khảo sát thành phần hóa học của địa y lobaria pulmonaria (lobariacea) thu hái ở tỉnh lâm đồng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
KHOA HÓA HỌC
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA
ĐỊA Y LOBARIA PULMONARIA (LOBARIACEA)
THU HÁI Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 2MỤC LỤC
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 4
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
2.1 Tổng quan về chi Lobaria 6
2.1.1 Đặc điểm chung 6
2.1.2 Phân bố 6
2.1.3 Mô tả thực vật một số loài địa y thuộc chi Lobaria 6
2.1.4 Các nghiên cứu hóa học về chi Lobaria 9
2.1.4.1 Các hợp chất chứa N: 9
2.1.4.2 Depside – Tridepside: 9
2.1.4.4 Sesterterpenoid: 10
2.1.4.5 Triterpenoid: 10
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Địa y Lobaria pulmonaria 10
2.2.1 Mô tả thực vật 10
2.2.2 Phân bố 10
2.2.3 Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học 11
2.2.4 Các nghiên cứu hóa học 11
2.3 Mục đích nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 16
3.1 Kết quả 16
3.2 Bàn luận 17
3.2.1 Hợp chất LP1 17
3.2.2 Hợp chất LOBA1 18
Trang 3Trang 2
3.2.5 Hợp chất LOBA 9 19
3.2.3 Hợp chất LOBA 5A 20
3.2.4 Hợp chất LOBA7 22
4 KẾT LUẬN 24
PHỤ LỤC 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Một số địa y dạng bột (crustose) 5
Hình 2 Một số địa y hình lá (foliose) 5
Hình 3 Một số địa y dạng sợi (fructicose) 5
Hình 4 Địa y Lobaria amplissima 7
Hình 5 Địa y Lobaria virens 7
Hình 6 Địa y Lobaria srobiculata 8
Hình 7 Địa y Lobaria pulmonaria được thu hái tại tỉnh Lâm Đồng 11
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 So sánh dữ liệu phổ của LP1 và Orcinol 17
Bảng 2 So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LOBA1 với Methyl orsellinate 18
Bảng 3 So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LOBA5A với Ergosterol-5 ,8 -peroxide 21
Bảng 4 So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LOBA7 với Methylstictic acid 23
Bảng 5 So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LOBA9 với Methy - orcinolcarboxylate 19
Trang 4LỜI CẢM ƠN
****
Để hoàn thành Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học này, đầu tiên em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn là Thầy Dương Thúc Huy, giảng viên chuyên nghành hóa hữu cơ khoa hóa, trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM, đã hướng dẫn chúng em làm
Trang 5Trang 4
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Địa y là một dạng cơ thể phức tạp được tạo nên từ nhiều thành phần khác nhau Thành phần chính trong địa y thường là nấm Nấm không thể tự tạo ra nguồn thức ăn cho mình nên chúng thường sống cộng sinh với một thành phần khác hoặc sống hoại sinh Nấm trong địa y (thuộc giới Nấm) thường cộng sinh với một thành phần khác, thành phần này có khả năng tạo ra nguồn dinh dưỡng thông qua quá trình quang hợp Đôi khi thành phần này là tảo, khi khác lại là vi khuẩn lam, cũng có khi là bao gồm cả hai loại trên.[17]
Mỗi loài địa y cần điều kiện sống và phát triển khác nhau Một số địa y chỉ phát triển trên giá thể có tính acid, một số khác phát triển trên giá thể có tính baz hoặc trung tính Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…đều có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài địa y Nhờ có các điều kiện sống đa dạng mà địa y có mặt ở khắp nơi trên thế giới, từ những môi trường quen thuộc (trong rừng, trên tường…) đến những môi trường sống khắc nghiệt (hai vùng cực, đỉnh núi, sa mạc…).[1]
Địa y tăng trưởng với một tốc độ rất chậm Địa y dạng bột tăng trưởng từ 0.1 đến
1 mm/năm, địa y dạng lá tăng trưởng từ 2-4 cm/năm Địa y rất nhạy cảm với ô nhiễm không khí nên có thể xem địa y như một loại chỉ thị tự nhiên về chất lượng không khí Do
đó ngày nay phải đi xa khỏi thành phố vài dặm chúng ta mới có thể tìm thấy địa y.[4]
Địa y phát triển với nhiều hình dạng khác nhau, dựa vào đó mà địa y được phân thành các loại khác nhau nhưng thường thấy nhất có 3 dạng chính[17]
* Crustose lichen: Địa y dạng bột mịn Loài địa y này có dạng trông giống như bột mịn
dính rất chắc vào đá, cây cối, vỉa hè hoặc trong đất, thường rất khó để tách chúng ra khỏi những giá thể này mà không làm tổn hại đến giá thể
* Foliose lichen: Địa y dạng phiến lá Loài địa y này thường có dạng như lá, tán của
chúng có thể phân ra thành nhiều thùy (lobes) Thường chúng gắn với giá thể (nhưng không quá chặt) thông qua những cấu trúc khác nhau, một trong số đó là cấu trúc trông như rễ giả gọi là rhizine
Trang 6* Fructicose lichen: Địa y dạng sợi Loài địa y này thường có tiết tròn, phân nhiều nhánh,
trông như một chùm lông bám trên giá thể hoặc cũng có khi giống như những sợi dây buông thõng trên các cây lớn
Bacidia inundata Nectriopsis physciicola Pertusaria multipuncia
(ảnh được chụp bởi Ballingeary và County Cork tại Ireland)
Hình 1 Một số địa y dạng bột (crustose)[12*]
Lobaria pulmonaria Menegazzia terebrata Sticta canariensis
(ảnh được chụp bởi Ballingeary và County Cork tại Ireland)
Hình 2 Một số địa y hình lá (foliose) [12*]
Cetraria aculeate Ramalina cuspidate Usnea wasmuthii
(ảnh được chụp bởi Ballingeary và County Cork tại Ireland)
Hình 3 Một số địa y dạng sợi (fructicose) [12]
Trang 7Trang 6
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Họ Lobariaceae bao gồm các loài địa y có tán rộng, đường kính có thể lên đến
50 cm hoặc hơn Họ địa y này có gần 800 loài và được chia thành 3 chi chính.[4]
hiện thấy có nhiều loài địa y thuộc chi Lobaria Trong đó có một số loài phát triển mạnh
với số lượng nhiều Do đó, chúng tôi đã chọn các loài địa y thuộc chi này làm đối tượng nghiên cứu
2.1 Tổng quan về chi Lobaria
2.1.1 Đặc điểm chung
Địa y thuộc chi Lobaria có dạng hình lá, kích thước lớn, các thuỳ thường phân
nhánh, có phần rìa bo tròn không sắc cạnh Bề mặt trơn nhẵn hoặc có các nếp gấp dạng lưới Màu sắc thay đổi tuỳ thuộc vào môi trường khô ráo hay ẩm ướt Mặt dưới màu trắng hoặc xám nhạt, có gắn rễ giả gọi là rhizines.[17]
Trang 8Hình 4 Địa y Lobaria amplissima[12]
Phân bố
Lobaria amplissima thường được tìm thấy trên vỏ cây, đặc biệt là những cây rụng
lá Đôi khi loài địa y này còn được tìm thấy trên những tảng đá (ngoại trừ đá vôi) Chúng nhạy cảm với sự ô nhiễm và sẽ biến mất khi nồng độ CO2 trong không khí lớn hơn 30 μg/m3
Chúng thường phân bố tại vùng có khí hậu ôn đới, nơi ít nhiều ẩm ướt.[17]
2.1.3.2 Lobaria virens
Mô tả thực vật
Địa y thuộc dạng foliose, đường kính có thể đạt đến 30 cm, bám khá chặt vào giá thể Thuỳ rộng từ 0.5 đến 3 cm, phần rìa bo tròn, nằm tách rời, tiếp giáp hoặc chồng chéo lên nhau Màu sắc thay đổi từ xám đến xanh lá trong môi trường khô ráo đến ẩm ướt Bề mặt khá trơn láng, đôi khi có gợn sóng Mặt dưới màu nâu nhạt, được bao phủ bằng một lớp lông tơ.[17]
Hình 5 Địa y Lobaria virens[12]
Trang 9Trang 8
Phân bố:
Lobaria virens thường được tìm thấy trên thân cây sồi, cây trần bì, cây du hay cây
dẻ, đôi khi chúng còn được tìm thấy trên những tảng đá râm mát hoặc trên các vách đá Đây là loài địa y phổ biến từ khu vực Đại Tây Dương cho đến Na Uy.[17]
2.1.3.3 Lobaria srobiculata
Mô tả thực vật
Địa y dạng foliose, đường kính khoảng 20 cm Thuỳ rộng từ 1 đến 3 cm, phần rìa
bo tròn có dạng răng cưa Bề mặt xù xì không trơn láng Trong môi trường khô ráo, bề mặt có thể thay đổi từ màu xám đến xanh dương nhạt Mặt dưới màu nâu nhạt và có lông
tơ Túi bào tử ban đầu có hình nắm tay sau đó không có hình dạng nhất định Các hạt được phát tán đi từ túi bào tử để tạo sự sống mới có màu xám lục.[17]
Hình 6.Địa y Lobaria srobiculata[12]
Phân bố
Lobaria srobiculata thường được tìm thấy trên những tảng đá (ngoại trừ đá vôi)
hoặc trên những thân cây không có nhựa Chúng được tìm thấy ở những nơi ẩm ướt, có khí hậu ôn đới và lạnh Ngoài ra chúng còn được tìm thấy ở một vài nơi tại châu Âu.[17]
Trang 102.1.4 Các nghiên cứu hóa học về chi Lobaria
2.1.4.1 Các hợp chất chứa N:
Sticticin (1) được tìm thấy trong Lobaria virens[19]
2.1.4.2 Depside – Tridepside:
Meta–scrobiculin (2) và para–scrobiculin (3) được tìm thấy trong Lobaria
scrobiculata[6] 4-O-methylgyrophoric acid (4) được tìm thấy trong Lobaria dissecta[7]
M
meta-Scobiculin (2) para-Scobiculin (3) 4-O-methylgyrophoric acid (4)
2.1.4.3 Depsidone:
Cryptostictic acid (5) và methylstictic acid (6) được tìm thấy trong Lobaria
oregana[13] Stictic acid (7) được tìm thấy trong Lobaria retigera (Bory) Trev[19] và
isidiophorin (8) được tìm thấy trong Lobaria isidiophora Yoshim[19]
C
H3
C
H3COOH OH
OH
OCH3O
Trang 1115 14 18
19
13
1 223
20
22 12 11
10 3
4 5 6
8 7
21 9
16 15 14 18 19
13
1 223
20
22 12 11
10 3
4 5 6
8 7
21 9
30 28 17 18
14
7
23 24
3
2
25
10 9 11 12 26
13
15 16 27
1
6 8
O H
30 28 17 18
14
7
23 24 3 2 25
10 9 11 12 26
13
15 16 27
1
6 8
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Địa y Lobaria pulmonaria
2.2.1 Mô tả thực vật
Lobaria pulmonaria là địa y có dạng lá, có thuỳ rộng, khi còn tươi có màu xanh lá
và khi khô có màu nâu nhạt Bề mặt có dạng lưới với các mắt lưới trũng sâu, mặt dưới
màu trắng hoặc nâu nhạt có gắn các rễ giả gọi là rhizines.[2]
2.2.2 Phân bố
Lobaria pulmonaria phân bố rộng những khu vực có khí hậu ẩm ướt, lượng mưa
cao tại châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ và châu Phi.[10] Loài địa y này đặc biệt nhạy cảm với ô
nhiễm không khí nên hiện nay, Lobaria pulmonaria đang dần biến mất tại Châu Âu cũng
như những khu vực xây dựng khu công nghiệp.[21] Ngoài ra loài địa y này cũng đã được
nuôi cấy trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho nhiều nghiên cứu.[23]
Trang 12Hình 7 Địa y Lobaria pulmonaria khi mới thu hái (hình trái) và sau khi phơi khô
(hình phải)
2.2.3 Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học
Lobaria pulmonaria được sử dụng làm thực phẩm hay mỹ phẩm Ngoài ra loài địa
y này còn được sử dụng trong các bài thuốc dân gian để điều trị các bệnh khác nhau như bệnh chàm, các bệnh về đường hô hấp, phổi, viêm khớp.[9] Trong y học Thổ Nhĩ Kỳ sử
dụng Lobaria pulmonaria như một thuốc trị nhuận tràng và rối loạn hô hấp.[19]
Năm 2003, Suleyman H và những cộng sự[11]
đã công bố dịch chiết nước của loài
Lobaria pulmonaria có đặc tính kháng viêm nimesulide và indomethacin
Năm 2004, Fehmi Odabasoglu cùng các cộng sự[11] đã công bố dịch chiết
methanol của Lobaria pulmonaria và Ussea longissima có khả năng chống oxi hóa
Năm 2009, Basak Karakus và những cộng sự[3] đã công bố dịch chiết methanol
của Lobaria pulmonaria có khả năng ức chế indomethacin ở chuột – một tác nhân gây
tổn thương niêm mạc dạ dày
Ngoài ra vào năm 1999, EMEA[20] - the European Agency for the evaluation of
medicinal products cũng đã công bố về việc Lobaria pulmonaria được sử dụng để chế
biến thức ăn trong lĩnh vực thú y
2.2.4 Các nghiên cứu hóa học
Cho đến ngày nay, vẫn còn rất ít các bài báo nghiên cứu thành phần hoá học của loài địa y này Siegfried huneck và Isao Yoshimura[19] đã công bố trong loài Lobaria
pulmonaria có chứa dẫn xuất của acid rhizonic như rhizonaldehide (13) và rhizonyl
Trang 13Trang 12
alcohol (14), các depsidone như 4,2’- di-O-methoxyconnorstictic acid (15), vesuvianic
acid (16) pulmonarianin (17) và các steroid như episterol (18), fecosterol (19), stigmasterol (20), ergosterol-5α,8α-peroxide (21)
Năm 1975, S.Catalano và những cộng sự[11] đã công bố tìm thấy một depside là
gyrophoric acid (31) trong loài Lobaria pulmonaria
Năm 1999, EMEA[20] the European Agency for the evaluation of medicinal products
cũng đã công bố về sự có mặt của gyrophoric acid (31) và tenuiorin (32) trong loài địa y
này
Năm 1994, Antonio G.Gonzalez và những cộng sự của ông[2] đã công bố loài Lobaria
pulmonaria có chứa các depsidone như stictic acid (22), hypostictic acid (23),
cryptostictic acid (24), methylstictic acid (25), norstictic acid (26) và một loại mới được tác giả kí hiệu số 10 (27)
Năm 2012, Boris Pejin[5]
và những cộng sự của ông đã cô lập được một depsidone
mới (28) từ Lobaria pulmonaria Thử nghiệm khả năng ức chế acetylcholinesterase cho
thấy hợp chất này không có hoạt tính nhưng dẫn suất diacetate của hợp chất này lại có khả năng ức chế ở nồng độ 1 μg/mL
Năm 2010, Fadime Atalay[8] và các cộng sự của ông đã cô lập được từ Lobaria
pulmonaria các depsidone như stictic acid (22), isidiophorin (29), pulmonarianin (30),
vesuvianic acid (16), dẫn suất của acid rhizonic như rhizonaldehyde (13), rhizonyl alcohol (14) và steroid như ergosterol-5α, 8α- peroxide (21)
Dẫn xuất của acid rhizonic:
Depsidone: Rhizonaldehyde (13) Rhizonyl alcohol (14)
4,2’- Di-O-methylconnorstictic acid (15) Vesuvianic acid (16) Pulmonarianin (17)
Trang 149' 9
O HO
1 2 3 4 5 7
1' 2' 3' 4' 5'
7' 8'
9' 9
8
O O
O
Hypostictic acid (23) Cryptostictic acid (24)
Depsidone 10 (27) Methylstictic acid (25) Norstictic acid (26)
Depsidone 1 (28) Isidiophorin (29)
1 2 3 4
567
1' 2' 3' 4' 5' 6' 7' 8'
9' 9
8 O O
O
O
H3C
1 2 3 4 5 6 7
1' 2' 3' 4' 5' 6' 7' 8'
9' 9
8 O O
O
H3C
H3CO
CH3OH O
H O
Ha Hb Hc
Trang 15Mục tiêu của đề tài là khảo sát thành phần hoá học của các hợp chất cô lập được từ
loài địa y Lobaria pulmonaria
Từ loài địa y đã thu hái tiến hành thực hiện các bước sau:
- Điều chế các loại cao
- Cô lập các hợp chất tinh khiết
- Xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất cô lập được
O O
CH3
OH HO
Trang 162.4 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành điều chế cao methanol của loài địa y Lobaria pulmonaria Từ 1.4 kg
bột khô đã điều chế được 230 gam cao thô methanol Quy trình điều chế cao đựơc trình bày như sơ đồ 1
Từ cao methanol, giải ly lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần để phân chia cao methanol thành các 5 phân đoạn khác nhau Sau đó, cô lập các hợp chất hữu cơ bằng sắc ký cột pha thường, sắc ký cột điều chế và sắc ký cột pha đảo…
Khảo sát cấu trúc hoá học của các hợp chất cô lập được bằng các phương pháp hoá lý hiện đại như phổ IR, MS, 1D và 2D-NMR
Rửa sạch với nước, sấy khô,
xay nhuyễn
Trích với methanol, đuổi dung môi
Sắc ký cột với hệ dung môi có độ phân cực tăng dần (H, EA, M)
Đuổi dung môi
Sơ Đồ 1.Quy trình chung điều chế và cô lập các hợp chất của địa y Lobaria pulmonaria
Mẫu địa y tươi
1,4 kg
Bột khô
Cao methanol thô
LoBa7 (25 mg) LP1 (800 mg)
LoBa9 (20 mg) LoBa5 (5 mg)
LoBa1 (3,5 gam)
Trang 176 1 2 3 4 5
7 8
CH3
O H
CH3
OH OCH3O
4
5 6
1 2 3
H3
CH3
O O 2
14 15
16 13
12 11
20 17
22
23 24
25 26
27
28 21
19
18
9 8
O O
OH
CH3
OCH3
1 2 3 4 6
8' 6' 5' 9
5
3'
Ergosterol-5 ,8 -peroxide (LOBA5A) Methylstictic acid (LOBA7)
Trang 18So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LP1 với orcinol nhận thấy có sự tương đồng
Do đó đề nghị hợp chất LP1 là orcinol với công thức như sau
6 5
1 7
Orcinol (LP1)
Bảng 1 So sánh dữ liệu phổ của LP1 và Orcinol [18]
Trang 19d, J = 2,1 Hz)
Phổ 13C-NMR cho 6 tín hiệu carbon của vòng thơm trong vùng từ trường từ δC = 101,6 ppm đến166,2 ppm, một tín hiệu của nhóm –COO- tại δC 172,9 ppm và tín hiệu của carbon methyl gần nhóm –COO- tại δC 24,1 ppm
So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LOBA1 với methyl orsellinate nhận thấy có sự
tương đồng Do đó đề nghị hợp chất LOBA1 là methyl orsellinate với công thức như sau
CH3
COOCH3
OH O
H
6 1 2 3 4 5
7 8
Methyl orsellinate (LOBA1) Bảng 2 So sánh dữ liệu phổ của hợp chất LOBA1 với Methyl orsellinate [15]