KHÁI QUÁT VỀ FDI1.1 Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốcgia, trong đó nhà đầu tư nước này mang vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nàosang n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MÔN: NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
Chủ đề : Xu thế vận động chủ yếu của hoạt động FDI trên thế giới - Liên hệ với thực tiễn Việt Nam
Giảng viên : Tô Xuân Cường
Thực hiện bởi : Nhóm C1 Lớp học phần : Nền kinh tế thế giới (221)_02
Hà Nội – 2022
Trang 2MỤC LỤC
Contents
MỤC LỤC 2
1 KHÁI QUÁT VỀ FDI 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Bản chất của FDI 3
1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.4 Các đặc điểm của FDI 4
1.4.1 Mức vốn đầu tư trực tiếp 4
1.4.2 Mức độ tham gia quản lý vốn 4
1.4.3 Lợi ích của các bên 4
1.5 Tác động của FDI 4
1.5.1 Đối với nước đi đầu tư nước chủ nhà 4
1.5.2 Đối với nước nhận đầu tư (nước sở tại) 5
2 Xu hướng vận động FDI trên thế giới 6
2.1 Thực trạng về FDI trên thế giới trong những năm qua 6
2.2 Xu hướng vận động FDI trên thế giới 8
3 Tình hình FDI tại Việt Nam 15
3.1.Thực trạng FDI ở VN 15
3.1.1 Giai đoạn 1987-2000 15
3.1.2 Giai đoạn 2001-2010 16
3.1.3 Giai đoạn 2010-2020 17
3.1.4 Năm 2021 21
3.2 Tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 23
3.2.1.Tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 23
3.2.2.Tác động của FDI đến thị trường lao động và vấn đề việc làm 24
3.2.3 Tác động của FDI trong cải tiến khoa học – công nghệ 25
3.2.4 Tác động của FDI đến môi trường 26
3.3 Định hướng 2022 26
3.4 Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư FDI trong dài hạn 28
4 Tổng kết 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 31 KHÁI QUÁT VỀ FDI
1.1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốcgia, trong đó nhà đầu tư nước này mang vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nàosang nước khác để tiến hành hoạt động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản lý
cơ sở kinh doanh tại nước đó
1.2 Bản chất của FDI
FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặcmua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thànhchủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặctham gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Đồngthời, họ cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanhcủa dự án
Nguồn vốn: FDI được thực hiện chủ yếu từ nguồn vốn tư nhân, vốn của cáccông ty nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạtđộng sản xuất ở nước ngoài
1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI thường được thực hiện thông qua các hình thức tùy theo quy định củaLuật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại Các hình thức FDI phổ biến trên thếgiới hiện nay là:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC: Business Cooperation Contract
Doanh nghiệp liên doanh - JV: Joint Venture
Hợp đồng cấp giấy phép công nghệ hay quản lý hợp đồng li xăng
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Hợp đồng phân chia sản phẩm, BOT (Build - Operation - Transfer),BTO, BT, mua lại và sáp nhập doanh nghiệp (Merger and Acquisition)
Buôn bán đối ứng Các hình thức FDI này có thể được thực hiện tại cáckhu vực đầu tư đặc biệt có yếu tố quốc tế như: khu chế xuất, khu côngnghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, kinh tế cửa khẩ tùy thuộc điều kiện
cụ thể và từng lĩnh vực mà các quốc gia lựa chọn và thành lập các khuvực đầu tư nước ngoài phù hợp, để thu hút các hình thức FDI khác nhau.Chắc chắn sẽ có nhiều hình thức cụ thể mới ra đời để đáp ứng nhu cầu vàkhả năng thu hút FDI của các quốc gia
Động cơ thúc đẩy lôi cuốn mạnh mẽ các nhà kinh doanh mở rộng hoạt độngđầu tư ra nước ngoài là: tiếp cận và sử dụng các nguồn lực ở nước ngoài, trongkhi nguồn lực trong nước đang có xu hướng khan hiểm; khai thác và sử dụngcác nguồn lực đầu vào với giới hạn và ổn định hơn; lợi dụng triệt để những tu ái
Trang 4của nước tiếp nhận đầu tư; tránh được những “rào cản” do nước tiếp nhận đưara; phân tán rủi ro (hạn chế, giảm thiểu rủi ro); có điều kiện xâm nhập mạnh vàonhững thị trường tiềm năng, chưa hoặc không độc quyền;
1.4 Các đặc điểm của FDI
1.4.1 Mức vốn đầu tư trực tiếp
Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án phải đạtmức độ tối thiểu tùy theo Luật Đầu tư của từng nước quy định Ví dụ, Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 quy định chủ đầu tư nước ngoài phải góptối thiểu 30% vốn pháp định của dự án, ở Mỹ quy định 10% và một số nướckhác lại quy định là 20%
1.4.2 Mức độ tham gia quản lý vốn
Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý, điều hànhcác dự án mà họ bỏ vốn vào đầu tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào
tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định của dự án Nếu nhà đầu tưnước ngoài góp 100% vốn trong vốn pháp định, thì doanh nghiệp hoàn toànthuộc sở hữu của nhà đầu tư đó và cũng do họ quản lý toàn bộ
1.4.3 Lợi ích của các bên
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh được phân chia cho các bên theo tỷ lệ gópvốn vào vốn pháp định, sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần(nếu có)
đó, có thể đảm bảo hiệu quả cao hơn của vốn FDI
Chủ đầu tư nước ngoài có điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩmnguyên liệu, kể cả công nghệ và thiết bị trong khu vực và trên thế giới
Có thể giảm giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn lao động giá rẻhoặc gần nguồn nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ sản phẩm Từ đógóp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn FDI, tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường, tăng năng suất và thu nhập quốc dân
Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và phi mậu dịch của nước sở tại vìthông qua FDI, chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệpcủa mình nằm trong lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ
Trang 51.5.1.2 Tác động tiêu cực:
Nếu Chính phủ các nước đi đầu tư đưa ra các chính sách không phù hợp
sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu tư ở trong nước.Khi đó các doanh nghiệp lao mạnh ra nước ngoài đầu tư để thu lợi, do đónền kinh tế các quốc gia chủ nhà có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu
Đầu tư ra nước ngoài có nguy cơ gặp nhiều rủi ro hơn trong nước, do đócác doanh nghiệp này thường phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau đểphòng ngừa, hạn chế rủi ro,
Làm giảm việc làm và thu nhập của lao động trong nước cũng như giảmnguồn vốn tiết kiệm, có thể xảy ra hiện tượng chảy máu chất xám nếu chủđầu tư để mất bản quyền sở hữu công nghệ trong quá trình chuyển giao
1.5.2 Đối với nước nhận đầu tư (nước sở tại)
1.5.2.1 Tác động tích cực:
Tạo điều kiện khai thác được nhiều vốn từ bên ngoài do không quy địnhmức vốn góp tối đa mà chỉ quy định mức tối thiểu cho các nhà đầu tưnước ngoài
Tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản
lý, kinh doanh của nước ngoài
Tạo các điều kiện thuận lợi để khai thác và phát huy tốt nhất các lợi thếcủa mình về các nguồn nội lực như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, về vịtrí địa lý, nhân lực, từ đó tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho ngườilao động, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế, tăng kim ngạch xuấtkhẩu, cải thiện đời sống của nhân dân
Nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp và hànghóa, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận với thị trường nước ngoài.1.5.2.2 Tác động tiêu cực:
Môi trường chính trị và kinh tế nước sở tại tác động trực tiếp đến dòngvốn FDI
Nếu không có một quy hoạch đầu tư tổng thể, chi tiết và khoa học, thì sẽxảy ra tình trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên bị khai thácbừa bãi và sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trình độ của các đối tác nước tiếp nhận sẽ quyết định hiệu quả của hợptác đầu tư
Nếu không thẩm định kỹ về công nghệ sẽ có thể nhận chuyển giao từcác nước đi đầu tư các công nghệ lạc hậu hoặc không phù hợp với nềnkinh tế trong nước, dễ bị thua thiệt do giá chuyển nhượng nội bộ từ cáccông ty quốc tế gây ra (công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia) dẫn đến
Trang 6 Các lĩnh vực và địa bàn được đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của cácnhà đầu tư nước ngoài, nhiều khi không theo ý muốn của nước tiếpnhận Điều đó gây khó khăn cho nước tiếp nhận khó chủ động trong bốtrí cơ cấu đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ.
Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng tới cán cân thanhtoán của nước nhận
2 Xu hướng vận động FDI trên thế giới
2.1 Thực trạng về FDI trên thế giới trong những năm qua
Từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào khoảng thế kỷ thứ 19 đến nay,hoạt động đầu tư nước ngoài có những biến đổi sâu sắc Xu hướng chung làngày càng tăng lên về số lượng, quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư
và thể hiện vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong các quan hệ kinh tế quốc tế.Những năm 70, vốn đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới tăng trung bình hàng nămđạt khoảng 25 tỷ USD, đến thời kỳ 1980-1985 đã tăng lên gấp hai lần, đạtkhoảng 50 tỷ USD Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới năm
1986 là 78 tỷ USD, năm 1987 là 133 tỷ, 1989 là 195 tỷ Từ năm 1990-1993 sốlượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới hầu như không tăng, chỉdừng ở mức trên dưới 200 tỷ Tăng mạnh nhất là năm 1997 đạt 252 tỷ, từ đó doảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á nên dòng vốn nàygiảm dần đến tận năm 2000 mới có dấu hiệu hồi phục Cho đến năm 2002 đãtăng lên nhưng với tốc độ chậm
Nghiên cứu của UNCTAD (2019) về tình hình FDI thế giới giai đoạn từ năm
2007 đến 2018 đã khái quát một số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, sau ba lần sụt giảm liên tiếp vào các năm 2017, 2018 và 2019, dòng
vốn FDI toàn cầu đã chạm mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chínhnăm 2008, ước tính chỉ đạt 1,2 nghìn tỷ USD năm 2018, giảm 19% so với 1,47nghìn tỷ USD năm 2017
Xét về con số tuyệt đối, dòng vốn FDI đi vào nhóm nước phát triển chiếm tỷtrọng lớn nhất trong hầu hết các năm Điều này được lý giải bởi, hoạt động đầu
tư nước ngoài ở các nước này chủ yếu tập trung vào các ngành có quy mô vàyêu cầu về vốn lớn như: sản xuất thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông,sản phẩm xăng dầu, sản xuất ô tô và dịch vụ tài chính Tuy nhiên kể từ năm
2015, lượng vốn FDI đổ vào các quốc gia này có xu hướng giảm liên tục, từ gần1,2 nghìn tỷ USD xuống còn 451 tỷ USD vào năm 2018 - đây là nhân tố chínhkhiến dòng vốn FDI sụt giảm trên quy mô toàn cầu Nguyên nhân chính của xu
Trang 7hướng này bắt nguồn từ việc một số lượng lớn các công ty xuyên quốc gia của
Mỹ đã quyết định hồi hương sau khi dự luật cải cách thuế thu nhập doanhnghiệp được Thượng viện và Hạ viện Mỹ thông qua vào năm 2017 Điều này đãgây ra một sự sụt giảm vốn FDI lên đến 73% ở châu Âu, điều chưa từng xảy ra
từ những năm 1990
Trong khi đó, FDI đổ vào các nước đang phát triển lại có xu hướng tăng nhẹ,ngoại trừ các năm từ 2008 đến 2010 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chínhtoàn cầu Năm 2018, các quốc gia đang phát triển chiếm tới 58% lượng vốn đầu
tư FDI trên thế giới và một nửa trong số các quốc gia nhận đầu tư nhiều nhấtnăm 2017 và 2018 cũng thuộc về khối nước đang phát triển, cụ thể là: Ấn Độ,Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, và Brazil (Xem biểu đồ 2)(3)
Thứ hai, giá trị các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) biến động liên tục
từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
Năm 2018, giá trị M&A tăng 19% so với 2017, đạt mức cao thứ ba kể từ năm
2007, bởi các các công ty đa quốc gia tiếp tục tận dụng lợi thế của mình về chiphí tín dụng thấp cũng như vị thế thanh khoản cao Báo cáo của UNCTAD cũngghi nhận, một phần ba số thương vụ M&A được thực hiện bởi các công ty đaquốc gia của Mỹ Doanh số M&A ròng tăng lên 822 tỷ USD vào năm 2018, chủyếu do hoạt động mua bán trong lĩnh vực dịch vụ (tăng 35% so với 2017, lênđến 462 tỷ USD) và khu vực thứ nhất của nền kinh tế (tăng 65% so với 2017,ước tính 40 tỷ USD) Đặc biệt, mua bán tài sản liên quan đến hoạt động tàichính và bảo hiểm, dầu thô và khí gas tự nhiên tăng mạnh Ngược lại, M&Atrong lĩnh vực sản xuất có xu hướng giảm nhẹ (giảm 2%, 320 tỷ USD) Cùngvới sự gia tăng về tổng giá trị M&A, quy mô mỗi thương vụ M&A cũng tănglên Cụ thể, báo cáo này chỉ ra, quy mô trung bình năm 2018 là 128 triệu USD,tăng khoảng 30% so với 2017 Số thương vụ M&A lớn hơn 3 tỷ USD tăng từ 63thương vụ năm 2017 lên đến 80 thương vụ năm 2018, tập trung vào một sốngành công nghiệp như phương tiện truyền thông, thuốc và viễn thông
Thứ ba, giá trị tổng số dự án đầu tư FDI mới đã phục hồi như dự kiến sau khủng
hoảng nhưng cơ bản vẫn còn khá yếu
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm cho giá trị dự án đầu tưmới giảm mạnh từ 1.298 tỷ USD năm 2008 xuống còn 955 tỷ USD năm 2009,sau đó tiếp tục dao động cho đến nay Tuy nhiên, có thể thấy, sau năm 2012, xuhướng chính là tăng nhẹ, ngoại trừ sự sụt giảm tương đối mạnh vào năm 2017 -ước tính đạt 701 tỷ USD, là mức thấp nhất kể từ năm 2013 đến nay
Thứ tư, lợi nhuận thu được từ vốn FDI giảm trên tất cả các khu vực(4).
Trang 8Năm 2017, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn FDI chạm mức thấp nhất trong giai đoạn2012-2017 ở tất cả các khu vực trên thế giới Nhóm các quốc gia đang pháttriển, Đông Á và Đông Nam Á đứng đầu về tỷ lệ lợi nhuận trên vốn FDI, đạtmức khoảng 11% giai đoạn từ 2012-2015 Năm 2016 và 2017, tỷ lệ này giảmnhẹ cùng với xu hướng chung của toàn cầu, lần lượt là 10,3% và 10,1% Dovậy, dự đoán trong thời gian tới, vốn FDI tuy có thể giảm nhẹ nhưng khu vựcĐông Á và Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) vẫn sẽ là một điểm hấp dẫnđầu tư FDI với lợi thế về tỷ lệ lợi nhuận trên vốn FDI so với các khu vực còn lạitrên thế giới.
Thứ năm, về lĩnh vực đầu tư, hoạt động FDI toàn cầu trong thời gian vừa qua
chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp dựa trên dịch vụ như: công nghệ vàdịch vụ công nghệ thông tin (chiếm 12,8% tổng số dự án FDI trên toàn thếgiới); dịch vụ doanh nghiệp (10,5%); công nghiệp dệt (8,6%); dịch vụ tài chính(7,7%); thiết bị, dụng cụ, máy móc công nghiệp (5,9%); truyền thông (5,3%)(5).Riêng khu vực ASEAN, các lĩnh vực thu hút FDI trong thời gian qua có sự thayđổi nhất định
2.2 Xu hướng vận động FDI trên thế giới
Từ những con số cụ thể và tình hình thực tế của FDI trên thế giới trong thờigian qua, chúng ta thấy được xu hướng vận động của FDI trên thế giới:
FDI Đông Á đã tăng trở lại, FDI tại châu Mỹ và Caribe bắt đầu tăngnhanh
Trái ngược với các dự báo, năm 1999 FDI vào các nước Đông Á đã tăngtrở lại đạt 93 tỷ USD tương đương 11% và tập trung chủ yếu vào các nước côngnghiệp hóa (các nước này tăng gần 70%) Trong khi đó FDI vào 3 trong số 5nước chịu khủng hoảng nặng nề nhất là Indonexia, Philippin và Thái Lan lạigiảm xuống Còn những nước khác tại Đông Nam Á, những nước có thu nhậpthấp và lâu nay vẫn phụ thuộc vào nguồn FDI tiếp tục lâm vào tình trạng khókhăn, do hoạt động đầu tư bị chững lại do cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ.Trong năm 1999, FDI vào Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe đạt 90 tỷUSD, đây là mức cao nhất từ trước đến nay của khu vực này, tăng hơn 23% sovới năm 1998
FDI vào Trung và Đông Âu tăng chậm, Châu Mỹ tiếp tục là khu vựcnhận FDI ít nhất thế giới
Năm 2000 là năm thứ 3 FDI vào Trung và Đông Âu tăng liên tục đạt 23
tỷ USD Tuy nhiên khu vực này vẫn chỉ nhận được chưa đầy 3% FDI toàn thếgiới Mặc dù FDI của Châu Phi đã có đôi chút cải thiện tăng từ 8 tỷ năm 2001lên đến 10 tỷ năm 2002, nhưng hiệu năng của nền kinh tế vn còn mờ nhạt Tuy
Trang 9nhiên, đây cũng là bước tiến triển đáng mừng của FDI vào Châu Phi vì nó đượcduy trì ở mức cao hơn so với những năm đầu của thập kỷ 90 do những cố gắngbền bỉ của nhiều nước nhằm cải thiện môi trường kinh doanh.
Các hoạt động sáp nhập và thôn tính (Mergers and Acquisitions) diễn ra sôi nổi
- động lực chính của là sóng FDI tăng gần đây Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự bùng nổ làn sóng FDI là do xu hướng M&A tạo nên các công ty lớn hơn vớisức cạnh tranh rất cao Điều đó cho thấy, mối quan hệ chặt chẽ giữa FDI vớichiến lược toàn cầu hóa của các công ty xuyên quốc gia Giá trị các vụ Sáp nhập
và Mua lại xuyên quốc gia chiếm hơn 80% tổng giá trị FDI trên thế giới trongnăm 2002 Và đó là nguồn FDI chủ yếu đối với các nước phát triển Còn đối vớicác nước đang phát triển thì nguồn vốn FDI mới vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn
FDI vẫn vận động chủ yếu trong nội bộ các quốc gia phát triển với nhau Hầu hết, dòng vốn FDI chủ yếu chảy trong khối OCED là khu vực tươngđối nhiều vốn của thế giới Năm 2019, khoảng 80% tổng số vốn FDI hướng vàonhững nền kinh tế phát triển Chẳng hạn, Mỹ trở thành quốc gia nhập khẩu vốnlớn nhất thế giới và cũng trở thành con nợ lớn nhất thế giới
Các công ty xuyên quốc gia đang chi phối hoạt động FDI trên toàn cầu Một đặc trưng của FDI hiện nay là có sự tham gia ngày càng nhiều củacác công ty xuyên quốc gia Các công ty xuyên quốc gia Các công ty xuyênquốc gia thường dựa vào chiến lược phát triển cạnh tranh độc quyền và lợi thếcủa họ ở các nước đang phát triển để tiến hành hoạt động FDI Các công tyxuyên quốc gia kiểm soát 90% vốn FDI trên thế giới
Toàn cầu hóa cũng là một nguyên nhân thúc đẩy FDI của các công tyxuyên quốc gia, nó làm tăng thêm khả năng tương tác quốc tế và tính cạnh tranhcủa các chủ đầu tư và nó cũng là đối tượng cạnh tranh chủ yếu của các nướcđang phát triển, sự ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia được thể hiện ở
sự gia tăng về lượng vốn FDI trên thế giới Điều này đặt ra cho các nước đangphát triển một vấn đề khó là cần chú trọng vào thu hút FDI của các công tyxuyên quốc gia
Dòng vốn FDI chảy nhiều nhất trong nội bộ các khu vực
Xu hường này là do những lợi thế về khoảng cách địa lý và các điều kiệntương đồng, đặc biệt là ở các nước Đông Á Các nước NICS là chủ đầu tư lớn ởcác nước trong khu vực Đông Nam Á Đại bộ phận vốn đầu tư ra nước ngoàicủa các nước NICS châu Á tập trung vào các nước láng giềng thuộc khu vựcĐông Nam Á – Thái Bình Dương
Trang 10Tình hình vốn FDI của Hàn Quốc tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2021(Đơn vị: tỷ USD)
Dòng vốn FDI ở các nước đang phát triển diễn ra khá sôi nổi
Châu Á vẫn là khu vực quan trọng và năng động nhất trong việc thu hútđầu tư nước ngoài Đặc biệt là các nước Đông Nam Á và Đông Á có nền kinh tếtăng trưởng nhanh và đang trở thành khu vực hấp dẫn đầu tư nước ngoài Mặtkhác, khu vực này có quy mô thị trường tương đối lớn, giá lao động rẻ, nguồnlao động dồi dào, nhiều nguồn tài nguyên chưa được khai thác, môi trường đầu
tư ngày càng được cải thiện, mức độ cạnh tranh thấp hơn ở các nước tư bản pháttriển
Cơ cấu và lĩnh vực đầu tư tập trung vào các ngành thu được lợi nhuậncao
Nếu đầu thế kỷ XX, các nước đầu tư ra nước ngoài thường hướng vào cáclĩnh vực truyền thống như: khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển nôngnghiệp, một số ngành chế biến nông sản,…chủ yếu là hướng vào các ngành cầnnhiều lao động để khai thác nguồn lao động giá rẻ và nguồn tài nguyên củahọ,thì cho đến những năm của thập kỷ 80 và 90, FDI vào các ngành dịch vụ có
xu hướng tăng lên so với các ngành công nghiệp chế tạo Từ cuối những năm 90cho tới nay thì dòng FDI có xu hướng chuyển dịch mạnh từ khu vực sơ chế vàchế tạo sang các ngành có hàm lượng vốn và công nghệ cao như viễn thông ,giao thông, ngân hàng, vì đó là những lĩnh vực phát triển chưa quá lâu và cókhả năng thu lợi nhuận cao
* Thời kỳ Covid
Trang 12Tuy chỉ xuất hiện hơn 2 năm nhưng Covid 19 đã làm thay đổi xu hướng vậnđộng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Dòng vốn FDI toàn cầu năm 2020 đã giảm 35% xuống còn 1.000 tỷ USD từmức 1.500 nghìn tỷ USD năm 2019 FDI năm 2020 thấp hơn 30% mức đáy saucuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009 và quay trở lại mức được ghinhận trong những năm 1990 Việc đóng cửa biên giới trên khắp thế giới để đốiphó với đại dịch Covid-19 đã làm trì hoãn các dự án đầu tư hiện có và triểnvọng suy thoái khiến các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) phải đánh giá lại các
dự án mới Theo UNCTAD, thực tế sụt giảm FDI xảy ra nhiều hơn ở các nềnkinh tế phát triển, nơi vốn FDI đã giảm 58%, lý do một phần vì tái cơ cấu doanhnghiệp và các dòng tài chính ổn định FDI vào các nền kinh tế đang phát triển
Trang 13giảm ít hơn, ở mức 8%, chủ yếu là do quá trình chuyển đổi hết sức linh hoạt ởchâu Á Kết quả là, các nền kinh tế đang phát triển hiện chiếm 2/3 tổng vốn FDItoàn cầu, tăng so với mức gần 1/2 trong năm 2019 Các khoản đầu tư mới vàongành công nghiệp và các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng mới ở các nước đang pháttriển bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tác động của đại dịch đối với FDI toàn cầu tập trung vào nửa đầu năm 2020.Tất cả các thành phần của FDI đều giảm Sự thu hẹp tổng thể trong hoạt động
dự án mới, kết hợp với sự trì hoãn trong hoạt động mua bán và sáp nhập xuyênbiên giới (M&A), đã dẫn đến dòng vốn đầu tư cổ phần giảm hơn 50% Đặc biệt,cũng theo báo cáo này, với lợi nhuận của các MNE giảm trung bình 36%, thunhập tái đầu tư của các công ty liên doanh nước ngoài - một phần quan trọngcủa FDI trong những năm trước - cũng giảm Trong nửa sau năm 2020, cácthương vụ M&A xuyên biên giới và các giao dịch tài chính dự án quốc tế phầnlớn đã phục hồi
Trong thời kỳ dịch Covid bủng nổ tại các quốc gia trên thế thới, một vài xuhướng đã trở nên phổ biến:
a Sự chuyển hướng dòng vốn đầu tư vào các nước phát triển
Ở các nền kinh tế phát triển, phản ứng ban đầu đối với cú sốc Covid-19, theolịch sử chính sách được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng trước đó, là đẩyvào thị trường tài chính các chính sách nới lỏng định lượng mới Tuy nhiên, cácchính phủ ở các nền kinh tế phát triển đã sớm nhận ra vấn đề, vì các cuộc phongtỏa gây ra một tác động ngược lên kinh tế đòi hỏi các biện pháp có mục tiêu vàphối hợp để bảo vệ cuộc sống và sinh kế của người dân Các ngân hàng trungương tiếp tục bơm thanh khoản, nhưng không giống như trong năm 2007 -
2009, các chính phủ cũng tăng chi tiêu của họ lên mức chưa từng thấy kể từ Thếchiến thứ 2 Trong quá trình này, các quan điểm chính sách bất khả xâm phạmtrước đây đã từ bỏ Mặc dù vậy, sự sụt giảm sản lượng trong quý 2 và quý 3năm 2020 là chưa từng có; ngay cả khi các nền kinh tế bắt đầu mở cửa và niềmtin quay trở lại, sự phục hồi trở lại được đánh dấu bằng sự không đồng đều đáng
kể giữa các ngành, nhóm thu nhập và khu vực Hơn nữa, sự bất bình đẳng vềthu nhập và tài sản xuất hiện trong bốn thập kỷ qua, nếu có, ngày càng gia tăng,trong đó, chủ sở hữu tài sản tài chính và kỹ thuật số thu được lợi nhuận lớn nhất
từ việc phục hồi
Tại EU, sau một thời gian điều chỉnh giảm - sự điều chỉnh góp phần giảm mấtcân bằng toàn cầu - thặng dư tài khoản vãng lai tính theo phần trăm GDP được
dự báo sẽ trở lại mức trước đại dịch là 3% trong năm nay Vào năm 2023, thặng
dư dự kiến sẽ tăng lên 3,2% GDP Với sự phục hồi dự kiến của du lịch, thặng dư
Trang 14ngày càng tăng trong tài khoản dịch vụ được coi là yếu tố đóng góp chính.Ngoài ra, lợi tức đầu tư của EU ra nước ngoài sẽ phục hồi cùng với sự phục hồicủa thu nhập toàn cầu Triển vọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng là tốt do các gói kíchthích Covid-19, nhưng đầu tư vào công nghiệp vẫn còn yếu Và trong khi cácquốc gia có thu nhập cao tăng gấp đôi dòng vốn FDI hàng quý, các nền kinh tếthu nhập thấp lại bị sụt giảm thêm 9%.
b.Tái định vị dòng vốn đang đầu tư vào các nước đang phát triển
Các nước đang phát triển bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề bởi hoạt động kinh tế
bị khóa toàn cầu Nó gây ra một loạt các cú sốc liên kết với nhau, tạo ra các chu
kỳ kinh tế luẩn quẩn bên cạnh các lỗ hổng nợ hiện có, khiến hầu hết các khuvực rơi vào suy thoái sâu và một số quốc gia rơi vào tình trạng vỡ nợ Bất chấpviệc thắt chặt tài khóa và gánh nặng nợ gia tăng, các nước đang phát triển vẫnphải tự mình xoay sở cuộc khủng hoảng, buộc phải cắt giảm sâu việc làm vàdịch vụ công Việc dòng vốn luân chuyển nhanh hơn dự kiến và giá hàng hóaphục hồi, khi các nền kinh tế phát triển bị cấm vận được dỡ bỏ, đã ngăn chặntình huống xấu nhất có thể xảy ra
Tuy nhiên, tăng trưởng ở hầu hết các nước đang phát triển vẫn còn yếu, cáckhoản nợ lớn vượt mức thậm chí còn lớn hơn, trong khi các biến thể của virus
đe dọa làm sống lại các làn sóng đại dịch mới sẽ làm ảnh hưởng đến thành quảhiện tại và dễ gây ra những tổn thương cho các nền kinh tế Ngay cả khi đạidịch được ngăn chặn thì nỗi lo về lãi suất cao hơn cũng làm suy yếu triển vọngphát triển Niềm tin ngày càng tăng của nhà đầu tư thể hiện rõ nhất ở cơ sở hạtầng, được thúc đẩy bởi các điều kiện tài chính dài hạn thuận lợi, các gói kíchthích phục hồi và các chương trình đầu tư ra nước ngoài Các giao dịch tài trợ
dự án quốc tế đã tăng 32% về số lượng (74% về giá trị), với mức tăng đáng kể ởhầu hết các khu vực thu nhập cao và ở châu Á và Nam Mỹ
Trang 153 Tình hình FDI tại Việt Nam
3.1.Thực trạng FDI ở VN
3.1.1 Giai đoạn 1987-2000
Sau hơn 30 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông quanăm 1987, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Viê ‘t Nam có xuhướng tăng lên, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với viê ‘c thực hiê ‘ncác mục tiêu phát triển kinh tế ở Viê ‘t Nam
Kể từ khi Đổi mới từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình nền kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý và điều tiết của Nhànước, Việt Nam đã trở thành điểm đến tiềm năng của các nhà đầu tư nướcngoài Việt Nam có nhiều lợi thế trong thu hút FDI như chính trị ổn định, tàinguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, tăng trưởng thị trườngkhá nhanh
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời năm 1987, trong 3 năm đầu
1988-1990, kết quả thu hút FDI còn hạn chế, chỉ có 211 dự án với tổng vốn đăng kýđạt 1.603,5 triệu USD Đầu tư nước ngoài giai đoạn này chưa thực sự tác độngđến tình hình kinh tế xã hội giai đoạn này