1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hệ thống lưỡng viện trên thế giới

78 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu hệ thống lưỡng viện trên thế giới
Tác giả Bùi Thị Kim Anh
Người hướng dẫn TS Phan Nhật Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật hành chính
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH LƯỠNG VIỆN (7)
    • 1.1 Cơ sở lý luận chung về Nghị viện (7)
      • 1.1.1 Lịch sử hình thành Nghị viện (7)
      • 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm Nghị viện (10)
      • 1.1.3 Các giai đoạn phát triển của Nghị viện (14)
    • 1.2 Lƣỡng viện và cơ cấu tổ chức (16)
      • 1.2.1 Hạ viện (17)
      • 1.2.2 Thượng viện (0)
    • 1.3 Thẩm quyền Nghị viện (lƣỡng viện) (24)
      • 1.3.1 Thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp (24)
      • 1.3.2 Thẩm quyền trong lĩnh vực ngân sách và tài chính (25)
      • 1.3.3 Thẩm quyền trong lĩnh vực đối ngoại và phòng thủ quốc gia (25)
      • 1.3.4 Thẩm quyền trong lĩnh vực tư pháp (25)
      • 1.3.5 Thẩm quyền trong lĩnh vực giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước (26)
    • 1.4 Thủ tục hoạt động của lƣỡng viện (26)
      • 1.4.1 Thủ tục tiến hành kỳ họp của Nghị viện (Session) (26)
      • 1.4.2. Thủ tục lập pháp (27)
      • 1.4.3 Thủ tục giám sát (Supervision) (30)
  • Chương 2: HỆ THỐNG LƯỠNG VIỆN CỦA MỘT SỐ NHÀ NƯỚC ĐIỂN HÌNH . 29 (34)
    • 2.1 Nhà nước quân chủ đại nghị Anh (35)
      • 2.1.1 Quá trình hình thành lưỡng viện (0)
      • 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của lưỡng viện (0)
      • 2.1.3 Quy trình lập pháp của lưỡng viện (0)
      • 2.1.4 Mối quan hệ giữa lưỡng viện với nhánh hành pháp, tư pháp (0)
    • 2.2 Nhà nước tư sản Hoa Kỳ (48)
      • 2.2.1 Lịch sử hình thành lưỡng viện (0)
      • 2.2.2 Cơ cấu tổ chức của lưỡng viện (0)
      • 2.2.3 Quy trình lập pháp của lưỡng viện (0)
      • 2.2.4 Mối quan hệ giữa lưỡng viện với nhánh hành pháp, tư pháp (0)
    • 2.3 Nhà nước Cộng hòa Pháp (61)
      • 2.3.1 Lịch sử hình thành lưỡng viện (0)
      • 2.3.2 Cơ cấu tổ chức của lưỡng viện (0)
      • 2.3.3 Quá trình lập pháp của lưỡng viện (0)
      • 2.3.4 Mối quan hệ giữa lưỡng viện với nhánh hành pháp, tư pháp (0)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH LƯỠNG VIỆN

Cơ sở lý luận chung về Nghị viện

1.1.1 Lịch sử hình thành Nghị viện

Nhùng với sự phát triển của xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước cũng ngày càng hoàn thiện để đáp ứng các nhu cầu quản lý và điều hành Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt, hình thành các mâu thuẫn giai cấp không thể dung hòa, gây ra các cuộc đấu tranh nổi dậy của tầng lớp bị áp bức Nhà nước ra đời nhằm giải quyết các mâu thuẫn xã hội này, đảm nhận vai trò trung tâm trong việc duy trì trật tự và công bằng Tuy nhiên, vì không thể trực tiếp xử lý tất cả các công việc cộng đồng, Nhà nước phải bổ nhiệm những người đại diện để thực hiện nhiệm vụ quản lý hiệu quả hơn Ý tưởng về việc có các cơ quan đại diện để giải quyết các công việc xã hội là nền tảng của tổ chức bộ máy nhà nước hiện đại.

Xô Lông (638- 559 TCN) đưa ra và đã được áp dụng triệt để ở nhà nước Aten, La Mã

Hội đồng 400 người ở Aten là cơ quan tư vấn cao cấp, chuẩn bị các vấn đề quan trọng để Hội đồng nhân dân thảo luận và quyết định Ngoài ra, họ còn có nhiệm vụ giải quyết các công việc hàng ngày của nhà nước Tương tự, ở La Mã, Viện nguyên lão (tiền thân của Thượng viện) đóng vai trò tương tự trong quản lý và chuẩn bị các vấn đề chính trị quan trọng.

Các thành viên trong hội đồng này là những quý tộc giàu có, có thế lực và đã từng giữ các chức vụ quan trọng, đảm nhiệm nhiệm vụ giải thích luật pháp và đề xuất xây dựng luật mới Hội đồng 400 người ở Athens hoặc Viện nguyên lão ở La Mã chính là tiền thân của Nghị viện hiện đại.

Nghị viện ngày nay bắt nguồn từ chủ nghĩa tư bản, đặc biệt sau khi cuộc cách mạng tư sản diễn ra, đánh dấu sự ra đời của nhà nước tư sản Tuy nhiên, khái niệm về nghị viện chỉ thực sự hình thành và phát triển trong bối cảnh của chủ nghĩa tư bản và quá trình cách mạng tư sản.

Vào khoảng thế kỷ XIV-XV, nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến Tây Âu rơi vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng và toàn diện Nhà nước phong kiến với chế độ quân chủ chuyên chế phù hợp với phương thức sản xuất phong kiến dựa trên nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, trong đó nông dân là lực lượng chủ yếu.

Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới của Khoa Luật Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia Hà Nội cung cấp kiến thức toàn diện về sự phát triển của nhà nước và pháp luật trong lịch sử nhân loại Nội dung tập trung vào việc phân tích các giai đoạn chính của lịch sử pháp luật thế giới, giúp sinh viên hiểu rõ các xu hướng pháp lý qua các thời kỳ Được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tài liệu này là nguồn tham khảo quan trọng để nghiên cứu và nâng cao nhận thức về hệ thống pháp luật toàn cầu Trang 56 của giáo trình trình bày các điểm nổi bật về các bước tiến lớn trong lịch sử nhà nước và pháp luật, góp phần hình thành kiến thức nền tảng cho sinh viên ngành luật.

Trong xã hội phong kiến, phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển mạnh mẽ, tạo ra một lượng lớn của cải Sản xuất hàng hóa ngày càng tăng, các ngành thủ công nghiệp mở rộng, và nông nghiệp cũng bị lôi cuốn vào trao đổi, thay thế nền kinh tế tự cung tự cấp của các lãnh địa phong kiến bằng nền kinh tế hàng hóa – thị trường Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dần dần được xác lập ở Tây Âu, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự chuyển đổi phương thức sản xuất Cuối thế kỷ XV– XVI, nhu cầu mở rộng buôn bán thúc đẩy giới thương nhân châu Âu khám phá các tuyến đường mới qua châu Phi và châu Mỹ, giúp dễ dàng trao đổi và mua bán hàng hóa, đồng thời kích thích nền công nghiệp ở châu Âu phát triển sôi động hơn.

Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trở thành những cường quốc thương mại hàng đầu thế giới, mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu nội địa và quốc tế Các nước Anh, Pháp và Hà Lan cũng đẩy mạnh hoạt động công nghiệp, trong đó công trường thủ công ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy thương mại toàn cầu Tuy nhiên, để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trong và ngoài nước, giới tư sản đã bóc lột công nhân đến mức kiệt quệ, làm việc 18 giờ mỗi ngày, không có ngày lễ hoặc nghỉ ngơi, đẩy thủ công đến bờ vực phá sản và chiếm đất nông nghiệp để lập đồn điền, trang trại Nhờ đó, giai cấp tư sản dần khẳng định vị thế và ngày càng có ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế Tuy nhiên, chế độ phong kiến hà khắc đã trở thành rào cản cho sự hình thành và phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Theo quan điểm cho rằng "giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế đồng thời là giai cấp nắm quyền lãnh đạo về chính trị", giai cấp tư sản – đại diện cho phương thức sản xuất mới – đã lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập nhà nước tư sản, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Quá trình chuyển đổi lịch sử này diễn ra qua một loạt cuộc cách mạng tư sản thành công, tạo bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của công cuộc cách mạng và tiến trình lịch sử.

5 Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại, NXB Tư pháp, 2010, trang 9

6 Phan Trọng Hòa – Lê Quốc Hùng, Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Hồng Đức,2008, trang 185

7 Nguyễn Đăng Dung – Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1993, trang 43

Cách mạng tư sản đầu tiên diễn ra thành công tại Hà Lan vào cuối thế kỷ XVI, đánh dấu sự bước ngoặt trong lịch sử với ảnh hưởng không sâu rộng nhưng báo hiệu thời đại sụp đổ của nhà nước phong kiến chuyên quyền Đến giữa thế kỷ XVII, cuộc cách mạng tư sản Anh bùng nổ và giành thắng lợi trong giai đoạn 1641-1649, là một chiến thắng quan trọng chống lại chế độ phong kiến lạc hậu và có ảnh hưởng toàn diện trên lục địa châu Âu Chính vì vậy, cuộc cách mạng tư sản Anh được xem là mốc son mở đầu thời kỳ lịch sử cận đại thế giới và sự hình thành, phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Vào thế kỷ XVIII, các cuộc cách mạng tư sản liên tiếp nổ ra trên toàn thế giới, trong đó hai cuộc cách mạng nổi bật nhất là Cách mạng Pháp và Mỹ Những cuộc cách mạng này đã đưa nền dân chủ tư sản phát triển mạnh mẽ và đạt đến đỉnh cao của nó, mở ra kỷ nguyên mới cho chế độ dân chủ và tự do cá nhân.

Không khí cách mạng lan rộng sang Nhật Bản, Tây Ban Nha và Đức đã khiến các tầng lớp bị áp bức trong xã hội nổi dậy đòi quyền lợi, làm cho giai cấp thống trị không thể kiểm soát xã hội Tuy nhiên, ở các nước này, cuộc cách mạng tư sản không diễn ra trực tiếp mà thông qua các biện pháp thỏa hiệp giữa giới quý tộc phong kiến và giai cấp tư sản mới hình thành, nhằm thúc đẩy phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đồng thời xây dựng nền quân chủ lập hiến hoặc nhà nước cộng hòa dân chủ tư sản Các cuộc cách mạng này đều hướng tới mục đích lật đổ chế độ phong kiến lỗi thời, đưa giai cấp tư sản lên nắm quyền, hình thành nhà nước và pháp luật tư sản mới “Nhà nước tư sản ra đời là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng là thành quả trực tiếp của cách mạng tư sản.”

8 Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị, Khoa Luật, ĐH Tổng hợp, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1995, trang 154

9 Phan Trọng Hòa – Lê Quốc Hùng, Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Hồng Đức, 2008, trang 187

10 Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại, NXB Tư pháp, 2010, trang 10

11 Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997, trang 200

Sau khi giành chính quyền, giai cấp tư sản tập trung xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh bằng cách thành lập các cơ quan đại diện quản lý quốc gia, trong đó nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan được quy định rõ trong Hiến pháp Hiến pháp giao quyền lập pháp cho Nghị viện, quyền hành pháp cho Chính phủ và quyền tư pháp cho Tòa án, với Nghị viện có vai trò và quyền lực vượt trội Nghị viện là nơi thể chế hóa các quyết định chính trị quan trọng, biến ý chí của giai cấp tư sản thành pháp luật, đóng vai trò then chốt trong quá trình củng cố quyền lực nhà nước.

1.1.2 Khái niệm và đặc điểmNghị viện

Nghị viện, hay còn gọi là “parlement” trong tiếng Pháp, xuất phát từ từ “parle” nghĩa là “nói” hoặc “bình luận”, và nguồn gốc Latin là “parlare” cũng mang ý nghĩa “nói” hoặc “bàn luận” Mặc dù có lịch sử tồn tại lâu đời, Nghị viện vẫn là một khái niệm mở rộng và đa dạng, phản ánh sự khác biệt về lịch sử, xã hội, chính trị và kinh tế của các quốc gia Do đó, không có một định nghĩa duy nhất nào có thể bao quát toàn bộ khái niệm này, để hiểu rõ hơn, cần đi sâu vào nguyên tắc phân chia quyền lực dựa trên thuyết Tam quyền phân lập.

Học thuyết phân chia quyền lực được đề xướng bởi John Locke (1632-1704) và hoàn thiện bởi Charles Louis Montesquieu (1689-1775) Trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật” (De L’Esprit des lois) xuất bản năm 1748, Montesquieu trình bày rõ về nguyên tắc phân chia quyền lực trong nhà nước Ông nhấn mạnh rằng quyền lực nhà nước gồm ba quyền chính: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Nếu tất cả ba quyền lực này tập trung trong tay một cá nhân hoặc cơ quan duy nhất, sẽ dễ dẫn đến lạm dụng quyền lực và đe dọa sự công bằng trong xã hội.

12 Nguyễn Đăng Dung – Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội,1993, trang 138

Nghiên cứu về Luật Hiến pháp nước ngoài cho thấy rằng, việc tổ chức bộ máy nhà nước phải đảm bảo phân chia quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thành ba hệ thống cơ quan độc lập, nhằm ngăn chặn xâm phạm quyền công dân và quyền con người Nghị viện là cơ quan có quyền lập pháp, trong khi quyền hành pháp thuộc về Chính phủ và quyền tư pháp nằm trong tay các tòa án, nhằm thiết lập hệ thống kiểm soát và đối trọng hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước.

Lƣỡng viện và cơ cấu tổ chức

Dựa vào hình thức cấu trúc, Nghị viện có thể được tổ chức theo mô hình lưỡng viện hoặc đơn viện Theo Tiến sĩ Phạm Quang Minh, cấu trúc cơ quan lập pháp ở các nước không giống nhau, có thể là hệ thống đơn viện (unicameral) hoặc lưỡng viện (bicameral) Khi chỉ có một viện, cơ quan lập pháp gọi là hệ thống đơn viện, còn khi được tổ chức thành hai viện, gọi là hệ thống lưỡng viện Hiện nay, trên thế giới có khoảng 80 quốc gia áp dụng mô hình lưỡng viện, trong đó có Thượng viện và Hạ viện, thường tập trung ở các quốc gia có nền dân chủ phát triển.

Mỹ Latin, châu Âu và các nước Tây Á vì những nước này chịu ảnh hưởng của Anh và

Hoa Kỳ đã áp dụng mô hình lưỡng viện trong hệ thống lập pháp của mình, nhằm đảm bảo sự cân đối và kiểm soát quyền lực Tuy nhiên, mô hình này chưa phổ biến rộng rãi ở châu Á và châu Phi, phần lớn do các quốc gia này thường theo chế độ một đảng lãnh đạo, tổ chức quyền lực theo hướng tập trung từ trên xuống Sự khác biệt về cấu trúc lập pháp phản ánh đặc điểm chính trị và truyền thống quản lý của từng khu vực.

28 Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997, trang 274

Mô hình lưỡng viện hoặc không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử và con người ở nơi đó, ảnh hưởng lớn đến cấu trúc chính trị của mỗi quốc gia.

Các nước có cách đặt tên khác nhau cho Hạ viện và Thượng viện tùy theo từng quốc gia, ví dụ như Hạ viện ở Brazil, Mỹ, Italy, Indonesia, Nhật Bản, Romania, Cộng hòa Séc gọi là viện dân biểu, còn ở Ấn Độ gọi là viện nhân dân, ở Đức gọi là Bundestag Thượng viện ở 44 trong số 66 quốc gia có tên gọi là “viện nguyên lão” hay senat, nhưng tính chất của các cơ quan này đều tương tự nhau.

Hạ nghị sỹ được bầu thông qua hai con đường là tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử, yêu cầu công dân phải đủ 20 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủ, không mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí, và không bị hạn chế quyền chính trị và dân sự do vi phạm pháp luật Các quy định về quốc tịch và thời gian cư trú khác nhau theo pháp luật của từng nước nhằm đảm bảo đại biểu hiểu rõ nhu cầu của người dân địa phương mình, từ đó phản ánh đúng ý chí cộng đồng Tại Mỹ, tiêu chuẩn để trở thành nghị sỹ Hạ viện khá đơn giản, gồm độ tuổi từ 25 trở lên, có quốc tịch Mỹ 7 năm và cư trú tại bang bầu cử, tạo cơ hội cho mọi công dân phù hợp đáp ứng các điều kiện này tham gia vào quá trình chính trị.

Một số quốc gia quy định rõ ràng về vấn đề không kiêm nhiệm của nghị sĩ Hạ viện để đảm bảo tính độc lập và trong sáng của các nhân sự quan trọng Bộ luật bầu cử của Pháp nêu rõ rằng “Tỉnh trưởng, Thẩm phán, các thành viên Tòa án hành chính, Tổng Thanh tra kinh tế dân tộc, Tổng kỹ sư vận tải, đại biểu hội đồng vùng và các quan chức do nhân dân bầu không thể được bầu làm đại biểu quốc hội ở bất kỳ đơn vị bầu cử nào đang thi hành nhiệm vụ hoặc đã thi hành nhiệm vụ”.

30 Theo thống kê của Liên minh Nghị viện thê giới (IPU) năm 1999

Về tổ chức chính quyền của Hoa Kỳ, bài viết nhấn mạnh rằng các chức vụ trong chính quyền cần đảm bảo sự chuyên nghiệp và rõ ràng trong nhiệm vụ để tránh xung đột lợi ích, đặc biệt là trong vòng sáu tháng trước ngày bầu cử Ở Anh, các thẩm phán chuyên nghiệp, công chức, quân nhân, cảnh sát, và Thượng nghị sĩ không được phép ứng cử vào Hạ viện nhằm đảm bảo sự trung lập và chuyên môn trong các vị trí công quyền Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các quan chức thực hiện tốt nhiệm vụ của mình mà không bị xao nhãng, đồng thời tránh tình trạng kiêm nhiệm gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.

Những người tự ứng cử cần phải đạt đủ số lượng chữ ký ủng hộ của cử tri theo quy định của từng quốc gia để được ghi tên vào danh sách ứng cử Tại Bỉ, công dân cần có từ 200 đến 500 chữ ký ủng hộ, trong khi ở Canada chỉ yêu cầu hai chữ ký Ngoài việc thu thập chữ ký, người tự ứng cử còn phải nộp một khoản tiền đặt cược vào ngân hàng nhà nước để hoàn tất hồ sơ Ở Pháp, mức đóng góp này là 1000 Franc, còn tại Anh là 500 bảng Anh, còn ở Nhật Bản có quy định riêng về khoản tiền đảm bảo này.

Số tiền 100 nghìn yên sẽ được hoàn trả lại cho ứng cử viên nếu họ đạt được một phần trăm số phiếu thuận nhất định theo quy định của từng nước, chẳng hạn như ở Anh và Pháp là 5%, trong khi ở Italia là 1,5% tổng số phiếu bầu Nếu không đạt được mức quy định này, số tiền đặt cược sẽ được chuyển vào quỹ của nhà nước.

Các quốc gia đều đặt ra những yêu cầu cao đối với người tự ứng cử, yêu cầu họ phải có tài năng và phẩm chất ưu tú Để thu hút sự ủng hộ của cử tri, người ứng cử cần có kế hoạch phát triển rõ ràng và mục tiêu phù hợp với địa phương mình Những yếu tố này giúp tăng khả năng trúng cử vào vị trí nghị sỹ Hạ viện và góp phần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng.

1.2.1.2 Cơ cấu tổ chức Hạ viện

Hạ viện có số lượng thành viên lớn, gây khó khăn trong việc thảo luận và đưa ra quyết định chung Để giải quyết các tranh cãi và mâu thuẫn nội bộ, Chủ tịch Hạ viện đóng vai trò trung tâm trong việc hòa giải và đưa ra ý kiến cuối cùng Các phó chủ tịch và ủy ban hỗ trợ Chủ tịch trong thực hiện chức năng lập pháp và giám sát, giúp đảm bảo quá trình hoạt động của Hạ viện diễn ra hiệu quả.

32 Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại, NXB Tư pháp, trang 102

Chủ tịch Hạ viện được bầu ra từ các thành viên của viện, thường là người đại diện cho đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện Vai trò của Chủ tịch viện bao gồm làm người phát ngôn (Speaker) của nghị viện và điều hành các phiên họp, đảm bảo duy trì quyền lợi và đặc quyền của nghị sĩ Ngược lại nguồn gốc từ Anh quốc, Chủ tịch viện còn thay mặt nghị viện chuyển các quyết định tới nhà Vua Để đảm bảo tính khách quan và tránh ưu thế của đảng trong quá trình điều hành, pháp luật Anh quy định sau khi nhậm chức, Chủ tịch phải tuyên bố rút khỏi đảng.

Để ngăn chặn Chủ tịch Hạ viện gây áp lực hoặc khó khăn cho các đại biểu trong quá trình thảo luận, quy định không cho phép Chủ tịch bỏ phiếu khi Hạ viện thông qua các quyết định; chỉ trong trường hợp biểu quyết hòa (lệnh bằng nhau), ý kiến của Chủ tịch sẽ là quyết định cuối cùng Phó Chủ tịch, là người giúp việc cho Chủ tịch viện, được bầu từ các nghị sĩ trong Hạ viện và thay mặt Chủ tịch điều hành các phiên họp khi Chủ tịch vắng mặt.

Trong lịch sử phát triển của Nghị viện trên thế giới, các ủy ban ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động của nghị viện Các ủy ban của Nghị viện được hiểu là tập hợp các nghị sĩ có năng lực chuyên môn sâu, phân công nhiệm vụ cụ thể nhằm nghiên cứu và chuẩn bị các dự án luật Hệ thống ủy ban ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phân công lao động, giúp nghị viện xử lý các công việc một cách hiệu quả hơn bằng cách chia nhỏ các nhiệm vụ thành các nội dung cụ thể và thực hiện song song.

33 Nguyễn Đăng Dung – Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp

Ủy ban trong Nghị viện đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan lập pháp, giúp Nghị viện có khả năng tác động chính sách tới công chúng một cách dễ dàng hơn và tăng cường khả năng giám sát các hoạt động của ngành hành pháp Các ủy ban thường gồm có chủ tịch (hoặc trưởng/chủ nhiệm ủy ban), các phó chủ tịch, thư ký và các ủy viên, được thành lập riêng cho từng viện hoặc chung cho cả hai viện nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả và phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể.

Thẩm quyền Nghị viện (lƣỡng viện)

Phạm vi thẩm quyền của Nghị viện ở các quốc gia rất đa dạng, với một số Nghị viện như Anh và phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa có thẩm quyền không bị hạn chế Trong khi đó, các Nghị viện của Hoa Kỳ, Pháp và các thuộc địa của Pháp như Cộng hòa Congo và Madagascar lại có thẩm quyền bị giới hạn rõ ràng Dù phạm vi rộng hay hẹp, Nghị viện các nước đều đảm bảo quyền lập pháp, giám sát, quản lý ngân sách và tài chính, cũng như tham gia vào các vấn đề đối ngoại và an ninh quốc gia.

1.3.1 Thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp

Nội dung, tính chất của thẩm quyền được thể hiện khác nhau qua hai giai đoạn của chủ nghĩa tư bản

Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi Nghị viện đang phát triển mạnh mẽ, vai trò của Nghị viện trở nên vô cùng quan trọng Tại thời điểm này, Nghị viện có quyền ban hành bất kỳ đạo luật nào mà nó cho là cần thiết để điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp và kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền đến ngày nay, khi chế độ nghị viện đối mặt với nhiều thách thức Trong giai đoạn này, nghị viện dần mất đi ảnh hưởng và vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị, phản ánh sự suy giảm quyền lực của cơ quan lập pháp trong bối cảnh chính trị ngày càng phức tạp.

43 Committees, http://www.senate.gov/pagelayout/committees/d_three_sections_with_teasers/committees_home.htm, truy cập ngày 25/6/2013

44 Ngô Đức Mạnh – Hoàng Trung Hiếu, Hệ thống ủy ban ở Nghị viện một số nước, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số

Vào ngày 6/2006, trang 59 ghi nhận rằng trung tâm quyền lực của hành pháp bị các cơ quan hành pháp chi phối Nghị viện chỉ được phép ban hành các luật không xâm phạm vào lĩnh vực hành pháp, đảm bảo sự phân chia quyền lực rõ ràng Tuy nhiên, một số quốc gia tư sản như Anh, Hy Lạp, và Nhật Bản không đặt giới hạn nghiêm ngặt đối với phạm vi lập pháp của Nghị viện, dẫn đến sự linh hoạt trong hoạt động lập pháp và quyền lực của các cơ quan nhà nước.

1.3.2 Thẩm quyền trong lĩnh vực ngân sách và tài chính

Việc thông qua ngân sách là một trong những chức năng quan trọng nhất của Nghị viện, thể hiện vai trò cố điển trong quá trình quản lý nhà nước Nghị viện có nhiệm vụ nắm chắc các nguồn thu của quốc gia để đảm bảo ngân sách cân đối và phù hợp với lợi ích quốc gia Điều này tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ và quyền hạn của người đại diện do nhân dân bầu ra Hầu hết các Hiến pháp đều quy định rõ ràng về quyền của Nghị viện trong việc phê duyệt ngân sách quốc gia, nhằm đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý tài chính công.

- Quy định về quản trị tài chính quốc gia

- Quyết định ngân sách nhà nước

- Thực hiện quyền kiểm soát, thanh tra việc thu và chi ngân sách nhà nước

- Quyết định việc lập và thu các loại thuế

Hiện nay, mọi dự án và thực hiện ngân sách cũng như các thẩm quyền khác của Nghị viện trong lĩnh vực tài chính đều bị kiểm soát bởi bộ máy hành pháp, thể hiện rõ nét cuộc khủng hoảng trong vai trò và quyền lực của Nghị viện.

1.3.3 Thẩm quyền trong lĩnh vực đối ngoại và phòng thủ quốc gia

Theo nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân, Nghị viện là cơ quan đại diện có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến chiến tranh và hòa bình Tuy nhiên, hiện nay, Tổng thống hoặc Chính phủ thường tự quyết định và chỉ trình Nghị viện phê chuẩn sau đó, dẫn đến Nghị viện thường bị đặt vào thế buộc phải phê duyệt Nghị viện giữ quyền quyết định ngân sách quốc phòng và việc gia nhập các liên minh quân sự, nhưng lại ít tham gia điều chỉnh hoạt động đối ngoại của Chính phủ vì chủ yếu chỉ có quyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ các hiệp ước do Chính phủ ký kết.

1.3.4 Thẩm quyền trong lĩnh vực tƣ pháp

Nghị viện trong hệ thống tư pháp có quyền hạn và trách nhiệm hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc luận tội và xét xử Tổng thống cũng như các quan chức chính phủ Trong phần lớn các nước tư sản, Nghị viện đóng vai trò kiểm soát quyền lực hành pháp thông qua quyền luận tội và giám sát hoạt động của Tổng thống Tuy nhiên, phạm vi quyền hạn của Nghị viện trong lĩnh vực tư pháp thường bị giới hạn để duy trì quyền độc lập của hệ thống tư pháp và đảm bảo cân bằng quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.

45 Đinh Văn Mậu – Phạm Hồng Thái, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị quốc gia,1997, trang

46 Nguyễn Đăng Dung – Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội,

1993, trang 145 quan chức cao cấp của bộ máy nhà nước” 47 theo thủ tục đàn hạch Chẳng hạn, ở Anh, hạ nghị viện luận tội và thượng nghị viện kết tội

1.3.5 Thẩm quyền trong lĩnh vực giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước

Nghị viện có quyền chất vấn Chính phủ và yêu cầu Chính phủ giải trình về các hoạt động đối nội, đối ngoại Tuy nhiên, ở những quốc gia mà Tổng thống có quyền giải tán Hạ nghị viện, như Pháp, hoạt động chất vấn thường mang tính hình thức hơn.

Trong thể chế cộng hòa nghị viện, nghị viện có quyền bỏ phiếu không tín nhiệm chính phủ, buộc chính phủ phải giải tán nếu bị mất niềm tin Điều này giúp kiểm tra hoạt động của chính phủ và thúc đẩy trách nhiệm giải trình Để thực hiện hiệu quả trách nhiệm này, nhiều quốc gia tư sản thành lập các ủy ban thường trực hoặc bổ nhiệm nhân viên kiểm tra gọi là “ombudsman”, nhằm giám sát và bảo vệ quyền lợi của người dân.

Thủ tục hoạt động của lƣỡng viện

1.4.1Thủ tục tiến hành kỳ họp của Nghị viện (Session)

Có hai hình thức họp phổ biến là kỳ họp thường kỳ và kỳ họp bất thường

Nghị viện hoạt động chủ yếu qua các kỳ họp để thực hiện chức năng lập pháp quan trọng nhất của mình Trong các kỳ họp, các đại biểu thường thảo luận về dự luật (bills) và kiến nghị (motions) liên quan đến Chính phủ, như kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm, bày tỏ không hài lòng về chính sách chính phủ, và đề xuất các vấn đề xã hội mang ý nghĩa sâu sắc.

Các kỳ họp của Nghị viện thường được triệu tập từ một đến bốn lần mỗi năm, tùy theo quy định của Hiến pháp từng quốc gia Ở Anh, Nghị viện bắt đầu họp vào tháng Muốn biết thời gian cụ thể và quy trình triệu tập các kỳ họp để đảm bảo hoạt động hiệu quả và phù hợp với pháp luật Việc tổ chức các kỳ họp định kỳ giúp thúc đẩy hoạt động lập pháp, giám sát và thực thi các chính sách quốc gia.

Kỳ họp của Nghị viện mới bắt đầu vào ngày 3 tháng 1 hàng năm, kéo dài đến tháng 8 năm sau, góp phần duy trì hoạt động liên tục của cơ quan lập pháp tại Mỹ Do hoạt động thường xuyên và liên tục, các nghị sỹ dần trở thành những nghị sỹ chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn sâu hơn Cơ quan có trách nhiệm triệu tập phiên họp Nghị viện là chủ yếu dựa trên hai quan điểm khác nhau, thể hiện sự đa dạng trong cơ chế hoạt động của hệ thống nghị viện Mỹ.

47 Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1999, trang 95

48 P.H Collin, Dictionary of Law (third edition), 2000, trang 340

Quan điểm đầu cho rằng Chính phủ sẽ tổ chức các kỳ họp và quyết định thời gian diễn ra của từng kỳ họp, trong đó Đức là ví dụ điển hình theo đuổi chính sách này.

Quan điểm thứ hai cho rằng cơ quan hành pháp sẽ quyết định vấn đề này, phát xuất từ chế độ quân chủ độc quyền Trong hệ thống này, nhà vua là người khai mạc và bế mạc các phiên họp, mặc dù vai trò mang tính hình thức nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tổ chức và điều hành các phiên họp của nghị viện Ví dụ điển hình là ở Anh và Nhật Bản, nơi quân chủ chuyên chế vẫn giữ vị trí trung tâm trong hoạt động của quốc hội.

Khi xảy ra mối đe dọa nghiêm trọng ảnh hưởng đến thể chế chính trị, sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập của quốc gia, quốc hội sẽ triệu tập kỳ họp bất thường nhằm tìm ra các phương hướng, cách thức giải quyết để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khẩn cấp Việc triệu tập này do chủ tịch Thượng viện hoặc Hạ viện (như tại Italia, Thổ Nhĩ Kỳ) khởi xướng, hoặc do người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ (như tại Pháp, Bỉ, Nhật Bản), kèm theo yêu cầu của một số nghị sĩ đủ để mở kỳ họp, với tỷ lệ tối thiểu cụ thể như Nhật Bản cần 1/4 tổng số nghị sĩ, Italia là 1/3, và Pháp là hơn 1/2.

Quá trình làm luật ở các nước hầu hết đều trải qua bốn giai đoạn

Quy trình lập pháp của Nghị viện bắt đầu bằng sáng kiến lập pháp, do các chủ thể có quyền này, chủ yếu là các nghị sỹ, đề xuất dự án luật Để đề xuất một dự án luật, nghị sỹ cần có sự ủng hộ nhất định từ các đồng nghiệp trong viện, nhằm đảm bảo tính khả thi và hợp lệ của quy trình lập pháp Việc làm luật là một công việc quan trọng vì các dự luật được thông qua sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội Do đó, nghị sỹ cần suy xét kỹ càng và nhận được sự đồng thuận từ các nghị sỹ khác để dự án luật có thể được xem xét và thông qua một cách hiệu quả.

Theo giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài của Trường Đại học Luật Hà Nội, nghị sĩ Nhật Bản cần có ít nhất 20 chữ ký của hạ nghị sĩ hoặc 10 chữ ký của thượng nghị sĩ để ủng hộ dự luật Số lượng này sẽ tăng lên đối với các dự án luật liên quan đến thuế, ngân sách hoặc tài chính, nhằm đảm bảo sự hỗ trợ rộng rãi và minh bạch trong quá trình pháp lý.

Nhiều quốc gia quy định rằng, sáng kiến lập pháp thuộc về nhân dân, như ở Italy, nếu có ít nhất 50.000 cử tri ủng hộ, dự án luật sẽ được trình lên Nghị viện xem xét, trong khi ở Tây Ban Nha là 500.000 cử tri và Thụy Sỹ là 50.000 Tuy nhiên, hiện nay, sáng kiến lập pháp chủ yếu thuộc về chính phủ; ở Canada, hầu hết luật quan trọng bắt nguồn từ chính phủ, chỉ một số ít do cá nhân đề xuất Trong Cộng hòa liên bang Đức, cá nhân không thể tự đề xuất luật mà phải qua nhóm nghị sỹ (ít nhất 15 người) Tại Mỹ, khoảng 90% luật được ban hành là của chính phủ hoặc do nghị sỹ do chính phủ ủy nhiệm, trong đó Tổng thống đóng vai trò quan trọng trong việc trình các dự án luật Ở Vương quốc Anh, khoảng 97-98% dự luật do chính phủ đề xuất trở thành luật, còn tại Pháp, tỷ lệ này là 95%, trong khi các dự luật do nghị sỹ độc lập đưa ra ít có cơ hội thành công, chỉ chiếm khoảng một phần ba số dự luật được thông qua.

Thông thường được chia làm ba giai đoạn, ứng với mỗi giai đoạn là một lần đọc

Lần đọc thứ nhất nhằm xem xét tên gọi và các vấn đề cơ bản của dự luật, thường do Chủ tịch hai viện tiến hành, nhưng chủ yếu bắt đầu tại Hạ viện trước rồi chuyển sang Thượng viện Trong giai đoạn này, các dự án luật không khả thi sẽ bị bác bỏ, còn những dự án phù hợp sẽ được chuyển đến các ủy ban thường trực có chuyên ngành phù hợp để xem xét kỹ lưỡng hơn.

50 Thái Vĩnh Thắng, Thể chế Nghị viện của các nhà nước tư sản, Tạp chí luật học số 6, 1995, trang 39

51 Nguyễn Đăng Dung - Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp

Dự luật về ngân sách sẽ chuyển qua cho ủy ban ngân sách để xem xét, trong khi các dự án luật về nông nghiệp sẽ do ủy ban nông nghiệp đảm nhận Sau khi các ủy ban thường trực xem xét, dự án luật sẽ được gửi lại các viện của Nghị viện để tiếp tục thảo luận và thông qua.

Lần đọc thứ hai của dự án luật bắt đầu bằng việc xem xét nhận xét của ủy ban thường trực về nội dung dự thảo luật Các đại biểu của hai viện sẽ cùng nhau thảo luận, đánh giá và biểu quyết từng điều khoản của dự án luật Quá trình này diễn ra công khai và minh bạch trên nghị trường, đảm bảo sự tham gia ý kiến của các đại biểu quốc hội.

Trong lần đọc thứ ba, đại diện các ý kiến chống đối hoặc ủng hộ dự án luật sẽ trình bày, sau đó tiến hành biểu quyết toàn văn dự án Nếu dự án được thông qua, nó sẽ chuyển sang Thượng viện để xem xét và quyết định Thường thì Thượng viện chỉ có quyền trì hoãn, từ chối hoặc sửa đổi dự luật, nhưng không có quyền phủ quyết, ngoại lệ như Thượng viện Nga và Hà Lan chỉ có quyền từ chối mà không thể sửa đổi dự luật đã thông qua ở Hạ viện Trong trường hợp có bất đồng ý kiến giữa hai viện, sẽ thành lập ủy ban hòa giải gồm các thành viên đại diện hai bên để giải quyết Ở những nước có mô hình lưỡng viện yếu, quá trình đọc dự luật chủ yếu diễn ra ở Hạ viện, do Hạ viện có thẩm quyền lập pháp lớn và các quyết định của nó có thể vượt qua Thượng viện, như ở Anh, nơi Thượng viện chỉ giữ vai trò tư vấn.

Trong trường hợp có xung đột ý kiến giữa Thượng viện và Hạ viện về dự án luật, dự án đó sẽ được gửi đến ủy ban hòa giải gồm nghị sĩ của cả hai viện để cố gắng điều hòa các điểm khác biệt Nếu ủy ban không thành công trong việc hòa giải, dự án luật sẽ được bỏ phiếu lại tại Hạ viện và chỉ được thông qua nếu đạt đa số 2/3 phiếu Theo Điều 59 Hiến pháp Nhật Bản, khi Hạ viện đã thông qua dự án luật nhưng Thượng viện có quyết định khác, dự án chỉ trở thành luật khi được Hạ viện biểu quyết lại với đa số 2/3 phiếu, đảm bảo quy trình lập pháp chặt chẽ và minh bạch.

Thượng viện Nhật Bản là một thiết chế mạnh với ảnh hưởng lớn đến quá trình lập pháp của đất nước Trong hệ thống quốc hội, thường có cơ chế họp chung của hai viện để giải quyết các vấn đề quan trọng, nhưng Hạ viện thường giữ vai trò ưu thế hơn và có quyền quyết định cuối cùng Hạ viện đại diện cho ý chí của nhân dân, và nếu dự luật có lợi cho cộng đồng, việc thông qua sẽ trở nên hiển nhiên, hoặc dự luật có thể chuyển qua lại giữa hai viện cho đến khi đạt được giải pháp trung hòa.

HỆ THỐNG LƯỠNG VIỆN CỦA MỘT SỐ NHÀ NƯỚC ĐIỂN HÌNH 29

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w