Đề tài Cảm thức thiền trong thơ Phạm Thiên Thư tập trung nghiên cứu hành trình thơ Phạm Thiên Thư từ góc độ thiền; cảm thức thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ quan niệm về thế giới và con người; cảm thức thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ nghệ thuật biểu hiện.
Trang 1NGUYÊN THỊ TRÚC ĐÀO
CAM THUC THIEN TRONG THO
PHAM THIEN THU’
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2—ca[Hmo
JYÊN THỊ TRÚC ĐÀO
CAM THUC THIE
PHAM THIEN THU’
g - Năm 2013
Trang 3Toi cam doan dây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bồ trong bắt kỳ công trình nào khác
Người cam đoạn
Nguyễn Thị Trúc Đào
Trang 4CHƯƠNG I: HÀNH TRÌNH THƠ PHẠM THIÊN THƯ TỪ GÓC ĐỘ
1.1.2 Sơ lược về tỉnh thần Thiển trong văn học phương Đông 16
12 PHAM THIEN THƯ~ TỪ CUỘC ĐỜI ĐỀN NHỮNG TRANG THƠ 28
CHƯƠNG 2: CẢM THỨC THIÊN TRONG THƠ PHẠM THIÊN
THU NHÌN TỪ QUAN NIỆM VỀ THÊ GIỚI VÀ CON NGƯỜI 40
Trang 5
3.1.1 Lời vô ngôn ~ «dĩ tâm truyền tâm » 83
QUYET DINH GIAO DE T
LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 61.1 Thơ là“Tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn” [41,
tr6S] "Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm,
chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa” [9] Việc định nghĩa thơ đã là điều khéng dé, di tim một định nghĩa cho những vẫn thơ mang cảm thức Thi
cảng là điều không thể Đúng như Nguyễn Đình Thi đã nhận định: *Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về thơ, nhưng lời định nghĩa nào cũng vẫn không đủ” [4I, tr.62] Song, ta có thể ghỉ nhận điểm gặp gỡ ở các nhà bình luận về thơ : Thơ là tiếng
lòng, là tiếng nói của trái tim Vì thế, chạm vào thơ là chạm khẽ vào tâm hồn
con người Lấy mảnh đất trữ tình để ươm hạt giống ngôn từ, thơ ca đã đến với
tâm hồn bằng sợi dây tơ đàn của chính nó để khơi dậy những thắm mĩ tuyệt
đẹp, thanh lọc tâm hồn con người và nâng cánh những ước mơ, khát vọng Và thơ ca cũng chính là nơi để con người có thể được trải lòng mình với cuộc đời, với con người Vì vậy mà từ xưa đến nay, thơ luôn được xem là một thể loại văn học nằm ngoài sự băng hoại của thời gian
Là thi nhân, những người thơ đã đem đến cho đời những vẫn thơ tuyệt đẹp vượt qua cả không - thời gian để đến với cõi lòng của mỗi con người, gợi lên những dư ba, đánh động tâm thức con người những tình cảm thâm mĩ về cái Thiện trong cuộc đời và cái Đẹp của muôn đời Đặc biệt hơn, ấn tượng
hơn khi những vẫn thơ tuyệt đẹp ấy có sự hòa điệu với vẻ đẹp của Đạo, mang,
âm hưởng nhẹ nhàng, bảng lắng của Thiền tạo nên một sắc điệu riêng khó trộn lẫn Thơ Phạm Thiên Thư đã là một trong những tiếng thơ như thế Một bóng người xa, một nhành hoa, một tiếng chuông chùa vang ngắn, một “Động, Hoa Vàng” hay đôi lời * Vô Thanh” đều được tác giả cảm nhận bằng tất cả
Trang 7mỗi trang thơ, được tô điểm bởi những bông hoa vàng lắm tắm như làn mưa bay, với lớp hình ảnh của cỏ hoa đã được cách điệu, với những khoảng không,
như những nốt lặng trên từng giai điệu huyền diệu trong tiếng thơ của Phạm
“Thiên Thư
1.2 Đến với thơ Phạm Thiên Thư là đến với một tiếng thơ hay và đẹp Trong giai đoạn 1960-1975, cũng như nhiều thi sĩ miền Nam khác, thơ Phạm Thiên Thư chưa được chú ý đến một cách đầy đủ nên chưa thể nhận ra hết những giá trị nghệ thuật trong các sáng tác của ông Vì vậy, để có một cái
toàn diện, một sự ghỉ nhận thỏa đáng và trên hết là khẳng định thành tựu
rực rỡ nền thơ ca Việt Nam hiện đại (ở cả hai miền Nam, Bắc) thì không thể
bỏ qua sự đóng góp của dòng thơ trữ tình với bộ phận các thi sĩ miền Nam trong những thập niên 60 -70 ca thế kỷ XX, mà Phạm Thiên Thư là một
trong những số đó Ông là nhà thơ đã có được những đóng góp không nhỏ
cho thơ Việt Nam hiện đại ở mién Nam trong giai đoạn này
1.3 Chọn đề tai “Cảm thức Thiên trong thơ Phạm Thiên Thư, luận văn
này nhằm đưa ra một cái nhìn cụ thể, hệ thống cùng sự đánh giá khách quan,
rõ nét về những vần thơ mang âm hưởng Thiền của Phạm Thiên Thư Với một phong cách thơ trữ tình đặc trưng, Phạm Thiên Thư đã góp phần khẳng định
sự đóng góp của mình vảo trong dòng thơ mang tỉnh thần Thiền giai đoạn 1960-1975 nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung
2 Lịch sử vấn đề
‘Tho Phạm Thiên Thư được biết đến từ khi một số bài thơ tình của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành những tình khúc trữ tình nổi tiếng, nhờ đó tác giả cũng đã nổi danh trong đời sống văn hóa, văn nghệ ở miền Nam vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Phạm Thiên Thư đã được đón
Trang 82.1 Những bài viết, công trình liên quan gián tiếp đến đề tài
*Trước 1975
Cố giáo sư, nhà văn Tam Ích, người được đẻ tặng trong thi phẩm Động
Hoa Vàng, chính là người có sự quan tâm nhiều nhất đến các sáng tác của Pham Thiên Thư với một cái nhìn đầy ưu ái Ông đã viết nhiều bài cảm đề và lời bạt hay dành cho các tác phẩm kinh thơ, nhất là thi phẩm Đồng Hoa Vang cùng Đoạn trưởng v6 thanh
Trong lời bạt “Chân dung một nếp duyên ” viết cho thì phẩm Động Hoa Vàng, Tam Ích đã nói: “Tôi đọc một vải câu Tôi lật một vải trang Bỗng nhiên quên mất mình đương đọc thơ- vì đương cảm thơ, cùng thơ làm một ( ) Thế là tôi bị cảm hóa ngay từ đó vì thơ hay: thơ va dao không cing,
biên giới mà như có biên giới- biên giới tìm không ra, đó là chỗ khó của
người tu hành làm thơ Tôi theo dõi Tôi không lầm Thơ đã hay rồi hay mãi
“Trước hết là thơ diễn lại kinh Rồi kinh thành không, không thành thơ [59] Đánh giá về thể thơ lục bát của Phạm Thiên Thư, tác giả nhận xét: * lạ nhất
là ghép ngược, ghép xuôi, ghép như hành trình loạn vũ, th thơ là thơ lục bát -
rit Việt Nam Đó là chỗ khó nhất, cô kim chưa ai làm nôi: chỉ có đạo và thơ
‘Thu: “Thi ca hay tinh yêu trong thi ca của Phạm tiên sinh là một bản anh hùng ca, là tình tự dân tộc Việt ( ) tiếp nối suối nguồn thi ca dân tộc Việt và thí ca Nguyễn Du ”(Bài Cảm để sau khí đọc Đoạn trường vô thanh)|53, tr222| Lê Văn Siêu cũng đã từng nhắn mạnh đến "nh dân tộc” sâu sắc trong thơ Phạm Thiên Thư và khẳng định trong bài viết “Thầy có quyền hãnh
Trang 9còn để dựng lại cả một lâu đài thơ thật là thơ Tôi thực có cảm tưởng được
người mở mắt cho thấy một cái gì vĩ đại "|53, tr.214] Cố nhà văn Nguyễn
Đức Quỳnh thì nhìn thấy ở nhà thơ một sức sáng tạo đồi dào và đầy tâm
huyết: “Sau khi viết xong Đạo ca, tôi hid
'Vô Thanh cũng là viết Đạo ca trong lòng dân tộc Chỉ có tuổi trẻ mới viết,
Phạm Thiên Thư viết Đoạn Trường
dam làm mọi việc - tất cả cho Việt Nam ”(Trong bài viết về Đạo ca vẻ Doan trường vô thanl)[S3, tr213] Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học Việt Nam, đánh giá Phạm Thiên Thư chính là "nhả thơ viết Hậu Truyện Kiều thành công hơn cả” kế cho đến nay: “ nếu chính anh linh Tiên Điển tiên sinh
có đọc qua chắc chắn sẽ mát lòng khi nhận ra một môn sinh xứng đáng của
mình, một người mà gần ba trăm năm sau đã tìm được cách hay nhất để khóc thương Tổ Như vĩ đại” (Trong Đôi lới Vô Thanh- Một người mà gân ba tram năm sau) [53, tr202] Bên cạnh đó, thơ Phạm Thiên Thư còn để lại nhiều dư
ba digu vợi trong lòng nhiều nhà văn, nhà thơ bấy giờ Nhà thơ Á Nam Trin Tuấn Khải cũng có bài thơ Cảm để theo thể thơ Đường luật rất hay viết dành cho tác phẩm Đoạn trudng v6 thanh: * Kìa đường dân tộc mong tìm mớ/ Đây khách tâm hồn khó nín thinh/ Vận mới khơi thêm dòng nhiệt huyết Điệu
iy/ Lang thir V6 Thanh tiếp Hữu Thanh” [53,tr.205] Thỉ sĩ Vũ Hoàng Chương cũng không quên góp
\g nói cảm phục, ngợi ca Phạm Thiên Thư với những vẫn thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán “Viết tăng Phạm Thiên Thu”: “Thiên cỗ đoạn trường kim nhất tục/
Trang 10vọng của mình trên những tảng đá hoa cương”(Trong bài Chúng ta nghi gì vẻ oan trường vô thanh) [53, tr.208)
Không chỉ dừng lại ở đó, thơ Phạm Thiên Thư còn lôi cuốn được cả giới nhạc sĩ như Phạm Duy, Thẩm Oánh, bác sĩ Hoàng Văn Đức cũng cho ring những hình ảnh mà thỉ phẩm Động Hoa Vàng và Đoạn trường vô thanh có được - những hình ảnh vốn được xem như là những điển tích dân gian của Việt Nam như “Trần Hưng Đạo chỉ kiếm xuống sông Hóa thể phá giặc”,“Phù Đồng Thiên Vương bỏ công danh về trời ” hay An Tiêm bị đi đày đảo hoang —
đã có thể sánh ngang và “thay thé khúc Chiêu Quân, khúc Tô Vũ của Truyện Tàu ” [53, tr212] trong ding thơ Việt Nhìn chung,
thơ Phạm Thiên Thư đều có cái nhìn ưu ái, ngợi ca cũng như đặt sự kì vọng
vào sức viết dồi dào và đầy tâm huyết của nhà thơ
* Sau 1975
cả những ai đã đến với
Nhờ vào các phương tiện thông tin đại chúng, từ sau 1975, bạn đọc trên
cả nước đã biết đến Phạm Thiên Thư nhiều hơn Tên tuổi thi sĩ họ Phạm đã
được nhắc đến trong nhiều bài viết, bài báo trên mạng internet, trên tạp chí và một số công trình nghiên cứu, phê bình văn học Những tờ báo điện tử như báo Tiền Phong, báo của Hội nhà văn Việt Nam, báo Tuổi trẻ, đã dành nhiều bài viết khắc họa chân dung Phạm Thiên Thư và những bài thơ nổi
tiếng của ông tiêu biểu là Déng Hoa Ving, Đoạn trường vô thanh, Ngày xưa
Hoàng Thị Một số bài viết như bài “Nhà thơ Phạm Thiên Thư - Vị sĩ lăng mạn” của nhà báo Trần Hoàng Nhân (trên báo điện tử lấy từ nguồn Thể Thao và Văn Hóa), bài “Phạm Thiên Thư tự cứu mình bằng thơ” của Nguyên Anh (từ nguồn Vietnam net), “Pham Thién Thue với Ngày xưa Hoàng Thị của Trọng Trịnh (trên báo điện tử Tiền Phong), Tuệ Lãng - “Phạm Thiên Thư,
Trang 11hiểu về chân dung nhà thơ và những ảnh hưởng từ cuộc đời đến quan niệm sáng tác thơ văn của tác giả
2.2 Những bài viết, công trình liên quan trực tiếp đến đề tài
'Đề cập trực tiếp đến thơ Phạm Thiên Thư thì không có nhiều người tìm hiểu, hầu như chỉ được nhắc đến sơ lược, ngắn gọn trong những bài viết nói
về cuộc đời và các sáng tác của ông Và trong số ít đó có công trình nghiên cứu Tổng quan văn học miễn Nam của nhà văn Võ Phiến Ở tác phẩm này, tác giả nhận định thơ Phạm Thiên Thư có sự kết hợp hài hòa giữa ba đề tài chính
là tôn giáo, thiên nhiên và tỉnh yêu * Đó là những
Phạm T
tiếc hết sức, vì nó rất là quan trọng Tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, lên thiên nhiên trong thơ Phạm Thiên Thư Tôn giáo tạo cho thi sĩ một cách yêu đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên”33] Cũng chính bởi
sự hòa trộn này mã tác giả đã gọi Phạm Thiên Thư với cái tên đậm chất thơ
“vi tu st lang man”,
chính yếu của thơ
'Thư Đáng tiếc, tôi không có sự hiểu biết để nói tôn giáo Đáng,
Nhiều bài viết đánh giá phẩm bình về nội dung trữ tình và một số phương thức nghệ thuật như hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu trong tho Pham Thiên Thư “Động #foa Vàng của Phạm Thiên The - Coi Thién hay không gian thoát tục ”, Báo điện tử Hội nhà văn Việt Nam ngày 10/02/2011 hay
“Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư nhìn từ văn hóa Thiên”, Kiễn thức
ngày nay- số 776- ngày 01-3-2012 của tác giả Hồ Tấn Nguyên Minh: “Tìm
hiểu thì phẩm Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư ở các góc độ: Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nhân vật trữ tình Sẽ nhìn thấy được vẻ đẹp
vi diệu, linh thiêng ấn trong từng câu, từng chữ Nhìn từ văn hóa Thiễn, Động
hoa vàng tưa một loài hoa bình di mà thoang thoảng một mùi hương dịu nhe,
Trang 12“Thiền”, Báo điện tử ngày 6/11/2007, tác giả Bùi Công Thuấn nhận định: *
"Đặc sắc thơ Phạm Thiên Thư là thơ tình có vị Thiền Điều này lạ Bởi vì tình
là khổ luy, Thiển là cắt đứt nghiệp chướng Phạm Thiên Thư đã tạo nên sự kết
*Thơ Phạm Thiên Thư sang trọng, thanh cao là nhờ ở Thiền vị Phạm Thiên Thư cũng viết về đoạn trường, chia li, cũng viết về mắt,
hợp này thế nào?"
về môi, về đáng đứng, dáng nằm của người con gái, nhưng tuyệt nhiên không nhuém mùi nhục thể( ) Cũng là nước mắt, cũng là ly tan, nhưng không có hờn ghen oán trách tỉnh phụ, không bỉ luy tang thương Thiền vị làm thăng hoa thơ tình Phạm Thiên Thư”
Đây là những bài viết có cái nhìn, cảm nhận khá tinh tế sâu sắc về các phương diện nội dung và nghệ thuật trong thơ Phạm Thiên Thư, cụ thể là tìm
hiểu đặc điểm về không gian, thời gian nghệ thuật, nhân vật trữ tình trong thi
phẩm Đồng Hoa Làng nói riêng va trong thơ Phạm Thiên Thư nói chung Ngoài ra, đã có một số khóa luận, luận văn nghiên cứu về thơ Phạm
“Thiên Thư như: Trần Thị Thương (2011), Đặc điểm thơ Phạm Thiên Thư,
Trang 13Việt Nam hiện đại nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đắi tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Phạm Thiên Thư - cụ thể là các tập thơ: Ngày xưa người tình, Những lồi thược dược, Nhân gian Bên cạnh đó, người viết còn nghiên cứu thêm các tập thơ được tác giả thi hóa từ Kinh Phật: Qua suối máy hỏng, Suối nguồn vi diệu Đặc biệt là đi vào tìm hiểu Đạø ca và tập trung nhất vào hai thì phẩm nỗi tiếng của ông: Động Hoa Vàng và Đoạn trường vô thanh đê làm rõ vẫn đề một cách toàn diện hơn
3⁄2 Phạm vi nghiên cứu
Để nghiên cứu dé tài này, người viết tập trung khảo sát thế giới thơ Phạm Thiên Thư trong phạm vi của tỉnh thần Thiền qua các góc độ: Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ quan niệm vẻ thế giới và con người và Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thu nhìn từ nghệ thuật
biểu hiện
.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
& Phương pháp hệ t
Dat bai thơ, tập thơ vào trong hệ thống và đặt những yếu tổ riêng lẻ vào trong một chỉnh thể nghiên cứu, đó là những đặc điểm về nội dung và phương thức trữ tình trong thơ Phạm Thiên Thư để làm nỗi rõ cảm thức Thiền trong thế giới nghệ thuật thi ca của ông
5 Phương pháp phân tích- tong hợp: Phân tích và khái quát được những nét nổi bật trong những vẫn thơ mang cảm thức Thiền của Phạm Thiên Thư nhằm tái hiện được chân dung và phong cách của nhà thơ Đồng thời, khẳng định được vị trí của nhà thơ Phạm Thiên Thư trong nền thơ ca Việt
Trang 14được những nét riêng mới lạ trong tiếng thơ Pham Thiên Thư qua mối liên hệ,
so sánh với các tác giá cùng thời, cùng khuynh hướng như Bùi Giáng, Hoài Khanh, Tôn Nữ Hỷ Khương Từ đó để thấy được sự gặp gỡ của nhà thơ với những người bạn thơ trong khả năng khám phá, cảm nhận về một số phương diện về đời sống và con người
§ Đóng góp của đề tài
5.1 Khẳng định những đóng góp riêng cả về số lượng và chất lượng
của thơ Phạm Thiên Thư cho nền văn học miễn Nam Việt Nam n‹
thơ Việt Nam hiện đại nói chung giai đoạn 1960- 1975
“ám thức Thiển trong thơ Phạm Thiên Thư” nhằm
riêng và
5.2 Nghiên cứu
nhắn mạnh Phạm Thiên Thư là một nhà thơ có phong cách trữ tỉnh đặc trưng,
với một tiếng thơ hay và đẹp
5.3 Khẳng định tinh thần tìm về phương Đông trong văn học Việt Nam
hiện đại và đem đến cho người đọc phần nào hình dung được diện mao da dạng và phong phú của thơ Việt Nam hiện đại với những giá trị không chỉ được định hình ở ngày hôm qua, hôm nay mà còn có ý nghĩa ở ngày mai
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mỡ đầu và Kết luận , Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình thơ Phạm Thiên Thư từ góc độ Thiền
“Chương 2: Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ quan
niệm về thế giới và con người
Chương 3: Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ nghệ
thuật biễu hiện
Trang 15TỪ GÓC ĐỘ THIÊN 1.1 TINH THAN THIEN TRONG VĂN HỌC
1.1.1 Giới thuyết khái niệm
“Thién là gi?” Dat cầu hỏi như thể là đã di lệch tỉnh than TI
bắt cứ hình tượng nào, hay bắt cứ khái niệm nào để định nghĩa Thi
Với đầu óc duy lý, chúng ta thường rất coi trọng các định nghĩa Sau khi
đã gán định nghĩa cho một đối tượng nào đó, thì ta càng trau chuốt các định nghĩa, và yên tâm là đã nắm bắt được bản thân của cái hiện thực sống động qua các định nghĩa đó Thử suy nghĩ kỹ một chút ta thấy mọi định nghĩa đều
"Mọi lý thuyết đêu màu xám, và cây đời vĩnh viễn xanh tươi
Vinh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười;
Tĩnh viễn anh yêu em nhự yêu sự thật
Tà cây đời mãi mãi xanh tươi
(Và cây đời vinh viễn xanh tươi, Xuân Diệu) Hiện thực là dòng nước chảy liên tục không ngừng nghỉ, thay đổi qua
Trang 16
dòng suối đang chảy, Tiêu bản chim trong phòng thí nghiệm không còn là cánh chim đang hót ca trên cành cây, trong nắng hạ Tiêu bản chỉm trong phòng thí nghiệm /à định nghĩa, trong khi cánh chim dang vỗ cánh bay lượn ngoài đồng nội mới chính là #liện rhực Nắm bắt thế giới hiện thực qua định nghĩa trong thế giới ý niệm, cũng chẳng khác gì ta muốn tìm hiểu con chỉm sống động đang bay lượn ngoài đồng nội qua tiêu bản chim trong phòng thí nghiệm Muốn hiểu được cánh chim “Vĩnh viễn chim ca” trong “vĩnh viễn nắng cười” thì chúng ta phải (2 con chim, bay lượn theo cánh chim, hét ca trong ánh nắng hẻ
“Trong tỉnh thần Thiễn, người ta không quan tâm đến định nghĩa mà đi thẳng vào trọng tâm vấn đẻ Nghĩa là cái mà người ta quan tâm là cánh chim thực dang bay lượn ngoài đồng nội, chứ không phải là tiêu ban chim trong lồng kính của phòng thí nghiệm
'Ví dụ trong phần mở đầu kinh Kim Cương, trưởng lão Tu Bồ Đề khi thỉnh cầu đức Phật thuyết pháp, đã không hỏi thế nào là tâm, không cần yêu cầu Phật phải định nghĩa tâm là gì, một khi đã phát tâm cầu đạo giác ngộ, mà ông ta chỉ hỏi đức Phật về chỗ trụ của tâm và cách hàng phục tâm mà thôi Ding theo tinh thin Thién, thay vì hỏi “Như thế nào là tâm?” dé tìm một định nghĩa, thi vị trưởng lão kia chỉ đặt vấn đề : “Làm thể nào để an trụ được tâm? Lam thé nào để hàng phục được tâm?” Đoạn kinh văn trên đã được nhà thơ
Phạm Thiên Thư thi héa thành những câu thơ trong Kinh Ngọc : * Hiển giả Tu-Bồ-Đề! trải tọa cụ lưu ly/ chấp tay lan bạch ngọc/ tán thán pháp diệu kỳ!/ Đức Vô thượng Thế-Tôn/ truyền tâm đạo Bồ-ĐÈ/ pháp nào ý an trụ?/ pháp nào đẹp huyễn mé?” (Qua sudi may hong, XVI)
Thiền muốn chúng ta "sống” với hiện thực chứ không phải tìm hiểu
Trang 17
trời xanh, những con suối mới được hồn nhiên chảy róc rách giữa những bờ
cö xanh tươi Nhưng một khi chúng ta đã đem định nghĩa phủ lên hiện thực
thì ngay lập tức chim sẽ bị nhốt lồng, nước sẽ mờ đục, bờ cỏ sẽ héo khô
Nhu vậy, nếu không định nghĩa được TÌ
một khái niệm nào về Thiển thì làm thể nào ta có thể hiểu được Thiên? nghĩa là nếu không có
Thiền là kinh nghiệm tâm linh nên nó vượt ra ngoài mọi khả năng của lý luận và ngôn ngữ
Ta có thể không đưa ra được một định nghĩa cụ thẻ về Cái Đẹp, nhưng
ta vẫn có thể cảm nhận được Cái Đẹp qua một giai điệu âm nhạc, qua một bức tranh, qua cảnh vật lúc hoàng hôn hay một nụ hoa lóng lánh sương mai trong nắng sớm Ta tìm hiểu Thiền cũng vậy
“Theo các nhà nghiên cứu về Phật giáo, Thiển là nói tắt, nói đẩy đủ là
Thiển na, phiên âm theo ngôn ngữ Án Độ là Dhyana Dhyana được dịch là
tịch lự, nghĩa là trằm tư về một chân lý, một triết lý hoặc đạt đến chỗ ngộ và
n sâu vào trong tâm thức
Xung quanh khái niệm “Thiền là gì?"có nhiều quan điểm khác nhau Theo tác giả Lịch sử Phật giáo Việt Nam: "Thiền là phương pháp tự tỉnh, tự giác, tự ngộ, tự chứng Đây là yếu tố hoàn toàn có tính cá nhân, có tính cô đơn, tính triết lý sâu thảm của con người đồi với vũ trụ Sự giác ngộ và chứng đắc được ví như ngụ
không thể nói cho ai thấy được” [ 50, tr270]
“Trong Hội thảo Tuệ Trung Thượng Sĩ với Thiền tông Việt Nam, tác giả
ời uống nước: lạnh, nóng tự biết Cái ngộ, cái biết ấy
bài Mach Thién trong văn hoá tư trởng Việt Nam: “Thién không phải là một
hệ thống khái niệm có thể lĩnh hội được bằng lý trí hoặc bằng phân tích khoa học Diễn tả theo ngôn ngữ hình tượng (một cách hết sức tương đối và hoàn
Trang 18toàn có tính chất biểu trưng!), Thiền là một vòng tròn vô tận không thể xác định được chu vi và chính vì thế có thể tìm thấy tâm điểm của vòng tròn này
ở bất cứ chỗ nào!"(37, tr49] Tác giả còn đưa ra nhiều quan niệm như:
Thiền là một khoa học thực nghiệm vẻ tâm lý Thiền là một thái độ sống, một phong cách sống của người đã thực hiện được sự huyền đồng giữa tiểu ngã và đại ngã Thiền là một sự tỉnh thức của con người được những ảo mộng của trần gian
'GS Nguyễn Đăng Thục trong Thiển học Việt Nam: “Vậy triết lý Thiển là
gì, có phải là giáo lý của Phật không, hay là sản phẩm của Trung Hoa? Nhiều học giả ngày nay cho Thiễn là kết quả của sự gặp gỡ phối hợp giữa Phật giáo
Án Độ và Đạo giáo Trung Hoa"J49, tr13] Tác giả Thích Thanh Từ trong
Thiển tông Việt Nam cuối thể ký XX, cho rằng, Thiền là tự thắc mắc một vẫn
đề quan trọng, tìm tòi theo dõi đến khi sáng được vấn đề đó mới thôi Tác giả
viết “Thiền là phát minh, là sáng tạo Và sự ra đời định luật Vạn vật hấp dẫn
của Niu Ton (1642 -1727) la két quả của sự dồn hết tâm lực vào một vấn đề
đến khi chín muỗi bỗng dưng phát sáng” [64, tr.34]
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu Thiển là một phương pháp tập trung toàn bộ tâm trí của mình nhằm sáng tỏ một vấn đề nào đó Vì thế, ngoài hoạt động tư duy còn có cả hoạt động thực tiễn của người tu hành Theo
n sâu vào trong tâm thức
Mặc dù, không định nghĩa một cách cụ thể được Thiền là gì, nhưng trong Thiền cũng có một số đặc trưng cơ bản như đã nói ở trên Ý kiến cho rằng
*Thiển là một vòng tròn vô tận không thể xác định được chu vi và chính vì
Trang 19thế có thể tìm thấy tâm điểm của vòng tròn ấy ở bắt cứ chỗ nào” là không
đúng với tỉnh thần của Thiễn tông, Tác giả Lược kháo sư rướng Thiển Trúc
Lâm Vit
mình là người cả đời biết tập trung suy nghĩ, tư tưởng vào một cái Nếu làm
được như vậy chắc chắn cuộc đời họ sẽ phát hiện, tìm ra được một cái gì đó
hữu ích Việc tập trung tư tưởng này cũng giống như người ta tập trung ánh
Nam viết “Những nhà tư tưởng cỗ Ấn Độ cho rằng, người thông
sáng vào một điểm Khi đó điểm sáng trở nên rất mạnh Tư tưởng cũng vậy, nếu biết tập trung, nó tạo nên được những sức mạnh mà người ta không bao giờ ngờ tới Các nhà bác hoe sé dt ho phát sinh ra cái này, cái kía là vì cả cuộc đời họ cũng chỉ nghĩ về một vấn đề [20] Những nhận định trên cho thấy,
ương chống đỡ toàn thể cơ cấu của Phật giáo”[10]
“Thiền là nghệ thudt, cb thé tam goi như vậy, giúp ta sống thực với hiện thực, tiếp xúc được trực tiếp với hiện thực, mà không qua một bắt kỳ một trung gian nào của tư duy hay lý luận Hiện thực ở đây không phải là cái hiện thực mà ta thường hiểu theo khái niệm văn học hay triết học duy vật, mà phải hiểu theo tỉnh thần Phật giáo, đó là cái “Thế Giới Y Như Thực” luôn còn
nguyên vẹn tinh khôi, không hẻ bị đổi bởi bất kỳ một tác động nào của tư duy hay lý luận Nếu cần phải đưa ra một định nghĩa về Thiền thì ta có thể tam định nghĩa như sau : Thiền là nghệ thuật giúp ta cảm nhận được giá trị đích thực của cuộc sống, thấy được chân tướng của cái “Thế Giới Y Như
“Thực” theo tình thần Phật giáo
Ta có thể cảm nhận thế giới đó qua những biểu hiện nghệ thuật mang phong vị Thiền Trong lịch sử phát triển văn hóa phương Đông, đã có nhiều giai đoạn, ta khó lòng chứng kiến được sự nở rộ đến kì diệu của nghệ thuật
Trang 20Trả đạo, Hoa đạo, Kiếm đạo, hội họa thi ca nếu như chúng không được gợi hứng trực tiếp ít nhiều từ Phật giáo Thién tông Các loại hình nghệ thuật mang, phong vị phương Đông đó gián tiếp giúp ta đi vào thế giới của Thiền Thế
giới của Thiền không phải là một thế giới nào khác với cái thể giới ta đang
sống Nó cũng chính là cái thế giới này nhưng xuất hiện dưới một hình tượng
khác Trà đạo, Hoa đạo, Kiếm đạo, hi
thế giới này xuất hiện thành cái “Thế Giới Y Như Thực” Đó là hoạt dụng của
hoa thi ca di gitip cho chúng ta nhìn
để nhìn vào một thể giới khác Khi uống một tách trả theo phong cách Trà đạo 'thì từ một chỗ ngồi khiêm tốn trong trà thắt, ta vẫn có thé dé tâm hồn vượt lên những giới hạn của thế giới tương đối để có một thoáng nhìn vào vĩnh cửu Ta cũng có cảm giác đó, khi đọc những bài thơ mang phong vị Thiền, như những đồng thơ trong Động /loa Vàng của Phạm Thiên Thư : "Chỉm nào hát giữa thôn hoa/ Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay/ Lụa nào phơi nắng sông tây/
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông” (Động Hoa Vang, XV) Hay:
Tiếng chim trong cõi võ cùng
ở ra bát ngắt trên rừng quề hương
(Động Hoa Vàng, LII) Hac xiea về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
(Động Hoa Vàng, XX)
Trang 211.1.2 Sơ lược về tỉnh thần Thiền trong văn học phương Đông
“Xuất phát từ cách hiểu về Thiền nói trên, có thể khẳng định, cùng với việc ảnh hưởng của Phật giáo, tỉnh thin Thiển thắm đẫm trong văn hóa cũng
như văn học nghệ thuật ở các nước Á Đông Đặc biệt là ảnh hưởng Thiền đã
in dấu ấn sâu đậm trong tho từ thơ Hai-kư (Nhật Bản- đại biểu là Basho), đến
thơ Đường (Trung Quốc- dại biểu là thỉ Phật Vương Duy) và thơ Thiền Lí- Trần (trung đại), thơ văn mang âm hưởng Thiền (hiện đại) Việt Nam
«a Thién trong thơ Hai-kur của Basho (Nhật Bản)
Thơ hai-kư xuất hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ XVI và người đầu tiên được xem là người sáng lập ra thể thơ hai- kư là thỉ hào Basho (1644-1694)
Hai-kư là một thể thơ súc
1, có ý tưởng cao siêu và ân dụ thâm thúy, hàm
thơ nhỏ hải hòa chỉ có 17 âm tiết Thơ hai-kư,
chứa
đọng trong một
ngắn, cô đọng và gắn với mỹ học Nhật Bản: yêu cái nhỏ bé, kiệm lời, những
khoảng trống vô ngôn Ở đó, ta còn bắt gặp bút pháp của tranh thủy mặc,
thiên về thần thái hơn là đường nét Kết cấu bỏ lửng của thơ hai-kư chính là
cái hư không bảng lắng khó nắm bắt của tỉnh thần Thiền tông
"Những cảm thức thẩm mỹ thể hiện cái nhìn của các thỉ sĩ hai-kư về thiên nhiên và con người mang đậm màu sắc Thiền Thơ hai-kư để cao những cảm thức thẩm mỹ tỉnh tế như cái Vắng lặng, Đơn sơ, Buồn thương, Nhẹ nhàng, U huyền Từ cảm thức về sự cô tịch (sabi), nhận ra cái đẹp ở sự bình dị, than thuộc (wa8/) và thể hiện sự nhẹ nhàng thanh thoát, ung dung, tw tai (karwmi) đến vẻ đẹp buồn (aware), hai-kư đã thể hiện những sắc thái thẩm mỹ mang dấu ấn Thiền và văn hóa Phủ Tang
Đặc điểm của thơ hai-kư là giản lược tối đa chữ nghĩa, vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc với niềm rung cảm sâu sắc, sự liên hệ tinh tế, hài
thơ
hòa về một khoảnh khắc của đất trời Có thể cảm nhận điều đó trong sau của Basho: “Trong ao xưa/ Con ếch nhảy vào Tiếng nước khua” Chỉ vài
Trang 22chữ: một ao nước, một con ếch nhảy , một tiếng nước khua động cũng diễn tả đầy đủ ý và vật John C H Wu- Giáo sư triết học và văn chương Trung Hoa cảm nhận: *Một ci không vô tận, tuyệt đối tĩnh lặng Trong một khoảnh
khắc nảy ra sự sống và sự chuyển động, hình và sắc Cái ao là hình tượng
của Một trời miên viễn, con ếch nhảy vào và khua mặt nước như Một ngày
gió trăng Còn kinh nghiệm nào đẹp hơn và rung động tâm hỗn hơn kinh nghiệm nắm bắt được sự tĩnh lặng ngàn đời lần đầu tiên vỡ tan thành tiếng hát [65, tr277] Đôi mắt phương Tây nhận xét: “Bai thơ đã kết hợp một cách thần tình cái vĩnh cửu và cái tức thời: ao xưa vĩnh cửu, nhưng để cảm nhận được cái trường tồn đó, phải có một cái đột biến tức khắc, tức bude nhảy của chú ếch xuống ao Chính lúc đó là lúc ta cảm nhận được cái vĩnh hang kia”[65, tr.277]
“Trong thơ hai- kur có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ Đi từ một sự vật cụ thể thật nhỏ nhoi tầm thường để dẫn dất người đọc vào cỡi mênh mông bát ngất không hình tượng, các thỉ sĩ hai- kư thường bắt đầu từ những điểm nhìn đơn lẻ, chớp lấy một khoảnh khắc có thần của thực tại, đây lên đỉnh điểm của cảm xúc, sáng tạo theo nguyên lý mùa và tính tương quan hình ảnh Những hình ảnh này bổ sung cho nhau, đi từ cái tiểu ngã của sự vật để hòa đồng vào
cái đại ngã của vô biên Vì thế, hai kư còn được gọi là thơ của khoảnh khắc “Cái khoảnh khắc - muôn đời, níu giữ - nở biếc những đóa thời gian, qua quên lăng, tần phai, một sớm mai thom thing thốt không ngờ [22, tr65], hai-kư đã chạm đến vỉa tầng sâu kín, gợi nhắc những khoảng lặng, những thời khắc bình yên trong hồn người Nói như G.Ohsawa, hai-kư đã
“gợi nhắc ta nhớ lại nhịp rung của vũ trụ vô hình mà chúng ta thường lãng quên"23]
Nhu vay, có thể thấy, hai-kư mang âm hưởng của tỉnh thần Thiền rõ nét,
đó là một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết Với những thi ảnh trữ
Trang 23tình, những biểu tượng thâm thúy, thỉ nhân đã thu hút và dẫn dắt tâm tư người đọc vào một thế giới cao siêu để tự suy niệm về kiếp nhân sinh của con người quanh quấn trong cuộc sống phù trằm Mỗi
ảnh trong thơ hai-kư còn được xem là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một
tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người
b, Thiền trong thơ Vương Duy (Trung Quốc)
Nếu nhắc đến Nhật Bản, Basho là một đại diện cho thơ hai — ku thi khi
nói đến Đường thi của Trung Quốc, phải kể Vương Duy Cùng với thi Tiên
Ly Bach; thi Thanh Dé Phi, Vuong Ma Cat được người đời xưng tụng là thỉ Phat Tho Vương Duy là một sự kết hợp hài hòa một cách vi diệu giữa Thiền, Thơ và Họa Nói về điều này, nhà nghiên cứu Vũ Thế Ngọc có nhận định:
*Vương Duy một nhà thơ Thiền đạo, Vương Duy một nhà thơ của thiên nhiên ( ) Một Vương Duy họa sĩ không thể tách khỏi một Vương Duy thién gia
hoặc một Vương Duy thi sĩ của núi rừng cây cỏ Vì một lẽ, nếu Vương Duy
không đạt được cái tâm thign thi tho Vương Duy cũng chỉ là những bài thơ tả cảnh xuất sắc, tranh của Vương Duy cũng chỉ là những bức sơn thủy mộc mạc Trái lại, nếu Vương Duy không đạt được đến mức tính diệu của người họa sĩ thủy mặc, của tâm hỗn thỉ nhân thì ta cũng chỉ có Đạo sư Vương Duy, Triết nhân Vuong Duy "[ 32, tr.54]
Điểm gặp gỡ giữa thơ hai — ku của Basho với thơ của Vương Duy chính
~_Sabi Trước khi trở thành một cảm thức thẩm mỹ - cảm thức thơ ca, sai có nguồn gốc tir Thién: "Thiền cần tập là những vần thơ mang cảm thức Thiễ
trung tư tướng cao độ, đưa tâm tưởng của bản ngã (cái tôi) hòa nhập vào cái tịch lặng vô biên, trống vắng vô hạn ( ) để giải thoát tâm linh”[22, tr43] Tịch lặng, trống vắng, trở thành không gian lý tưởng để trằm tư, tìm đến sự thống nhất ~ hòa hợp giữa tiểu ngã ~ đại ngã Cô đơn là điều kiện để tìm về chân như, cõi tâm trong suốt, hư không; mặt khác, khi đạt đến trạng thái tâm —
Trang 24vật hòa làm một, con người không còn cảm thấy cô đơn mà chỉ còn có một niềm an lạc vô hạn Ở Basho, vẻ đẹp buồn, cô đơn, vắng lăng, hiu hắt vin
là đặc trưng thắm mĩ trong thơ ông, thi đến với Vương Duy, ta cũng sẽ bắt
gặp được cảm thức đó
*Sabi là đường về thiên nhién”[22, tr.43] Được mệnh danh là Thi Phật của nền thơ cỗ điển Trung Hoa, thơ Vương Duy thiên về thiên nhiên: “Cái độc đáo của thơ Vương Duy là ông không để xúc cảm cá nhân ảnh hưởng vào thiên nhiên Trong thơ, tâm hồn ông hòa nhập vào thiên nhiên, vào mộng
tần "{32, tr.53] Lấy phong cảnh của rừng
n viên và phong cảnh của sông nước để miều tả cái thú của “trong yên
"Nhân nhàn quế hoa lạc (Người nhàn hoa quế rụng)
Da tình sơn xuân không (đêm vắng núi xuân không)
Nguyệt xuất kinh sơn điều (Trăng tỏ động chỉm núi)
Thời minh xuân giản trung(Khe xuân chợt hỏi vang)
(Điễu Minh Giản - Khe chim kêu )[32, tr.102] Bài thơ miêu tả một bức tranh sinh động hình ảnh một người nhản cảm giác được hương vị và âm thanh của hoa quế rụng Trong đêm xuân, vạn vật đều tĩnh lặng Không gian mênh mông và yên tĩnh của núi rừng không một bóng người, sự xuất hiện của ánh trăng cũng làm giật mình chim rừng, chốc
Trang 25chốc cất lên tiếng kêu thánh thót vang lên từ khe núi Các từ miêu tả tịnh thái
“nhân nhàn”, “dạ tĩnh”, “sơn không” trong hai câu thơ đầu đẻ miêu tả cảnh không tịch, nhưng trong cảnh tịch tịnh đó lại đặt vào một từ sinh động của
“nguyệt xuất” và tiếng chim thánh thót của “minh giản” Ngoài ra, "hoa quế
lạc” còn có ý nghĩa là trong một cảnh vô cùng yên tĩnh và người cũng rất
nhàn để có thể nghe được âm thanh của hoa quế rơi, làm lộ ra ý vị “trong yên lang
ring: Tho Vuong Duy
có đông, lấy cảnh tịnh để chỉ cảnh động Bởi vì,
ấy sức sống” của thiền Liên quan đến điều này, Vương Hi Nguyên cho
tỉnh xảo trong miêu tả thanh tịnh, thường trong,
như một cảnh tịch tỉnh,
mà không có sợi tơ của sức sống, điều mà thiền gia gọi là “chơi với cái
sô "diệu hữu”, đó chính là thỉ thiền thứ”[35] Phần lớn thơ Vương Ma Cật đều siêu thoát một cách đơn giản,
uy đầy khổ đau Nhưng, cũng vì thế mới làm nên một Vương Duy!
Thế giới thơ ca Vương Duy phản ánh rõ nét cốt cách và tằm vóc của ông Nhìn từ góc độ cảm hứng giải thoát, chúng ta nhận thấy: thơ ông chứa dựng không gian thiên nhiên có màu sắc nội tâm u huyền, cảm thức vũ trụ mang nội dung mỹ cảm thiền - yếu tổ "nhàn nh” trong con người nhàn Dây là những yếu tổ rất tương hợp và thông nhất với cốt cách tài hoa, tai tử của ông, mang rõ những ảnh hưởng văn hóa mỹ học của thời thịnh Đường mà ông là một trong những đại diện tiêu biểu nhất
© Thiên trong văn học Việt Nam
Củng trong dòng chảy của nền văn học phương Đông, cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Thiền, thơ thời Lý -Trần được xem là đỉnh cao nghệ thuật, thành tựu to lớn của nền văn học cổ điển Việt Nam Những vằn thơ mang tỉnh thần Thiền ở giai đoạn này là kinh nghiệm tu chứng của Thiển sư, là thời khắc
Trang 26sáng loà của tâm thanh tịnh, an nhiên, đạt tới thực tại vô tướng, thể tính chân như của hiện hữu Ánh sáng của sự chứng ngộ ấy tạo nên cái đẹp thơ Điều này được tập hợp trong Thién Uyén sập anh, với các bài kệ của các Thiền sư
Giống như thơ Basho, Vuong Duy, trong tho Huyền Quang, trên đường
về thiên nhiền, người đọc cảm nhận ở đó một "không gian mênh mông( ),
1g bing người"J22, tr 42] Đó không chỉ
là sự đồng cảm, là tiếng lòng của thi nhân mà còn là sự tương hợp về cảm thức thẩm mỹ
nhiều màu sắc, ít âm thanh và thưa
Hướng về thiên nhiên cũng là gắn với “sự vật đời thường” = nguyên lý
thứ nhất của cảm nghiệm Thiền:“Bản chất thực tại của cuộc sống vốn hiện hữu trong những sự vật và hoạt động đời thường Để nắm bắt những rung động tinh tế đó, người đọc phải tự mình cảm nhận và chiêm nghiệm” [22, tr44] Ta có thể “cảm nhận và chiêm nghiệm” điều đó qua bài vịnh loa cúc của sư Huyền Quang
ương(vong) thân, vương thể, đĩ đô vương, Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tué van son trung vô lịch nhật, Cúc hoa khai xi tức Trùng Dương
(Quên thân, quên đời, tắt cả đều đã quên / Ngồi lâu trong im ắng, cả một giường lạnh / Cuối năm trong núi không có lịch / Khi hoa cúc nở, ấy là tiết trùng dương- Vịnh Hoa cúc, bài 3)
Trang 27“Néu sabi là đường về thiên nhiên thì karumi là đường về cõi người ta,
về với “ cuộc sống bình thường của con người bình thường” [22, tr45] trong trạng thái "quên” (vong) Bài thơ trên nói về trạng thái "tọa vong” Quên
mình, quên đời tất thảy đều quên hết Giống như người lạc vào Đảo ñoa
nguyên Một thứ thời gian không thời gian - thời gian tâm lý Tâm lý của một
ấn sĩ không trồng ngóng, không chờ đợi, tiễn đưa Nó là nhịp thời gian tự nhiên Thời gian không bị eo vào hay giản ra bởi một trạng thái tỉnh thần nào Không có dấu ấn tâm lý vì đã quên cả rồi, quên thân mình, quên đời rồi Con người đạt tới tọa vong tức đã đồng nhất với đại tự nhiên, cùng một nhịp với tu nhiên Vi vậy, không cẳn lịch nữa, hoa cúc nở, dường như mùa thu đã tới, đã
là tiết trùng dương Trạng thái thời gian tự nhiên như vậy phản ánh tâm cảnh của người ẫn sĩ thanh thản vô ưu, thư thái, nhẹ nhàng
Bên cạnh thiền sư Huyền Quang, trong thơ Thiền thời Lý- Trần, còn
phải kế đến vị trí, vai trò của các nhà sư xuất thân từ vua chúa, Trần Nhân
Tông là một đại diện tiêu biểu Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh
“Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình Sau đó, đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiển phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy dao
Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà) Ông là tổ thứ nhất của
Việt Nam này Về sau ông được gọi cung kinh la “Phat Hoang” Trong sáng tác của các thì nhân - thiền sư, thiên nhiên đã thực sự trở thành đối tượng thẳm mĩ Những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong thơ ông như
nhỉ
lòng với cảnh núi cao sông đài, với ánh trăng trên mặt nước, ngắm cảnh bướm xuân phơi phới trên những đóa hoa thắm tươi đầy hương sắc để tâm hồn mình về với Chân Như, với những cảm xúc hồn nhiên không gợn niềm trần tục “Thiền gia cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, ăn nhiên, bởi ho cho rằng Bản thể của vũ trụ là trống không khi tâm đạt tới độ tĩnh tại tuyệt
Trang 28đối, tâm trong suốt vắng lặng thì có thể hòa nhập vào bản thể của vũ trụ vạn vật Thiên nhiên qua cái nhìn của Thiển gia mặc dù bình dị nhưng lại thắm đẫm hơi hướng mỹ cảm Thiền” [63] Đọc bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông chúng ta có thể đễ dàng nhận ra điều đó: "Bán song đăng ảnh man sing thư/
Lộ trích thu đình dạ khí hư/ Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ/ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường - Móc rơi trên sân thu, hơi trống không - Tỉnh giắc tiếng chảy nện không còn nghe thấy
- Trén chim hoa qué, trăng vừa mọc)
Bài thơ mở đầu bằng không gian hẹp - không gian của đời sống thường nhật từ đó mở rộng ra không gian vũ trụ Một đêm thu lặng có thể nghe được
tiếng sương rơi Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra Âm thanh của tiếng sương rơi hẳn là rất nhỏ, không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể nghe được Ngược lại cái động nhờ cái tĩnh mà hiện hữu, không gian tĩnh mịch vắng lặng được nhận thức bởi tiếng sương rơi ngoài sân thu Đây chẳng phải là điểm gặp sờ giữa Trần Nhân Tông với Vương Ma Cật đó sao? Có thể nói không gian của bài thơ là không gian đặc trưng của thơ Thiền, một không gian bao
la, khoáng đạt, trong trẽo và tĩnh lặng Đặc biệt là cái cảm giác về sự trống không, hư không Nó biểu trưng cho c¿
'Không" của Thiền Tâm Thiền là cái trống không, bình đạm, trong tréo và lặng lẽ Đây là không gian được lọc qua con mắt Thién, là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh Trong bai tho ny thi nhân - Thiền nhân tỉnh dậy, "thụy", không phải bởi sự chỉ phối của những âm thanh thế tục mà đó là cái tỉnh giấc tự nhiên - sự ngô lẽ Thiển Thế nên thỉ nhân mới cảm nhận được ánh sáng của vằng trăng ngô đạo tỏa chiếu trên đóa mộc tê - cảm hứng Thiển thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên rất đỗi bình dị - Một chỉ tết nhỏ, rất đời thường, tự nhiên bổng trở nên huyền diệu, bừng lên
ánh sáng của Thiển cảm
Một trong những đặc trưng thắm mĩ cơ bản của thơ ca phương Đông là
Trang 29nghệ thuật biểu diễn cái không lời, là vô ngôn *Trước thiên nhiên tươi đẹp, Thiền nhân chỉ "cảm" mà không trực tiếp "giãi bày" bằng lời Con người Thiền thường "vô ngôn" trước cảnh sắc ngoại giới [63] Phật hoàng Trần Nhân Tông đã từng có những trải nghiệm với những giây phút "vô ngôn” trước cảnh sắc tươi đẹp đắt trời trong tiết xuân: “Dương liễu hoa thâm điểu
ngữ trì/ Hoa đường thiém ánh mộ vân phi/ Khách lai bắt vấn nhân gian sự/ 'Công ÿ lan can khán thúy vi"(Sâu trong khóm hoa dương liễu, chim hót châm rãi - Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay - Khách đến chơi không hỏi việc người đời - Cùng dựa lan can ngắm màu xanh của chân trời - Xuân Cảnh )
*Con người vô ngôn” là hình ảnh nỗi bật trong thơ thiên nhiên thời Lý
bài thơ này, ta thấy khách và chủ vốn đều là những “con người vô ngôn”, họ
không trò chuyện Nhưng thực chất họ đã nói với nhau rất nhiều Điều đó đã
được thể hiện qua hư từ công Cộng thể hiện sự hoà nhập, hoà hợp giữa hai tâm hồn với nhau đồng thời giữa hai tâm hồn ấy với thiên nhiên tạo vật Cả khách - chủ đều đã dat được sự đại ngộ bởi khi họ đã cùng bình tâm, tâm đã tĩnh từ đó mà họ có thể chiêm nghiệm lẽ dời, những “nhân gian sự” từ thiên nhiên ngoại vật
Từ đó có thể thấy, “thơ thiên nhiên mang cảm hứng Thiển còn bộc lộ cái xao xuyến của tâm hồn thi nhân trước cảnh sắc thiên nhiên lung linh, huyền ảo, mơ hồ Cái đẹp của thiên nhiên được tạo dựng bởi cái mơ hồ giữa Thực và Hư, giữa Sắc và Không, giữa Hữu và Vô, giữa Động và Tĩnh"[63] Đặc biệt, thơ thiên nhiên đời Trần thường sử dụng 2 - #iữu nhằm để xác lập
sự tồn tại Đây cũng là cặp phạm trù trong Thiền học thời Lý - Trần
Trang 30Nguyệt võ sự chiếu nhân võ sự, Thủy hữu thự hàm thiên hữu thu (Hạnh Thiên Trường hành cung - Trần Nhân Tông)
“ác giả đã dùng phép lặp (lặp từ vô - hữu), phép đối liên, tiểu đối để
tạo liên kết cả chiều ngang và chiều dọc, gợi sự tương tác ngữ nghĩa của hai
từ đối lập hữu - vô; gợi nên trường liên tưởng thú vị: khi con người và thiên nhiên đều ở trong trạng thái tĩnh tại an nhiên Nguyệt - nhân: vô sự, tâm của con người đã bình lặng, đã buông bỏ hết những mê kiến, vọng niệm thì con người sẽ dạt tới sự hòa điệu với bản thể và từ đó sẽ phát hiện cái đẹp hing thường của tạo vật, cái đẹp của bản thể Trời mủa thu ¡n sắc xuống dòng sông thu Câu thơ đã thể hiện đặc sắc tỉnh thằn mỹ học phương Đông: lấy hư diễn
thực, cái có phát sinh từ cái không Giữa cái hư và thực ấy, “Thiễn nhân trong
thơ thường có những khoảnh khắc "quên" Họ không muốn tìm quên trong tụng niệm mỡ chuông mà tìm quên trong thiên nhiên( ) Những vần thơ là sự
kết hợp giữa rung cảm cá nhân và tư tưởng Thiển học Đó là những lời tâm
sự, một nỗi xao động giữa cảnh đời cảnh đạo( ) Ý vị Thiền toát ra từ cảm giác hư không của cuộc đời con người” [63]
Tiêu biểu cho những đặc điểm này trong thơ thiên nhiên mang cảm hứng Thi
Trúc Lâm và Phật hoàng Trần Nhân Tông Cùng với nhiều nhà thơ - thiền sư
lên là phong cách thơ của Huyền Quang - vị tổ thứ ba của Thiền phái
khác trong thơ Thiền Lý Trần, hai ông đã để lại nhiều áng thơ vào hàng tuyệt tác trong nên thi ca cổ điển dân tộc Đằng sau những thi phẩm ấy là những tâm tình với khát khao hoà nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống Đồng thời các thì nhân cũng đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm về lẽ vô thường
của con người trước cái hằng thường của vũ trụ Đó chẳng phải là cái nhìn mang cảm hứng Thiền, tâm trạng Thiền, ý vị Thiền nhưng cũng thắm đẫm chất thể sự với những cung bậc tình cảm hết sức phong phú của con người đời
Trang 31thường đĩ sao?
Cĩ thể thấy rằng, những bài thơ mang tinh thần Thiền trong dịng thơ
Thiền Việt Nam thời Lý- Trần đều thể hiện rồ nét được đặc điểm của thơ
“hiền Lời thơ ngắn gọn, ý tại ngơn ngoại, bộc lộ những thời khắc hốt nhiên, bừng ngộ của tâm thức, sự hịa nhập của cái bản vị vào trong một tính thể đồng nhất, con người hịa cùng thiên nhiên trong một tâm thế an nhiên, tự tại Những vần thơ ấy thể hiện vẻ đẹp của tâm hồn Việt của ngày hơm qua và được giữ truyền cho đến ngày nay Theo mạch nguồn của dịng thơ mang tỉnh thần Thiền đắt Việt, trước 1975, ở miền Nam Việt Nam, từ ảnh hưởng của bộ Thiển luận của Suzuki, phong trào nghiên cứu Thiền rộ lên trong giới trí thức
ở miền Nam Ảnh hưởng của Thiền lan rộng qua các tác phẩm thi ca Trong
âm nhạc, ảnh hưởng đĩ hiện rõ nét nhất trong mười bài Đạø ca của nhạc sĩ Pham Duy (phổ thơ Phạm Thiên Thư); nhẹ nhàng hơn, bảng bạc hơn trong ca khúc Đĩa đoa vơ thường của nhạc sĩ Trịnh Cơng Sơn Và một hiện tượng nổi bật đĩ là nhà thơ Quách Tắn „ sau tập Aùz cổ điền, đã cho ra đời hai tập thơ
"Mộng Ngân Sơn và Đọng bĩng chiều, được nhà thơ - triết gia miền Nam - Phạm Cơng Thiện đánh giá:“ Quách Tấn xứng đáng là kẻ nối dịng của Khơng Lộ thiền sư, Vạn Hạnh thiển sư, Ngộ Án thiền su va tit cả những thiền
sử th sĩ đã nuơi dưỡng linh hồn của cả một đân tộc ”[17, tr.106]
Đọng bĩng chiêu là tập thơ, gồm 108 bài thất ngơn tứ tuyệt, Kim Lai ấn quán in năm 1965; cịn Mong Ngan son là tập thơ gồm 135 bài ngũ ngơn tứ tuyệt, NXB Hoa Nắng (Paris) in năm 1966 Trong hai tập thơ này, ta cĩ thể nhận ra được ảnh hưởng của Phật giáo rất nhẹ trong những trang thơ của một nhà nho sống trong im lặng, giữ tâm luơn tịch nhiên lặng lẽ giữa những, huyện náo của thời đại Cĩ thể thấy hương vị Thiền thấm đẫm qua những vẫn thơ:
Trang 32Bờ nghiêng lau lách bóng sương lằng
Trăng muộn màng canh cánh mặt sông
,Đời nửa khói mây chìm bỏng mộng,
Gọi đò một tiếng lạnh hư không"
(Gọi đò, Tập: Đọng bóng chiêu)
Quách Tắn là một nghệ sĩ bậc nhất trong các thi sĩ Việt Nam về li miêu tả thiên nhiên Tiếng thơ thường hướng tới sự giao thoa, tương thông giữa con người với thiên nhiên Nhà thơ thường đặt cái "tâm ” giữa thiên nhiên, vạn vật, tạo nên cảm giác hòa điệu giữa đời sống tâm linh với ngoại cảnh Điều đó có được khi người nghệ sĩ hòa đồng mật thiết với thiên nhiên và mỗi cảnh sắc của thiên nhiên
thành một trạng thái của tâm hồn nghệ sĩ: “Thiêm thiếp lòng mong đợi / Vùng nghe chim tích linh / Vội vàng xô gối dậy / Đầy thêm hoa tử kinh” /Xhớ em, Tập: Mộng Ngân Sơn) Thì nhân đã trao linh hồn và
tâm tinh cho vạn vật Trong thơ của ông, vạn vật đều có tình cảm, vạn vật đều
trao cảm tình cho bạn; thậm chí cây cỏ cũng làm cho bạn động lòng: “Mua xửng rừng thêm vắng/ Mong tìm một bóng chim/ Gió rung cảnh rụng nắng / Bimg sáng cánh hoa sim” (Cánh hoa sim)
Doc Quách Tắn là tìm lại tiếng đập rộn ràng của trái tim vũ trụ Ở đó, thiên nhiên phơi mở Những bức tranh phong cảnh ấy tĩnh và hoang vắng đến lạnh người Không gian bao la đang trở về trong ngọn đèn âm u của đêm tối tăm nhất trên cõi thế phù du này: “Không gian chìm bóng mộng/ Đèn khuya chong âm u/ Một nhoáng tan hàng lệ/ Muôn nghìn kiếp phù du” (Bóng phù sinh)
'Quả đúng như lời nhận định của Phạm Công Thiện: "Quách Tắn là một người Phật tử trọn vẹn, đã thu tóm tắt cả những mơ mộng của Phật giáo vào trong cuộc đời trầm lặng của mình [17, tr107] Cá
cũng như trên những vằn thơ Quách Tắn cũng là điểm gặp gỡ trong cái tịch “rằm lặng” trong đời
Trang 33lặng Sabi- thơ hai-kư của Basho và cái tĩnh lặng trong thơ Đường của Vương Duy Ở sự hòa điệu trong một tính thể đồng nhất giữa con người và thiên nhiên
trong một tâm thé an nhiên, tự tại của thơ Thiền thời trung đại Việt Nam
Sau Quách Tắn, phải kể đến Phạm Thiên Thư
12 PHẠM THIÊN THƯ - TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN NHỮNG TRANG THƠ 1.2.1 Nhà thơ thiền giữa cõi tục
Phạm Thiên Thư tên thật Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình Đông y, bố mẹ đều làm nghề bốc thuốc chữa bệnh Qué cha 6 xã Dinh Phùng, Kiến Xương, Thái Bình Quê mẹ ở xã Trung Mẫu,
Từ Sơn, Bắc Ninh Ông sinh ra tại Lạc Viên, Hải Phòng và trú quán ở trang trại Đá Trắng, Chỉ Ngãi, Hải Dương
Phạm Thiên Thư có một tuổi thơ khá êm đềm Đây chính là tiền đề thuận lợi giúp ông có được một hồn thơ trong trẻo và nhẹ nhàng Tuy nhiên,
để có một tài thơ bật hẳn lên thì phải từ năm 1958, sau một biến động của cuộc đời Chuyện là chang thi sĩ ho Pham bay giờ rất mê văn chương thơ phú Vậy nên ông cùng một số bạn bẻ sáng lập nên tổ chức Học hội Hồ Quý
Ly, thu hút đến 100 người, tụ tập thơ họa đêm ngày Thấy đám văn nghệ sĩ này cứ “ương ương đở đở” cảnh sát chế độ Sài Gòn chú ý vây bắt Học hội bị giải tán, công việc của ông bị gián đoạn, bản thân Phạm Thiên Thư bị nghỉ ngờ là phần tử cộng sản Để được yên thân, ông đã ẩn tu trong chủa Chảng thanh niên Phạm Kim Long đã không ngờ rằng đây chính là dấu mốc quan
trong trong cuộc đời cũng như sự nghiệp văn thơ của chí
Từ năm 1964-1973, Phạm Thiên Thư trở thành tu sĩ Phật giáo với pháp danh Thích Tuệ Không Trong gần 10 năm tu ở chủa, học đại học Vạn Hạnh,
ông
Phạm Thiên Thư đã tiếp cận tư tưởng nhà Phật, nghiên cứu về Thiển học Vì
lẽ đó mà kinh Phat, tinh thần Thiển thắm đẫm trong các sáng tác thơ ca của ông Thời gian này, Phạm Thiên Thư sáng tác được nhiều tác phẩm hay từ
Trang 34kinh Phật, đạo Thiền, đến thỉ ca Đây cũng chính là khoảng thời gian giúp ông ngộ ra được rất nhiều điều Phạm Thiên Thư đã có lần tâm sự: “Tu bắt dic di”
mà ngộ ra kinh Phật, ngộ ra chuyện Thiền rất nhanh nên tôi thấy mình là người may mắn, tôi sớm nhận ra một điều, nhà chùa là nơi không phải tôi
nương náu dé qua cơn bỉ cực mà là một cõi riêng, rất riêng để tôi tha hồ bay
bồng từ những điều ngộ ra chính mình và cuộc sống xung quanh: “Sớm nay
thông ngó mây về / Non xa xöa mái tóc thề chơi vơi / Cảnh thông vươn dậy ngó trời /Tự nhiên bật tiếng cả người hoan ca."[60] Cái sự “bắt đắc dĩ” ấy ở Phạm Thiên Thư đã trở thành một nét duyên tiền kiếp đối với cuộc đời của chính ông Để từ đó, ông tự tìm cho mình một cõi riêng, lựa chọn một kiểu tu
hành riêng: tụ tại gia
Năm 1975, tu sĩ Thích Huệ Không đã “xuống núi”, hoàn tục rồi xây dựng gia đình, sống cuộc sống của một người trần tục đúng như suy nghĩ của
riêng ông Nhiều người nhìn vào đó đã cho rằng ông đi tu mà tâm không thoát
tục, lòng vẫn hướng về cõi tục Thế nhưng ông chỉ cười: "Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình"[13] Chính vì lẽ đó mà mặc dù đã hoàn tục song Phạm Thiên Thư vẫn sống và vẫn hướng mình đến cõi đạo bằng con đường tu đạo riêng mà mình
đã lựa chọn
Tir sau 30/4/1975, có một giai đoạn ông ở ẩn Sau năm 1983, sự đam
mê nghiên cứu Thiền học đã giúp thỉ sĩ họ Phạm nghiệm ra phương pháp chữa bệnh điện công Phathata từ những cách tham thiền, vận nội công và Yoga Phathata là phương pháp tập luyện nhân điện từ điều chỉnh bế tắc, rối loạn cơ thể và tâm lý thông qua khả năng siêu ý thức Tiền đề của phương pháp chữa bệnh này được ông tích lũy từ những ngày học võ (bố ông vừa là thầy thuốc, vừa đạy võ), thời gian tầm sư học đạo ở Thất Sơn (Bảy Núi- An Giang) và xuất phát từ quan điểm y lý của ông được tóm gọn trong câu “con
Trang 35người có khả năng tự điều chinh” Ông được bác sĩ- nghệ sĩ Trương Thìn,
Viện trưởng viện Y học dân tộc từng mời về cộng tác với viện Trong suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư vẫn làm thơ, thỉnh thoảng cho đăng báo
những bài thơ ngắn Đôi lần, văn thì hữu cũng gặp ông đến tham dự các buổi
họp mặt của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay nhà thơ Phạm Thiên Thư vẫn tham gia câu lạc bộ chữa bệnh miễn phí cho mọi người bằng
phương pháp phathata và nhiều hoạt động từ thiện khác
Giữa dòng đời xuôi ngược, cuộc đời xoay chuyển nhiều hướng và cũng lận đận kiếm sống bằng nhiều nghề nhưng cho đến hôm nay, Phạm Thiên Thư vẫn giữ được phong thái cao nhã của một bậc tu sĩ ngảy nào nương nhờ cửa Phật Việc ông xuất hiện trên thi đàn văn học vào cuỗi những năm 60 đã
những phương cách chữa bệnh cho con người theo lối “tự điều chỉnh” như
ông đã quan niệm Từ đó có thể nhận thấy dù là tu ở chùa hay tu tại gia, nhưng tư tưởng kinh Phật luôn chỉ phối suy nghĩ và hành động của Phạm Thiên Thư Vì lẽ đó, mọi người xem ông là vị tu sĩ giữa cõi tục cũng là lẽ thường tình
Phạm Thiên Thư là một người
hậu, khuôn mặt ngời lên vẻ vô ưu,
tính tình điềm đạm, khiêm nhường Điều này cộng với tắm lòng yêu mắn thơ
ca, phú họa đã làm nên một hỗn thơ Phạm Thiên Thư rộng mở, khoáng đạt mà rất đỗi trong sang, dep de
'Văn hóa Việt Nam rit coi trong tâm linh va chịu ảnh hưởng sâu sắc của
tư tưởng Phật giáo, giáo lí nhà Phật Thể nhưng, người Việt đã không đặt vấn
48 tu hạnh bằng con đường gửi mình nơi chốn cửa chùa lên hàng đầu Mà họ xem “tu tại gia”,“tu chợ” mới là con đường giúp họ hạnh ngô nhiều hơn Trần
Trang 36Thái Tông từng nói: “Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, bắt câu tăng tục, hưu biện xuất gia tai gia, nhi chủ yếu biện tâm ”(không phân biệt sống ở đời hay sống trong rừng, không phân biệt tại gia hay xuất gia, chỉ cốt là biện tâm J[I3]
Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt như thế Ông được xem là một
iữa cõi tục “Tu bất đắc dĩ” mà ngộ ra kinh Phật để rồi sau đó cối rũ áo cả sa hoàn tục, về với bụi trần cuộc đời Chính ông đã nhận
Tạ hóa tình thân hoa có may”{S6, tr95],
Pham Thiên Thư in tập thơ đầu tay lúc 30 tuổi, nỗi danh với những điều
kỳ lạ và đã đóng góp cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm độc đáo Trong
khoảng 10 năm tu chùa, Phạm Thiên Thư đã làm một việc mà hiếm có ai làm
được, đó là ông đã thì hóa 7 bộ kinh Phật, với một mong muốn kinh Phat di vào cuộc sống người Việt một cách gần gũi nhất Trong kinh Phật, nội dung thuyết giảng của đức Phật thường được tóm tắt thành những bài kệ ở mỗi phẩm Đó cũng được xem là một dạng thơ Nhưng Phạm Thiên Thư vẫn được xem là người đầu tiên thi hóa kinh Phật trong nền văn học Việt Nam Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã ghỉ nhận hai kỷ lục của Phạm Thiên Thư Đó là: Người đầu tiên thi hóa kinh Hiền Ngu (gồm 9 quyền 46 chương), chuyển thể
thi hóa thành 12062 câu thơ lục bát kinh Hiền Hội Hòa Đảm, và là người đầu
tiên sáng tác 7 điển cười (Tiểu liệu pháp) gồm 5000 từ ngữ dưới hình thức thơ ca ( )
Là một người thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nhưng tinh thần Phạm Thiên Thư luôn mở rộng Ông nói, cốt lõi của các tư tưởng là “luôn biết mình
Trang 37đốt (Socra0, để gột tính kiêu (Phật giáo), để yêu như mới (Công giáo), để cởi mối hiềm (thể giới đại đồng), dé thêm tinh tiền (kết quả cuối cùng) Tổng hòa các tư tưởng này để sống” [3] Với tư tưởng sống như vậy, Phạm Thiên Thư lựa chọn lối sống tu hành giữa cõi tục cũng như tự đặt ra khó khăn, thử thách
để buộc chính mình phải nỗ lự rèn luyện, phấn đấu mà vươn tới cõi vô tru và
thấu đạt chân lý Thiền
1.2.2 Chất Thiền trên những trang thơ
Phạm Thiên Thư chính là một nhà thơ với phong cách trữ tình rất khó trộn lẫn với nhiều thi sĩ đương thời (nhất là các thi sĩ miền Nam bấy giờ cùng
dòng sáng tác) “Ra di từ đời và trưởng thành từ đạo”,
nhờ có đạo mà giác ngộ lại trở về với đời để trải nghiệm đạo và tu hạnh, hiểm thấy một ai như Pham Thiên Thư vậy Với quan niệm, thơ xuất phát từ tâm: “ Thơ hay phải dày kinh nghiệm, phải chiếm cảm quan, phải san trí tuệ, phải để trong tâm, phải trầm trong nhạc, phải nạp trong tình, tụ hình ở khoảng không, để sống với tắt cả"3]; thơ phải mang tính dân tộc: "Sáng tác phải có cái riêng của Việt Nam ( )Là nghệ sĩ , sing tác thì hướng về dân tộc [3], Phạm Thiên Thư
đã tạo nên một phong cách, một nét riêng trong dời cũng như trong thơ Quan
đã là trở thành những định hướng sắng tác đúng đắn của ông để từ đó giúp ông có những thành công trên hành trình thơ
niệm đó cùng với cảm thức Thi
lên khá muôn nhưng đã đóng góp cho văn học Việt
tuổi Phạm Thiên Thư gắn chặt với danh vị “thi sĩ” khi loạt thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành những tình khúc nỗi tiếng nhu: Baca em tim Đông Hoa Làng, Ngày xưa Hoàng Thị, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sdu, Vay thi nhờ vào đâu mà những ca khúc ấy lại có sức quyến rũ lòng
Trang 38người đến vậy? Để rồi sau đó, tén tudi Phạm Thiên Thư “nồi như cồn” trong lòng công chúng yêu thơ, yêu nhạc? Có lẽ là bởi những tình khúc ấy cứ vấn vít giữa đời và đạo thật khác thường đã đem cho người đọc, người nghe
những xúc cảm bắt ngờ
Ngoài Phạm Duy, thơ Phạm Thiên Thư còn để lại nhiều cảm xúc và gợi hứng sáng tác cho các nhạc sĩ cùng thời khác cũng nỗi tiếng như : Cung Tiến với nhạc phẩm Như cánh chim bay, Võ Tá Hân với Guốc Tĩa, Đôi mắt thuyển độc mộc và Trần Quang Long với Động Hoa Vàng Phải thấy rằng với những tỉnh khúc êm ái đó, tên tuổi Phạm Thiên Thư dã trở nên nỗi tiếng hơn
khi nhà thơ được n
Biết đến Phạm Thiên Thư là biết đến một nhà thơ- tu sĩ với những điều
kỳ lạ: một cuộc đời kỳ lạ, một sự nghiệp thơ kỳ lạ Tắt cả đều khởi nguồn từ mối duyên tiền định giữa cõi Phật- cõi tục Nhà sư- nhà văn Tam Ích trong lời
người gọi là “ vị tu sĩ lãng mạn”
bạt “Chân dung một nếp duyén” (in trong cùng tập thơ Động Hoa Vàng) đã cho rằng: “ đuyên cũng như một điểm kiến trúc lớn Có duyên ấy cho nên mọi thành tố của khối kiến trúc thành hình vạn hữu riêng chung trong càn khôn Vạn hữu không riêng chung nhưng thị giác con người nhìn như riêng như chung- một mà thôi Đó là lẽ Th
như chung- một mà thôi” ấy đã là ngọn nguồn cho sự nảy sinh những vẫn thơ đạo- đời mênh mang ở Phạm Thiên Thư
Trong những năm tháng ở nhà chùa, Phạm Thiên Thư nghiên cứu về Thiền
"[59] Chính nếp duyên * như riêng,
học rất nhiều, vì vậy sở thích của ông là thơ Thiền Bấy giờ, tư tưởng Phật giáo cũng phổ biển rộng rãi, bộ phận thơ Thiền Việt Nam do vậy có nhiều thuận lợi
để phát triển *Những năm 60 ở miễn Nam, thơ Thiền đã dần tiếp cận sinh khí phương Tây và hiện đại hóa, song song với nhạc Trịnh Công Sơn là thơ Bai
Trang 39Giáng, Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư "|5] Với Phạm Thiên Thư, những thành công lớn đi
tiên của nhà thơ chính là những thì phẩm ở dạng thơ
đạo Những bài thơ ông sáng tác trong những năm đầu ở nhà chùa được tập
hợp trong tập Thơ Phạm Thiên Thư (1968) có nhiều bài mang âm hưởng Thiền
Mang đến cho ông giải thưởng Văn chương Toàn Quốc (miễn Nam Việt Nam),
vào năm 1973 đáng chú ý nhất có lẽ 18 hai tée phim: Déng Hoa Vang (1971)
và Hậu Truyện Kiều ~ Đoạn Trường I'ô Thanh (192)
Déng Hoa Vang là một bai thơ đẹp đúng như nhan đề của nó, là một trong những thi phẩm nổi tiếng trong cõi thơ Phạm Thiên Thư Đồng /foa Vàng gồm 400 câu thơ lục bát gói trọn trong 100 đoản khúc, đề cập đến tình yêu trong sáng, cao khiết và không nhuồm màu tục lụy Đến với tác phẩm
này, người đọc như được dẫn đến một chốn huyền thoại nên thơ, một “thể giới tịch lặng, đơn sơ đẫm hương Thiền, nơi ấy con người có thể tìm con đường nuôi dưỡng chân tâm hầu mong sự bình yên, thanh thản” [29] Bởi lẽ ở
đồ con người có thé:
Khơi trầm thơm tụng kinh hiển máu xuân mạch lạnh trong miễn xương da
vườn chùa có nụ hằm ca sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn [52, tr58]
Hay sẽ được tìm thấy được phút giây thanh nhàn, thoát tục: “Ta về rũ
áo mây trôi/ gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan ”{52, tr.35] Dường như Đồng Hoa Vang cũng chính là "đóa hoa vô thường” mà nhà thơ Phạm Thiên Thư đã mang tặng cho cuộc đời này
“Tập truyện thơ lục bát Đoạn đrưởng võ thanh (1972) lại chất chứa một
vẻ đẹp khác Nếu Động Hoa Vàng là một bức tranh đơn sơ như những nét thủy mặc cô đọng, diệu vợi thì Đoạn rrưởng vô thanh đẹp vì vô tướng (theo lời tựa của tác phẩm) Vô tướng là không còn sắc tướng hữu hạn nữa, vượt ra
Trang 40khỏi mọi hạn chế và tính quy định của sắc tướng [4, tr792] Bởi vậy mà mộng và thực lồng vào nhau, người đọc như không còn phân biệt nỗi giữa đời
và đạo Đoạn (rường vô thanh ra mắt lần đầu tiên năm 1969, gồm 3296 câu
lục bát, được chia làm 27 bức, mỗi bức có một tựa đẻ riêng Tập thơ mang ý
nghĩa nối tiếp tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, với nội dung
kể tiếp cuộc đời Kiều từ sau khi hội ngộ với Kim Trọng nén goi la Hau Truyện Kiều Nhưng thay vì Tân thanh, tác giả ding I'ô thanh, nghĩa của tưa
đề là “Đứt ruột không tiếng” Tác giả đã gói gọn ý nghĩa chủ để của Hậu Kiều cqua những dòng thơ trong lời khai tập:
Đoạn Trường số gói tên hoa
“Xa là Giọt Lệ nay là Hạt Châu Nhận định về tác pÏ
tương đối xác đáng: “ Phạm Thiên Thư đã tô đậm thêm những chỗ còn thiếu sót và mờ nhạt của Truyện Kiều Nguyễn Du Nghệ thuật biểu hiện linh hoạt
và ngôn ngữ cẩm tú của Đoạn Trường Vô Thanh có khá nhiều câu, đoạn
này, nhà phê bình Thái Doãn Hiểu có ý kiến
chương hay nghiêng ngửa Đoạn Trường Tân Thanh Hai quyển Kiều có giá trị
bổ sung nâng đỡ làm đẹp cho nhau, chứ không phải loại trừ nhau ”|S3, tr211]- Cái "làm đẹp cho nhau” này chính là sự thành công về giá trị nội dung và cả nghệ thuật biểu hiện của hai thi phẩm Trong đó, “Tâm Thiền” được xem là cái cốt lõi để nâng Đoạn trưởng tân thanh và Đoạn trường vô thanh lên một tầm cao về phương diện mỹ cảm tỉnh thần của con người trên con đường dung hóa và sáng tạo của ý thức Việt Ở đây chúng ta chỉ ghỉ nhận những nỗ lực cũng như sự đóng góp và lòng kính trọng của Phạm Thiên Thư đối với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Nếu nhìn một cách bao quát thì di nhiên là Đoạn rrưởng vô (hanh của Phạm Thiên Thư về bút lực chưa thể sánh kịp với Đoạn trưởng tân thanh của Nguyễn Du
Sau Động Hoa làng và Đoạn trường vô thanh, phải nhắc đến Mười bài