1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ủy ban lâm thời của nghị viện một số quốc gia trên thế giới những kinh nghiệm có thể áp dụng ở việt nam

105 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 27,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo đảm hoạt động một cách hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao đối với công tác lập pháp và giám sát, nghị viện hiện đại luôn phải dựa vào các công cụ và bộ máy giúp việc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MAI THỊ MAI

ỦY BAN LÂM THỜI CỦA NGHỊ VIỆN MỘT SỐ QUỐC GIA

TRÊN THẾ GIỚI – NHỮNG KINH NGHIỆM

CÓ THỂ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp

Mã số: 60 38 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Luận văn đã bảo vệ tại Hội đồng bảo vệ Luận văn Thạc sỹ Luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội ngày 19 tháng 6 năm 2012)

Người hướng dẫn khoa học: TS TÔ VĂN HÒA

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để luận văn này được hoàn thành, em đã nhận được sự giúp đỡ và sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – TS Tô Văn Hòa, giảng viên Khoa Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội Với tư cách là thầy giáo trực tiếp hướng dẫn em, Thầy đã định hướng, tư vấn, cung cấp tài liệu và luôn động viên em trong quá trình thực hiện để em có thể tự tin hoàn thành luận văn này Hơn thế nữa, nhờ có sự giúp đỡ

và giải thích cặn kẽ của Thầy mà em đã có thể tiếp cận và tìm hiểu được các bài viết, tài liệu bằng tiếng Anh làm cơ sở trực tiếp phục vụ cho việc nghiên cứu Bên cạnh sự giúp đỡ về mặt kiến thức, với tư cách là một đồng nghiệp, Thầy đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình công tác để em có thể dành thời gian tập trung cho việc hoàn thiện luận văn này Vì thế, trước tiên em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến người thầy của mình

Em cũng xin được trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý Thầy cô trong Trường Đại học Luật Hà Nội và các đồng nghiệp trong Khoa Hành chính Nhà nước đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình em học tập và công tác

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn động viên về mặt tinh thần, nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện cần thiết để em có thể hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất

Mặc dù có nhiều sự cố gắng những chắc chắn luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, có những vấn đề lý luận và thực tiễn đang và sẽ nảy sinh mà em chưa cập nhật được Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý Thầy cô và toàn thể bạn đọc để luận văn có thể được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2012

Tác giả luận văn

Mai Thị Mai

Trang 3

MỤC LỤC CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỦY BAN LÂM THỜI TRONG TỔ CHỨC VÀ

HOẠT ĐỘNG CỦA NGHỊ VIỆN HIỆN ĐẠI… ……… 1

1.1.Tổng quan về hệ thống ủy ban trong nghị viện hiện đại 1

1.1.1 Vai trò của Ủy ban trong nghị viện hiện đại 1

1.1.2 Các loại ủy ban trong nghị viện hiện đại 6

1.1.2.1 Ủy ban thường vụnghị viện 6

1.1.2.2 Uỷ ban thường trực 7

1.1.2.3 Uỷ ban lâm thời……….9

1.1.2.4 Ủy ban chung/ hỗn hợp……… 11

1.1.2.5 Ủy ban toàn thể……….……… 11

1.2 Phân loại các Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại……… 12

1.2.1 Ủy ban lập pháp lâm thời……… 13

1.2.2 Ủy ban điều tra………14

1.2.3 Ủy ban chuyên trách lâm thời………15

1.2.4 Ủy ban hỗn hợp lâm thời………16

1.3 Ưu điểm, nhược điểm và vai trò của Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại………….17

1.3.1 Ưu điểm và nhược điểm của Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại……… 17

1.3.2 Vai trò của Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại……….19

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG UỶ BAN LÂM THỜI CỦA Hạ nghị viện VƯƠNG QUỐC ANH, CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC VÀ LIÊN BANG HOA KỲ… ……… 23

2.1 Uỷ ban lâm thời của Hạ nghị viện Vương quốc Anh……… 23

2.1.1 Uỷ ban lâm thời trong hệ thống ủy ban của Hạ nghị viện Vương quốc Anh……… 23

2.1.2 Thẩm quyền của Uỷ ban lâm thờinghị viện Vương quốc Anh……….26

2.1.3 Thủ tục thành lập và cơ cấu tổ chức của các Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Vương quốc Anh……… 26

2.1.4 Cơ chế hoạt động của các Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Vương quốc Anh……… 28

2.2 Hệ thống Uỷ ban lâm thời của nghị viện Cộng hòa liên bang Đức……….31

2.2.1 Uỷ ban lâm thời trong hệ thống ủy ban của Hạ nghị viện Cộng hòa liên bang Đức……32

2.2.2 Thẩm quyền của Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Cộng hòa liên bang Đức……….34

2.2.3 Thủ tục thành lập và cơ cấu tổ chức của các Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Cộng hòa liên bang Đức……….35

2.2.4 Cơ chế hoạt động của các Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Cộng hòa liên bang Đức……39

2.3 Uỷ ban lâm thời của nghị viện Hoa Kỳ……… 42

Trang 4

2.3.1 Uỷ ban lâm thời trong hệ thống ủy ban của Hạ nghị viện liên bang Hoa Kỳ………43

2.3.2 Thẩm quyền của Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Hoa Kỳ………46

2.3.3 Thủ tục thành lập và cơ cấu tổ chức của các Uỷ ban lâm thờinghị viện Hoa Kỳ……….49

2.3.4 Cơ chế hoạt động của các Uỷ ban lâm thờinghị viện Hoa Kỳ……… 51

CHƯƠNG 3 NHỮNG KINH NGHIỆM TỐT CÓ THỂ XEM XÉT ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM……… 53

3.1 – Cơ sở xem xét nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm tốt của các Hạ nghị viện Vương quốc Anh, CHLB Đức và Liên bang Hoa Kỳ……….53

3.1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm tốt của các Hạ nghị viện Vương quốc Anh, CHLB Đức và Liên bang Hoa Kỳ……….53

3.1.1.1 Nguyên tắc Nhà nước pháp quyền………53

3.1.1.2 Vị trí và vai trò của Quốc hội Việt Nam trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước……….55

3.1.1.3 Nhu cầu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay……… 59

3.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm tốt của các Hạ nghị viện Vương quốc Anh, CHLB Đức và Liên bang Hoa Kỳ……….64

3.1.2.1 Ủy ban lâm thời trong hệ thống Ủy ban của Quốc hội Việt Nam……….64

3.1.2.2 Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Ủy ban lâm thời của Quốc hội Việt Nam……….69

3.1.2.3 Nhu cầu nâng cao vai trò của Ủy ban lâm thời trong thực tiễn hoạt động của Quốc hội Việt Nam……… 75

3.2 Một số kiến nghị trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Vương quốc Anh, CHLB Đức và Liên bang Hoa Kỳ nhằm nâng cao vai trò của UBLT trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam……….79

3.2.1 Về mặt lý luận và quan điểm sử dụng UBLT……… 79

3.2.2 Về khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của UBLT……… 80

3.2.3.Về cơ chế pháp lý đầy đủ cho việc thành lập một UBLT ở Việt Nam 82

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỦY BAN LÂM THỜI TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGHỊ VIỆN HIỆN ĐẠI 1.1 Tổng quan về hệ thống ủy ban trong nghị viện hiện đại

1.1.1 Vai trò của Ủy ban trong nghị viện hiện đại

Sự thành công của cuộc cách mạng tư sản đã mở ra thời kỳ mới cho chặng đường phát triển của thế giới, khi lật đổ giai cấp phong kiến thống trị thủ cựu và trì trệ, đưa quyền lực nhà nước về tay nhân dân Và cùng với nền lập hiến thì nghị viện trong thiết chế của bộ máy nhà nước hiện đại ngày nay

là thành quả to lớn nhất mà cuộc cách mạng dân chủ tư sản đem đến cho nhân loại

Theo học thuyết phân chia quyền lực được Montesquieu trình bày trong tác phẩm “tinh thần pháp luật” xuất bản năm 1748 thì quyền lực Nhà nước gồm 3 thứ quyền cơ bản: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Nếu cả ba thứ quyền này tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan sẽ dễ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, là nguyên nhân dẫn đến sự chuyên quyền, độc đoán Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tổ chức bộ máy nhà nước sao cho quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân chia cho ba hệ thống cơ quan khác nhau, độc lập nhau nhưng lại kiềm chế và đối trọng nhau Nghị viện là một trong ba cơ quan ấy, tồn tại song song bên cạnh Tổng thống, chính phủ và các cơ quan Tòa án để thực hiện loại quyền lực nhà nước quan trọng nhất – Quyền lập pháp

Kể từ khi mô hình dân chủ nghị viện được hình thành ở Vương quốc Anh vào thế kỷ XIII cho đến nay, cùng với việc áp dụng phổ biến thuyết Tam quyền phân lập trong tổ chức và hoạt động của các bộ máy nhà nước dân chủ trên thế giới, nghị viện đã ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong các nền dân chủ hiện đại Theo các công trình nghiên cứu chính trị và pháp lý hiện đại, vai trò của nghị viện ở các nền dân chủ có xu hướng đi xuống vào khoảng những năm 60 và 70 của Thế kỷ XX do sự căng thẳng leo thang của cuộc chiến tranh Lạnh Tuy nhiên, kể từ Thập kỷ 90 của Thế kỷ

XX, khi cuộc Chiến tranh Lạnh kết thúc và sự căng thẳng giữa các thế lực đối

Trang 14

đầu lớn trên thế giới phát triển chấm dứt thì vai trò của nghị viện đã không ngừng được phát triển, củng cố trên phạm vi toàn thế giới Như một nhà khoa học pháp lý hàng đầu đã phải thốt lên rằng: “Chúng ta đang sống trong “kỷ nguyên của các nghị viện”,1 nghị viện hiện đại đã và đang thực sự khẳng định mình như một cơ quan quan trọng nhất, nổi bật nhất trong việc duy trì và bảo đảm các nền dân chủ trên thế giới

Ngày nay nghị viện đã trở thành một thiết chế không thể thiếu được trong chế độ dân chủ hay không muốn nói rằng việc tổ chức và hoạt động của nghị viện trở thành một tiêu chí của dân chủ Việc tổ chức và hoạt động của các nghị viện rất khác nhau Sự khác nhau này tùy thuộc vào lịch sử, văn hóa, truyền thống của từng quốc gia, hơn thế nữa tùy thuộc vào công việc và chức năng cần phải đảm nhiệm của nghị viện các nước khác nhau là khác nhau Do vậy, mô hình tổ chức hoạt động của nghị viện rất đa dạng và phong phú

Tuy nhiên, bất chấp sự đa dạng dưới nhiều mức độ thì nghị viện của hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện ba chức năng: lập pháp, quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước và giám sát Với chức năng lập pháp, nghị viện ban hành luật đề điều chỉnh các quan hệ xã hội và ra các chính sách

cơ bản phát triển đất nước Các dự luật có thể được cơ quan hành pháp, các nghị sĩ hay các cơ quan có thẩm quyền khác trình lên nghị viện Khi tiếp nhận các dự luật, nghị viện và các cơ quan của nghị viện xem xét, sửa chữa và ban hành dưới hình thức các đạo luật Với chức năng quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước, nghị viện quyết định các khoản thu cho ngân sách nhà nước từ xã hội, các khoản chi từ ngân sách nhà nước và phê chuẩn, quyết toán ngân sách nhà nước do cơ quan hành pháp trình Trong một số trường hợp, chức năng này cũng được coi là một phần của chức năng lập pháp Với chức năng giám sát, nghị viện theo dõi và đánh giá xem cơ quan hành pháp, thông qua các kế hoạch, chính sách và hành động cụ thể, có thực hiện một cách có hiệu quả, trung thực và chính xác các đạo luật hay quyết định mà nghị viện đã ban hành hay không Song hành với việc theo dõi, đánh giá luôn là những biện pháp xử lý trong trường hợp có vấn đề đặt ra đối với cơ quan hành pháp

1

Lawrence Longley and Roger Davidson, The new roles of parliamentary committees, 1998, p 1.

Trang 15

Ngày nay, ba chức năng này đã trở thành các chức năng phổ biến của nghị viện hiện đại trên thế giới, cho dù là thuộc chính thể quân chủ đại nghị, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa đại nghị Trong thời kỳ hiện đại, khi xã hội ngày càng phát triển thì nghị viện các nước cũng thực hiện các chức năng của mình

ở một phạm vi ngành và lĩnh vực rộng hơn rất nhiều so với trước đây Nghị viện ngày nay không chỉ quan tâm tới các vấn đề truyền thống như an ninh, quốc phòng, hay vấn đề về ngân sách mà kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà nước nói chung và nghị viện nói riêng ngày càng can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế cũng như các vấn đề về môi trường, phúc lợi và xã hội nói chung Hoạt động của nghị viện vì vậy cũng trở nên phức tạp hơn nhiều so với trước kia Bên cạnh đó, cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, hoạt động của các nghị viện trên thế giới đang gặp phải những đòi hỏi ngày càng cao từ phía xã hội Nghị viện hiện đại đang đứng trước yêu cầu phải năng động hơn, đại diện sâu sát hơn và hiệu quả hơn trong hoạt động Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan đại diện tập thể, nghị viện luôn luôn đưa ra các quyết sách dựa trên sự bàn bạc và quyết định theo đa số Việc quyết định theo

đa số một mặt thể hiện bản chất dân chủ của nghị viện và chế độ dân chủ đại diện song mặt khác trong mối quan tâm của nghị viện hiện đại ngày càng có

xu hướng mở rộng thì hình thức hoạt động này lại vô hình chung đưa đến xu hướng vận động ngược lại so với các yêu cầu về tính hiệu quả và tính năng động trong hoạt động của nghị viện

Để bảo đảm hoạt động một cách hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao đối với công tác lập pháp và giám sát, nghị viện hiện đại luôn phải dựa vào các công cụ và bộ máy giúp việc khác nhau, trong đó quan trọng nhất phải nói đến đó là hệ thống ủy ban của nghị viện Theo định nghĩa được

sử dụng rộng rãi, các ủy ban của nghị viện là các cơ quan gồm các nhóm nghị

sĩ do nghị viện lập ra để giúp nghị viện xem xét, cân nhắc sâu về một vấn đề, một lĩnh vực nào đó thuộc thẩm quyền của nghị viện.3 Nghị viện hiện đại đã

2 UNDP, Parliamentary Committees, 2005, p 5,6; , p 5

3 Giáo trình Luật hiến pháp nước ngoài, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB công an nhân dân, năm1999, trang 92; UNDP, Parliamentary committees, p 11; J.F Keeler, Report of the national committee of inquiry into compensation and rehabilitation in Australia, 5 Adel L Rev 121, p 3; Herbert Doring, Parliaments and majority rule in Western Europe, 2005, p 249.

Trang 16

có cho mình nhiều loại ủy ban với sự khác nhau về cách thức tổ chức hoạt động hay nhiệm vụ quyền hạn.v.v Nhưng các ủy ban của nghị viện cho dù là thuộc bất kỳ phân loại nào cũng thường có chung những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, các ủy ban đều là các nhóm nghị sĩ trong nghị viện Trừ

những trường hợp hết sức đặc biệt, các ủy ban nghị viện không bao giờ có thành viên không phải là nghị sĩ

- Thứ hai, các ủy ban không có thẩm quyền ra quyết định đối với vấn

đề mình phụ trách Nhiệm vụ chính của các ủy ban là tìm hiểu và cung cấp thông tin, ý kiến tư vấn đầu vào cho nghị viện để nghị viện ra một quyết định nào đó Vấn đề duy nhất mà các ủy ban có thể tự quyết định là trình tự, thủ tục hoạt động của ủy ban mình Quyết định mang tính nội dung cuối cùng luôn thuộc vềnghị viện chứ không phải ủy ban Nói cách khác, ủy ban là cơ quan giúp việc, phục vụ cho hoạt động của nghị viện

- Thứ ba, với tính chất là cơ quan giúp việc của nghị viện, phạm vi

công việc của các ủy ban chỉ dừng ở mức độ là làm các báo cáo phân tích và

đề xuất ý kiến trình lên phiên họp toàn thể của nghị viện để ra quyết định

Lịch sử hình thành và phát triển của nghị viện thế giới trong nhiều thế

kỷ qua đã chứng minh được vai trò quan trọng của hệ thống các ủy ban trong

tổ chức và hoạt động của nghị viện Và sự hiện diện của hệ thống ủy ban ấy tiếp tục được coi là yếu tố không thể thay thế được trong việc bảo đảm chất lượng hoạt động của nghị viện hiện đại, thể hiện qua một số khía cạnh sau:

- Thứ nhất, các ủy ban nghị viện, được tổ chức với quy mô vừa phải,

tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách hiệu quả và chuyên sâu về một vấn đề, một nội dung nào đó Trên cơ sở các nghiên cứu chuyên sâu của mình, các ủy ban báo cáo và đề xuất hướng giải quyết vấn đề tớinghị viện Điều này giúp cho nghị viện không cần mất thời gian và nguồn lực mà vẫn có thể xem xét các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình một cách chi tiết và cặn kẽ

Trang 17

- Thứ hai, với việc duy trì hệ thống các ủy ban, công việc của nghị

viện được chia nhỏ thành các nội dung cụ thể và có thể được tiến hành song song với nhau, trong đó thì mỗi ủy ban có thể làm việc, nghiên cứu, thu thập

và xử lý số liệu chuyên sâu về một vấn đề, một lĩnh vực nào đó.v.v Cách làm này tiết kiệm tối đa thời gian làm việc của nghị viện Nó cho phép trong cùng một thời gian, nghị viện có thể cùng một lúc nghiên cứu và xử lý nhiều vấn đề khác nhau Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động của hệ thống ủy ban đã tạo

ra lợi thế lớn cho nghị viện bởi vì nếu không có hệ thống ủy ban thì nghị viện với tư cách là một cơ quan toàn thể chỉ có thể xem xét và xử lý về một vấn đề trong một thời điểm

- Thứ ba, các ủy ban nhờ quy mô nhỏ và vừa của mình thường có chế

độ làm việc linh hoạt, thủ tục không cần quá nhiều nghi thức Hoạt động của các ủy ban nhờ đó là nơi tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các chuyên gia

và công chúng nói chung tham gia hoạt động nghị trường, ví dụ tham gia điều trần, triệu tập để hỏi ý kiến v.v Nhờ đó nghị viện cũng có xu hướng gần gũi với dân chúng hơn và hình ảnh của nghị viện với tư cách cơ quan đại diện của nhân dân cũng được nâng cao hơn

- Thứ tư, các ủy ban của nghị viện còn có vai trò quan trọng nữa

trong thể chế chính trị của quốc gia: Các ủy ban này hoạt động với tư cách là những “chiếc van an toàn”, hay là những cửa xả cho các cuộc thảo luận hay tranh cãi mang tính quốc gia Từ vấn đề về quân sự, kinh tế, sự gia tăng dân

số, mối quan tâm về môi trường, về ách tắc giao thông, về tội phạm, vấn đề chăm sóc sức khỏe.v.v tất cả đã đặt hệ thống chính trị vào trạng thái vô cùng căng thẳng do có quá nhiều việc cần phải quan tâm và giải quyết Là diễn đàn cho các cuộc tranh luận công khai, các ủy ban của nghị viện giúp giải tỏa, xoa dịu và khắc phục tình trạng căng thẳng này.4

Những lý do trên đây làm cho hệ thống ủy ban đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của các nghị viện hiện đại Trong thực tiễn, tất cả các nghị viện hiện đại trên thế giới, từ các nghị viện nhỏ như

4

Roger H Davidson, Walter J Oleszek và Frances E Lee, (2002) Quốc hội và các thành viên

- Congress and its members Nxb Chính trị Quốc gia, Tr 308.

Trang 18

Nghị viện Senegal hay Mông Cổ với 120 nghị viên, cho tới các nghị viện lớn như Hạ nghị viện CHLB Đức với 598 thành viên đều có cho mình một hệ thống ủy ban giúp việc Vai trò của các ủy ban nghị viện đối với hoạt động của nghị viện hiện đại quan trọng tới nỗi đã tồn tại một câu nói nổi tiếng trong giới nghiên cứu luật hiến pháp và hoạt động nghị viên quốc tế: “Nghị viện tại phiên họp toàn thể chỉ là nghị viện trình diễn; Nghị viện tại các ủy ban mới là nghị viện thực sự làm việc”.5

1.1.2 Các loại ủy ban trong Nghị viện hiện đại

Mặc dù tất cả các nghị viện hiện đại trên thế giới đều có hệ thống các

ủy ban giúp việc song cơ cấu cũng như số lượng các ủy ban trong nghị viện các nước không phải lúc nào cũng giống nhau Nghị viện ở mỗi quốc gia khác nhau thì tùy vào khối lượng cộng việc, nhiệm vụ quyền hạn cũng như lịch sử chính trị thì sẽ thành lập cho mình hệ thống các ủy ban khác nhau, tuy nhiên trên cơ sở tổng hợp tất cả các loại hình tổ chức ủy ban của nghị viện các nước trên thế giới, có thể phân loại các ủy ban thường xuất hiện trong nghị viện hiện đại thành năm loại như sau:

1.1.2.1 Ủy ban thường vụ nghị viện

Ủy ban thường vụ nghị viện là cơ quan do nghị viện lập ra trong suốt nhiệm kỳ hoạt động của mình để thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn giữa hai kỳ họp của nghị viện Thành phần của cơ quan này thường bao gồm Chủ tịch Nghị viện, các Phó chủ tịch Nghị viện và các lãnh đạo các ủy ban của nghị viện Có thể nói, đây là loại cơ quan khá đặc thù trong cơ cấu tổ chức của nghị viện Khác với ủy ban nghị viện thông thường, Ủy ban thường vụ nghị viện thường được giao một số nhiệm vụ quyền hạn độc lập, được thực hiện giữa hai kỳ họp như phê chuẩn một số chức danh nhà nước, ban hành một số loại hình văn bản quy phạm pháp luật.v.v Do đó, Ủy ban thường vụ nghị viện không đơn thuần là cơ quan giúp việc cho nghị viện mà giống như một cơ quan độc lập với những nhiệm vụ quyền hạn riêng Vì vậy cũng có thể xếp cơ quan này ra khỏi nhóm các ủy ban nghị viện Trên thực tế, Ủy ban

5“Congress in session is Congress on exhibition; Congress in committee is

Congress at work”(Woodrow Wilson)

Trang 19

thường vụ nghị viện không xuất hiện phổ biến trong nghị viện hiện đại mà chỉ tồn tại ở nghị viện một số quốc gia đang theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước XHCN như Việt Nam, Lào, Trung Quốc v.v hay Campuchia – nước cũng đã từng tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình XHCN

1.1.2.2 Uỷ ban thường trực

Trong các nghị viện hiện đại, nếu như ủy ban thường vụ nghị viện có cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn riêng và không đơn thuần là một cơ quan giúp việc cho nghị viện thì UBTT lại là những ủy ban được thành lập để phụ trách một vấn đề hoặc một mảng công việc cụ thể nhằm mục đích là để phục vụ cho hoạt động của nghị viện Nhiệm kỳ của UBTT không được ấn định trong một thời hạn cụ thể mà tồn tại theo nhiệm kỳ của nghị viện Trong một số trường hợp nếu cơ cấu tổ chức của nghị viện ổn định thì UBTT của nghị viện đó vẫn tiếp tục tồn tại qua nhiều nhiệm kỳ nghị viện, đương nhiên với nhân sự mới Có thể nói, trong hệ thống ủy ban của nghị viện, các UBTT đóng vai trò nổi bật và dễ nhận thấy nhất

Như đã đề cập ở trên, nhiệm vụ của các UBTT luôn gắn trực tiếp với một mảng công việc hoặc lĩnh vực nhất định và luôn phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các chức năng của nghị viện Mặc dù vậy, có thể chia các UBTT của nghị viện làm ba loại cụ thể sau:

UBTT có nhiệm vụ phục vụ chức năng lập pháp của nghị viện Chức năng lập pháp là chức năng nguyên thủy của nghị viện, và vì vậy UBTT có nhiệm vụ phục vụ cho chức năng lập pháp của nghị viện tồn tại ở rất nhiều nếu như không muốn nói là ở hầu hết nghị viện các quốc gia trên thế giới, điển hình là Hạ nghị viện Hoa Kỳ và Hạ nghị viện CHLB Đức – những quốc gia mà tiếng nói của nghị viện thực sự có trọng lượng Trên thực tế, vai trò và sự chi phối của nghị viện trong công tác lập pháp càng mạnh thì nghị viện càng có xu hướng thành lập các UBTT để xem xét các dự luật, trong đó

có cả dự luật ngân sách, do các chủ thể có thẩm quyền trình lên Các UBTT tiếp nhận các đề xuất dự luật ngay từ giai đoạn ban đầu, nghiên cứu các dự luật này và đưa ra kiến nghị đối với nghị viện Ở một số mô hình nghị viện, các UBTT lập pháp thậm chí còn có thẩm quyền cho phép hay không cho

Trang 20

phép đưa một dự luật ra thảo luận và thông qua ở nghị viện, như Hoa Kỳ Trong trường hợp đó, vai trò của các UBTT đối với hoạt động lập pháp của quốc gia này không chỉ đơn thuần là mang tính chất nghiên cứu, xem xét và đưa ra kiến nghị nữa, mà lúc này UBTT đóng vai trò như một người gác cửa,

mà dự luật đó cần phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định thì mới có thể đi qua được để tiếp tục đến giai đoạn thảo luận và thông qua tại nghị viện – Điều này cho thấy vai trò vô cùng to lớn của UBTT

UBTT có nhiệm vụ phục vụ chức năng giám sát của nghị viện: Bên cạnh các UBTT được thành lập để phục vụ cho việc thực hiện chức năng lập pháp của nghị viện thì cũng có các UBTT được thành lập với nhiệm vụ để phục vụ cho chức năng giám sát của nghị viện Các UBTT thuộc loại này thường được tổ chức tương ứng với cấu trúc các bộ của Cơ quan hành pháp, kể cả về số lượng và thẩm quyền Nói cách khác, các UBTT phục

vụ chức năng giám sát của nghị viện được tổ chức theo sát cơ cấu tổ chức của Chính phủ Mục đích của cách thức tổ chức như vậy là để bảo đảm nghị viện

có thể giám sát một cách hiệu quả nhất đối với Chính phủ Các UBTT phục

vụ chức năng giám sát của nghị viện vì vậy cũng được xem như những đầu mối liên hệ chặt chẽ với các bộ của Chính phủ Các văn bản pháp luật cũng như bất kỳ hoạt động nào của các bộ cũng đều phải được báo cáo để các UBTT thuộc loại này giám sát sự phù hợp với pháp luật và chính sách cơ bản

do nghị viện ban hành Các UBTT có nhiệm vụ phục vụ chức năng giám sát của nghị viện cũng thường có quyền tổ chức điều trần, triệu tập các bộ có liên quan, nhân chứng, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội, các nhóm lợi ích v.v để thu thập thông tin phục vụ nhiệm vụ của mình Ví dụ điển hình nhất của các UBTT thuộc loại này là các Ủy ban chuyên trách (Select Committees) của Hạ nghị viện Anh và Canada

UBTT thực hiện các công việc mang tính chất hành chính của nghị viện: Trong số ba loại UBTT được phân loại thì UBTT thực hiện các công việc mang tính chất hành chính của nghị viện là loại hình UBTT duy nhất không được thành lập nhằm mục đích phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nghị viện Mặc dù vậy, các UBTT thuộc loại này vẫn là các ủy ban được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ cho các hoạt động của nghị viện Tuy

Trang 21

nhiên, hoạt động của chúng thường không có mối liên hệ trực tiếp với các cơ quan bên ngoài nghị viện mà nhiệm vụ của chúng là bảo đảm các công việc mang tính nội bộ của nghị viện được thực hiện một cách trôi chảy để quá trình thực hiện chức năng chung của nghị viện được thực hiện một cách có hiệu quả Ví dụ điển hình của UBTT mang tính chất hành chính là Ủy ban Phục vụ

Nghị sĩ (Committee on Members’ Services) thường xuất hiện ở nghị viện theo

Mô hình Đại nghị Vương quốc Anh Ủy ban này nghiên cứu và đề xuất các chính sách nguồn nhân lực của nghị viện, các vấn đề dự toán ngân sách và thu, chi ngân sách của nghị viện Một số nghị viện cũng thành lập các UBTT

phụ trách vấn đề quy trình thủ tục của nghị viện (Standing Orders Committees) hay phụ trách các vấn đề liên quan tới tiêu chuẩn đạo đức và kỷ luật đối với nghị sĩ (Ethics Committee)

Về cơ bản, trên cơ sở mục đích thành lập cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của các UBTT thì ta có thể chia UBTT thành các loại như trên, tuy nhiên việc phân loại các UBTT trên đây không mang tính chất tuyệt đối Bởi lẽ, ở một số nghị viện hiện đại các UBTT không tổ chức theo mảng chức năng như trên mà lại có thể thực hiện kết hợp các chức năng với nhau Ví dụ Hạ nghị viện Pháp có 6 UBTT được phân công phụ trách các lĩnh vực lớn về kinh tế

và xã hội Cả sáu UBTT này đều vừa thực hiện các nhiệm vụ để phục vụ chức năng lập pháp và chức năng giám sát của nghị viện Ở Quốc hội Việt Nam, cả chín UBTT và Hội đồng dân tộc đều thực hiện các nhiệm vụ mang tính chất lập pháp và các nhiệm vụ mang tính chất giám sát

1.1.2.3 Uỷ ban lâm thời

UBLT là một loại ủy ban của nghị viện được thành lập để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể do nghị viện giao và trong một khoảng thời gian cụ thể

do nghị viện xác định UBLT thường chấm dứt hoạt động và giải tán khi nhiệm vụ của mình đã được thực hiện xong, thông thường là sau khi ủy ban

đã gửi báo cáo hoặc kết quả công việc của mình lên nghị viện

Với tư cách là một loại ủy ban của nghị viện, UBLT giống với UBTT

và các loại ủy ban khác ở chỗ cơ quan này không có địa vị pháp lý độc lập mà chỉ là cơ quan giúp việc của nghị viện, thực hiện các nhiệm vụ được giao để

Trang 22

phục vụ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nghị viện Kết quả thực hiện nhiệm vụ của UBLT, cũng giống như của UBTT, là nguồn thông tin đầu vào để nghị viện trao đổi, thảo luận một cách có hiệu quả về một vấn đề nào đó trước khi thông qua tại phiên họp toàn thế

UBLT khác UBTT ở ba điểm quan trọng Thứ nhất, UBLT thực hiện một nhiệm vụ, một công việc cụ thể nhất định Ví dụ nghị viện có thể thành lập UBLT để điều tra về một trường hợp có khiếu nại cụ thể đối với một cơ quan nhà nước nào đó hay xem xét và cho ý kiến đề xuất đối với một dự luật

cụ thể hay đơn giản là nghiên cứu về một phương án nào đó để cải tiến hoạt động của nghị viện v.v Khi thành lập ra một UBLT, bao giờ nghị viện cũng phải có quyết định thành lập cụ thể, trong đó có nội dung nhiệm vụ, hay có điều khoản giao việc cụ thể Trong khi đó, sự ra đời của một UBTT không gắn liền với một công việc cụ thể mà thường có thẩm quyền chung trong một lĩnh vực nào đó.Các dự luật hoặc vụ việc cụ thể thuộc lĩnh vực thẩm quyền của UBTT nào thì ủy ban đó sẽ tự động xử lý mà không cần có nghị quyết

giao việc cụ thể của nghị viện Thứ hai, do có nhiệm vụ xử lý các công việc

cụ thể mang tính vụ việc nên thời gian tồn tại của các UBLT không gắn với nhiệm kỳ của nghị viện như các UBTT mà được xác định rõ ràng ngay khi các ủy ban đó được thành lập Như đã đề cập, thông thường UBLT sẽ giải tán khi nhiệm vụ của nó đã hoàn thành Tuy nhiên nghị viện cũng có thể xác định một thời hạn cụ thể ngay trong nghị quyết thành lập UBLT Nếu thời hạn đó

mà nhiệm vụ của UBLT vẫn chưa hoàn thành vì lý do chủ quan hoặc khách quan thì nghị viện có thể quyết định kéo dài thời gian hoạt động của UBLT hoặc cân nhắc thành lập một UBTT để xử lý vấn đề mà UBLT đó đang xử lý

Thứ ba, UBLT khác UBTT về mức độ chuyên biệt của công việc Như trên

đã đề cập, một UBTT có thể được thành lập để thực hiện cùng một lúc hai hay nhiều mảng công việc khác nhau, có thể là vừa xem xét dự thảo luật và vừa giám sát việc thực thi dự thảo luật đó sau khi đã được thông qua Trong trường hợp có những dấu hiệu cụ thể về vi phạm pháp luật thì ủy ban đó cũng

có thể tổ chức các hoạt động mang tính chất điều tra để làm rõ các vi phạm Đối với UBLT thì lại không như vậy Mỗi UBLT khi được thành lập đều có một nhiệm vụ cụ thể, xử lý những tình huống cụ thể Vì vậy, thông thường

Trang 23

mỗi UBLT chỉ thực hiện một loại công việc, hoặc là xem xét và cho ý kiến về một dự thảo luật, hoặc điều tra hay nghiên cứu về một vấn đề cụ thể nào đó

UBLT cùng với UBTT là hai thành tố không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của bất kỳ nghị viện hiện đại nào trên thế giới Hai loại ủy ban này có thể được xem như hai loại công cụ hữu hiệu nhất, một được sử dụng thường xuyên và một được sử dụng trong những tình huống, trường hợp cụ thể Sự kết hợp hài hòa giữa hai loại công cụ này là yếu tố quan trọng nhất bảo đảm cho sự thiết lập và duy trì một nghị viện mạnh mẽ và hiệu quả

1.1.2.4 Ủy ban chung/ hỗn hợp

Ủy ban chung hay còn gọi là Ủy ban hỗn hợp xuất hiện thường xuyên nhất ở các nghị viện lưỡng viện Trong trường hợp đó, Ủy ban chung được

cả hai viện thành lập với các thành viên do hai viện bầu Nhiệm vụ của Ủy ban chung thường là giải quyết những bất đồng giữa hai viện về một vấn đề nào đó, ví dụ là bất đồng về việc thông qua một dự luật quan trọng nhất định Mục đích của các ủy ban chung do đó thường là tìm phương án giải quyết về một vấn đề nào đó có thể thỏa mãn được yêu cầu của cả hai viện Tùy vào từng nghị viện, ủy ban chung có thể được thành lập dưới hình thức một

1.1.2.5 Ủy ban toàn thể

Ủy ban toàn thể là hình thức ủy ban lâu đời nhất và cũng là thô sơ nhất trong cơ cấu tổ chức của nghị viện Về cơ bản, Ủy ban toàn thể chính là toàn thể các thành viên của nghị viện tập trung lại với nhau để cùng bàn về một vấn đề, song lúc này toàn thể đó không được coi là nghị viện mà lại được coi như là một ủy ban, sự khác nhau cơ bản ở đây là: cũng những con người ấy họp lại với nhau, nhưng cuộc họp ấy chỉ dừng lại ở sự bàn bạc, bày tỏ ý kiến

và tranh luận về một vấn đề nào đó chứ không ra quyết định về vấn đề đó Thủa ban đầu khi nghị viện mới ra đời cho tới khoảng Thế kỷ 19, mọi công

Trang 24

việc đều được bàn thảo bởi tất cả thành viên ở phiên họp toàn thể rồi sau đó lại được biểu quyết bởi tất cả thành viên ở phiên họp chính thức - Tạo ra cơ chế bàn toàn thể - biểu quyết toàn thể, điều này tạo ra sự bất tiện và kém hiệu quả trong hoạt động của nghị viện Và đây cũng chính là động lực để ra đời những hình thức ủy ban chuyên trách đầu tiên của nghị viện vào cuối Thế kỷ

19

Là hình thức ủy ban cổ điển nhất, và có nhiều hạn chế, tuy nhiên cho tới ngày nay, hình thức Ủy ban toàn thể vẫn tiếp tục được sử dụng, điều này cho thấy rằng bản thân nó vẫn có những ưu điểm nhất định, cụ thể: Các thủ tục tiến hành tại cuộc họp của Ủy ban toàn thể ít nghi thức và chặt chẽ hơn thủ tục họp chính thức để ra quyết định Điều đó cho phép các nghị sĩ được phát biểu nhiều lần và không hạn chế thời gian về một vấn đề nào đó Ủy ban toàn thể cũng là hình thức thích hợp để tất cả các nghị sĩ trao đổi về những vấn đề được quan tâm chung không hoàn toàn thuộc về lĩnh vực phụ trách của

ủy ban chuyên trách nào Ngoài ra thì việc tổ chức Ủy ban toàn thể cũng đòi hỏi nhiều thời gian cũng như sự tốn kém về tài chính hơn nhiều so với các ủy ban chuyên trách có quy mô nhỏ hơn Chính vì vậy, nhìn chung tần suất triệu tập Ủy ban toàn thể ít hơn nhiều so với UBTT và UBLT

1.2 Phân loại các Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại

Về mặt lịch sử, UBLT bắt đầu xuất hiện trong cơ cấu tổ chức của nghị viện bắt đầu từ cuối Thế kỷ 19 trong mô hình nghị viện Westminster của Vương quốc Anh Nhiệm vụ chủ yếu của các UBLT khi đó là giúp nghị viện xem xét các dự luật do Chính phủ trình Sau khi mạng lưới các UBTT được hình thành ở nghị viện Anh và nhân rộng ranghị viện các nước khác trên thế giới vào khoảng giữa Thế kỷ 20 thì sự hiện diện của các UBLT có thể không còn nhiều như trước kia nữa Tuy nhiên, thay vào đó thì phạm vi nhiệm vụ mà UBLT ngày nay phụ trách lại đa dạng hơn rất nhiều so với thời kỳ trước Các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về cơ bản đã phân loại các UBLT trong nghị viện hiện đại thành bốn nhóm: Ủy ban lập pháp lâm thời; Ủy ban điều tra; Ủy ban chuyên môn và Ủy ban hỗn hợp lâm thời

Trang 25

1.2.1 Ủy ban lập pháp lâm thời

Ủy ban lập pháp lâm thời là loại UBLT tồn tại từ sớm nhất trong lịch

sử nghị viện Ngay từ khi mới được thành lập, chức năng truyền thống của nghị viện đã là chức năng lập pháp Như trên đã đề cập, thời kỳ đầu các nghị viện xem xét các dự luật cho chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền trình tại Ủy ban toàn thể rồi sau đó sang phiên họp toàn thể chính thức để thông qua Do cách thức này làm mất thời gian và giảm hiệu quả công tác lập pháp của nghị viện nên tới khoảng cuối Thế kỷ 19, các UBLT đầu tiên đã được thành lập để xem xét các dự luật mà nghị viện nhận được – Đó là các Ủy ban lập pháp lâm thời Để xem xét mỗi một dự luật, thay vì phải tiến hành xem xét

dự thảo luật đó tại phiên họp toàn thể thì lúc nàynghị viện sẽ thành lập một ủy ban lập pháp lâm thời riêng và ủy ban này sẽ thảo luận, cho ý kiến về dự luật,

và sau khi gửi ý kiến của mình lên nghị viện thì sẽ chấm dứt hoạt động Ở một

số nghị viện hiện đại, ủy ban lập pháp lâm thời chỉ được đưa ra ý kiến trong phạm vi các điều khoản của dự luật do Chính phủ trình mà không được xem xét các vấn đề bên ngoài dự luật đó, thậm chí không được đưa ra kiến nghị sửa đổi nội dung dự luật trừ khinghị viện trực tiếp ủy quyền trong nghị quyết thành lập ủy ban.7

Mặc dù mỗi ủy ban lập pháp lâm thời chỉ xem xét một dự luật song bản thân mỗi thành viên của ủy ban có thể không có kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực mà dự luật đó điều chỉnh Hơn thế nữa, thành phần của ủy ban lập pháp lâm thời lại đượcnghị viện bầu chọn chủ yếu dựa trên cơ cấu đảng phái trong nghị viện hơn là dựa vào trình độ hoặc lĩnh vực chuyên môn của các nghị sỹ Chính vì vậy mà ảnh hưởng của các ủy ban lập pháp lâm thời tới quá trình lập pháp không mang tính quyết định Các ủy ban lập pháp lâm thời thường chỉ đóng vai trò tư vấn mà ít khi tham gia vào quá trình chỉnh sửa hoặc ngăn cản việc bỏ phiếu đối với dự luật Tuy nhiên, một số trường hợp để xem xét các dự luật lớn, có ảnh hưởng rộng, nghị viện có thể thành lập một ủy ban lập pháp lâm thời gồm các thành viên có trình độ chuyên môn về lĩnh vực

Trang 26

mà dự luật đó điều chỉnh Khi đó sự tác động của ủy ban lập pháp lâm thời đó tới quá trình thảo luận, thông qua dự luật có thực chất hơn song về bản chất vẫn là vai trò cố vấn

Với những đặc điểm như vậy, ủy ban lập pháp lâm thời thường được

sử dụng ở các mô hình Đại nghị truyền thống, ví dụ Mô hình Đại nghị Westminster (Anh, Canada, Ấn độ, Bangladesh v.v.) Ở những chính thể mà vai trò của nghị viện mang tính quyết định đối với công tác lập pháp, ví dụ

mô hình Cộng hòa Tổng thống (Hoa Kỳ, Philippines v.v.) thì các UBTT lại được sử dụng nhiều hơn để xem xét và thông qua các dự luật trước khi trìnhnghị viện quyết định.8

1.2.2 Ủy ban điều tra

Nếu như Ủy ban lập pháp lâm thời là công cụ trực tiếp để phục vụ việc thực hiện chức năng lập pháp của nghị viện thì đối với việc thực hiện chức năng giám sát của mình, nghị viện lại sử dụng một công cụ khác đó là Ủy ban điều tra Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát, bất kỳ nghị viện nào cũng có thể gặp phải tình huống cần tìm hiểu về những vấn đề, những sự kiện

đã xảy ra và cần quy kết trách nhiệm chính trị hay pháp lý đối với vi phạm nếu có - Đó là lúc phát sinh nhu cầu thành lập các ủy ban điều tra Nhiệm vụ của các ủy ban điều tra này thường là tiến hành các hoạt động điều tra, tìm hiểu rõ sự thật khách quan của một vụ việc nào đó và có thể kiến nghị hướng giải quyết lên nghị viện Phạm vi thẩm quyền của mỗi ủy ban điều tra thường chỉ bó hẹp trong một vấn đề hoặc một vụ việc nhất định Do nhiệm vụ mang tính cụ thể và chuyên sâu rất cao nên các ủy ban điều tra thường cũng có quy

mô tổ chức gọn nhẹ hơn so với các UBTT để bảo đảm hiệu quả công việc – Đây cũng chính là một lợi thế của UBLT so với UBTT

Có thể thấy rằng, các ủy ban điều tra do nghị viện thành lập song hoạt động của loại ủy ban này lại mang tính chất tư pháp Mục tiêu cao nhất của

8 8

J.F Keeler, Report of the national committee of inquiry into compensation and rehabilitation

in Australia, 5 Adel L Rev 121, p 7; Strenthening the parliament: Reports on the Namibian Committee Systems, National Democratic Institute for International Affairs, Namibia, 1996, 40;

Trang 27

các ủy ban điều tra luôn là làm rõ sự thật khách quan về một vụ việc nào đó trong thực tiễn, đặc biệt là các vụ việc đang gây tranh cãi, có những cáo buộc chính trị hay pháp lý và vì vậy đòi hỏi việc làm rõ trách nhiệm của những người có liên quan Để đạt được mục tiêu này, hiến pháp và pháp luật các nước thường trao cho ủy ban điều tra lâm thời của nghị viện những quyền hạn lớn tương tự như quyền hạn của cơ quan tố tụng khi tiến hành điều tra làm rõ các vụ án hình sự Các ủy ban điều tra lâm thời của nghị viện thường có quyền triệu tập và xét hỏi tất cả các nhân chứng có liên quan, triệu tập và phỏng vấn các chuyên gia về các nội dung chuyên môn, triệu tập các đương

sự có liên quan cho dù các đương sự đó đang giữ chức vụ nào trong bộ máy nhà nước v.v

Về mặt thủ tục, ủy ban điều tra thường được thành lập theo quyết định của đa số các nghị sĩ trong nghị viện, với yêu cầu thành lập do một hoặc một

số nghị sĩ đưa ra Ở một số nước như Áo và Đan Mạch, sau khi nghị viện đã đồng ý việc thành lập ủy ban điều tra lâm thời thì thành viên của ủy ban lúc này không do nghị viện quyết định nữa mà sẽ do ủy ban phụ trách các vấn đề nội bộ của nghị viện bầu (Ủy ban các vấn đề nội bộ ở nghị viện Áo và Ủy ban quy trình thủ tục ở nghị viện Đan Mạch) Ở một số nghị viện tiên tiến trên thế giới, việc đề xuất thành lập ủy ban điều tra có thể được đưa ra bởi một nhóm thiểu số nghị sĩ với tỷ lệ nhất định, ví dụ ở CHLB Đức tỷ lệ đó là 1/5 tổng số nghị sĩ Khi đó nghị viện có nghĩa vụ phải thành lập ủy ban điều tra với nhiệm

vụ, số lượng và thành phần do nhóm thiểu số nghị sĩ đó đề xuất

1.2.3 Ủy ban chuyên trách lâm thời

Ủy ban chuyên trách lâm thời là các UBLT do nghị viện thành lập ra

và giao một nhiệm vụ cụ thể, thường là nhiệm vụ liên quan đến việc giải quyết một vấn đề nào đó mà nghị viện đang quan tâm Thực chất, Ủy ban chuyên trách lâm thời là một công cụ mà nghị viện hiện đại có thể sử dụng rất linh hoạt để giúp giải quyết một cách có chất lượng vấn đề cụ thể nào đó mà việc dùng tới hệ thống UBTT để giải quyết tỏ ra không thích hợp

Trang 28

Thực chất, Ủy ban chuyên trách lâm thời cũng giống với Ủy ban điều tra ở chỗ cả hai loại UBLT này đều được thành lập để giao thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định Sự khác biệt giữa hai loại ủy ban này là ở chỗ trong khi nhiệm vụ của Ủy ban điều tra mang tính chất tư pháp thì nhiệm vụ của Ủy ban chuyên trách lâm thời có tính chất đa dạng hơn Nghị viện có thể thành lập ủy ban chuyên trách lâm thời để giải quyết bất kỳ vấn đề gì, từ việc nghiên cứu sửa đổi quy chế hoạt động cho tới việc nghiên cứu tình hình và đề xuất giải pháp để khắc phục một vấn đề bất cập nào đó trong thực tiễn Mặc dù vậy, giống như các loại ủy ban khác của nghị viện, Ủy ban chuyên trách lâm thời cũng có quyền triệu tập nhân chứng, tham vấn chuyên gia và tổ chức các cuộc điều trần để tìm kiếm thông tin liên quan tới việc thực hiện nhiệm vụ mà mình được nghị viện giao

Thành phần của Ủy ban chuyên trách lâm thời thường do nghị viện quyết định theo đề nghị của đại biểu hoặc nhóm đại biểu có sáng kiến thành lập ủy ban chuyên trách lâm thời

1.2.4 Ủy ban hỗn hợp lâm thời

Trong số các UBLT của nghị viện, Ủy ban hỗn hợp lâm thời là loại hình ít được sử dụng nhất Nguyên nhân một phần là do nhu cầu thành lập UBLT để giải quyết một công việc cụ thể nào đó thường xuất hiện từ nhu cầu nội tại của một viện Việc thành lập ủy ban hỗn hợp lâm thời giữa hai viện thường chỉ xuất hiện khi các UBTT của hai viện cùng có nhu cầu xem xét về một vấn đề cụ thể nào đó và vấn đề đó cần sự đồng thuận giữa hai viện Ví dụ điển hình là khi hai UBTT của hai viện phụ trách lĩnh vực giao thông cần xem xét và tìm sự đồng thuận với nhau về vấn đề phân bổ ngân sách phát triển cơ

sở hạ tầng giao thông hàng năm Khi đó hai UBTT có thể thành lập một ủy ban hỗn hợp lâm thời để xem xét và đưa ra khuyến nghị về các nội dung mà hai ủy ban quan tâm.9

9

Herbert Doring, Parliaments and majority rule in Western Europe, 2005, p 268

Trang 29

1.3 Ưu điểm, nhược điểm và vai trò của Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại

1.3.1 Ưu điểm và nhược điểm của Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại

Trên cơ sở phân tích tổ chức và hoạt động của các loại UBLT, có thể nhận thấy rằng so với các loại ủy ban khác của nghị viện thì UBLT có những

ưu điểm và nhược điểm sau đây:

Trước tiên, hình thức UBLT cho phép sự tập trung cao độ vào việc

thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của nghị viện hiện đại Như đã trình bày, nghị viện hiện đại ngày nay có phạm vi bao phủ công việc và lĩnh vực hoạt động rộng hơn rất nhiều so với nghị viện truyền thống Việc thực hiện các chức năng lập pháp, quyết định ngân sách và giám sát của nghị viện hiện đại ngày càng đòi hỏi cao hơn về các nguồn thông tin chuyên sâu và các UBLT là một đáp ứng không thể tốt hơn cho nhu cầu này Mỗi UBLT luôn được thành lập chỉ nhằm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, đó có thể là nghiên cứu đưa ra ý kiến về một dự luật, điều tra làm rõ sự thực khách quan về một vụ việc hay nghiên cứu để đưa ra đề xuất về một vấn đề cụ thể nào đó Sau khi được thành lập, UBLT dành toàn bộ nguồn lực của mình cùng với thẩm quyền được nghị viện giao để đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ cụ thể đã đặt ra cho mình Chỉ khi nào nhiệm vụ kết thúc thì UBLT mới chấm dứt hoạt động Công việc của UBLT vì vậy rất tập trung và đưa đến kết quả cũng rất cụ thể Đây là một trong những lợi thế vượt trội của UBLT so với các UBTT của nghị viện Bởi lẽ, như đã đề cập, các UBTT luôn được thành lập để phụ trách chung tất cả các hoạt động trên một hoặc một số các lĩnh vực được giao Và

về cơ bản thì các UBTT luôn có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể phải thực hiện trong suốt nhiệm kỳ Nếu cố gắng, các UBTT, vẫn có thể tập trung cao độ vào công việc của mình Song vào một thời điểm cụ thể mỗi UBTT có thể phải thực hiện cùng một lúc nhiều nhiệm vụ khác nhau, xử lý nhiều vụ việc cụ thể khác nhau trong lĩnh vực của mình, thậm chí thực hiện công việc có tính chất khác nhau, ví dụ vừa xem xét một dự luật cụ thể vừa tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp thuộc lĩnh vực mình phụ trách Do đó, các nguồn lực của UBTT, dễ bị phân tán cho nhiều nhiệm vụ khác nhau và vì vậy rất khó

để UBTT dồn sức và tập trung cho một nhiệm vụ cụ thể

Trang 30

Thứ hai, với tính chất đa dạng của mình UBLT là một công cụ có tính

linh hoạt vô cùng cao của nghị viện hiện đại Như trên đã đề cập, UBLT có thể được thành lập dưới hình thức ủy ban lập pháp lâm thời, ủy ban điều tra hay ủy ban chuyên trách lâm thời Mỗi loại UBLT này lại có những đặc điểm

và thế mạnh riêng: UBLT có thể theo sát quy trình soạn thảo một dự luật nhất định; ủy ban điều tra hay ủy ban chuyên trách có thể tập trung làm rõ sự thật khách quan của một vụ việc hay tập trung nghiên cứu làm rõ một vấn đề nào

đó để đưa ra một phương án phù hợp Điều quan trọng là ở hầu hết các nước, nghị viện đều có quyền lựa chọn và thành lập UBLT với hình thức phù hợp vào bất kỳ lúc nào khi có yêu cầu So với các UBTT, việc thành lập UBLT thường dễ dàng hơn, yêu cầu ít thủ tục hơn Thành phần của UBLT cũng có thể được quyết định phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cụ thể và vì vậy thường là ít cồng kềnh hơn so với UBTT

Nói như vậy không có nghĩa là UBLT không có nhược điểm Bên cạnh những ưu điểm đã trình bày ở trên, so với UBTT thì UBLT cũng có một số nhược điểm nhất định UBLT tuy là một công cụ linh hoạt của nghị viện song việc thành lập một UBLT luôn đòi hỏi những trình tự thủ tục nhất định, từ khâu đưa ra đề xuất thành lập, tới đề xuất thành phần, xây dựng quy chế hoạt động Trình tự thủ tục này cho dù có được đơn giản hóa thế nào đi nữa thì cũng đòi hỏi quỹ thời gian và nguồn lực nhất định Nếu UBLT được sử dụng quá nhiều trong thực tiễn hoạt động của nghị viện có thể dẫn tới tình trạng tốn kém về kinh phí và phân tán về nguồn lực để phục vụ hoạt động của ủy ban, qua đó ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của chính UBLT cũng như hoạt động của nghị viện Tuy nhiên, nhược điểm này của UBLT chủ yếu mang tính chất kỹ thuật và hậu cần, không quá khó khăn để có thể khắc phục Trên thực

tế, nghị viện các nước đã khắc phục nhược điểm này của UBLT bằng cách chỉ thành lập UBLT khi thực sự cần thiết; bên cạnh đó hệ thống các cơ quan giúp việc của nghị viện các nước luôn có xu hướng được thiết lập trên nền tảng mạng lưới UBTT kết hợp với UBLT Và thực tế, cho đến nay không còn nghị viện nào thiết lập bộ máy giúp việc của mình chỉ dựa trên các UBLT

Trang 31

1.3.2 Vai trò của Uỷ ban lâm thời trong nghị viện hiện đại

Với những ưu điểm nổi bật và những nhược điểm có thể khắc phục được, có thể thấy rằng UBLT đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của nghị viện hiện đại Các UBTT tạo thành mạng lưới công cụ chính, luôn luôn sẵn sàng để giúp nghị viện thực thi nhiệm vụ quyền hạn của mình Tuy nhiên, cho dù mạng lưới các UBTT có được thiết kế tốt thế nào đi chăng nữa thì trong thực tiễn đa dạng và phong phú của hoạt động nghị viện chắc chắn

sẽ có lúc xuất hiện các trường hợp, các vấn đề hoặc nằm ngoài phạm vi thẩm quyền của các UBTT, hoặc là sẽ tốt hơn nếu được xử lý bởi một UBLT với hình thức phù hợp Chính vì vậy, nếu như các UBTT có thể được coi là công

cụ “cứng” phục vụ cho hoạt động của nghị viện thì các UBLT có thể được coi

là công cụ “mềm” bổ khuyết cho những kỳ vọng chưa được đáp ứng hết của các UBTT UBLT càng được coi trọng thì hoạt động của nghị viện càng có tính linh hoạt và chủ động cao hơn Trong lịch sử nghị viện từ trước tới nay,

có thể có nghị viện không có UBTT song không có nghị viện nào lại không có hoặc không được quyền thành lập UBLT Điều này khẳng định vai trò không thể thay thế được của hệ thống UBLT đối với tổ chức và hoạt động của nghị viện

Hơn thế nữa, trong thực tiễn hoạt động của nghị viện hiện đại trên thế giới, UBLT cũng đã thể hiện rất rõ vai trò quan trọng của mình Các hình thức UBLT đã được sử dụng khá phổ biến và cho dù dưới hình thức nào thì UBLT cũng đã có những đóng góp hết sức quan trọng và thiết thực vào hiệu quả hoạt động của nghị viện các nước, đặc biệt là Ủy ban điều tra và Ủy ban chuyên trách lâm thời Một số ví dụ điển hình cho thấy rõ nhận định này

* Ví dụ về việc sử dụng Ủy ban điều tra: Vào những năm cuối Thế kỷ

20 Công ty Sabena (Công ty hàng không quốc gia Vương quốc Bỉ) lúc đó đang thuộc sở hữu nhà nước đứng trước nguy cơ phá sản Hậu quả của vụ phá sản có thể dẫn tới hàng chục ngàn lao động bị mất việc Chính phủ Bỉ đã tiến hành một số biện pháp nhằm khắc phục hậu quả của vụ việc song không thành công Năm 2001, nghị viện Bỉ quyết định thành lập một ủy ban điều tra

để tiến hành làm rõ nguyên nhân và hậu quả của vụ việc đồng thời đề xuất hướng xử lý trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý đối với các cá nhân hay

Trang 32

cơ quan nhà nước có liên quan Đầu năm 2002, Ủy ban này gửi báo cáo lên nghị viện trong đó xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan tới vụ Sabena Xa hơn nữa, Ủy ban cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm thắt chặt hơn cơ chế kiểm soát hoạt động đối với các doanh nghiệp do nhà nước nắm quyền cổ đông chi phối qua đó bảo đảm tránh thất thoát và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.10

Một ví dụ điển hình khác nữa đó là trường hợp sử dụng ủy ban điều tra lâm thời của nghị viện để điều tra các vụ việc tham nhũng Uganda là một trong số các quốc gia ở châu Phi nổi tiếng về nan tham nhũng và lạm dụng quyền lực Năm 1997, nghị viện Uganda quyết định thành lập một số UBLT

để tiến hành điều tra một số quan chức chính phủ cấp cao về các cáo buộc tham nhũng và lạm dụng quyền hạn Các ủy ban này đã tiến hành thu thập thông tin, điều trần nhân chứng và đã công bố các báo cáo cho thấy phần lớn những lời cáo buộc là có căn cứ Và với tư cách là cơ quan giúp việc của nghị viện Uganda, các UBLT nói trên không có quyền xử lý các trường hợp tham nhũng hay lạm quyền nhưng khi báo cáo của họ được công bố Chính phủ Uganda lúc bấy giờ đã phải chịu sức ép lớn tới nỗi Bộ trưởng Bộ giáo dục và

Bộ trưởng phụ trách cổ phần hóa đã phải từ chức 11

* Ví dụ về Ủy ban chuyên trách lâm thời

Vào những năm 2008, 2009, cuộc đại khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu, vốn hình thành từ năm 2007, đã bắt đầu có những tác động hết sức

rõ rệt tới toàn lãnh thổ châu Âu Các định chế tài chính lớn bắt đầu có dấu hiệu sụp đổ, lạm phát tăng cao nhất kể từ cuộc Đại khủng hoảng năm 1930 và các quốc gia bắt đầu có dấu hiệu vỡ nợ Đứng trước tình hình đó, nghị viện châu Âu đã quyết định thành lập một ủy ban chuyên trách lâm thời, với tên

gọi Ủy ban Chuyên trách về Khủng hoảng Tài chính, Kinh tế, Xã hội (Special committee on the financial, economic and social crisis), với 32 thành viên

Nhiệm vụ của ủy ban này là phân tích, đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới Liên minh châu Âu và các nước thành viên Liên

10 Hironori Yamamoto, Tools for parliamentary oversight, 2007, p 41.

11

John Johnson và Robert Nakamura, Orientation handbook for members of parliaments, p 27.

Trang 33

minh châu Âu, đánh giá tính hiệu quả của hệ thống luật pháp của Liên minh châu Âu trước yêu cầu đối phó với khủng hoảng và trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để đối với cuộc khủng hoảng và hậu quả của cuộc khủng hoảng trong thời gian trung hạn và dài hạn Ủy ban được trao đầy đủ quyền hạn để thu thập các thông tin cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của mình, bao gồm cả quyền được khảo sát, điều tra, phỏng vấn chuyên gia, điều trần công chúng v.v Thời hạn hoạt động của ủy ban được dự định là một năm Tuy nhiên sau

đó, do tính chất công việc và mức độ trầm trọng của cuộc khủng hoảng, ủy ban này đã tiếp tục được gia hạn và đã hoàn thành nhiệm vụ của mình vào năm 2011, sau 2 năm hoạt động Kết quả công việc của Ủy ban Chuyên trách

về Khủng hoảng Tài chính, Kinh tế, Xã hội đã được đánh giá rất cao và là nền tảng để nghị viện châu Âu ban hành các chính sách về quản trị và giám sát tài chính trong khuôn khổ Liên minh châu Âu góp phần chủ yếu vào việc kiềm chế hậu quả của Cuộc khủng hoảng và đối phó với vấn nạn vỡ nợ công ở các nước thành viên Liên minh châu Âu một cách hiệu quả.12

Vào khoảng những năm 1980, trong giới hoạt động nghị trường ở Canada nổi lên một vấn đề ngày càng được quan tâm, đó là nhu cầu tăng cường vai trò của từng cá nhân nghị sĩ trong Hạ nghị viện Trong lịch sử nghị viện Canada cho đến thời điểm đó, các ủy ban của Hạ nghị viện luôn đóng vai trò quan trọng nhất Cá nhân các nghị sĩ thường không có vai trò nổi bật do họ đều phải sinh hoạt thông qua các ủy ban Điều đó đã gây nên những bất cập không nhỏ trong mối quan hệ giữa nghị sĩ – người đại diện của nhân dân – và các cử tri – những người bầu ra họ Nhu cầu đặt ra là cần có những sửa đổi bổ sung nhất định trong quy chế hoạt động của Hạ nghị viện để nâng cao hơn nữa vai trò của cá nhân các hạ nghị sĩ trong hoạt động nghị trường Năm

1984, một ủy ban chuyên trách lâm thời đã được Hạ nghị viện thành lập, với tên gọi là Ủy ban McGrath, lấy theo tên gọi của vị Chủ nhiệm ủy ban Ủy ban này đã tiến hành nghiên cứu trong vòng sáu tháng với kết quả là một bản báo cáo toàn diện gửi lên Hạ nghị viện Canada trong đó đề ra một loạt các biện pháp như sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của Hạ nghị viện nhằm trao

12

Wolf Klinz, Report of the Special Committee on the Financial, Economic and Social Crisis, nghị viện Châu Âu, 2011.

Trang 34

một số quyền cho cá nhân hạ nghị sĩ trong việc đề trình các dự luật với tư cách cá nhân hay thành lập một văn phòng trực thuộcnghị viện chuyên tiếp nhận các đề xuất dự luật hoặc các đề nghị khác từ cá nhân các hạ nghị sĩ v.v Những khuyến nghị của Ủy ban McGrath là cơ sở để năm 1986, Canada đã tiến hành một trong những cải cách được đánh giá là có ý nghĩa nhất đối với quy trình thủ tục và quy chế hoạt động của Hạ nghị viện Canada.13

Các ví dụ trên đây cho thấy Ủy ban điều tra và Ủy ban chuyên trách lậm thời đã thực sự trở thành công cụ cực kỳ hữu hiệu để tìm kiếm thông tin, tiến hành điều tra để tìm ra sự thật khách quan của một vụ việc hay nghiên cứu về những vấn đề chuyên sâu mà nghị viện quan tâm, góp phần cung cấp thông tin có độ tin cậy cao và chính xác làm cơ sở để nghị viện đưa ra quyết định lập pháp và giám sát đúng đắn

13

James Robertson, The revolution of private memebers’ business in the Canadian House of Commons, 2005, p 7-12

Trang 35

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG UỶ BAN LÂM THỜI CỦA HẠ NGHỊ VIỆN VƯƠNG QUỐC ANH, CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC VÀ LIÊN

BANG HOA KỲ 2.1 Uỷ ban lâm thời của Hạ nghị viện Vương quốc Anh

2.1.1 Uỷ ban lâm thời trong hệ thống ủy ban của Hạ nghị viện Vương quốc Anh

Nghị viện Vương quốc Anh được coi là nghị viện lâu đời nhất và có thể được xem là nguồn gốc của tất cả các chế độ nghị viện trên thế giới Có lịch sử hình thành từ những năm đầu Thế kỷ XIII và trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, cho đến nay nghị viện Vương quốc Anh là một nghị viện lưỡng viện với thành phần gồm Viện quý tộc (House of Lords) với số lượng thành viên dao động trong khoảng 780 – 800 và Viện thứ dân (House

of Commons) hay còn gọi là Hạ nghị viện với số lượng cố định là 650 thành viên Tuy là hai viện của nghị viện vương quốc Anh, nhưng vai trò của Viện quý tộc và Hạ nghị viện trong hoạt động của nghị viện Anh là không giống nhau Nếu như Viện quý tộc có vai trò thấp hơn và mang tính hình thức nhiều hơn thì Hạ nghị viện lại đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều Hạ nghị viện kiểm soát hoàn toàn chức năng lập pháp của nghị viện mà không có sự can thiệp của Viện quý tộc Hơn thế nữa, bên cạnh chức năng lập pháp, với đặc trưng của hình thức chính thể Đại nghị, Hạ nghị viện Vương quốc Anh còn là

cơ quan thành lập Chính phủ và do đó thực hiện cả chức năng giám sát hoạt động của Chính phủ và các bộ trực thuộc chính phủ Trên thực tế, trong phần lớn các trường hợp Hạ nghị viện Vương quốc Anh được đồng nghĩa vớinghị viện Vương quốc Anh và ngược lại

Để giúp cho việc thực hiện các nhiệm vụ lập pháp và giám sát của mình, Hạ nghị viện Vương quốc Anh, cũng giống như các nghị viện khác trên thế giới, dựa vào một hệ thống bao gồm bốn loại ủy ban: Ủy ban chuyên trách (Select committee), Ủy ban lập pháp (Legislative committee), Ủy ban hỗn hợp (Joint Committee) và Ủy ban toàn thể (Committee of the whole House)

Trang 36

Trong hệ thống ủy ban của Hạ nghị viện Anh, các ủy ban chuyên trách

có vai trò nổi bật nhất Ở Anh quốc, Ủy ban chuyên trách là một loại UBTT, được Hạ nghị viện Anh thành lập và hoạt động trong suốt nhiệm kỳ của Hạ nghị viện Về mặt lịch sử, các ủy ban chuyên trách bắt đầu xuất hiện trong tổ chức của Hạ nghị viện kể từ những năm 1970 Mục đích của việc thành lập các ủy ban chuyên trách là để giúp Hạ nghị viện giám sát hoạt động của Cơ quan hành pháp Chính vì vậy mà đưa đến cơ chế rất đặc biệt trong việc hình thành các ủy ban chuyên trách của Hạ nghị viện Anh đó là cứ tương ứng với mỗi bộ của chính phủ bao giờ cũng có một ủy ban chuyên trách của Hạ nghị viện Nhiệm vụ của Ủy ban chuyên trách là xem xét và giám sát hoạt động của bộ tương ứng về ba khía cạnh: chi tiêu ngân sách, lập chính sách và bảo đảm hệ thống hành chính thực thi chính sách Bên cạnh các ủy ban chuyên trách được thành lập theo hệ thống các bộ của chính phủ, Hạ nghị viện Anh còn thành lập các ủy ban chuyên trách để giám sát các cơ quan của Chính phủ theo chuyên đề, ví dụ chi tiêu ngân sách, ban hành văn bản pháp quy v.v Ngoài ra, Hạ nghị viện Anh còn thành lập một số ủy ban chuyên trách theo vùng lãnh thổ, ví dụ Ủy ban Xứ Wale, Ủy ban Scotland, Ủy ban Bắc Irland Các ủy ban này này có thể thảo luận và đề xuất tới Hạ nghị viện bất kỳ vấn đề

gì có liên quan tới các vùng lãnh thổ mà chúng phủ trách

Mỗi ủy ban chuyên trách của Hạ nghị viện Anh có ít nhất 11 thành viên, mỗi người đều có quyền tham gia xác định vấn đề cần giám sát và thu thập chứng cứ Báo cáo của các ủy ban chuyên trách được gửi tới Hạ nghị viện và được công bố trên mạng Sau khi mỗi báo cáo được công bố, Chính phủ có 60 ngày để phúc đáp các khuyến nghị của ủy ban chuyên trách tương ứng Mặc dù các khuyến nghị của ủy ban chuyên trách không có giá trị ràng buộc đối với Chính phủ song việc công bố rộng rãi những ý kiến đánh giá và khuyến nghị cũng làm cho các ủy ban chuyên trách đóng vai trò đáng kể trong hoạt động nghị trường Hiện tại Hạ nghị viện Anh có 38 ủy ban chuyên trách.14

14

http://www.parliament.uk/business/committees/committees-a-z/commons-select/.

Trang 37

Khác với Ủy ban chuyên trách, Ủy ban lập pháp của Hạ nghị viện Anh lại được xây dựng theo hình thức là loại UBLT Các ủy ban này bắt đầu xuất hiện trong hoạt động của Hạ nghị viện Anh kể từ cuối Thế kỷ 19 Ngày nay, mỗi khi Chính phủ hoặc chủ thể có thẩm quyền trình dự luật thì Hạ nghị viện đều lập ra một Ủy ban lập pháp để thẩm định dự luật đó Tương ứng với mỗi

dự luật đều có một ủy ban lập pháp riêng và sau khi đã gửi báo cáo thẩm định

về dự luật lên Hạ nghị viện thì ủy ban lập pháp đó sẽ tự giải tán

Các ủy ban hỗn hợp của Hạ nghị viện Anh có thể được thành lập trong

hai trường hợp Thứ nhất, khi có các vấn đề liên quan tới lĩnh vực của một số

ủy ban chuyên trách (UBTT), một ủy ban hỗn hợp sẽ được thành lập bao gồm tất cả các thành viên của các ủy ban chuyên trách tương ứng Ví dụ điển hình

là Ủy ban kiểm soát xuất khẩu vũ khí (Arms Export Controls Committee) bao

gồm các thành viên của Ủy ban về Doanh nghiệp, Sáng chế và Công nghệ; Ủy ban Quốc phòng; Ủy ban Đối ngoại và Phát triển Quốc tế Ủy ban này có trách nhiệm giám sát các chính sách của Chính phủ về kiểm soát xuất khẩu

chiến lược Thứ hai, khi có dự luật được cả hai viện quan tâm, Hạ nghị viện

cùng với Viện quý tộc có thể thành lập ủy ban hỗn hợp để cùng xem xét dự luật đó Trong trường hợp này, ủy ban hỗn hợp có tính chất là một UBLT hoạt động giống như ủy ban lập pháp lâm thời

Ủy ban toàn thể của Hạ nghị viện Anh bao gồm tất cả các hạ nghị sĩ Mỗi khi ủy ban toàn thể nhóm họp thì ủy ban này đều bầu ra một vị chủ tọa

để điều khiển cuộc họp về mặt thủ tục Với sự xuất hiện và hoạt động tích cực của hệ thống các ủy ban chuyên trách, ủy ban lập pháp và ủy ban hỗn hợp, Ủy ban toàn thể không còn được sử dụng nhiều trong thực tiễn hoạt động của Hạ nghị viện Anh như trước kia Ngày nay, mỗi khi Ủy ban toàn thể được nhóm họp, chủ đề của cuộc họp thường gắn với những đề xuất chính sách lớn của Chính phủ, có tác động rộng rãi về mặt kinh tế và xã hội Nhiều khi, Chính phủ là người chủ động đề xuất họp toàn thể với mục đích tăng thêm sự ủng hộ đối với các chính sách sắp sửa trình lên nghị viện

Trang 38

2.1.2 Thẩm quyền của Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Vương quốc Anh

Như đã trình bày, Hạ nghị viện Anh có sự phân biệt rất rõ ràng trong việc sử dụng các hình thức ủy ban để phục vụ những chức năng và công việc

cụ thể của nghị viện Trong hệ thống ủy ban của Hạ nghị viện có hai nhóm UBLT: các ủy ban lập pháp lâm thời do Hạ nghị viện thành lập ra và các ủy ban hỗn hợp lâm thời do Hạ nghị viện thành lập cùng với Viện quý tộc Các

ủy ban lập pháp lâm thời được thành lập mỗi khi có dự luật trình lên Hạ nghị viện còn các ủy ban hỗn hợp lâm thời được thành lập mỗi khi hai viện của nghị viện Anh có cùng quan tâm chung về một dự luật nào đó Như vậy, có thể kết luận rằng thẩm quyền của các UBLT của Hạ nghị viện Vương quốc Anh là thẩm định và kiến nghị về các dự luật được trình lên Hạ nghị viện Các công việc liên quan tới chức năng giám sát của nghị viện do các ủy ban chuyên trách thường trực thực hiện và do đó không thuộc thẩm quyền của UBLT Trên thực tế các UBLT của Hạ nghị viện Anh đều được đặt tên theo các dự luật mà các ủy ban này xem xét, ví dụ Ủy ban dự luật về bồi thường

dân sự (Draft Civil Contingencies Bill Committee, 7/2003 – 11/2003), Ủy ban

dự luật thông tin (Draft Communications Bill Committee, 5/2002-7/2002), Ủy ban dự luật phân biệt đối xử đối với người khuyết tật (Draft Disability Discrimination Bill Committee, 12/2003-5/2004), Ủy ban dự luật biến đổi khí hậu (Draft Climate Change bill Committee, 4/2007-8/2007) v.v Có thể nói

việc thành lập các UBLT để phục vụ công tác lập pháp là nét độc đáo của hệ thống nghị viện theo mô hình Westminster của Hạ nghị viện Anh

2.1.3 Thủ tục thành lập và cơ cấu tổ chức của các Uỷ ban lâm thời

Trang 39

ít nhất 15 hạ nghị sĩ đại diện cho 3 đảng phái Chủ tịch Hạ nghị viện có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ Hạ nghị viện và có thể được tái bầu.15

Ủy ban tuyển chọn là một trong số các ủy ban chuyên trách thường trực của Hạ nghị viện Ủy ban này gồm có 9 thành viên đều là những người đứng đầu các nhóm đảng phái trong Hạ nghị viện Như vậy, thành phần của

Ủy ban tuyển chọn luôn phản ánh cán cân lực lượng đảng phái trong Hạ nghị viện Ví dụ, trong số 9 thành viên hiện tại của Ủy ban tuyển chọn có 4 người của đảng Bảo thủ, trong đó có 1 người là Chủ nhiệm ủy ban, 4 người của đảng Lao động và 1 người của đảng Dân chủ tự do

Như trên đã đề cập, mỗi khi có dự luật gửi lên thì Hạ nghị viện đều thành lập một ủy ban lập pháp lâm thời để xem xét Quy mô của UBLT phụ thuộc vào yêu cầu và tầm quan trọng của dự luật Đối với dự luật ít quan trọng thì UBLT có thể có 16 thành viên còn đối với các dự luật quan trọng thì có thể có tới 50 thành viên Tất cả các thành viên của UBLT đều do Ủy ban tuyển chọn bầu ra trong số các hạ nghị sĩ Ủy ban tuyển chọn cũng có quyền miễn nhiệm các thành viên UBLT vào bất cứ lúc nào với bất cứ lý do gì Nếu

dự luật đang xem xét liên quan tới Scotland thì ít nhất phải có 16 nghị sĩ đại diện cho Scotland trong thành phần của ủy ban lập pháp lâm thời tương ứng Nếu dự luật liên quan tới xứ Wales thì ủy ban đó phải bao gồm tất cả các nghị

sĩ đại diện cho xứ Wales.16 Do bản thân thành phần của Ủy ban tuyển chọn phản ánh cơ cấu đảng phái trong Hạ nghị viện nên thành phần của các ủy ban lập pháp lâm thời cũng phản ánh cơ cấu này; điều này có nghĩa rằng Chính phủ luôn nắm đa số thành viên trong các ủy ban lập pháp lâm thời

Việc bầu chọn thành viên các ủy ban lập pháp lâm thời có thể được tiến hành thông qua con đường đảng phái hoặc con đường cá nhân hạ nghị sĩ Nếu theo con đường đảng phái, hạ nghị sĩ sẽ thông báo với lãnh đạo đảng của mình sự quan tâm đối với một dự luật nào đó Sau đó lãnh đạo đảng tương ứng sẽ giới thiệu tên của hạ nghị sĩ đó lên Ủy ban tuyển chọn Nếu theo con

Trang 40

đường cá nhân, hạ nghị sĩ có thể gửi văn bản trực tiếp lên Ủy ban tuyển chọn

đề đạt nguyện vọng của mình Tuy nhiên, trên thực tế thì việc tuyển chọn qua con đường đảng phái thường làm cho hạ nghị sĩ dễ được bầu vào UBLT hơn con đường cá nhân Chính vì vậy mà thành phần của các UBLT thường có một hoặc một số bộ trưởng có liên quan, một vài người phát ngôn của đảng đối lập và các lãnh đạo chính đảng trong Hạ nghị viện Một hạ nghị sĩ cũng có thể là thành viên cùng lúc của một số UBLT Theo thống kê chính thức, mỗi

ủy ban lập pháp lâm thời của Hạ nghị viện Anh có thời gian làm việc trung bình khoảng vài tuần, trong đó có những ủy ban chỉ làm việc trong vòng 1 ngày Số lượng các hạ nghị sĩ làm việc trong các UBLT bao giờ cũng chiếm

tỷ lệ từ 60-80% tổng số hạ nghị sĩ.17

Khác với các thành viên khác, chủ nhiệm ủy ban lập pháp lâm thời của

Hạ nghị viện Anh do Chủ tịch Hạ nghị viện chỉ định và bãi nhiệm Để thực hiện thẩm quyền này, vào đầu mỗi nhiệm kỳ Chủ tịch Hạ nghị viện chỉ định một nhóm gọi là Nhóm các vị chủ nhiệm ủy ban (Chairmen’s Panel) với thành phần bao gồm ít nhất 10 hạ nghị sĩ kỳ cựu Khi thành lập một ủy ban lập pháp lâm thời nào đó, Chủ tịch Hạ nghị viện sẽ chỉ định một trong số các thành viên của Nhóm làm chủ nhiệm ủy ban.18

Do tính chất hoạt động của các UBLT của Hạ nghị viện Anh liên quan trực tiếp tới công tác lập pháp nên pháp luật Vương quốc Anh cũng quy định những người đứng đầu các cơ quan pháp luật của Chính phủ, bao gồm Tổng công tố, Luật sư trưởng và Tư vấn trưởng đều phải cử đại diện hoặc trực tiếp tham gia các UBLT Khi tham gia thảo luận, những người này có thể phát biểu ý kiến song không có quyền bỏ phiếu.19

2.1.4 Cơ chế hoạt động của các Uỷ ban lâm thời Hạ nghị viện Vương quốc Anh

Như đã nói ở trên, việc thành lập các UBLT để phục vụ cho công tác lập pháp được xem là nét độc đáo của hệ thống nghị viện theo mô hình

Ngày đăng: 25/01/2021, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w