1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn ngữ kể chuyện trong tiểu thuyết đạt giải văn học tuổi 20 lần iv (tt)

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn ngôn ngữ kể chuyện trong tiểu thuyết đạt giải văn học tuổi 20 lần IV (TT)
Trường học Trường Đại học Văn học Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 245,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về các tác phẩm đoạt giải cuộc thi Văn học tuổi 20 lần IV, chúng tôi chỉ gặp một vài bài viết trên các trang báo điện tử giới thiệu về cuộc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là công cụ tư duy và giao tiếp Ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương còn có chức năng thẩm mĩ Với đặc trưng riêng, chức năng thẩm mĩ trong ngôn ngữ kể chuyện ở thể loại tiểu thuyết khá rõ nét Từ nguyên liệu ban đầu (ngôn ngữ tự nhiên), qua thao tác lựa chọn của nhà văn, ngôn ngữ kể chuyện đã mang dấu ấn sáng tạo của từng nghệ sĩ

1.2 Tiểu thuyết là một thể loại của văn xuôi nghệ thuật, với những đặc trưng riêng thì mối liên hệ giữa ngôn ngữ kể chuyện với việc xử lí điểm nhìn trần thuật và việc lựa chọn phương thức tự sự là khá rõ nét Trong tiểu thuyết đương đại nổi lên đặc điểm mà giai đoạn 1945-1975 chưa thật rõ, đó là tác phẩm mang đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo Dường như tác phẩm bớt đi sự miêu tả khách quan đời sống mà gia tăng những suy nghĩ, xúc cảm và trải nghiệm của nhà văn trên từng trang viết Nhà văn vừa khám phá con người như một đối tượng phản ánh vừa tự khám phá mình để tạo ra một cách cảm, cách nhìn, cách viết riêng

1.3 Cuộc thi Văn học tuổi 20 do Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, báo Tuổi trẻ và Nhà xuất bản

Trẻ tổ chức Trong số 9 tác phẩm đạt giải lần IV, tiểu thuyết chiếm tới số lượng 4 Đó là các tác phẩm: Biển (Trương Anh Quốc - giải nhất), Giảng đường yêu dấu (Mai Anh Tuấn - giải ba), Những giao diện ẩn (Thiên Di), Những chuyển điệu (Nguyễn Thiên Ngân) - đồng giải tư Tìm hiểu các tác phẩm trên, chúng ta sẽ thấy rõ

những đặc trưng ngôn ngữ kể chuyện trong mối quan hệ với các vấn đề về giọng điệu, về việc sử dụng các điểm nhìn trần thuật và sự lựa chọn các hình thức tự sự

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề Ngôn ngữ kể chuyện

Trên thế giới, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu: Jakobson Roman, Iu M Lotman, T Todorov, M Khrapchenco Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của M Bakhtin và Kate Hamburger

Ở Việt Nam, vấn đề này cũng được một số tác giả nghiên cứu: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đặng Anh Đào, Trần Đình Sử, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Lai, Hữu Đạt… Đáng chú ý là các bài viết của Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Thái Hòa, Đỗ Hải Phong… Một số Luận án Tiến sĩ của Đỗ Thị Hiên, Nguyễn Thu Hương…

2.2 Về thực tế nghiên cứu các sáng tác của các nhà văn đạt giải Văn học tuổi 20 lần IV

Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về các tác phẩm đoạt giải cuộc thi Văn học tuổi 20 lần IV, chúng tôi chỉ gặp một vài bài viết trên các trang báo điện tử giới thiệu về cuộc thi Văn học tuổi 20 với

một số bài viết sơ lược về các tác giả đoạt giải trên các báo Tiền phong, Tuổi trẻ, Văn nghệ quân đội, Công

an nhân dân…

Tóm lại, những công trình nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ kể chuyện đều được đề cập đến ở những mức độ đậm nhạt khác nhau Tuy nhiên, việc đặt thành mục tiêu khảo sát ngôn ngữ kể chuyện trong mối quan hệ với điểm nhìn, giọng điệu trong mỗi tác phẩm thì còn mờ nhạt

Trang 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Đưa ra những kết quả đáng tin cậy về đặc trưng ngôn ngữ kể chuyện

trong tiểu thuyết của các tác giả đạt giải Văn học tuổi 20 lần IV Từ đó, đóng góp cứ liệu để làm nổi bật ý

thức cách tân ngôn ngữ ở thể loại tiểu thuyết ở các nhà văn trẻ này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong những tác phẩm tiểu thuyết của

các tác giả đạt giải Văn học tuổi 20 lần IV được kể lại từ:

+ Điểm nhìn toàn tri và các tự sự kể lại nội dung

+ Điểm nhìn của người kể chuyện không biết hết và cách tự sự viết nội dung

3.3 Phạm vi khảo sát

Ngoài bốn tiểu thuyết của bốn tác giả đạt giải Văn học tuổi 20 lần IV, chúng tôi còn nghiên cứu một

số tiểu thuyết của các tác giả trẻ khác để so sánh

4 Phương pháp nghiên cứu: 2 phương pháp chủ yếu:

4.1 Phương pháp ngữ dụng

4.2 Phương pháp thống kê ngôn ngữ học

5 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn đã vận dụng các kiến thức của Ngữ dụng học, lí thuyết đối thoại của M Bakhtin, Siêu ngôn ngữ học để khảo sát ngôn ngữ kể chuyện trong các tiểu thuyết của các tác giả trẻ

- Luận văn đã tìm hiểu mối quan hệ của ngôn ngữ kể chuyện với các nhân tố khác của thi pháp Từ

đó chỉ ra sự phong phú, sáng tạo trong ngôn ngữ kể chuyện của các tác giả đạt giải

- Khẳng định sức mạnh cải tạo hiện thực qua văn bản ngôn từ của những câu chuyện được kể bằng

điểm nhìn mới, bằng cách kể chuyện “viết nội dung” của các tác giả: Trương Anh Quốc, Mai Anh Tuấn,

Thiên Di, Nguyễn Thiên Ngân

- Cuối cùng, thông qua ngôn ngữ kể chuyện trong tư cách một loại hình, người nghiên cứu có điều kiện cắt nghĩa một số cách tân về ngôn ngữ của thể loại tự sự trong văn học trẻ hiện đại - những vấn đề đang được giới nghiên cứu ngữ văn hiện nay quan tâm

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận văn sẽ được triển

khai trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận chung

Chương 2: Hiện thực đời sống được thể hiện qua ngôn ngữ kể chuyện trong tiểu thuyết đạt giải

Văn học tuổi 20 lần IV

Chương 3: Tính đối thoại đa thanh của ngôn ngữ kể chuyện trong tiểu thuyết đạt giải Văn học

tuổi 20 lần IV

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm ngôn ngữ kể chuyện và mối quan hệ giữa ngôn ngữ kể chuyện với ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ tác giả

1.1.1 Các nhân tố của ngôn ngữ kể chuyện

1.1.1.1 Ngôn ngữ người kể chuyện

a Người kể chuyện (Narrator): Người kể chuyện là một nhân tố không thể thiếu trong tác phẩm tự

sự, là chủ thể của hành vi kể chuyện

b Ngôn ngữ người kể chuyện

Ngôn ngữ của người kể chuyện tập trung ở lời người kể chuyện Ngôn ngữ người kể chuyện có liên

quan đến khoảng cách giữa tác giả thực và người kể chuyện Nếu khoảng cách này bằng không thì sẽ có cấu

trúc trần thuật mang tính trữ tình Khi người kể chuyện và tác giả có khoảng cách, thì ý thức ngôn ngữ của

tác giả và ý thức ngôn ngữ của người kể chuyện “lệch pha” nhau, làm xuất hiện trong tác phẩm những lời văn có tính đối thoại Đó là trường hợp trần thuật có người kể chuyện dao động

1.1.1.2 Ngôn ngữ nhân vật

Nhân vật (Character) là chủ thể của các hành động, lời nói và ý nghĩ được kể lại trong tác phẩm, là những phát ngôn đích thực trong tác phẩm (SP1) Ngôn ngữ nhân vật được thể hiện trong lời thoại và độc thoại nội tâm của nhân vật được dẫn lại, còn gọi là các thoại dẫn (Reported speech) Nó có chức năng cá thể hóa tính cách nhân vật, cá thể hóa tình huống, chức năng đồng quy chiếu, chức năng liên cá nhân và chức năng thẩm mĩ

1.1.2 Ngôn ngữ kể chuyện trong quan hệ với ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ tác giả

1.2 Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện

1.2.1 Khái niệm điểm nhìn

1.2.1.1 Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp: là “toạ độ của hai trục lời nói hiển ngôn với hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý người nhận có thể tiếp nhận được”

1.2.1.2 Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện về cơ bản cũng được suy ý từ văn bản và hành động kể

chuyện, nhưng văn bản là hệ thống rất phức tạp gồm nhiều tầng bậc và hành động kể cũng thể hiện ở nhiều

thủ pháp khác nhau Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa Người viết - Văn bản - Người nhận ở cả hai bậc (hiển

ngôn và hàm ẩn)

Điểm nhìn ở các cấp độ bộ phận của văn bản thì được xác định bởi các tham tố: Tiêu điểm; Khoảng cách; Phương vị

1.2.2 Các loại điểm nhìn

1.2.2.1 Điểm nhìn bên ngoài

1.2.2.2 Điểm nhìn bên trong

1.2.2.3 Điểm nhìn toàn tri

1.2.3 Các nhân tố của điểm nhìn: Người tiêu điểm hóa, Nhân tố được tiêu điểm hóa; Người phát

ngôn (spokesperson), Người nhận (Addressee), Tiêu điểm (Focus), Tiêu cự (Focal length) và Hình thức ngôn ngữ

Trang 4

1.2.4 Các tính chất của điểm nhìn:

Điểm nhìn có bốn tính chất cơ bản: Tính chất hàm ẩn, Tính chất di động, Tính khúc xạ, Tính chất bên trong và bên ngoài

1.3 Giọng và giọng điệu

Giọng (Voice) và giọng điệu (tone) là một trong những yếu tố quan trọng làm nên nét đặc trưng riêng cho mỗi loại hình lời văn nghệ thuật Giọng và giọng điệu cũng chịu sự chi phối của điểm nhìn (Point of view) nhưng lại góp phần thể hiện điểm nhìn

1.4 Ngôn ngữ tiểu thuyết - theo quan điểm của M Bakhtin và Kate Hamburger

Trong Những thi pháp tiểu thuyết Đôxtôiepxki, M Bakhtin đã đưa ra bảng lược đồ phân loại lời văn

trong tác phẩm tự sự Về cơ bản, nó được chia thành:

I Lời văn trực tiếp hướng thẳng đến đối tượng của nó, với tư cách là sự biểu hiện trực tiếp của cấp

độ ý nghĩa cuối cùng của người nói

II Lời văn có tính khách thể (lời nhân vật được miêu tả)

III Lời văn nhằm vào lời người khác (lời văn hai giọng)

Trong Lôgic học về các thể loại văn học, Kate Hamburger đã chỉ ra sự khác biệt của những lời phát

ngôn giữa các thể loại Đặc biệt, bằng việc khảo sát một số văn bản thơ trữ tình và một số truyện kể ở ngôi

thứ nhất và ngôi thứ ba, tác giả đã chỉ ra sự khác nhau về tính chất lời phát ngôn của cái “tôi” trong một bài thơ trữ tình và tính chất lời phát ngôn của cái “tôi” trong truyện kể ở ngôi thứ nhất Hiện thực trong một phát ngôn của một bài thơ trữ tình là cái hiện thực đã được nếm trải, hiện thực đó chỉ có trong “diện trường kinh nghiệm” của cái “tôi” trữ tình Còn hiện thực trong một thiên tiểu thuyết ở ngôi thứ ba lại giúp ta có cảm

giác như nó đã là một hiện thực

Trang 5

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG

TIỂU THUYẾT ĐẠT GIẢI VĂN HỌC TUỔI 20 LẦN IV 2.1 Cuộc sống những người thuỷ thủ trên biển được thể hiện qua ngôn ngữ kể chuyện trong

tiểu thuyết Biển (Trương Anh Quốc)

- Tiểu thuyết Biển được kể từ điểm nhìn ngôi thứ ba không biết hết Người kể chuyện đặt điểm nhìn

vào nhiều nhân vật, do đó, câu chuyện được kể ra mang tính khách quan Sử dụng linh hoạt nhiều điểm nhìn giúp người kể chuyện đi sâu vào từng ngóc ngách trong tâm hồn các nhân vật, giúp nhân vật bộc lộ sâu sắc hơn những suy nghĩ thầm kín nhất trong tâm hồn và do đó, suy nghĩ, tình cảm của các nhân vật cũng trở nên

“thật” hơn bao giờ hết Trao điểm nhìn cho nhiều nhân vật, linh hoạt chuyển điểm nhìn từ ngoài vào trong, người kể chuyện đã làm nhiệm vụ “sản sinh ra cái nội dung”

- Hiện thực đời sống trong Biển được người kể chuyện phác họa qua những bình diện sau:

+ Phác họa những nét về văn hóa, phong tục, tập quán, sinh hoạt của Ân Độ và Việt Nam: thói quen

ăn cơm bằng tay, tín ngưỡng thờ tượng linga yoni… (người Ấn); tục gói bánh chưng khi Tết đến, thói quen bôi dầu… (người Việt)

+ Thể hiện sinh động cuộc sống những con người lênh đênh theo sóng nước đại dương trên một con tàu chật hẹp với muôn hình vạn trạng tính cách, cuộc đời với tất cả các éo le và bi kịch lớn nhỏ trong cuộc sống đời thường: rộng lượng và nhỏ nhen, thương yêu và căm ghét, âm mưu và thù hận, ngây thơ và thâm hiểm, cao thượng và bần tiện, thơ mộng và thô lỗ, trung thực và lừa bịp, mơ ước và khát khao, dục vọng và tuyệt vọng…

+ Thể hiện những vấn đề rất thời sự mà người đọc có thể bắt gặp đâu đó trên các phương tiện thông

tin đại chúng: vứt rác bừa bãi, đào tạo bằng cấp, nộp “lệ phí” cho các thủ tục hành chính…

+ Thể hiện chân thực cùng với nỗi đau xót, đồng cảm với những mất mát, hi sinh của những con người lênh đênh cùng biển cả trên tàu chở dầu thô Những con người đó vốn dĩ đã rất vất vả bởi luôn phải đối mặt với những nguy hiểm tiềm ẩn từ biển cả, sóng nước nhưng khi trở về cuộc sống đời thường, họ còn

có nhiều nỗi khổ tâm hơn, đó là “không có được con, hoặc sinh con không lành lặn”, bởi “những ngày làm việc trên tàu dầu thô chất độc len lỏi vào xương cốt”

+ Bước chân vào thế giới nghệ thuật của Biển, người đọc được “sống” trong môi trường đậm chất

viễn dương bởi bao quanh là một thế giới sinh động những tên biển, tên người, những sự vật, sự việc, cách

sinh hoạt, cách cảm cách nghĩ mang đặc trưng của người thuỷ thủ Trong Biển, hệ thống từ ngữ thuôc trường biển cả xuất hiện khá đậm đặc: “tàu”, “sóng”, “cửa biển”, “lòng biển”, “mặt nước”, “màu biển xanh”,

“hải âu”, “thuỷ thủ”, “thuyền viên”, “lan can tàu”, “boong”, “đăng kiểm”, “thuỷ thủ lái”, “thuỷ thủ bảo quản”, “thiết bị hàng hải”, “hoa tiêu”, “chi phí neo đậu”, “trang thiết bị cứu sinh”…

+ Qua ngôn ngữ kể chuyện, phong tục tập quán từng miền được thể hiện rõ nét Đó là hệ thống

những từ phương ngữ Nam: xức (dầu), sanh, trầy, thiệt, xui, hèn, giả đò, ký, kì cục, dòm vô, chắc cú, rún…

+ Cái độc đáo dễ nhận thấy nhất ở Trương Anh Quốc qua Biển là sự trình làng nhiều thuật ngữ

chuyên môn hẹp và số lượng lớn tiếng nước ngoài Theo thống kê của người viết thì tác giả đã sử dụng gần

Trang 6

100 thuật ngữ chuyên môn, trong đó chủ yếu là chuyên môn tàu biển: “gangway”, “captain”, “chief cook”,

“messman”…

+ Xuất hiện một hệ thống ngôn ngữ rất gần gũi với cuộc sống đời thường, đặc biệt là với đời sống của con người hiện đại Có thể nói, Trương Anh Quốc hấp dẫn bạn đọc bằng một giọng kể chân phương với

một hệ thống ngôn ngữ có phần “xô bồ”, mang tính khẩu ngữ nhưng lại rất giàu chất đời

2.2 Cuộc sống xung quanh giảng đường Đại học được thể hiện qua ngôn ngữ kể chuyện trong

tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu (Mai Anh Tuấn)

- Điểm nhìn mà người viết sử dụng trong tiểu thuyết là điểm nhìn ngôi thứ nhất xưng “tôi” kể

chuyện mình và kể chuyện người khác Ngôn ngữ trong Giảng đường yêu dấu là ngôn ngữ của một người kể

chuyện không biết hết, nó được sản sinh ra trong quá trình viết - là thứ ngôn ngữ hôi hổi chất đời thường Với hiện thực mới của đời sống hiện đại, với điểm nhìn của người kể chuyện không biết hết, ngôn ngữ của Mai Anh Tuấn trở nên phong phú linh hoạt, tỏa rộng tới nhiều mặt của cuộc sống, len lỏi tới những miền sâu kín nhất của tâm hồn con người

- Giảng đường yêu dấu đậm chất hiện thực đời sống, được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh như: + Sử dụng hàng loạt các từ thuộc trường “giáo dục”: giáo dục, giảng đường, bài giảng, trường Đại học, giờ giảng, tập giảng, sinh viên, bài học, giáo viên, gia sư, trí thức, thi sĩ, giáo án, khóa luận, phản biện thứ nhất, phản biện hai, hội đồng, điểm trung bình khá, chủ tịch hội đồng, tốt nghiệp, thi sĩ, sách, thầy giáo, triết học, phòng thi, giám thị, tiết học, trưởng phòng tổ chức, quyết định đi dạy…

+ Sử dụng nghệ thuật chơi chữ nói về việc sinh viên “cần” phải đến nhà thầy cô trước mỗi mùa thi hay bảo vệ tốt nghiệp: Lăng Cô, chùa Thầy

+ Cảnh sinh viên ra trường không xin được việc, phải lăn xả vào cuộc đời vì miếng cơm manh áo, chấp nhận làm trái ngành…

+ Những ước mơ bình dị của sinh viên - ra trường có việc làm ổn định cũng trở nên xa vời Ngòi bút

của Mai Anh Tuấn đã “động chạm” đến “mặt trái” của cơ chế xã hội hiện đại

+ Tác phẩm còn khai thác những thiếu thốn của giáo viên và học sinh vùng sâu vùng xa: nhà vệ sinh của trường học thì dựng tạm bợ; đường đến trường của học sinh thì lầy lội, nhão nhoét bùn đất; học sinh bỏ học sớm…

+ Ngôn ngữ đối thoại hàng ngày (“bà lớn”, “méc”, oánh”, “vừa xiên vừa chéo”, “xanh lè”…) có xen lẫn ngôn ngữ chợ búa (“đù mẹ”) giúp lời đối thoại sinh động hơn, thực tế hơn

Tiếng lóng, nhại ngôn ngữ quảng cáo, chợ búa cũng được đưa vào trang viết một cách tự nhiên, chân

thực: “một vợ hai con ba tầng bốn bánh”, “tống khứ”, “khoan cắt bê tông, “cho thuê nhà trọ”, “khuyến mại giảm giá”, “lẩu dê thịt chó”, “phở bún cơm rang”, “kòi - râu - hói - lùn - sinh - đen - trắng - vuông - tròn - plaza - metro”,…

Người đọc có thể nhận thấy trong nhiều trang viết của lớp nhà văn trẻ hiện nay xóa bỏ khoảng cách ngôn ngữ trang trọng, mĩ lệ của ngôn từ mà thay vào đó là sử dụng nhiều lớp ngôn ngữ đời thường

+ Một đặc điểm mới trong tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu là ngôn ngữ kể chuyện dùng khá nhiều

từ nước ngoài mà không cần giải thích

Trang 7

+ Thành phần khẩu ngữ, trước hết đó là các từ định danh, gọi tên sự vật theo thói quen: thằng, lão…

Tính khẩu ngữ còn được thể hiện rất rõ qua cách dùng từ ngữ, các hình ảnh so sánh thể hiện sự lí tưởng hồn nhiên, dân dã Cái cách diễn đạt mang đậm lối nói năng, suy nghĩ của lớp sinh viên trẻ thời hiện đại Tất cả mang đến cho truyện một sắc thái tự nhiên dân dã, thân mật

2.3 Tình bạn, ước mơ tuổi trẻ được thể hiện qua ngôn ngữ kể chuyện trong tiểu thuyết Những

giao diện ẩn (Thiên Di)

Chất đời sống của ngôn ngữ kể chuyện trong các tác phẩm được thể hiện qua những khía cạnh sau:

+ Tên gọi của các nhân vật trong tiểu thuyết Những giao diện ẩn của Thiên Di đặt tên theo biệt danh:

Bướng Bỉnh, Ngổ Ngáo, Cục Đất, Tham Vọng, Bà Mập, Chị Gái Fashion, Cỏ Hoang, Chị Da Bánh Mật, Thiên Thần Kính Cận, Mặt Bẹt, Nhóc Không Cười…

+ Những giao diện ẩn viết về tình bạn, ước mơ tuổi trẻ và cách thức biến thành hiện thực Cái đáng quý của truyện là người viết đã biết cách làm “lạ hóa” một chủ đề rất đỗi bình thường Tiểu thuyết được viết

dưới dạng một tác phẩm văn học kì ảo, viết về những góc khuất của cuộc sống dưới cái nhìn của một cô gái

đã đi về thế giới bên kia

+ Cách xưng hô trong truyện cũng khá thoải mái với kiểu “mày” - “tao” Nhờ cách xưng hô đó mà

con người ta dễ dàng bộc lộ cảm xúc của nhau, qua đó kéo gần khoảng cách của những người tham gia giao tiếp

+ Sử dụng những cụm từ nước ngoài không cần chú giải

+ Cuộc sống sinh viên với những ngày tháng miệt mài bên giảng đường Đại học với hàng tá những chuyên ngành, môn học hoặc cảnh đi làm thêm đã được tác giả tái hiện lại một cách sinh động, chân thực trong tác phẩm

+ Cách đối đáp đậm chất Nam Bộ với những “dzậy”, “cực”, “thiệt là”, “hông”, “dong”, “ghe”,

“trỏng”, tụi em”, “kêu”, “ông xã”, “hổng”, “dùm”, “cưng”, “nghen”, “sát rạt”, “nằm xải lai”, “ảnh”…

được tác giả khai thác, tạo được hiệu quả nhất định trong việc thể hiện dấu ấn văn hóa vùng miền trong ngôn ngữ kể chuyện

+ Tác phẩm còn đề cập đến “đại diện” của thế hệ cuối 9X và sau 9X Đó là Thiên Thần Kính Cận -

một cậu nhóc THCS thích xem phim sex, đó là Nhóc Không Cười và hội chứng Emo (rạch dao lam vào cổ tay)…

+ Những mặt trái của xã hội có thể tác động đến con người, làm cho con người ta trở nên chai lì,

thậm chí “biến chất” Tham Vọng là nhân vật điển hình…

2.4 Thân phận, bi kịch và nỗi cô đơn của con người được thể hiện qua ngôn ngữ kể chuyện

trong tiểu thuyết Những chuyển điệu (Nguyễn Thiên Ngân)

- Những chuyển điệu của Nguyễn Thiên Ngân là tác phẩm viết về những va vấp, những trải nghiệm

của lớp trẻ Đó là tuổi trẻ của hôm nay, một tuổi trẻ học đường nơi đô thị Họ đang học trong nhà trường, học

ở trường đời những trải nghiệm thú vị, sâu sắc Họ đang bước đầu thể nghiệm và khám phá chính bản thân

mình Ngoài ra, tác phẩm còn thể hiện khá chân thực những “lát cắt” của đời sống hiện thực thường ngày,

qua những khía cạnh sau:

Trang 8

+ Tác phẩm đề cập đến những dòng tâm tư, suy nghĩ của nhân vật chính - Uyên khi cô lần đầu bước chân vào khách sạn trong chuyến đi công tác lần đầu của mình - thế giới đó khác xa so với thế giới mà cô và gia đình đã từng sống

+ Những rung động nhẹ nhàng trong mối tình vụng trộm nhưng rất đỗi lãng mạn được đưa vào trong

tác phẩm tạo nên cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng trong lòng người đọc khi tiếp xúc với Những chuyển điệu

+ Sự thiếu hiểu biết về quan hệ tình dục cũng được người kể chuyện dẫn ra để minh chứng cho việc không chú ý đến công tác giáo dục giới tính cho lứa tuổi vị thành niên, dẫn đến sự hiểu biết sai lầm về quan

hệ giới tính

Ngôn ngữ của hai nhân vật là thứ ngôn ngữ của người trẻ Ở đó, họ có thể tự do thể hiện tình cảm, thái độ cùa mình, đồng thời qua đó cũng thể hiện sự trải nghiệm của họ về những vấn đề trong cuộc sống Tình yêu là đề tài muôn thuở trong văn chương Nhưng khai thác dưới góc độ sự mất mát trong tình yêu là một hướng đi mới của Nguyễn Thiên Ngân và một số tác giả trẻ khác Sử dụng và phát huy triệt để vai trò của ngôn ngữ, người kể chuyện đã tái hiện lại những câu chuyện về tình yêu trong cuộc sống thường ngày trên trang sách

CHƯƠNG 3 TÍNH ĐỐI THOẠI ĐA THANH CỦA NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT ĐẠT

GIẢI VĂN HỌC TUỔI 20 LẦN IV

3.1 Tính đối thoại đa thanh của ngôn ngữ kể chuyện trong tiểu thuyết Biển (Trương Anh

Quốc)

- Trong Biển, tác giả sử dụng nhiều điểm nhìn và có sự di chuyển linh hoạt điểm nhìn : có khi người

kể chuyện nhập thân vào nhân vật Đa, có khi lại là In, hay Ia, anh phục vụ Ti v.v… Có thể nói, trong tiểu thuyết có bao nhiêu nhân vật thì người kể chuyện đã tạo ra bấy nhiêu điểm nhìn Tác giả đã trao quyền phát ngôn cho người kể chuyện và người kể chuyện lúc này đã nhường hết quyền phát ngôn cho nhân vật Điều

đó đã làm cho lời văn mang tính đối thoại nội tại

Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ còn được sử dụng khá hiệu quả qua những dấu hiệu sau:

+ Xuất hiện các đoạn văn mà trong đó người kể chuyện lược lại lời thoại của nhân vật bằng lời kể Những dấu hiệu chú thích của người kể chuyện được thể hiện rõ (ví dụ như anh ta kể, hắn bảo, nó nói….)

+ Trường hợp thứ hai là kể lại đoạn đối thoại và thậm chí lược bỏ luôn sự hiện diện các chủ thể tham gia giao tiếp thông qua chỉ dẫn của người kể chuyện cũng là một trường hợp của ngôn ngữ đối thoại trong lời người kể chuyện Thay vì kể lại bằng lời của chính mình, người kể chuyện đã giữ nguyên lời nhân

vật nhằm nhấn mạnh tâm lí của nhân vật và hoàn cảnh giao tiếp

+ Bên cạnh đó, giọng điệu cũng là một trong những biện pháp tạo nên tính đa thanh trong ngôn ngữ

Giọng điệu cảm thông, tâm tình, chia sẻ thể hiện phổ biển trong truyện trước những con người bị chất độc trên tàu ngấm dần vào cơ thể khiến không thể có con hoặc sinh ra không lành lặn…

Trang 9

+ Trong tiểu thuyết Biển, yếu tố lời gián tiếp tự do cũng được hiện diện khá rõ nét Không đơn nghĩa

như lời gián tiếp hay lời trực tiếp, lời gián tiếp tự do thường mở ra nhiều hướng tiếp nhận, trở thành kiểu lời nói đặc trưng cho ngôn ngữ kể chuyện đa thanh

+ Xuất hiện trong Biển là có lời kể chuyện nhại: nhại ngôn ngữ ca nhạc, nhại nét văn hóa đấu bò tót

ở Tây Ban Nha, nhại ngôn ngữ tôn giáo, …

+ Biện pháp chơi chữ trong dân gian cũng được sử dụng trong ngôn ngữ kể chuyện qua việc đặt tên

nhân vật theo hình dáng bên ngoài: Monkelephuman là tên ghép của ba chữ: con người (human), con khỉ (monkey) và con voi (elephant) Cái tên rất hàm súc, bao hàm được cả hình dáng bất thường của đứa trẻ

Điều này đã tạo hiệu quả đặc biết trong ngôn ngữ kể chuyện, khiến cho mỗi dòng ngôn ngữ vang lên những thanh âm khác nhau, góp phần tạo tính đa thanh cho ngôn ngữ

3.2 Tính đối thoại đa thanh trong tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu (Mai Anh Tuấn)

Tính đối thoại đa thanh được thể hiện khá rõ nét trong tiểu thuyết, cụ thể như sau:

+ Điểm nhìn đã được di chuyển vào nội tâm nhân vật để ở đó hiện lên cuộc đấu tranh với chính bản

thân đầy phức tạp, mâu thuẫn của anh ta Điểm nhìn ấy tạo cho nhân vật một "khoảng trống" để nhân vật

được tự do tranh luận với người khác, với độc giả, tác giả và với chính mình

+ Đồng thời, trong tiểu thuyết xuất hiện lời văn hai giọng đồng hướng - Lời kể chuyện của người kể

chuyện Từ điểm nhìn của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (“tôi”) ngầm chuyển sang những người bạn đồng khóa với "tôi", những lớp sinh viên năm cuối nói chung

+ Cũng như nhiều tiểu thuyết khác, người đọc có thể nhận thấy trong tác phẩm có sự xuất hiện tính chất đối thoại của nhân vật trong lời người kể chuyện Người kể chuyện kể lại đoạn đối thoại và thậm chí lược bỏ luôn sự hiện diện các chủ thể tham gia giao tiếp thông qua chỉ dẫn của người kể chuyện cũng là một trường hợp của ngôn ngữ đối thoại trong lời người kể chuyện

+ Giảng đường yêu dấu được kết cấu theo lối truyện lồng trong truyện, hay đúng hơn, "phim" lồng trong tiểu thuyết Nói khác đi, đây là một tác phẩm "kép" Đặc điểm "kép" về thể loại (phim trong tiểu

thuyết) sẽ làm xuất hiện tính đa thanh trong ngôn ngữ, không chỉ là ngôn ngữ tiểu thuyết mà còn xuất hiện ngôn ngữ của nhiều ngành khoa học khác

+ Do là tác phẩm kép về thể loại nên ngôn ngữ trong tác phẩm cũng có sự "pha tạp" Giảng đường yêu dấu là kết quả của sự hòa trộn nhiều phong cách, sắc điệu ngôn từ, nhiều sắc thái giọng điệu Phong phú,

thú vị hơn cả là là ngôn ngữ phỏng, nhại : nhại ngôn ngữ điện ảnh, sân khấu, nhại ngôn ngữ của ca kịch cải

lương, ngôn ngữ của truyện chưởng, ngôn ngữ nhật kí, hồi kí, ngôn ngữ thơ trữ tình, ngôn ngữ người "nhà quê", ngôn ngữ chú giải, ngôn ngữ chính luận…

+ Trong tác phẩm, tác giả sử dụng các đoạn cước chú như một dụng ý nghệ thuật Tuy nhiên, nó chưa đem lại hết hiệu quả của nó Nhiều cước chú đang sa vào dài dòng, không đúng trọng tâm của từ cần giải thích Tuy vậy, ít nhiều nhờ có những đoạn cước chú độc đáo đó đã mang lại tính đa thanh trong ngôn ngữ

3.3 Tính đối thoại đa thanh trong ngôn ngữ kể chuyện của tiểu thuyết Những giao diện ẩn

(Thiên Di)

Trang 10

- Những giao diện ẩn là một quyển tiểu thuyết thu hút người đọc bởi sự khác lạ của nó Đó là cách

đặt tên chương như những câu thơ khơi gợi, tò mò Khác lạ còn là cách đặt tên nhân vật theo biệt danh, cách dẫn chuyện, cõi âm cõi dương lẫn lộn…

- Trong tiểu thuyết, chủ yếu tác giả sử dụng điểm nhìn ở ngôi thứ nhất xưng "tôi" - Bướng Bỉnh Tuy

nhiên, đó không phải cách sử dụng bất biến mà nó được dịch chuyển điểm nhìn sang cho nhiều nhân vật khác nữa Từ phương diện nào đó, có thể nói, sự đan xen và dịch chuyển liên tục điểm nhìn cũng là một cách thức để tạo nên tính phức điệu của tiểu thuyết Theo đó, văn bản nghệ thuật trở thành một cấu trúc đa tầng,

có khả năng phá vỡ tính đơn âm và cùng lúc vang lên nhiều tiếng nói khác nhau

Ở Những giao diện ẩn, tác giả sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ nhất kể về chuyện mình và kể về

nhân vật khác Đây là kiểu trần thuật mà người trần thuật đã được nhân vật hóa, nhưng khác với trường hợp

mà người trần thuật ở ngôi thứ nhất kể chuyện về mình, người kể chuyện ở đây chỉ có vai trò như một người dẫn truyện

+ Trong Những giao diện ẩn có sự xuất hiện của lời văn hai giọng triết lí tranh biện khác hướng - lời

văn giễu nhại Biện pháp giễu nhại cũng được sử dụng tạo nên tính đa thanh trong ngôn ngữ : nhại ngôn ngữ

giật gân của báo chí; nhại ngôn ngữ ca dao, tục ngữ; nhại ngôn ngữ Truyện Kiều và ngôn ngữ mạng; nhại

ngôn ngữ của người tuyển nhân viên với lời hứa hẹn…

Bằng việc luân phiên điểm nhìn tới nhiều nhân vật, sử dụng lời kể chuyện nhại, nhại phong cách, nhại kiểu nhìn, đoạn văn đã cuốn hút người đọc vào cuộc tranh luận với nhân vật người kể chuyện, với ý thức các nhân vật khác và với chính nhân vật Người kể chuyện với điểm nhìn không biết hết, với sự trợ giúp

của ngôn ngữ, đã "viết nội dung" cuộc đời ấy bằng những lời văn có tính giễu nhại của mình

+ Sử dụng nhiều đoạn văn nội tâm - là tiếng nói bên trong của nhân vật…

3.4 Tính đối thoại đa thanh trong ngôn ngữ kể chuyện của Những chuyển điệu (Nguyễn Thiên

Ngân)

- Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ kể chuyện của Những chuyển điệu được tác giả thể hiện qua

những khía cạnh sau:

+ Sử dụng điểm nhìn ngôi thứ nhất xưng “tôi” kể chuyện mình Điểm nhìn kể chuyện là điểm nhìn của nhân vật “tôi” - người phản ánh - người mang tiêu điểm Nhân vật “tôi” ấy được tác giả sử dụng như một “người khác” Trong tác phẩm, giọng của người kể chuyện khác hẳn với giọng tác giả

+ Điểm đặc biệt trong Những chuyển điệu là người kể chuyện - nhân vật “tôi” được đặt đan xen giữa

hai nhân vật: Uyên và Tùng Do đó, ngôn ngữ trong tác phẩm có sự đối thoại khá rõ trong ngôn ngữ của hai nhân vật

+ Xuất hiện lời văn hai giọng đồng hướng

+ Bên cạnh đó, người đọc nhận thấy dấu hiệu rõ nhất của tính chất đối thoại trong lời kể chuyện là

nhờ các từ chỉ dẫn - "Ba mẹ tôi nói", "bà đề nghị", Các giọng nói khác nhau cùng vang lên trong đoạn văn

tạo cho đoạn văn có tính đa thanh, nhiều lời

Những đoạn đối thoại (in đậm) giữa nhân vật Uyên và ông Ken - sếp của Uyên vẫn được trình bày dưới dạng lời kể chuyện Điều đó làm xuất hiện tính chất đối thoại trong ngôn ngữ, làm cho lời kể trở nên

Ngày đăng: 04/08/2023, 22:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm