể thơ trữ tình, đồng thời đánh giá những đóng góp của thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

- Tìm hiểu những nét đặc sắc về từ ngữ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

- Bước đầu tìm hiểu các biện pháp tu từ nổi trội trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Khi tiếp cận sáng tác của một nhà văn phải nghiên cứu toàn diện các tác phẩm của họ trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ, đó là yêu cầu có tính nguyên tắc Tuy nhiên, do nhiệm vụ có giới hạn của nó, luận văn chỉ tập trung

vào 133 bài thơ trữ tình trong Tuyển tập thơ trữ tình Phạm Thiên Thư do Phan

Đức Nam tuyển chọn, Nxb Đồng Nai, 2006

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để tiến hành thống kê, phân loại tư liệu thể hiện các đặc điểm ngôn từ thơ trữ tình của Phạm Thiên Thư

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp để xử lý tư liệu nhằm khái quát các đặc trưng ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư với một số tác giả, tác phẩm cùng thời để nhận diện những nét riêng biệt, độc đáo của ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

Trang 13

5 Đóng góp của luận văn

- Lần đầu tiên thơ trữ tình Phạm Thiên Thư được khảo sát và nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống từ góc độ ngôn ngữ Các tư liệu cùng với những nhận xét đánh giá của luận văn giúp người đọc nhận biết khá đầy đủ những nét đặc sắc trong ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư Luận văn khẳng định, về phương diện hình thức thể hiện, thơ trữ tình Phạm Thiên Thư là thế giới mới lạ và độc đáo của sự sáng tạo không ngừng, là cái hay cái đẹp trong sáng tạo

- Mặt khác, từ những kết quả nghiên cứu, chúng tôi hướng tới việc khẳng định đóng góp to lớn của Phạm Thiên Thư ở lĩnh vực ngôn ngữ thơ Những thành công đó của ông đã góp phần làm nên vẻ đẹp phong phú, đa dạng của ngôn ngữ thơ hiện đại Luận văn góp phần xác định vị trí Phạm Thiên Thư trong nền thơ Việt Nam đương đại

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn trình bày thành ba chương:

Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài Chương 2 Từ ngữ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư Chương 3 Các biện pháp tu từ và một số hình ảnh trong thơ trữ tình

Phạm Thiên Thư

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Mấy vấn đề về thơ và thơ Việt Nam đương đại

sử, có thể thấy nổi lên hai khuynh hướng chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, thần thánh hóa thơ ca, xem bản chất thơ ca là một cái gì đó huyền bí, siêu nhiên mà con người không thể lý giải được Theo đó, các nhà nghiên cứu thường lý tưởng hóa thơ ca hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca với hiện thực cuộc sống Chẳng hạn Platon cho rằng thơ là “thần hứng”, bản chất của thơ ca thể hiện trong linh cảm, những cảm giác thiêng liêng giữa thế giới cao xa của thần thánh và thế giới con người

Ở Việt Nam, những năm đầu của thế kỉ XX, các nhà thơ như Hàn Mặc

Tử, Chế Lan Viên cũng có những suy nghĩ khá cực đoan về thơ Hàn Mặc Tử

cho rằng “làm thơ tức là điên” Còn với Chế Lan Viên, “làm thơ là sự phi

thường Thi sĩ không phải là người, nó là mơ, người say, người điên Nó là tiên, là ma, là quỷ, là tinh, là yêu Nó thoát hiện tại, nó xáo trộn dĩ vãng, nó

ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được nó vì nó vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” (Tựa Điêu tàn, 1937) Như vậy, hai nhà thơ này

Trang 15

đều quan niệm thơ thoát ly hiện tại, thơ là một cái gì đó cao siêu, huyền bí và người làm thơ cũng tồn tại trong những khoảnh khắc “điên loạn”, thần bí, không bình thường Các nhà thơ nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng cho rằng

“Thơ là cái gì đó huyền ảo, tinh khiết, cao siêu… thơ là đạo, là tôn giáo, là tình yêu” Nhìn chung, các quan niệm này đều lý giải bản chất thơ ca một

cách siêu hình, không thực tế Theo họ, thơ ca là một thứ đạo - đạo sáng tác

và người làm thơ đều chung một thứ đạo Gần đây, một số nhà nghiên cứu và

cả những người làm thơ cũng cho rằng không thể đưa ra một định nghĩa về thơ, vì theo họ, một bài thơ là một định nghĩa về thơ

Thứ hai, có thể lý giải được bản chất thơ, xác lập một định nghĩa về thơ Với khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu từ xưa tới nay, từ Đông sang

Tây đã tốn rất nhiều giấy mực để trả lời câu hỏi Thơ là gì? Nhà thơ Octavio Paz cho rằng: “Nếu thiếu thơ thì cả đến nói năng cũng trở nên ú ớ” [61,

tr.132] Nhưng câu hỏi thơ là gì thì chẳng ai dám quả quyết là mình đã nhận

ra và nắm giữ được Nhưng tham vọng của con người lại muốn đi tìm cái

không thể nắm bắt được nó Vậy nên, thơ là hình văn (sự vật), thanh văn (nhạc điệu) và tình văn (cảm xúc) [28, tr.97] Thơ là cái dư âm của lời nói,

trong khi lòng người cảm xúc với sự vật mà hiện ra ngoài (Chu Hi) /Dẫn theo

[27]/ Thơ là sự phân vân giữa âm và nghĩa (P.Valéry) /Dẫn theo [27]/ Văn

xuôi thuộc về phía con người, thơ thuộc phe thượng đế (J.P.Sartre) /Dẫn theo

[27]/ Còn nữa, Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó Thơ là

ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh [38], v.v

Có thể dẫn ra hàng trăm định nghĩa khác về thơ nhưng chắc chắn vẫn chưa có tiếng nói cuối cùng Câu hỏi thơ là gì còn thách thức các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, vẫn là nỗi ám ảnh con người Bởi vì, thơ là một tổ chức có trình độ cao của ngôn ngữ, là sự tinh tế của ngôn từ Thơ trước tiên là cuộc đời, là hiện thực, là tình cảm của nhà thơ nhưng thơ còn là thơ nữa Thơ là

Trang 16

nghệ thuật của ngôn từ và những gì không phải là ngôn từ Văn xuôi mới là nghệ thuật của ngôn từ Cái điều sau chỉ có trong thơ, không có trong văn xuôi Rất nhiều câu thơ hay chỉ là hay nhờ vào cái tình của người đọc với tác giả, với toàn bài thơ mà ý nghĩa của câu thơ từ đó được sinh thành Về điều này, Crag Powell, nhà thơ, nhà phê bình, bác sĩ tâm lí người Úc cũng xác

nhận: “Thơ ca như là ngôn ngữ của vô thức và giấc mơ, bắt người ta từ các

kinh nghiệm thuộc về quá trình thứ cấp Những bài thơ làm chúng ta rung động một cách sâu xa là những bài thơ dấy lên được nỗi cảm xúc về sự hoà hợp đã mất này, khi trong giả tưởng những biên giới giữa cái tôi và người khác trở nên mờ nhạt ” /Dẫn theo [70, tr.491]/

Hơn nữa, thơ là sự thể hiện tập trung nhất chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nhưng thơ lại được sáng tạo trên sự võ đoán của ngôn ngữ Do đó, một định nghĩa thơ là gì cũng dễ rơi vào võ đoán Kết quả là, đã có quá nhiều quan niệm, cách định nghĩa về thơ Những quan niệm về thơ thay đổi tuỳ từng nền văn hoá, văn minh, thời đại, xã hội, giai cấp, tâm lí cá nhân, v.v Người nghiên cứu hay người làm thơ sẽ có những định nghĩa khác nhau về thơ Câu trả lời thơ là gì không đến từ định nghĩa thơ mà là từ ý thức về cứu cánh của thơ nói riêng, nghệ thuật nói chung Thế nhưng, theo nhà nghiên cứu Đặng Tiến [69], giới nghiên cứu thế giới hiện nay dường như đồng thuận với quan

niệm về thơ của R.Jakobson (1919): “Cách đặt đối tượng vào ngôn từ, vào

khối từ ngữ, tôi gọi đó là thời điểm duy nhất và thiết yếu nhất của thơ, đụng không những vào lối kết hợp chữ nghĩa mà còn đụng vào cái vỏ của ngôn từ

Sự liên hợp tự động giữa ngữ âm và ngữ nghĩa (le sent et le sens) nhanh chóng hơn thường lệ” /Dẫn theo [69, tr.25]/ R Jakobson còn giải thích thêm

rằng, trong thơ, từ pháp và cú pháp của chúng không phải là những chỉ dẫn dửng dưng của thực tại, mà chúng có trọng lượng riêng và giá trị nội tại Nghĩa là, trong ngôn ngữ thi ca, kí hiệu tự bản thân nó đã hoàn tất một giá trị

Trang 17

độc lập Về điều này, J.P.Sartre khẳng định thêm: Nhà thơ khước từ sử dụng

ngôn ngữ; sự khước từ sử dụng ngôn ngữ là muốn nói tuyệt đối không coi

ngôn ngữ như một kí hiệu, một công cụ giao tiếp đơn thuần Như vậy, nhà thơ phải chấp nhận một thứ lao động nhọc nhằn, khổ sai do không chịu ăn sẵn ngôn ngữ đã được tiếp thu từ khế ước xã hội mà phải đi tìm một cách biểu đạt khác Nhà thơ là người đè một ngôn ngữ khác lên tiếng nói sẵn có của cộng đồng - ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Cũng bàn về thơ, theo Phan Ngọc:

“Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ này”

[56, tr.23] Nói rằng, hình thức tổ chức ngôn ngữ của thơ hết sức quái đản là

nói trong ngôn ngữ giao tiếp không có tổ chức ngôn ngữ như thế Cách quan

niệm thơ như là mỹ học của cái khác của Đỗ Lai Thuý [68] cũng tương tự

1.1.1.2 Phân biệt thơ với văn xuôi

Vào thập kỉ 80, của thế kỷ XX, ở Pháp khởi sự cuộc tranh cãi giữa thơ với văn xuôi Có những nhà thơ khăng khăng coi ngôn ngữ thơ cao hơn ngôn ngữ văn xuôi Có những nhà thơ và vài nhà ngữ học trẻ cho rằng, không có thơ, cũng chẳng có văn xuôi mà chỉ có sự đi lại giữa hai thứ Cuối năm 2000, tạp chí thơ hàng đầu của Pháp là Láction Poétique (Hành động thơ) ra một số chuyên đề về thơ/văn xuôi, tập hợp nhiều bài viết của các nhà thơ, nhà văn, nhà lí luận phê bình, nhà ngữ học xung quanh vấn đề phân biệt thơ và văn

xuôi Trong bài Văn xuôi/ thơ: cuộc tranh cãi bị xuyên tạc, (Hoàng Hưng

dịch) tác giả Jean - Claude Montel có cái nhìn tổng thuật về cuộc tranh cãi giữa thơ với văn xuôi: Có nhà nghiên cứu phân biệt thơ với văn xuôi trên ba bình diện: chủ đề, tiết tấu và nghĩa (…) Văn xuôi phải chịu sự câu thúc của thời gian (có khởi đầu và kết thúc), không có âm luật và tiết tấu Còn thơ có

thể vừa là bây giờ vừa là kí ức của ngôn ngữ (…) Chủ đề văn xuôi mô tả,

diễn dịch, phân tích, chia tách, hợp nhất cái thực tại hoặc thông qua các nhân

Trang 18

vật, có hoặc không có câu chuyện Chủ đề thơ được thoát ra khỏi cái thường ngày, trong mọi trường hợp nó vượt ra ngoài sự tranh chấp sống/chết, thành/bại, hiện/biến (…) Trong khi, thơ áp đặt một trải nghiệm độc nhất và chưa từng có (không đầu không cuối) thì văn xuôi không thể trốn tránh sự phán đoán đồng thời của cái biểu tượng và cái tưởng tượng, bởi vì, điều mà văn xuôi tiến tới bao giờ cũng (đã) xảy ra ít nhất một lần Nhà thơ đương đại

hàng đầu Pháp Jacques Roubaud có nói: Thơ không nói gì hết trong khi văn

xuôi nói một cái gì đấy (http://www thotre.com, 17/5/2008) Cuộc tranh luận

ở Pháp, về cơ bản đã chỉ ra nhiều điểm khác biệt giữa thơ và văn xuôi Dĩ nhiên, thơ hiện đại đã và đang giải thoát khỏi những ràng buộc về thể thức, thi luật cố định Địa hạt thơ đương đại được nới rộng đường biên qua thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ hậu hiện đại, v.v Theo chúng tôi, có thể có nhiều khía cạnh

để phân biệt thơ với văn xuôi Trước hết, các nhà văn, nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ là khác nhau Trong văn xuôi, các đơn vị ngôn ngữ cùng một loạt giống nhau được tập hợp nhờ thao tác lựa chọn thông qua mối quan

hệ liên tưởng, hay nói cách khác, trong cùng một hệ hình Nhà văn có thể chọn bất kì đơn vị nào trong mối quan hệ nào trong mỗi hệ hình rồi kết hợp với nhau để tạo nên thông báo Lựa chọn đơn vị nào trong từng hệ hình cũng được nhưng không được phép lặp lại Đấy chính là nguyên lí làm việc của văn xuôi, làm việc bằng thao tác kết hợp Do đó, các thông báo trong văn xuôi bao giờ cũng dùng để nhắc gợi đến ngữ cảnh chứ hoàn toàn không phải để giải thích các đơn vị trong mỗi ngôn ngữ Trong văn xuôi, lặp là điều tối kị Nhưng chính điều tối kị đó trong văn xuôi lại là thủ pháp làm việc của thơ Trong thơ, tính tương đối của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các đơn vị thông báo Trong thơ, người ta chấp nhận từ điệp âm (phụ âm, nguyên âm, thanh điệu), điệp từ, điệp câu,… tức là, khai thác triệt để thủ pháp lặp lại các đơn vị ngôn ngữ Các nhà thơ đã tư duy trên chất liệu ngôn ngữ

Trang 19

một cách khá đặc thù, hình thành các hệ hình, rồi từ các hệ hình xây dựng thành chiết đoạn Cứ như thế, các đơn vị ngôn ngữ trong thơ chồng xếp lên nhau, thành nhiều tầng trên một bề mặt

Trong thơ, sự tương đương của các đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm một sự tương đương về ý nghĩa Nghĩa là, sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song trong thơ chính

là ở chỗ biểu thị một sự láy lại, song song trong tư tưởng

Như vậy, trong thơ, chức năng mĩ học chiếm ưu thế nhưng không loại trừ chức năng giao tiếp nên đã làm cho thông báo trở nên đa nghĩa, mập mờ,

có tính chất nước đôi Thơ do vậy là ý tại ngôn ngoại, là hàm súc vô cùng Vì sao văn xuôi là ý tại ngôn tại còn thơ là ý tại ngôn ngoại, là phải hàm súc đa

nghĩa? Văn xuôi phải xây dựng nhân vật điển hình trong một hoàn cảnh điển hình nên phải miêu tả ngoại hình, nội tâm nhân vật, bối cảnh xã hội,… nghĩa

là phải cụ thể, chi tiết nên một số câu chữ có thể giãn ra hay co lại là tuỳ ý đồ tác giả nhưng nhìn chung chúng không cô đúc như ngôn từ thi ca Khác với văn xuôi, thơ chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống cũng như những tâm sự thầm kín trong đời sống nội tâm của con người Do đó, ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình tượng, biểu cảm

và giàu sức tưởng tượng Đó là một ngôn ngữ gợi hình gợi cảm, giàu nhạc điệu Nó biến hoá hết sức kì ảo, lung linh, bất ngờ, thú vị Thơ là nghệ thuật của ngôn từ và những gì không phải là ngôn từ (chẳng hạn, thơ thị giác) Văn

xuôi mới là nghệ thuật của ngôn từ “Thơ ca như là ngôn ngữ của vô thức và

giấc mơ, bắt nguồn từ các kinh nghiệm thuộc quá trình sơ cấp và gần gũi với

sự hoà hợp nguyên sơ của tình mẫu tử hơn là ngôn ngữ văn xuôi vốn thuộc quá trình thứ cấp” (Crag Powell) /Dẫn theo [70, tr.491]/ “Thơ là tiếng lòng được cất lên từ những ám ảnh chìm sâu trong vô thức” [63]

Nếu ngôn ngữ văn xuôi là liền mạch thì ngôn ngữ thơ bao giờ cũng chia cắt thành những đơn vị tương ứng với nhau Việc tổ chức ngôn ngữ thơ

Trang 20

bao giờ cũng theo những quy luật tuần hoàn âm thanh, trong đó luôn luôn đề

ra sự chia cắt thành những vế tương đương Cách tổ chức thơ có ưu thế hơn văn xuôi bởi tính chắp khúc của nó Một bài thơ được chia thành từng đoạn, mỗi đoạn chia ra thành từng khổ, mỗi khổ có một số câu như nhau, mỗi câu

có một số chữ như nhau; các chữ này được bố trí theo một mô hình về thanh điệu, trường độ, số lượng âm tiết; mỗi câu thơ đều có sự cắt mạch thành các

vế tương đương tạo nên tiết tấu, nhạc điệu Như vậy, thơ có một kiến trúc hoàn hảo về ngôn ngữ mà văn xuôi không làm như thế Mặt khác, nội dung thông báo của văn xuôi là nội dung do cú pháp đem lại Còn ngữ nghĩa của thơ, ngoài nội dung thông báo còn có những ngữ nghĩa khác Nghĩa thông báo của thơ khác nghĩa thông báo của văn xuôi Câu văn xuôi chứa đựng một thông báo cá biệt, hạn chế về địa điểm, đối tượng, thời gian Một thông báo của thơ là phi thời gian, phi không gian, là không có giới hạn cụ thể Do đó, câu thơ nào cũng đa nghĩa, cũng chứa đựng những nỗi niềm, những ám ảnh buộc người đọc phải suy nghĩ, phải cộng cảm bằng sự trải nghiệm cá nhân Chính vì vậy, thơ là nơi tập trung nhiều cấu trúc mang tính ngoại lệ, bất quy tắc Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi

Còn nữa, khác với văn xuôi, thơ là một cấu trúc đầy nhạc tính Thơ có thể bỏ vần, không chặt chẽ về bằng trắc nhưng thơ không thể bỏ được nhịp điệu Nhạc tính trong thơ có thể thay đổi và có thể khác đi nhưng nhịp điệu thì không thể mất Nhịp điệu là phần nội tại của thơ, của bài thơ, của nhà thơ Mỗi nhà thơ chính danh phải có một nhịp điệu thơ của riêng mình Nhịp điệu làm nên sức ngân vang cho thơ, tạo sự ám ảnh cho người đọc và gợi tiếng đồng vọng của những tiếng lòng

1.1.1 3 Các bình diện của ngôn ngữ thơ

a Bình diện ngữ âm

Theo R Jakobson: “Chức năng thi ca đem nguyên lí tương đương của

trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp Tức là các yếu tố đồng vị trên trục tuyển

Trang 21

lựa (hệ hình) có thể được xuất hiện trong một thế tương quan nhất định trên trục kết hợp (cú đoạn) tạo ra những hình tượng âm thanh lặp lại những cấu trúc ngữ âm mang tính biểu trưng” [40] Dĩ nhiên, nếu quy các yếu tố như

khổ thơ, sự điệp âm, vần thơ, nhịp điệu,… vào mỗi một bình diện âm thanh thì chúng ta sẽ rơi vào tình trạng suy lí tư biện một cách không có căn cứ Việc chiếu nguyên lí tương đương lên chuỗi kế tiếp có một ý nghĩa rộng hơn

và sâu hơn rất nhiều Nó phải được hiểu như công thức của P.Valery: Thơ là

sự phân vân giữa âm và nghĩa Nhưng, để nhận diện các mặt của ngôn ngữ

thơ, chúng ta tạm trừu tượng hoá để hình dung các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp trong ngôn ngữ thơ

Trước hết, thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thẩm mĩ về ngữ âm Nói đến thơ là nói đến các yếu tố nằm trong sự vận dụng nghệ thuật hình thức âm thanh ngôn ngữ Đó là sự hoà phối về âm thanh, là ngắt dòng, ngắt nhịp, là sự hiệp vần Các đơn vị âm thanh như thanh điệu, nguyên âm, phụ âm cùng với các thuộc tính âm thanh như cao độ, cường độ, trường độ góp phần tạo nên nhạc điệu cho thơ Tiếng Việt có số lượng thanh điệu phong phú (6 thanh); các thanh có phẩm chất về âm vực (cao/thấp) và đường nét (bằng phẳng/gãy); có số lượng nguyên âm và phụ âm lớn (14 nguyên âm, 23 phụ âm), được khai thác và tổ chức trong thơ nhằm tạo nên âm hưởng, tiết tấu, nhạc điệu cho thơ Khi khai thác nhạc tính trong thơ, ta cần chú ý đến những sự đối lập sau: đối lập về trầm/bổng, khép/mở của các nguyên âm làm đỉnh âm tiết; đối lập về tắc - kêu, tắc - điếc giữa hai dãy phụ

âm mũi và phụ âm tắc - vô thanh trong các âm cuối kết thúc vần; đối lập cao thấp, bằng/trắc của các thanh điệu

Ngoài việc tổ chức các đơn vị âm thanh theo sự đối lập, vần và nhịp thơ cũng góp phần quan trọng tạo nên nhạc tính cho thơ Phát ngôn bao giờ cũng phải được thể hiện bằng một ngữ điệu Mỗi dòng thơ, câu thơ chứa trong bản

Trang 22

thân nó một loại ngữ điệu đặc biệt, người ta gọi đó là nhạc thơ Khi nhạc thơ của một thể thơ đạt đến tính ổn định và làm nên nét khác biệt thì chúng trở thành âm luật của thể thơ đó Nhạc thơ được tạo nên bởi ba yếu tố chính là âm điệu, vần điệu và nhịp điệu Tuỳ thuộc từng bài thơ cụ thể mà một trong ba yếu tố đó có vai trò nổi bật hơn Trong bất cứ bài thơ nào, vai trò của ba yếu

tố này cùng được xác lập thì thi phẩm sẽ giàu nhạc điệu, ấn tượng ngữ nghĩa càng phụ thuộc nhiều hơn vào ấn tượng ngữ âm Âm điệu là một khái niệm được xác lập trong thế tương quan với vần điệu, nhịp điệu và thanh điệu (tức

sự phối thanh) Âm điệu còn có thể được hiểu là sự hoà âm được tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện giữa các đơn vị âm thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu) có những phẩm chất ngữ âm tương đồng và khác biệt trên trục tuyến tính Về vần điệu, đây là khái niệm chưa có tính ổn định cao Vần là yếu tố lặp lại của một bộ phận âm tiết theo một vị trí nhất định trong dòng thơ (câu thơ) có chức năng tổ chức, liên kết các câu thơ (dòng thơ) thành khổ thơ, các khổ thơ thành bài thơ Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ Về nhịp điệu, có thể hiểu nhịp điệu là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng nghỉ, chỗ ngắt hơi trên những đơn vị cơ bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí đoạn thơ Nhịp là yếu tố cơ bản, là xương sống của bài thơ và là tiền đề cho hiện tượng hiệp vần trong thơ

b Bình diện ngữ nghĩa

Trong thơ, ngôn ngữ cô đọng, từ ngữ và hình ảnh súc tích, đa nghĩa Mỗi từ ngữ khi được đưa vào thơ đều đã trải qua sự cân nhắc lựa chọn của tác giả và được đặt vào những vị trí nhất định Nhà thơ phải chấp nhận một thứ

lao động nhọc nhằn, khổ sai vì “Thơ là một lạng cảm xúc cộng với một tạ mồ

hôi” [19, tr.110] Và “nhà thơ phải một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổ bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” [19, tr.118] Nhà thơ Lê Đạt

Trang 23

tự nhận mình là phu chữ, bởi theo ông: “Bất cứ một chữ nào cũng phải có

phần ngày của kí hiệu và phần đêm của sự vật Bóng chữ có thể coi là phần tiền kiếp không được hoá giải của chữ Như bóng con thuyền Trương Chi thiếu nợ hò khoan mãi lòng chén nước Mị Nương” [19, tr.13] Chữ hay bóng

chữ mà Lê Đạt nói ở đây là các đơn vị từ ngữ Nhưng do thơ là ngôn ngữ

trong chức năng thẩm mĩ của nó (R.Jakobson) nên các từ ngữ khi đi vào thơ

và kết hợp với nhau thì tính võ đoán của ngôn ngữ bị phá vỡ, không còn nét

nghĩa nguyên trạng nữa Một thực tại mới đã được hiện ra Về điều này, chính R.Jakobson cũng đã xác nhận: “Trong ngôn ngữ thi ca, kí hiệu tự bản thân nó

đã hoàn tất một giá trị độc lập” /Dẫn theo [69]/ Cũng vậy, khi J.P.Sartre

khẳng định nhà thơ khước từ sử dụng ngôn ngữ là ý muốn nói tuyệt đối không

coi ngôn ngữ như một kí hiệu, một công cụ giao tiếp đơn thuần Nhà thơ ít quan tâm đến phần biểu thị tự vị của chữ mà chủ yếu quan tâm đến phần hình dung, đến diện mạo, âm hưởng, độ vang vọng, sự gợi cảm quá khứ và tương lai của chữ trong quan hệ hữu cơ với câu thơ, với bài thơ

Không phải là thơ không cần ý tưởng Nhưng cái ý tưởng hay cảm xúc cũng như sự quan sát khách quan của nhà thơ phải trở thành máu huyết của mình Nhà thơ phải sống với nó mỗi ngày, rồi nó tự bật ra, thơ tự nhiên bật ra

thôi Muốn thế, nhà thơ phải sống với chữ nghĩa, phải ăn nằm với chữ (Dương Tường) để rồi chữ bầu nên nhà thơ Theo Hoàng Cầm: “Thơ tôi

không có thông điệp Không hề có có ý định diễn đạt một ý tưởng ra thành thơ (….) Các chữ bao giờ cũng bật ra từ tâm linh, có khi đi trước nghĩa của chúng (….) Nhưng nếu coi thông điệp là những ý nghĩa của bài thơ, người đọc nhận ra mỗi người một cách khác nhau, thì tất nhiên, bài thơ nào cũng có thông điệp cả” [7, tr.48] Khi các chữ của nhà thơ được viết ra từ những rung

động của tâm hồn, từ nhịp đập của trái tim thì cũng làm cho trái tim người đọc

rung động theo Như vậy, thơ không phải là có sẵn ý nghĩa (đã nghĩa, theo

Trang 24

cách nói của Dương Tường), thơ trước hết là sự rung động Nó còn đi trước cả

ngôn ngữ biểu đạt rồi trở thành một với nó Nhà thơ Đỗ Quyên cho rằng: Rất

nhiều câu thơ hay là “hay” nhờ vào cái tình của người đọc với tác giả, với toàn bài thơ mà câu thơ từ đó được sinh thành Nói khác đi, nếu coi mỗi bài thơ là một

từ vựng (vocabulaire) tức là cái biểu đạt để định danh cái được biểu đạt thì tính

cách võ đoán của mỗi từ vựng - thơ đó là tuỳ thuộc vào tiếng lòng của nhà thơ

Như vậy, ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong văn xuôi và có sự khác biệt với ngữ nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản cấu thành tác phẩm thi ca Dù âm thanh và ý nghĩa trong thơ được nghiên cứu một cách cô lập thì hai bình diện này bao giờ

cũng được bao hàm một cách tất yếu Bởi vì, theo R Jakobson: “Sự tương đồng

giữa các âm thanh được chiếu lên chuỗi tiết tấu như là nguyên lí cấu thành nó thế nào cũng bao hàm tính tương đồng ngữ nghĩa” [40]

c Bình diện ngữ pháp

Trong ngôn ngữ thơ, nếu như bình diện ngữ âm tương liên với bình diện ngữ nghĩa thì bình diện ngữ âm cũng có quan hệ với ngữ pháp Sự lặp lại một hình thức ngữ pháp (figure grammaticale) cùng với sự lặp lại một hình thức ngữ âm (figure phonique) là nguyên tắc cấu tạo của một tác phẩm thơ Đôi khi, những tương phản trên bình diện tổ chức ngữ pháp đã tạo áp lực đối với việc phân chia bài thơ thành những khổ thơ hoặc những phần của khổ thơ như câu thơ (dòng thơ)

về cơ bản, ngữ pháp của thơ có cơ sở từ ngữ pháp điển phạm của văn xuôi nhưng được biến đổi linh hoạt Ngữ pháp thơ là ngữ pháp tiếng lòng và kiểu ngữ pháp này cùng với văn hoá của nhà thơ làm nên giọng điệu hay phong cách riêng Mỗi nhà thơ đích thực có một ngữ pháp thơ của riêng mình

Về phương diện ngữ pháp, câu thơ, dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, ngược lại, cũng có những

Trang 25

dòng thơ chứa nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất thường về cú pháp như đảo ngữ, tách câu, câu vắt dòng, câu trùng điệp,…mà không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn bản Trái lại, chính những bất thường về cú pháp lại tạo nên những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn từ thi ca Các kiểu câu bất thường về cú pháp khi được sử dụng sẽ chuyển tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn trong thế giới nội tâm con người, giúp nhà thơ diễn đạt được những thành phần ngữ nghĩa đa dạng trong sự hữu hạn về số lượng câu chữ

Tóm lại, qua ba bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, ta thấy ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù Qua ba bình diện này, chính các nhà thơ đã đem lại cho dân tộc mình một ngôn ngữ thơ sinh động và mới mẻ

Nói như Hêghen thì “Nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở

miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ” /Dẫn theo [57]

1.1.2 Thơ Việt Nam đương đại

1.1.2.1 Khái quát về thơ Việt Nam đương đại

Kể từ cuộc tiếp xúc với văn học phương Tây từ cuối thế kỉ XIX, diện mạo nền văn học nước nhà bước đầu có sự thay đổi Thời kì thơ mới (1932 - 1945) đã hòa vào dòng thơ thế giới, qua nhịp cầu thơ ca Pháp Những gương mặt tiêu biểu Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Chế Lan Viên,…

đã làm nên “một thời đại trong thi ca” (chữ dùng của Hoài Thanh) Nhưng đặt vào hoàn cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ, văn học nghệ thuật cũng phải dồn hết tâm lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; thơ ca Việt Nam một thời kì khởi sắc lại phải gồng mình để gánh trách nhiệm nặng nề nhưng không kém vinh quang: cổ vũ phong trào đấu tranh của dân tộc

Cho đến năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, đặc biệt từ công cuộc đổi mới 1986, văn học Việt Nam mới trở lại quỹ đạo chung cùng văn học thế giới Thơ Việt Nam, một mặt, do thúc bách của xã hội, một mặt, do yêu cầu

Trang 26

tự thân của thơ, cần đổi mới, đã đang làm một cuộc chuyển đổi có tính cách mạng Nhìn lại thơ Việt Nam những năm gần đây, ta thấy thơ Việt đang làm một cuộc cách tân đầy ý nghĩa với ba nguyên nhân cơ bản:

Thứ nhất, cùng với sự thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống Mỹ, các nhà thơ cách mạng cũng đã đạt đến vinh quang của thơ ca kháng chiến Một quy luật tất yếu là, con đường nào khi đã đi đến tận cùng sẽ phải dừng lại hoặc rẽ sang một hướng khác Cảm hứng sử thi anh hùng cách mạng cùng với những thành tựu rực rỡ từng làm rung động lòng người không còn chiếm lĩnh được văn đàn và phát huy sức mạnh Sau cách mạng, các nhà thơ chú ý nhiều hơn đến đời sống cá nhân, cuộc sống thường nhật, đến những con người nhỏ bé với những tình cảm riêng tư nhất

Thứ hai, cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ về con người và thế giới thay đổi tất yếu dẫn tới sự đổi mới trong cảm hứng sáng tác Suốt một thời gian dài, thơ nằm trong một mô tuýp quen thuộc: ca ngợi, cổ vũ với những vần thơ, giọng điệu hân hoan khi chiến thắng, những cảm xúc căm thù sục sôi xen lẫn ý chí hùng mạnh thì giờ đây các nhà thơ đã có một vùng đất mới để thể nghiệm Không còn là giọng thơ ca ngợi, cổ vũ; thay vào đó là muôn vàn những cảm xúc đa dạng, phong phú, phức tạp của cuộc sống con người: vui, buồn, cô đơn, khát vọng thường nhật, v.v

Thứ ba, chính sách mở rộng, giao lưu văn hóa đã giúp chúng ta tiếp cận được nhiều trường phái thơ ca mới, những vùng thẩm mỹ mới trên thế giới Trong điều kiện đó, các nhà thơ Việt Nam không thể cứ đứng tại chỗ, gò mình trong những hình thức khuôn sáo và tư duy cũ mòn Đổi mới thơ ca là một con đường tất yếu

Chính những điều kiện đó đã tạo một bước chuyển biến mới mẻ cho thi

ca Việt Trong khi có những người vẫn kiên trì con đường đã mở, thì phần lớn những người trẻ có khát vọng làm nghệ thuật đang tìm cách khơi mở một con

Trang 27

đường mới, tìm được một lối đi riêng Đó là những nhà thơ có ý thức sâu sắc cách tân thơ Việt Họ có đủ kiến thức thi ca, có nền tảng văn hóa và xã hội sâu rộng, có bản lĩnh khám phá và cả lòng dũng cảm, bình tĩnh trước sức ép công luận, dám chấp nhận đơn độc trên con đường mới, mở ra một không gian thơ khác, tạo tiếng nói khác Họ khác hẳn số đông từ nền tảng, lý tưởng thơ ca đến cách biểu đạt ý tưởng, lập ngôn, cách tạo những chuyển động thi ảnh Thời kì đầu, đa số bạn đọc đã phản ứng quyết liệt trước một số hiện tượng thơ cách tân, thậm chí, đã chống lại những quan niệm thẩm mỹ mới lạ Nhưng thời gian khách quan đã chứng minh một số thành công nhất định của các tác phẩm (dù chưa nhiều), đủ để cho bạn đọc bình tĩnh nhận ra giá trị của những chuyển động mới

Nhìn lại những cuộc lên đường trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam,

có thể thấy chưa nhiều cây bút dấn thân thể nghiệm khuynh hướng thơ mới này Có nhiều sở cứ lý giải cho hiện tượng này Một là, bất cứ một sự cách tân đổi mới nào cũng là một sự phiêu lưu, mạo hiểm và rõ ràng là không phải ai cũng đủ bản lĩnh để làm Hai là, để có thể thể nghiệm cách tân một cách nghiêm túc, người sáng tác không chỉ cần dựa vào cảm xúc và năng khiếu mà còn phải có một nền tảng tri thức về triết học, mỹ học, ngôn ngữ học hiện đại

Ba là, chính bản thân những thể nghiệm cách tân này chưa có giá trị kết tinh lớn, chưa có sức thuyết phục cao, do đó chúng chưa nhận được nhiều sự hưởng ứng từ các cây bút khác

Có thể phân chia những tác giả tiêu biểu trong khuynh hướng cách tân thơ hiện nay thành hai nhóm: nhóm những cây bút đã có quá trình sáng tác từ trước 1975 và nhóm những cây bút xuất hiện trưởng thành sau mốc thời gian này Những nhà thơ ở nhóm đầu là những người đầu tiên nổ pháo cho sự xuất hiện của một dòng mạch thơ khác lạ gây nhiều tranh cãi như: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, v.v Phần

Trang 28

lớn các tác giả này là tiêu điểm của cuộc tranh luận sôi nổi đầu tiên về thơ hiện đại thời kì đổi mới vào những năm 1993 - 1995 Trong cuộc tranh luận

đó cũng có một số nhà thơ trưởng thành sau 1975 được chú ý như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quyến, v.v Tuy nhiên, phải đến cuộc tranh luận lớn thứ hai, bắt đầu từ năm 2001, nhóm tác giả này mới thực sự trở thành đối tượng trung tâm Các cây bút được nhắc tới nhiều nhất có thể kể tới:

Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ly Huyền Ly, Văn Cầm Hải,… hầu hết là những người rất trẻ, ở độ tuổi 20 - 30 Có thể thấy, nhiệt tình đổi mới thơ thể hiện rất quyết liệt ở những người trẻ Họ là những người có một sức bật mạnh mẽ, có khả năng dồi dào trong việc tiếp cận và sáng tạo cái mới Sự tham gia của các cây bút trẻ vào cuộc chơi mạo hiểm này khiến người ta có thể nghĩ nhiều hơn đến triển vọng của thơ đương đại Sự xuất hiện của những cây bút trẻ đầy nhiệt huyết như vậy cũng minh chứng cho thấy hướng đi mà một số nhà thơ tiên phong như Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng,… mở ra không phải là hoàn toàn vô ích như một số nhà phê bình nhận định Việc dấn thân vào những tìm tòi thể nghiệm chắc chắn không phải là sự chạy theo một cách mù quáng những trào lưu thơ ca hiện đại phương Tây như một số nhà phê bình quy chụp Theo chúng tôi, đó

là những bước chuyển biến mang tính tự giác rất cao của những tác giả thật sự muốn tìm cho mình một hướng đi khác ra ngoài truyền thống

1.1.2.2 Về sự biến đổi ngôn ngữ thơ trong thơ Việt đương đại

Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, mỗi loại hình thơ khác nhau có một kiểu sử dụng ngôn ngữ khác nhau Nếu thơ ca dân gian đi vào lòng người đọc với những ngôn từ bình dân, giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống thường ngày; nếu thơ ca cổ điển được tạo nên bởi những công trình chế tác công phu, theo một khuôn mẫu nhất định với những lớp từ thanh nhã, trang trọng, cổ kính thì thơ ca hiện đại lại rất gần gũi với ngôn ngữ đời sống, chấp nhận nhiều

Trang 29

yếu tố của ngôn ngữ sinh hoạt Thơ hiện đại là sự thay thế câu thơ điệu ngâm bằng câu thơ điệu nói Và "Với câu thơ điệu nói, giọng điệu cá thế của người

sáng tạo được giải phóng để trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của thơ” [63, tr.82]

Thơ Việt Nam trước 1945 và sau 1945 có những sự khác biệt rõ rệt Trước 1945, thơ mặc dù đã đi vào quĩ đạo của con đường hiện đại hóa, nhưng

do sự chi phối của cái tôi cá nhân, thơ chỉ quan tâm đến đời sống của con người cá thể Thơ lãng mạn là một loại hình có những đặc điểm riêng Đó là thứ thơ thể hiện tiếng nói riêng tư nhất của chủ thể trữ tình Tương ứng với điều đó là cảm hứng thi vị hóa cuộc đời Những gì đi vào thơ phải là cái đẹp, của thiên nhiên hoặc của đời sống Ngôn ngữ thơ được trau chuốt để thể hiện cái đẹp tao nhã, thanh khiết, mang màu sắc lý tưởng hóa Về nhạc điệu, thơ lãng mạn ưa sự du dương, trầm bổng, êm mượt, nhẹ nhàng Đó là thứ âm điệu

có sức mê hoặc lòng người

Sau 1945, thơ Việt có sự biến đổi rõ rệt cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Cái tôi cá nhân bị phế bỏ, thay vào đó là tiếng nói của

cái ta đại diện cho đại cộng đồng Khẩu hiệu dân tộc, khoa học, đại chúng được giương lên từ năm 1943 với Đề cương văn hóa Việt Nam giờ đây phát

huy hết hiệu lực của nó Nhân vật chính của nền văn học là công nông binh Tính dân tộc và tính đại chúng được xem là phẩm chất hàng đầu của văn học, nhất là thơ ca Những tìm tòi về hình thức nhiều khi bị hiểu lầm Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi là một ví dụ tiêu biểu Một nền thơ như thế, dĩ nhiên, ngôn ngữ của nó phải hoàn toàn khác với ngôn ngữ thơ lãng mạn trước

đó Trong nền thơ kháng chiến, ta bắt gặp những từ ngữ chính trị, những cách nói mộc mạc nôm na mang ngữ điệu của ngôn ngữ sinh hoạt Những đặc điểm

ấy có mặt trong tác phẩm của nhiều nhà thơ, ngay cả với những cây bút từng lẫy lừng trong thời kì Thơ mới

Trang 30

Sau hoà bình lập lại, Trần Dần, Lê Đạt là những người tiên phong hối

hả đi tìm những phương thức biểu đạt mới cho thơ Việt Các ông đưa vào thơ những từ chính trị, xã hội, thậm chí cả những từ hành chính, từ khẩu ngữ làm chúng phát lộ những nghĩa mới, tạo ra những cách nhìn mới về thực tại Còn những từ quen thuộc với thơ bị dồn vào chân tường hoặc bị vặn xoắn để chúng bật ra nghĩa mới, khác với nghĩa quen dùng

Một cái nhìn bao quát như thế về đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam là rất cần thiết trước khi đi vào nghiên cứu ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư Những gì đã thể hiện trong nền thơ Việt giai đoạn này đều có thể in dấu ấn trong tác phẩm của những nhà thơ tiêu biểu, mà Phạm Thiên Thư là một trong số đó

1.2 Thơ trữ tình và thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

1.2.1 Khái quát về thơ trữ tình

Sự đổi mới thi ca bao giờ cũng gắn liền với việc đổi mới chất thơ, đổi mới phẩm chất trữ tình của thơ Mỗi thời đại thi ca đều có những nội dung trữ tình chính yếu của thời đại mình Mỗi nhà thơ cũng có nội dung trữ tình riêng

Nếu ngày xưa “Các cụ ta chỉ thích cái bóng trăng vàng rọi ở trên mặt nước,

ta lại thích cái ánh nắng mặt trời buổi sáng lấp lánh, vui vẻ ở đầu ngọn tre xanh Các cụ ta ưa màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt…Các cụ bâng khuâng vì một tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì một tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh ngắt Cái tình của các cụ là hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình, muôn trạng, cái tình

xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” [30, tr.179]

Ngoại trừ những chỗ thái quá, ý kiến trên đã nói rõ quan niệm thẩm mỹ của thơ trữ tình: thay đổi cảm xúc thơ, thay đổi nội dung trữ tình Điều này

Trang 31

cực kỳ quan trọng Nhìn và cảm nhận cuộc đời, nhìn và cảm nhận thiên nhiên, tạo vật không còn như cũ nữa, mà với những rung động mới, rung động của trái tim và khối óc của những người cảm nhận rõ vận mệnh, sự sống của mình

có nhiều liên hệ tinh vi và chặt chẽ với cuộc đời rộng lớn, với tạo vật muôn trùng, với thời gian vô tận

Nội dung trữ tình khi thể hiện ở những nhà thơ khác nhau lại có những đặc điểm khác nhau Với Lưu Trọng Lư sẽ là những gì tạo nên cái mơ màng,

ngơ ngác trước cuộc đời; với Nguyễn Bính sẽ là những câu chuyện tình chân

quê dang dở, với Chế Lan Viên sẽ là nỗi đau của một bóng ma Hời sờ soạng đêm mơ, với Huy Cận sẽ là những vần thơ nối với mạch sầu nghìn năm trước vấn ngấm ngầm trong cõi đất này, v.v

Có lẽ, chưa bao giờ thơ trữ tình lại xôn xao, nhộn nhịp như thế Và cũng chính những vần thơ trữ tình đầy phiêu du, mộng ảo đã khiến cho một ông thầy tu không còn chuyên tâm vào những trang kinh kệ như trước nữa mà

đã thi hóa chúng thành những bài thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ đọc Tu sĩ Phật giáo mà làm thơ, lại là những bài thơ trữ tình - nghe ngồ ngộ nhưng điều đó

rất đúng với Phạm Thiên Thư Và chính cái điều ngồ ngộ này đã biến Phạm Thiên Thư thành một hiện tượng lạ trong nền thi ca miền Nam lúc bấy giờ

Bàn về thơ trữ tình mà không nhắc đến Phạm Thiên Thư quả là một thiếu xót rất lớn cho chúng ta

1.2.2 Thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

1.2.2.1 Vài nét về Phạm Thiên Thư

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1940, xuất thân trong một gia đình có truyền thống làm Đông y Phạm Thiên Thư sinh ở Lạc Viên, Hải Phòng nhưng lại sinh sống tại trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951) Từ năm 1954 đến nay, ông sống tại Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh Từ năm 1964 đến năm 1973, Phạm

Trang 32

Thiên Thư là tu sĩ Phật giáo, làm thơ và sau đó hoàn tục để tu tại gia Năm

1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm hậu Kiều - Đoạn

Trường Vô Thanh Từ năm 1973 đến năm 2000, ông nghiên cứu, sáng lập và

truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp - Thân -

Tâm), Du lịch Khoa học Từ thiện trực thuộc Liên hiệp khoa học công nghệ ứng dụng tin học (U.I.A) trong hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam nhằm điều trị Thân tâm và Trí bệnh

Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (Thơ, 1971); Đạo Ca (Phạm Duy phổ nhạc); hậu Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh, 1972; Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú);

Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ); Kinh Hiếu; Kinh Hiền (thi hóa Kinh Hiền

Ngu) gồm 12.000 câu lục bát; Ngày Xưa Người Tình (thơ); Trại Hoa Đỉnh

Đồi (thơ, 1975); Thơ Phạm Thiên Thư (Nxb Đồng Nai, tái bản 1994); Vua Núi Vua Nước (2003); Từ Điển Cười (2005)

Các bài thơ đã được phổ nhạc: Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm

Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, Em Lễ Chùa Này, Huyền Thoại Trên Một Vùng Biển, Loài Chim Bỏ Xứ (nhạc Phạm Duy); Như Cánh Chim Bay (nhạc Cung Tiến); Guốc Tía, Đôi Mắt Thuyền Độc Mộc (nhạc Võ Tá

Hân); Độc Huyền (nhạc Nguyễn Tuấn); Động Hoa Vàng (nhạc Trần Quang

Long), v.v

1.2.2.2 Thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

a Chất thiền trong ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư

Bất ngờ xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng năm 1969 Đoạn Trường Vô

Thanh của nhà thơ Phạm Thiên Thư với 3254 câu thơ được tác giả viết như là

hậu Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của thi hào Nguyễn Du Những năm tiếp theo, Nguyễn Du có Văn chiêu hồn thì Phạm Thiên Thư có Chiêu

Hồn Ca Phật giáo có Kinh Kim Cương, Kinh Hiền Ngu thì Phạm Thiên Thư

cũng có Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, v.v

Trang 33

Thơ Phạm Thiên Thư cứ vướng vít nửa đời, nửa đạo khiến cho độc giả cảm thấy như đang lạc vào xứ sở thần tiên nào đó, nơi có động hoa vàng với

những trang kinh kệ; với tiếng khánh, tiếng chuông phảng phất thiền: Ta về rũ

áo mây trôi/ Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan/ Rằng xưa có ngã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say (Động Hoa Vàng)

Lấy các giáo lý của đạo Phật làm nền cho tư tưởng, thế giới thơ ca của Phạm Thiên Thư mang khát vọng dấn thân táo bạo muốn Việt hóa, thi hóa, trẻ hóa đạo Phật Phạm Thiên Thư đã cả gan viết lại kinh Phật bằng ngôn ngữ của thi ca và người đã tỏ ra khá tinh tế, lịch lãm, trung thành với nguyên bản ý kinh

Phạm Thiên Thư viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà

Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn Dĩ nhiên,

Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm

Thiên Thư nhưng nó đã làm nên một thương hiệu của Phạm Thiên Thư

Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc

đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo: Đợi nhau tàn

cuộc hoa này/ Đành như cánh bướm đồi Tây hững hờ/ Tìm trang lệ ố hàng thơ/ Chữ xưa quyên giục bây giờ chim đi

Thử làm một cuộc thống kê những từ ngữ thường xuyên trở đi trở lại trong thơ Phạm Thiên Thư, ta thấy xuất hiện rất nhiều những cõi Niết bàn, hạt

mê luân hồi, thiền, tiếng chuông, tiếng khánh xen lẫn với những dòng kinh kệ,…toàn là những thứ thuộc về nhà Phật, nơi có một tâm hồn đang toàn tâm

toàn ý hướng về: Nơi ấy cõi Niết bàn/ Muôn hàng thơ vỗ cánh/ Ta tự làm thần

thánh/ Phán những lời bâng khuâng (Hang mặt trời)

Vốn là một tu sĩ Phật giáo làm thơ tình nên trong thơ Phạm Thiên Thư, tình yêu ở đây không đơn thuần là tình yêu đôi lứa mà nó luôn được bao bọc

bởi một tình yêu còn to lớn hơn, đó là tình yêu Phật giáo: Em làm trang tôn

kinh/ Anh làm nhà sư buồn/ Đêm đêm buồn tụng đọc/ Lòng chợt nhớ vương vương/ Đợi nhau từ mấy thuở/ Tìm nhau cõi vô thường… (Pháp Thân)

Trang 34

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư là những cảm xúc thánh thiện, kín đáo với một chút bẽn lẽn: yêu nhau mà không dám tay trong tay, vì sợ tình sẽ tan biến thành khói sương:Anh trao vội vàng/ Chùm hoa mới nở/ Ép vào cuối

Điều đặc biệt, chất thiền trong thơ Phạm Thiên Thư còn được bao phủ bởi một màu vàng rực rỡ: sắc vàng của nhà Phật - màu vàng tượng trưng cho hoàng đạo; màu vàng của những cây mai đang mùa nở rộ; ngay cả cái tên

Phạm Kim Long (tên thật của Phạm Thiên Thư) cũng có nghĩa là con rồng

(Động Hoa Vàng)

Giờ đây, khi không còn là một tu sĩ, cái sắc vàng rực rỡ đó cũng được Phạm Thiên Thư mang ra giữa cuộc đời thường khi đặt tên cho quán cà phê

nhỏ của mình là Hoa vàng Phạm thi sĩ không lên non tìm động hoa vàng nữa

mà lui về ở ẩn với chất thiền của riêng mình

b Chất trữ tình trong ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư

Nhạc sĩ Phạm Duy có tài phổ nhiều bài thơ thành những tình ca nổi tiếng Nhưng cũng phải nói ngược lại, nhiều nhà thơ đã có những câu thơ gợi được cảm hứng cho nhạc sĩ, không ít câu ám ảnh người nghe nhiều năm không dứt, trong số này có Phạm Thiên Thư Điều thú vị ở chỗ, Phạm Thiên Thư vốn là một tu sĩ, nhưng như cách gọi của nhiều người: vị tu sĩ lãng mạn Chất trữ tình đã ăn sâu vào trong con người Phạm Thiên Thư ngay từ khi còn nhỏ Nhà thơ họ Phạm từng tâm sự, thuở nhỏ, cha ông rất muốn sau này cậu con trai của mình sẽ trở thành một chiến sĩ có đủ dũng khí để phục vụ dân tộc Thế nhưng, cậu bé Phạm Thiên Thư ngày nào lại là người sống rất tình cảm, hàng ngày theo bố lên núi Phụng Hoàng hái thuốc, cậu thường ngồi hàng giờ

để nhìn ngắm đất trời mênh mông

Một sư ông làm thơ tình, muốn tu nhưng bị nàng thơ níu chặt Vì vậy, giờ đây ta mới có dịp được thưởng thức những thi phẩm có thể sống mãi với

Trang 35

thời gian, đã làm nên tên tuổi Phạm Thiên Thư Có điều, ta cũng không ngờ

một ông sư lại có thể lãng mạn, tình tứ, ngập ngừng đến thế: Môi em cong một

thuyền tình/ Chở thơm cái mộng xinh xinh như là (Ngồi chờ)

Ngập ngừng, bối rối, nên hàng ngày chàng trai Phạm Thiên Thư chỉ

còn biết lẽo đẽo theo sau cô bạn cùng lớp mỗi buổi tan trường về: Anh đi theo

hoài/ Gót giày thầm lặng/ Đường chiều úa nắng/ Mưa nhẹ bâng khuâng

(Ngày xưa Hoàng Thị)

Và khi tình yêu không thành, thiền sư cũng bâng khuâng, nhớ nhung

không khác gì người phàm trần: Người đã theo chồng từ mấy thuở/ Bâng

khuâng buồn gió lướt thềm hoa (Gió xưa)

Chất trữ tình trong ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư là tình yêu đôi lứa, tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước Bất cứ điều gì thể hiện trong thơ họ Phạm cũng đều chứa đựng một tình cảm trầm lắng nhưng sâu

xa đến tận đáy lòng Ngôn ngữ thơ Phạm Thiên Thư là một thứ ngôn ngữ bình dị, thân thuộc với những cội hoa, tiếng chuông, tiếng khánh, với hình ảnh của em, của tôi và của vô vàn các loài hoa (nhưng chủ đạo vẫn là những bông hoa với sắc màu vàng của đạo Phật) Đọc thơ Phạm Thiên Thư, người đọc có cảm giác đây là một con người có óc quan sát tinh tế

và vô cùng nhạy bén: Nền chợ xưa giờ họp lách lau/ Hỏi cô hàng xén dạt

về đâu?/ Đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc/ Tan giữa nền hoang nhóm lửa sầu,… (Đom đóm)

Hay những câu thơ đầy triết lý về lẽ sống ở đời như trong bài Đao phủ:

Ngày xưa đao phủ chặt đầu người/ Mỗi lá đao là lá máu tươi/ Ngày sau đao phủ chặt đao phủ/ Lá thép vằn lên một chuỗi cười

Theo Phạm Thiên Thư, con người sống ở đời quý nhất là chữ Tâm, thế nhưng không phải ai cũng thấu hiểu điều đó: Chiếc thuyền neo một chữ Tâm/

Trách chi thiên hạ - âm thầm nước xuôi (Núi Phụng Hoàng)

Trang 36

Trong thơ Phạm Thiên Thư, thiên nhiên thật hiền hòa, thơ mộng với trăng, sao, hoa bướm, có tiếng chim hót bên đồi, với làn gió bịn rịn, cánh tơ hồng thời gian… Đặc biệt, trăng ở đây được Phạm Thiên Thư ví như một nàng thiếu nữ xinh đẹp đang nằm khỏa thân bên đồi khiến tác giả phải ganh tị với chàng Lí Bạch xưa kia mải mê ôm nàng trăng đến nỗi nhẩy xuống sông tự vẫn Thiên nhiên và con người trong thơ Phạm Thiên Thư sống hòa bình với nhau, gắn bó với nhau Bằng chất liệu ngôn ngữ bình dị nhưng rất tinh tế, nhà thơ họ Phạm đã vẽ ra trước mắt chúng ta một khung cảnh sao mà nên thơ,

trong sáng đến vậy: Em bên bờ tưới hoa/ Nghiêng nón cười khúc khích/ Có

bầy gà lích chích/ Vui mối tình đôi ta (Tiếng chim bên đồi)

Thơ trữ tình Phạm Thiên Thư là nhật kí của một hành trình đi tìm tình yêu và cái đẹp, là tiếng lòng hoá thân, thăng hoa từ những trải nghiệm thường ngày, từ những kỷ niệm ngày xưa chợt ùa về được nói bằng một giọng hồn nhiên, bằng cách nói tưởng như vu vơ, không có gì phải để ý Nếu như Bùi Giáng phiêu du vào tâm linh trong lục bát thì Phạm Thiên Thư làm thơ trên những cảm nhận từ tâm hồn biết yêu thương, trân trọng những gì đang diễn ra trong cuộc sống Nếu Nguyễn Duy tài hoa, nhiều chữ, vẩy bút thành thơ thì Phạm Thiên Thư cũng không ít lần tự nhận mình làm thơ trong vô thức, đó là

những lúc ông mượn bút của trời (chữ của Đồng Đức Bốn), nên có vẻ như

nhiều câu thơ hay của ông là những câu thơ trời cho

Đọc thơ Phạm Thiên Thư, ta cứ hình dung nhà thơ như một ông sư tay cầm

tràng hạt, miệng nam mô nhưng mắt vẫn len lén trông về cõi tục Nhà thơ đã thấy

biết bao điều trong cuộc sống trần gian này, từ thiên nhiên, cây cỏ đến con người với những lo toan của cuộc sống, những vui buồn, đau khổ mà kiếp người trải qua

Có lẽ, duyên trần chưa dứt nên thiền sư lại quay trở về với đời thường, tiếp tục trào thơ để vui với niềm vui nhân loại, buồn với nỗi buồn nhân thế Và Phạm Thiên Thư đã chỉ cho chúng ta thấy một trong những quy luật của cuộc đời, đó là:

Cái vui chỉ có một thời/ Cái buồn đeo đẳng khó rơi lần hồi.

Trang 37

1.3 Tiểu kết chương 1

Thơ là một nghệ thuật ngôn từ độc đáo, mới lạ Đặc trưng của ngôn ngữ thơ chủ yếu được thể hiện ở các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, trong đó bình diện ngữ âm là hết sức quan trọng Thơ trữ tình là nơi thể hiện tâm tư, tình cảm, là nhịp thở của tâm hồn người Việt từ ngàn xưa đến nay Ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư trong sáng, giản dị, nhưng ý tưởng thì lãng đãng, phiêu du Thơ chính là nơi ông bày tỏ những điều tai nghe mắt thấy, những rung cảm của một con người luôn dõi theo từng nhịp thở của cuộc sống nên có nhiều nét độc đáo ở cả phương diện nội dung và hình thức thể hiện Không chỉ ở thơ lục bát mà thơ Phạm Thiên Thư rất đa dạng, phong phú ở các thể 4 chữ, 5 chữ và 7 chữ, v.v Do đó, ở các chương tiếp theo, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát một số nét đặc sắc của ngôn ngữ thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

Trang 38

Chương 2

TỪ NGỮ TRONG THƠ TRỮ TÌNH PHẠM THIÊN THƯ

2.1 Từ trong tiếng Việt và từ trong văn chương

2.1.1 Giản yếu về từ trong tiếng Việt

2.1.1.1 Khái niệm từ

Từ là đơn vị cơ bản trong ngôn ngữ, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản Từ gồm hai mặt: hình thức âm thanh (cái biểu đạt) và ý nghĩa (cái được biểu đạt) Từ là đơn vị hết sức quan trọng, giống như “viên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ” [51]

Hiện tại, có rất nhiều định nghĩa về từ Theo Nguyễn Tài Cẩn: “Từ là

đơn vị nhỏ nhất, có thể vận dụng độc lập trong câu” [8] Cùng quan điểm

này, các tác giả Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt khẳng định cụ thể hơn: “Từ

là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [13, tr.170] Còn theo Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh

và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [51, tr.18] Tác giả Đỗ Hữu

Châu nhấn mạnh: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất

biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc một kiểu cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11, tr.139]

Trên đây là một số định nghĩa khá tiêu biểu về từ Chúng tôi chọn định nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở để khảo sát các lớp từ nổi trội trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư

2.1.1.2 Vấn đề phân loại từ

Như chúng ta đã biết, từ là một đơn vị ngôn ngữ vô cùng phức tạp, vì vậy việc phân loại từ trong tiếng Việt cũng không hề đơn giản Dựa vào các

Trang 39

tiêu chí khác nhau, dĩ nhiên, các kết quả phân loại sẽ khác nhau Lâu nay, trong các sách vở Việt nữ học, người ta thường nói đến các cách phân loại từ dựa vào các tiêu chí gồm:

1/ Dựa vào cấu tạo, 2/ Dựa vào nguồn gốc, 3/ Dựa vào phạm vi sử dụng, 4/ Dựa vào quan hệ âm - nghĩa, 5/ Dựa vào đặc điểm ngữ pháp Năm cách phân loại này đều được sử dụng rộng rãi để xác lập hệ thống vốn từ tiếng Việt Các kết quả phân loại cho thấy từ tiếng Việt hết sức phong phú, đa dạng trong hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ cũng như trong hệ thống - chức năng Để

có cơ sở khảo sát những nét đặc sắc về từ ngữ trong thơ trữ tình Phạm Thiên Thư, chúng tôi chỉ quan tâm cách phân loại từ dựa vào cấu tạo Theo đó, từ

tiếng Việt gồm từ đơn và từ phức Từ đơn là từ chỉ có một hình vị, như nhà,

xe, ăn, chạy, đẹp, xấu, cao, thấp, v.v Từ phức là những từ gồm hai hình vị

trở lên, tức là, được cấu tạo phái sinh từ các từ đơn, như nhà xe, máy móc, nhà

cửa, đẹp đẽ, thấp thoáng, cao cao, v.v Các từ phái sinh (từ láy, từ ghép) có

tính lí do ở một mức độ nhất định giữa hình thức âm thanh và nội dung ý

nghĩa Chẳng hạn, các từ đơn xe, đạp trong tiếng Việt có tính võ đoán rất cao, nhưng khi tạo thành từ ghép xe đạp, thì từ này đã có mức độ của tính có lý do:

xe có/phải đạp mới đi được Tương tự, từ đơn mờ có tính võ đoán cao, nhưng

từ láy mập mờ là có thể lí giải được nghĩa của nó: trạng thái chỗ mờ, chỗ tỏ

không đồng đều

Từ tiếng Việt tạo thành một hệ thống bao gồm nhiều tiểu hệ thống Chẳng hạn, những từ có cấu trúc hay đặc điểm cấu tạo giống nhau tập hợp thành một tiểu hệ thống Theo một quan niệm phổ biến, tiếng Việt có một hệ thống từ đơn, từ láy, từ ghép Mỗi hệ thống đó lại còn phân biệt thành một số

hệ thống nhỏ hơn nữa Theo đó, có thể hệ thống hoá từ tiếng Việt thành bảng dưới đây

Trang 40

Bảng 2.1 Từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo

Từ đơn Từ đơn một tiếng nhà, xe, ăn, chạy, đi, vì,…

Từ đơn nhiều tiếng bồ hóng, mà cả, xi măng,…

Từ láy Từ láy hoàn toàn đỏ đỏ, xanh xanh,…

Từ láy bộ phận lập loè, lạch cạch,…

Từ ghép Từ ghép hợp nghĩa đất nước, nhà cửa, xinh đẹp,

Từ ghép phân nghĩa xe đạp, nhà máy, cá chép,…

2.1.2 Từ trong văn chương

Một tác phẩm văn chương là sự tổng hợp của rất nhiều các đơn vị ngôn ngữ như từ, câu, đoạn văn (đoạn thơ),… nhưng đơn vị đầu tiên và cơ bản nhất

đó chính là từ ngữ Đỗ Hữu Châu nhận định: “Trong tiếng Việt, những bản

sắc độc đáo cũng là bản sắc của từ” [11]

Theo quan điểm của lí luận văn học hiện đại, cấu trúc của văn bản văn chương được tạo nên từ ba yếu tố cơ bản, đó là văn bản ngôn từ, hình tượng

văn học và ý nghĩa; trong đó, “Văn bản ngôn từ là yếu tố nền tảng của cấu

trúc văn bản nghệ thuật, đảm bảo sự tồn tại ổn định và chất văn của nó Yếu

tố này gồm mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và đặc sắc thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật (như vần, nhịp, sự trùng điệp, nói lái…” [Trần Đình Sử, Lí luận văn học, tập 2, Nxb Giáo dục, H 2002, tr.40]

Tô Hoài gọi đó là chủ nghĩa tiếng nói trong sáng tác văn chương: “Làm

sao cho mỗi chữ là một hạt ngọc trên bản thảo, hạt ngọc mới nhất của ta tìm được, do phong cách văn chương của ta mà có được Trang sách mà không

có ngọc, trang bản thảo không có chữ thần, không có tinh hoa chữ thì cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, biết lấy gì mà sống được, không có chữ ngon, chữ bổ nuôi nó, trang viết gầy gùa trống rỗng rồi chết héo”[33, tr.9]

Cũng là việc sử dụng ngôn ngữ, nhưng so với trong tác phẩm văn xuôi,

từ ngữ trong thơ có những đặc trưng riêng Xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên Anh, Phạm Thiên Thư tự cứu mình bằng thơ, Vietnam.net, ngày 28/06/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thiên Thư tự cứu mình bằng thơ
2. Arixtote (2007), Nghệ thuật thơ ca, Lê Đình Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà dịch, Đoàn Tử Huyến hiệu đính, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtote
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
3. Diệp Quang Ban (1995), “Một hướng phân tích câu từ mặt sử dụng, ý nghĩa, ngữ pháp”, Ngôn ngữ, số 4, tr.25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng phân tích câu từ mặt sử dụng, ý nghĩa, ngữ pháp”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1995
4. Võ Bình (1975), Bàn thêm về vần thơ, Ngôn ngữ, số 3, tr.9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vần thơ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1975
5. Võ Bình, Lê Anh Hiền (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
6. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Tài Cẩn (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Đỗ Hữu Châu (1984), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
10. Đỗ Hữu Châu (1990), “Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, Ngôn ngữ, số 2, tr.8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1990
11. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Trương Chính (1990), “Từ ngôn ngữ đến văn chương: dùng từ”, Ngôn ngữ, số phụ, tr.23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ đến văn chương: dùng từ
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1990
13. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2002), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
15. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình, nhìn từ góc độ loại hình, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình, nhìn từ góc độ loại hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
16. Phan Huy Dũng (2001), “Nhận diện nhịp điệu trong thơ trữ tình”, Ngôn ngữ, số 3, tr.12-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu trong thơ trữ tình”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2001
17. Hữu Đạt (1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
18. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
19. Lê Đạt (2007), Đối thoại với đời và thơ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại với đời và thơ
Tác giả: Lê Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2007
20. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
22. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w