1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút đỗ chu (tt)

24 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút Đỗ Chu
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 278,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan sát của chúng tôi, cho đến nay, mảng tùy bút của Đỗ Chu vẫn chưa được tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu dưới góc độ ngôn từ, luận văn xuất phá

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đỗ Chu thuộc trong số những văn tài mà tài năng có đóng góp lớn cho nền văn học hiện đại Việt Nam Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chàng trai ở độ tuổi mười lăm đã có truyện ngắn đăng trên một tạp chí “khó tính” là tờ Văn nghệ quân đội Mười sáu tuổi đã có tuyển

tập truyện ngắn gây xôn xao trong làng văn (tập Hương cỏ mật, 1963)

Đến nay, Đỗ Chu đã có ngót 60 năm cầm bút và ông đã nhận được hàng loạt các giải thưởng lớn: Giải thưởng Hội Nhà văn, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Giải thưởng văn học ASEAN, Giải thưởng

Hồ Chi Minh về văn học v.v Đỗ Chu chủ yếu viết văn xuôi: truyện ngắn, truyện vừa và tùy bút Không phải ngẫu nhiên, Đỗ Chu được các cây bút đàn anh rất mực nể trọng Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng thán phục: “Đỗ Chu như cây quế, thơm từ vỏ thơm vào”

Nếu dõi theo hành trình sáng tác của Đỗ Chu thì thấy, hai phần ba hành trình ông dành cho truyện ngắn, một phần ba của chặng đường khi vốn sống và cả vốn nghề đã ở độ từng trải, lịch lãm ông dành cho thể loại, không chỉ kén người đọc mà còn kén cả người viết - thể tùy bút Trên văn đàn văn học Việt Nam, những tên tuổi nổi bật gắn với thể văn này chỉ đếm trên đầu ngón tay: Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bằng Sơn…Và trên “chiếu” tùy bút – bút ký,

Đỗ Chu được đánh giá là chỉ sau Nguyễn Tuân

Tùy bút của Đỗ Chu làm mê đắm lòng người bởi chất dung dị, đôn hậu mà sâu lắng, tinh tế; mượt mà trữ tình nhưng thấm đẫm tính triết lí nhân sinh… Qua những “Tản mạn trước đèn”, Thăm thẳm bóng người”,

“Hoa bờ giậu”, “Chén rượu gạn đáy vò” v.v… mỗi cuốn dày hơn ba trăm trang, người ta nhận thấy vốn sống, vốn hiểu biết, vốn tri thức được tích

tụ mấy mươi năm ở một con người nhạy cảm và sâu sắc với thứ ngôn từ vừa đậm sắc thái văn hóa Kinh Bắc vừa mang hồn cốt văn hóa dân tộc Việt

Không phải ngẫu nhiên, những trang tùy bút của Đỗ Chu đã được

chọn tuyển trong sách Tiếng Việt của học sinh phổ thông như những

Trang 2

đoạn văn mẫu mực về tả cảnh và cách sử dụng ngôn từ, cú pháp Vì vậy, chọn nghiên cứu tùy bút Đỗ Chu cũng là một việc làm thiết thực và bổ ích đối với những người làm công tác giảng dạy văn học

Theo quan sát của chúng tôi, cho đến nay, mảng tùy bút của Đỗ Chu vẫn chưa được tìm hiểu và nghiên cứu một cách có hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu dưới góc độ ngôn từ, luận văn xuất phát từ niềm say mê một cốt cách văn chương nghệ thuật với một đối tượng nghiên cứu hứa hẹn nhiều hấp dẫn

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu “Ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút Đỗ Chu”

nhằm góp phần làm rõ hơn phong cách nghệ thuật của một cây bút văn xuôi giàu cá tính, qua đó, góp thêm tiếng nói khoa học vào việc khẳng định vị trí của nhà văn vào tiến trình vận động, phát triển của nền văn học nước nhà

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút Đỗ Chu” Trên cơ sở giới thuyết về khái niệm nghệ thuật ngôn từ,

luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu, qua đó góp thêm tiếng nói khẳng định văn phong độc đáo của cây bút xứ Kinh Bắc

Phạm vi nghiên cứu và tư liệu khảo sát:

Luận văn sẽ hướng tới làm sáng tỏ các nội dung chính sau: Luận văn

sẽ khảo sát cơ sở lý luận và thực tiễn của ngôn từ nghệ thuật trong văn

Đỗ Chu thông qua cảm quan nghệ thuật của nhà văn, từ đó lấy cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm ngôn từ các phương thức tổ chức ngôn từ trong văn Đỗ Chu

Trong luận văn này chúng tôi tập trung khảo sát các tập tùy bút của

Đỗ Chu gồm: Tản mạn trước đèn (2003), Thăm thẳm bóng người (2008), chén rượu gạn đáy vò (2013) Truyện ngắn cũng sẽ được khảo sát nhằm

đối chiếu làm rõ hơn vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Đỗ Chu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp thống kê, phân loại: Đây là một trong những

phương pháp hết sức cần thiết trong việc tập hợp tư liệu khảo sát và nghiên cứu Phương pháp thống kê, phân loại sẽ giúp chúng tôi bao quát đầy đủ và có cái nhìn hệ thống về những giá trị nội dung và đặc sắc trong ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu

Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: Đây cũng là

phương pháp chính của đoạn văn Để thấy được nội dung đặc sắc và độc đáo về phong cách nghệ thuật, đặc biệt việc sử dụng ngôn từ của Đỗ Chu, cần tới những phân tích, lí giải, đánh giá đề đưa ra những kết luận

về vẻ đẹp riêng trong ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút của nhà văn

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này giúp cho

người viết có cái nhìn toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn, sự đổi mới trong cách viết giữa nhà văn này với nhà văn khác

Trang 4

Phương pháp hệ thống: Quy định việc nghiên cứu các phương

diện nghệ thuật trong sáng tác của Đỗ Chu như là một chỉnh thể nghệ thuật, có sự tương tác và có mối quan hệ logic

Chương 1 KHÁI NIỆM NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT

VÀ QUAN NIỆM CỦA ĐỖ CHU VỀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT

TRONG SÁNG TÁC 1.1 Khái niệm ngôn từ nghệ thuật

Để nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong tùy bút Đỗ Chu, chúng tôi diễn giải một số khái niệm nội hàm có liên quan

từ Ngôn ngữ nghệ thuật là chất liệu đặc trưng tạo nên sự khác biệt giữa văn học với các ngành nghệ thuật khác: “Ngôn ngữ được gọi là công cụ,

là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học được coi là loại hình nghệ thuật ngôn từ”

Trang 5

1.1.2 Ngôn ngữ văn học

Văn học là một hình thái ý thức xã hội và cũng là một hình thái nghệ thuật nhưng văn học khác với các ngành nghệ thuật khác nhờ đặc trưng chất liệu sáng tạo tác phẩm Đã có những quan niệm khác nhau về ngôn ngữ văn học trong giới nghiên cứu Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng ngôn ngữ văn học là “dạng thức đã được chỉnh lý của ngôn ngữ toàn dân, được những người dùng ngôn ngữ này coi là chuẩn mực, được dùng trong các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh truyền hình, nhà trường, sân khấu, khoa học, văn học nghệ thuật” Đây là cách hiểu ngôn ngữ văn học theo nghĩa rộng, ngôn ngữ được sử dụng trong toàn bộ các dạng thức văn bản dùng trong cuộc sống, chỉ phân biệt với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày

1.1.3 Lời văn nghệ thuật

Lời văn nghệ thuật được chú ý khi nghiên cứu một tác phẩm văn học

hay một phong cách tác giả Theo Từ điển thuật ngữ văn học, lời văn

nghệ thuật là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học Lời thơ, lời trần thuật, lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng đều là các bộ phận tạo thành lời văn nghệ thuật” Lời văn nghệ thuật có các đặc điểm như tính toàn vẹn, tính

cụ thể, sinh động, tính hình tượng, tính cố định, tính độc lập và tính thẩm

mỹ khác với lời nói hàng ngày trong các hoạt động giao tiếp hay lời nói thuộc đối tượng trong nghiên cứu ngôn ngữ Vì vậy, để hiểu được lời văn nghệ thuật cần phải đặt nó trong toàn bộ ngữ cảnh mà văn bản đó tồn tại Một cách diễn đạt khác, nếu xem văn học là nghệ thuật diễn ngôn thì lời văn nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật được cấu thành bởi một hoặc nhiều thành phần diễn ngôn Các thành phần diễn ngôn trong tác phẩm văn học như diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn xuôi, diễn ngôn trần thuật, diễn ngôn thoại (đối thoại- độc thoại) đều được xem là bộ phận của lời văn nghệ thuật Nghiên cứu lời văn nghệ thuật trên toàn bộ hệ thống diễn ngôn sẽ thấy mối quan hệ giữa nghệ thuật và văn hóa, giữa ngôn ngữ và văn học và tính xã hội của văn học và tính thẩm mĩ nghệ thuật Lời văn

Trang 6

nghệ thuật thực chất là lời nói tự nhiên được nhà văn tổ chức theo quy luật nghệ thuật và nó là bộ phận cơ bản để tạo nên văn bản ngôn từ

1.1.4 Ngôn từ nghệ thuật

Thuật ngữ ngôn ngữ văn học, ngôn từ văn học có điểm gần gũi nên trong quá trình nghiên văn học, đặc biệt khi nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, người ta thường đồng nhất khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn từ nghệ thuật Chúng tôi chọn và dùng khái niệm ngôn từ nghệ thuật với nghĩa “ngôn từ có tính văn học, có cách tổ chức, kết hợp đặc biệt để gây chú ý vào bản thân nó và do đó tăng cường hiệu quả biểu đạt nghệ thuật” Trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn thì “ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ được sáng tạo nhằm mục đích sáng tạo hình tượng nghệ thuật”

Khái niệm ngôn từ nghệ thuật được đặt ra để phân biệt với ngôn từ trong đời sống xã hội Cụ thể, ngôn từ nghệ thuật là chất liệu được nhà văn sáng tạo, tổ chức có dụng ý để xây dựng hình tượng nhằm phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình Đó là ngôn ngữ toàn dân được nghệ thuật hóa Trong sáng tác văn chương, chức năng thẩm

mĩ của ngôn từ nghệ thuật được đặc biệt lưu ý Chức năng thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật chính là việc sáng tạo ra “thực tại nghệ thuật, khách thể thẩm mĩ, đồng thời sáng tạo ra bản thân các hình tượng ngôn từ, các biểu tượng nghệ thuật, các hình thức lời thơ, lời văn xuôi nghệ thuật” nhằm thỏa mãn nhu cầu giao tiếp nghệ thuật của nhà văn đối với độc giả Như vậy, nếu như ngôn từ nghệ thuật là chất liệu thì lời văn nghệ thuật được xem là thành quả của quá trình lao động sáng tạo của người nghệ

Như vậy, nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật không tách biệt với lời văn nghệ thuật bởi những đặc điểm ngôn từ nghệ thuật luôn được biểu hiện trong lời văn nghệ thuật Điểm khác biệt giữa nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật và lời văn nghệ thuật là luận văn sẽ tập trung đi sâu khảo sát các loại từ ngữ, phân tích giá trị của từ ngữ trong các tình huống cụ thể của tác phẩm, trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, thể hiện cảm quan nghệ thuật, quan niệm ngôn từ của tác giả Việc phân tích đặc điểm ngôn

Trang 7

từ, sự vận động của ngôn từ trong lời văn nghệ thuật là bình diện thứ hai

để làm rõ hơn chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, sáng tạo của nhà văn – nghệ sỹ ngôn từ

1.2 Cống hiến nghệ thuật của Đỗ Chu và quan niệm của nhà văn

về ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác

1.2.1 Cống hiến nghệ thuật của Đỗ Chu

Thành công sớm với truyện ngắn, song tùy bút mới là thể loại hoàn

chỉnh cho một hành trình sáng tạo Tập Tản mạn trước đèn (2005) ghi

nhận thành công mới của Đỗ Chu ở thể loại tùy bút Bạn văn và độc giả ngỡ ngàng trước ngòi bút tài hoa Được cổ vũ, với vốn liếng còn đầy ắp,

ông tiếp tục cho ra mắt tập tùy bút Thăm thẳm bóng người với độ dày

gần 300 trang và lượng in lên tới 2.500 cuốn, một con số mà nhiều cây bút phải ngưỡng mộ mà vẫn hết veo Trước đây nhà văn Nguyễn Công

Hoan từng cho xuất bản tập sách Nhớ gì ghi nấy (mà chính ông gọi đó là

tạp văn) với độ dày hơn 500 trang, chia thành hàng trăm đoạn nhỏ, mỗi đoạn là một mẩu hồi ức Với cách thức ấy, Nguyễn Công Hoan đã cung cấp cho bạn đọc rất nhiều tri thức đời sống Còn với Đỗ Chu, ông cũng

"mượn" hình thức này để "trải" ra những điều mình cảm nhận và suy ngẫm Nếu ai đã đọc tùy bút của Đỗ Chu, sẽ có chung cảm nhận, Đỗ Chu rất hợp với thể tùy bút hay tản văn, bởi cách kể - cách dẫn vừa nghiêm trang lại vừa hóm hỉnh, vừa cẩn trọng lại vừa duyên dáng, vừa sắc sảo lại vừa hồn hậu, ngọt ngào Tất cả những cung bậc ấy hòa trộn vào nhau, giao thoa lẫn nhau tạo nên tùy bút Đỗ Chu Nếu nói "văn là người" thì có

lẽ, tùy bút bộc lộ đậm "chất người" Đỗ Chu hơn cả Một cây bút với vốn sống lịch lãm, một tâm hồn giàu cảm xúc, một khiếu văn chương…đã tạo nên những trang viết tài hoa, lôi cuốn Bốn tập tùy bút đều viết ở giai đoạn mà vốn sống, vốn văn hóa của nhà văn đã đạt đến độ lịch lãm Chọn thể tùy bút, Đỗ Chu không chỉ tìm thấy một phương thức sáng tạo mới mà quan trọng hơn, ông đã tìm ra hứng thú mới cho niềm đam mê chữ nghĩa còn rất sung mãn của mình

Với những gì đã cống hiến cho độc giả mấy chục năm qua, Đỗ Chu xứng đáng là một tên tuổi lớn trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại

Trang 8

1.2.2 Quan niệm của Đỗ Chu về ngôn từ nghệ thuật

1.2.2.1 Xu hướng thẩm mỹ

Đỗ Chu có lần tâm sự rằng, mẹ ông chính là người đã tác động ảnh hưởng, hơn thế, chỉ dẫn lối viết của ông Ấy là khi bắt đầu tập tọng sáng tác, mẹ phát hiện ra sở thích ấy của con trai, có lần bà nói: “Nghe chừng anh cũng đang muốn viết văn, viết gì thì viết nhưng làm sao nó phải sang như tiếng nhà chị nào sáng sáng vẫn mở đầu buổi phát thanh “Đây là Tiếng nói Việt Nam” Mẹ muốn văn ông phải “sang”, lại còn “sang như tiếng nói trên đài phát thanh tiếng nói Việt Nam” Cái định hướng “sang”

mà mẹ muốn kia thật trừu tượng nhưng cũng không khó để nhà văn trẻ khi ấy hình dung: chữ nghĩa là phải rõ ràng, mạch lạc, phải trong sáng dễ nghe, có sức thuyết phục, hấp dẫn và hình như, còn phải “trên mức bình thường”, trên mức bình thường chính là sự chọn lọc, tinh tế, văn như vậy mới là “sang” “Văn phải sang”, lời dặn, cũng là mong muốn, kỳ vọng của mẹ đã trở thành định hướng cho cây bút xứ Kinh Bắc suốt cuộc đời cầm bút

Đỗ Chu đi từ truyện ngắn tới tùy bút, tản mạn, chính cách lựa chọn thể loại đã mang xu hướng trữ tình Truyện ngắn gần như thơ và tùy bút bút ký cũng gần như thơ, đó chính là sản phẩm của cảm xúc, xúc cảm Những sản phẩm văn chương của Đỗ Chu cho thấy văn ông rất gần với thơ, trong văn có thơ: “Nhà văn mang cái nhạc chữ, nhạc ý tứ, nhạc tình cảm của bản thân mình để hát lên, để góp phần làm đẹp cho văn đời”

1.2.2.2 Quan niệm của Đỗ Chu về ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác

Có thể xếp Đỗ Chu vào hệ những nhà văn rất chú trọng tới vẻ đẹp của câu chữ, như các bậc tiền bối Thạch Lam, Hồ ZDếnh Đặc điểm của tốp nhà văn này là bút lực không mấy khi dồi dào Họ viết chậm và kỹ, câu văn nghiêng về cái đẹp mảnh mai “kiêng khem” nhiều Đỗ Thanh tác giả bài báo “Người coi trọng đến mức khắt khe với nghề cầm bút” trên

Văn học quê nhà trong một lần phỏng vấn, từng hỏi Đỗ Chu: trong hơn

40 năm cầm bút, ông có bao nhiêu năm thực sự là nhà văn, Đỗ Chu

“khai” thật thà và hồn nhiên: "Có lẽ trong hơn 40 năm đó chỉ có độ 4 tháng hay 4 năm là nhà văn thôi" Sự khắt khe trên cho thấy Đỗ Chu coi

Trang 9

trọng và có trách nhiệm với ngòi bút của mình như thế nào Cũng có lúc ông bộc lộ sự nuối tiếc: “Cũng thấy tiếc những năm tháng vừa rồi, giá viết căng hơn một chút thì chất lượng trang sách nó sẽ nhiều hơn”, song ngay lập tức một tiếng nói khác đã cất lên “nhưng khốn nỗi lại cứ phải gượng nhẹ Bản thân là một con người bằng da bằng thịt, mình đã nghĩ thế, đã sống thế, thì lại chưa động tới “hình như tôi vẫn giấu tôi” Có lẽ

vì phẩm cách ấy mà Đỗ Chu được đồng nghiệp và các bậc đàn anh yêu mến và trân trọng: Nguyễn Khải từng tấm tắc: “Ngay từ những truyện đầu tiên nó (Đỗ Chu) đã không ngô ngọng như chúng mình!”, Nguyễn Minh Châu thán phục “Đỗ Chu như cây quế, thơm từ vỏ thơm vào”…

Ngôn từ phải được chọn lọc, trong sáng và tinh tế

Ngôn từ phải chứa đựng trong nó vốn sống, vốn văn hóa

Ngôn từ cũng phải “sáng tạo”, luôn được làm giàu và làm mới trong quá trình sáng tác

Làm giàu và làm mới ngôn từ trong quá trình tích lũy và lựa chọn ngôn từ

Làm mới ngôn từ qua chọn lọc và sử dụngLàm mới ngôn từ trong quá trình chỉnh sửa, hoàn thiện văn bản

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG

TÙY BÚT ĐỖ CHU

Từ quan điểm nghệ thuật đến đặc điểm nghệ thuật ngôn từ, Đỗ Chu

là cây bút có định hướng sớm trong quan điểm thẩm mỹ và ngôn từ chính là nơi bộc lộ rõ nhất tư tưởng và tư duy nghệ thuật của nhà văn nhà văn

2.1 Ngôn từ gần gũi, giản dị nhưng được chọn lọc tinh tế

2.1.1 Đối tượng phản ánh trong tùy bút Đỗ Chu là những vấn đề gần gũi, giản dị

Hành trình tùy bút của Đỗ Chu chủ yếu là hành trình “tìm về” nguồn cội, tìm về quá khứ, tìm về kỷ niệm, tìm về những giá trị tinh thần mà ông vẫn gìn giữ nâng niu như những báu vật Nếu có tiếp tục kiếm tìm thì cũng là vừa tìm kiếm vừa trải nghiệm, vừa chứng kiến vừa suy ngẫm

Trang 10

những gì tai nghe mắt thấy, những việc ở xung quanh mình, của người thân, bạn hữu, đồng chí, hàng xóm láng giềng Những câu chuyện của đất nước mình, quê hương mình, đơn vị mình, cơ quan mình, về nghề nghiệp thân thuộc và nặng trĩu tình cảm, dấu yêu

2.1.2 Sử dụng ngôn từ thuần Việt quen thuộc hàng ngày với sự chọn lọc, sắp đặt tinh tế

2.1.2.1 Ưa thích dùng từ thuần Việt

Dùng từ thuần Việt là thế mạnh của Đỗ Chu trong tùy bút Thể tùy bút ở một phương diện nào đó dành cho những người có vốn hiểu biết thâm sâu, học rộng, đi nhiều, kiến văn già dặn, vì vậy, đấy cũng là thứ văn mà người viết có thể tung tẩy sử dụng vốn ngôn từ phong phú Với

Đỗ Chu, “tạng” văn của ông là hiền lành, giản dị, tùy bút Đỗ Chu là thứ văn “mộc” thuần Việt Ông có sử dụng (song rất ít) từ Hán Việt hoặc Pháp Việt trong những trường hợp cần thiết, phần lớn ông dùng từ thuần Việt với lối diễn đạt thuần Việt Có cảm giác, ông nâng niu từng từ tiếng Việt, trau chuốt chúng và dưới bàn tay cẫn mẫn, tinh tế của ông, mỗi từ tiếng Việt ấy hội tụ nhau lại dệt nên những sản phẩm “truyền thống” tinh xảo, tuyệt mỹ đầy tự hào Những áng tùy bút của Đỗ Chu mộc mạc như hương đồng gió nội, nhưng là thứ hương nồng nàn quyến rũ của rượu nếp, xôi nếp, ngô nướng, khoai vùi, như hương sen, hương bưởi, hương ngâu

Dùng từ thuần Việt tạo nên cảm giác gần gũi, thậm chí dân giã, kể cả khi tác giả đang nói đến một vấn đề rất “hệ trọng” Với cách diễn đạt ấy, một vấn đề “cao siêu”, triết lý bỗng trở nên dễ hiểu, là chuyện của mọi người không chỉ là chuyện của mấy ông lãnh đạo, quản lý nữa, như

chuyện này: “Theo thiển ý của mình và có lẽ cũng là của mọi người kể

cả những người đã ra đi từ ngày ấy, cách tổ chức Điện Biên tốt nhất chưa phải là chiêng trống mít tinh, mà phải là một cuộc vận động thật sự trong toàn Đảng, toàn dân, phải làm thế nào để bật dậy, để đất nước một lần nữa tìm được tổng lực, không tìm lại được tổng lực thì có đến mười Điện

Biên cũng xin vái các ông” Vấn đề mà tác giả diễn đạt bằng những ngôn

từ rất giản dị trên đây đến nay vẫn là vấn đề đáng phải suy nghĩ

Trang 11

Dùng từ thuần Việt cùng với cách diễn đạt thuần Việt có thể xem là

sở đắc của Đỗ Chu, khi tác giả hạ bút: “Cụ Điểu Câu bây giờ đã già quá mất rồi, nói dại đến lúc ông cụ mà nằm xuống thì mới lôi thôi to, là vì sẽ dẫn đến một tình hình tất cả chỉ còn biết đứng mà nhìn cái kho tàng đồ

sộ kia nằm bất động không biết đến bao giờ mới mọc cánh bay ra khỏi những hộp băng hiên đại Đấy là ông lão có đôi tai thần, cái lưỡi khôn

ngoan và một trí tuệ hiếm thấy”, trừ một vài từ như: tình hình, kho tàng, bất động, song các từ này cũng trở nên thuần Việt đến nỗi người ta đã

không mấy để ý đến nguồn gốc Hán Việt của nó, còn lại thì toàn từ thuần Việt, tác giả đã khéo léo tìm cách sử dụng các từ thuần Việt giản dị, dễ hiểu để bộc lộ thái độ, tình cảm ngưỡng mộ trước một bậc túc nho mà không hề sa vào “nôm na”, bất kính Người đọc cảm giác như đang được trò chuyện hay đang hầu chuyện cụ nhà

Quả là kho ngôn từ thuần Việt đã được Đỗ Chu khai thác và sử dụng trong nhiều tình huống, mọi hoàn cảnh, từ diễn tả âm thanh, màu sắc, gọi tên sự vật mà còn dùng để diễn tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật, lời bình luận, trữ tình ngoại đề Giống như chú chiền chiện được sải cánh

và nhào lộn trên cánh đồng rộng rãi quen thuộc, chú hót những khúc điệu ngẫu hứng thần tiên, trong thế giới ngôn từ quen thuộc của mình, Đỗ Chu cũng tự tin sáng tạo những áng văn mê đắm người đọc

2.1.2.2 Ngôn ngữ được chọn lọc và sắp xếp công phu tạo hiệu quả thẩm mĩ

Cái cách mà Đỗ Chu dùng từ, chọn từ luôn thể hiện một thái độ cẩn trọng và một gu thẩm mỹ thiên về truyền thống: quen thuộc mà mực thước, giản dị mà tinh tế, trong sáng Tác giả từng tự nhận: “Ở tôi vẫn mang một chút truyền thống Nho giáo Tôi hay nói đùa cho vui nhưng sự thật lòng tôi lúc nào cũng canh cánh, luôn luôn muốn mình phải cố gắng, phải gìn giữ và phải xứng đáng với gia đình mình và với nhân dân mình Tôi yêu mọi sự giản dị, xa lánh mọi giả dối, khoa trương, đỏm dáng, dông dài…” Ông còn tâm niệm: “Viết nhiều là quý nhưng phải hay Viết nhiều mà không hay thà viết ít, thậm chí đừng viết nữa…”

Trang 12

Như vậy mọi sự lựa chọn kĩ càng công phu về từ ngữ sử dụng, về cách diễn đạt câu văn, sự xắp xếp để đạt hành văn xúc tích, mê đắm, tài hoa trong tùy bút của Đỗ Chu đã tạo nên một phong cách, dấu ấn cái tôi rất riêng của tác giả

2.2 Ngôn từ giàu chất thơ

Ngôn từ giàu “chất thơ” có lẽ cũng là một trong những đặc điểm nổi

bật của tùy bút Đỗ Chu, bởi đọc tùy bút của ông ngườ i ta như thả hồn vào thế giới mơ mộng, giàu cảm xúc Thế giới ấy được tạo ra từ “chất liệu” giàu cảm xúc và đương nhiên, chất liệu ấy sẽ được chuyển tải qua

hệ thống ngôn từ

2.2.1 Ngôn từ giàu hình ảnh

Có thể nhận thấy Đỗ Chu luôn có xu hướng diễn đạt bằng hình ảnh,

nhà văn dường như tuy duy bằng hình ảnh, ngay cả những vấn đề xã hội cần tranh luận, biện luận tác giả cũng tìm cách diễn đạt bằng hình ảnh, điều này khiến những vấn đề trở nên mềm mại và dư ba hơn Đó chính là chất thơ của trí tưởng tượng, chất thơ đến từ cảm xúc thông qua hình tượng thẩm mỹ Nhìn chung, đọc tùy bút Đỗ Chu độc giả luôn được thỏa thích tưởng tượng, liên tưởng, sự thích thú đến từ những hình ảnh sống động, bất ngờ: “Dòng chảy của một nền văn học chẳng khác nào dòng chảy của một con sông mẹ Trong quá trình đi tới nó đã diễn ra nhiều hình thế, đôi khi phức tạp Lúc thì thắt mình lại làm nên ghềnh thác, lúc

mở lòng ra đón nhận phù lưu, sau nhiều uốn lượn nó tỏa nhánh gặp biển Nơi ấy là cửa sông mênh mang bờ bãi, rất dễ ngỡ ngàng, dễ bị ngợp khi nhận hướng…

Ngôn từ giàu hình ảnh được gọi là các từ tượng hình, nó được tạo ra bởi các thủ pháp tu từ như: phép láy, đảo ngữ, chuyển nghĩa Chẳng

hạn, khi tác giả tả: cá rô lấp lánh quẫy, tiếng chân chú cào cào, người chị gái vẫy vùng trong lòng sông đầy sao, những cồn cát ướp hỏa, con sơn

ca nhả ngọc giữa thinh không v.v là tác giả đang vẽ nên những bức

tranh bằng ngôn ngữ Người ta nói “trong văn có họa”, với Đỗ Chu, đó là

sự thật Tác giả tả, “vẽ” nên nét đặc trưng của Tây Nguyên bằng ngôn ngữ hội họa: “Nhìn từ trên cao thấy những vạt đất mênh mông, rừng

Ngày đăng: 07/08/2023, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w