Các nhà phê bình, nhà văn, nhà báo… có những đánh giá cao về tài năng cũng như văn chương của Đỗ Chu, trong đó nổi bật lên một số đánh giá của Nguyễn Văn Hạnh, Bùi Việt Thắng, Lê Hương T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
MAI HỒNG THÁI
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
THANH HOÁ, NĂM 2014
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học Hồng Đức
Người hướng dẫn: PGS.TS Đinh Trí Dũng
Phản biện 1:
Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học Hồng Đức
Người hướng dẫn: PGS TS Đinh Trí Dũng
Phản biện 1: TS Lê Tú Anh
Phản biện 2: PGS TS Lại Văn Hùng
Luận văn này được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học
Tại Trường Đại học Hồng Đức
Vào hồi: 16 giờ 10 phút, ngày 13 tháng 9 năm 2014
Trang 3với tả cảnh, tả tình, trữ tình ngoại đề, kết hợp kể và tả Ngôn ngữ đa
dạng, trong sáng, giàu cảm xúc
4 Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu,
giúp người tiếp nhận khám phá sâu hơn những đặc trưng thẩm mỹ
của văn bản trong sáng tạo của nhà văn Thông qua đề tài này,
chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định một phong cánh
truyện ngắn không có những cách tân mới mẻ nhưng hấp dẫn người
đọc bằng tình người đằm thắm, bằng cách kể truyện có duyên, bằng
cách viết kết hợp hài hoà giữa truyền thống và một số thủ pháp hiện
đại
3
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Đỗ Chu là nhà văn trưởng thành trong kháng chiến
chống Mĩ, mười bảy tuổi đã có tác phẩm in trên tạp chí Văn nghệ
quân đội Cùng với thời gian, sự trải nghiệm và tinh thần lao động
nghệ thuật nghiêm túc, nhà văn đã sáng tác nhiều tác phẩm làm rung động lòng người… Sự có mặt của Đỗ Chu góp phần làm cho bức tranh đời sống văn học hiện đại phong phú hơn Vì thế, nghiên cứu truyện ngắn Đỗ Chu là một việc làm cần thiết, giúp chúng ta hiểu hơn bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam hiện đại
1.2 Đỗ Chu sáng tác nhiều thể loại tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tuỳ bút… nhưng người ta biết nhiều về nhà văn ở thể loại truyện ngắn Truyện ngắn Đỗ Chu giàu chất trữ tình, văn phong nhẹ nhàng, đằm thắm; nguồn cảm hứng phong phú, vừa hiện thực vừa lãng mạn; nhân vật đa dạng; lối kể chuyện hấp dẫn thường nương theo dòng cảm xúc của nhân vật Nghiên cứu truyện ngắn Đỗ Chu từ góc nhìn tự sự học, giúp chúng tôi lý giải nguyên nhân thành công của nhà văn trong nghệ thuật sáng tạo truyện ngắn
1.3 Đỗ Chu là nhà văn tài năng, có nhiều đóng góp đối với văn học hiện đại Việt Nam nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng Cho đến nay, việc nghiên cứu, đánh giá về nhà văn chưa xứng tầm, mới dừng lại ở những bài viết, bài phỏng vấn… được đăng tải trên các báo, tạp chí hoặc trong một số sách về chuyên
ngành Đó là những lý do để chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu”, góp thêm tiếng nói
khẳng định vị trí, tài năng và những đóng góp của Đỗ Chu đối với nền văn học hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ năm 1962, khi những truyện ngắn đầu tay của Đỗ Chu xuất hiện, văn đàn đã xôn xao, tán tụng, càng về sau tài năng văn
Trang 4chương càng được khẳng định Đỗ Chu đã trở thành nhà văn có tầm
cỡ Các nhà phê bình, nhà văn, nhà báo… có những đánh giá cao về
tài năng cũng như văn chương của Đỗ Chu, trong đó nổi bật lên một
số đánh giá của Nguyễn Văn Hạnh, Bùi Việt Thắng, Lê Hương
Thuỷ, Nguyễn Thanh Kim, Nguyễn An, Văn Chinh…
Bùi Việt Thắng có nhận xét tinh tường về truyện ngắn Đỗ
Chu ở các phương diện nhịp điệu, giọng văn, cốt truyện, nhân vật,
lối viết truyện không quá bám vào các hiện tượng đời sống mà dựa
vào những ấn tượng chủ quan, nhờ đó mà văn chương thường giàu
cảm xúc, nhẹ nhõm
Văn Chinh thấy ở truyện ngắn Đỗ Chu một vẻ đẹp đặc biệt
một chút lãng mạn Pháp, một chút cổ điển Nga và một chút lý tưởng
hoá Nga Xô - Viết
Lê Hương Thủy chỉ ra và khẳng định truyện ngắn Đỗ Chu
thiên về khai thác cái đẹp trong đời sống, cái đẹp được biểu hiện ở
tình yêu quê hương, tình quân dân, tình đồng chí, đồng đội, những
mối tình trong trắng thi vị được nuôi dưỡng trong chiến tranh
Cuốn Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân
dung, Phan Cự Đệ (chủ biên), đã trân trọng xếp Đỗ Chu là một nhà
văn viết truyện ngắn có phong cách trữ tình Phong cách này đã tạo
nên một kiểu văn xuôi giàu chất thơ
Nhìn chung, các bài viết, bài nghiên cứu về Đỗ Chu thường
đưa ra những nhận định khái quát hoặc riêng lẻ nào đó về một tập
truyện hay một truyện ngắn Các nhận định, đánh giá còn chung
chung, chưa đánh giá hết giá trị văn chương của Đỗ Chu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
KẾT LUẬN
1 Đỗ Chu là nhà văn tài năng, luôn có ý thức cao về nghề nghiệp và có quan niệm sâu sắc về văn chương nghệ thuật… Ông sáng tác nhiều thể loại, viết về nhiều vấn đề như chiến tranh, lao động sản xuất, tư cách đạo đức, quan hệ con người, văn hoá truyền thống… vấn đề nào cũng được nhận thức và phản ánh sâu sắc Sự xuất hiện của Đỗ Chu đã góp thêm tiếng nói làm phong phú hơn nền văn học hiện đại Việt Nam
2 Đỗ Chu được xem là nhà văn của truyện ngắn Truyện của ông thuộc loại truyện ngắn trữ tình Mỗi truyện là một lát cắt của đời sống, thiên về cảm nhận, khám phá thế giới nội tâm nhân vật, thể hiện những suy tư trăn trở của con người trước hiện thực cuộc sống Các vấn đề phản ánh nhìn chung không mới nhưng được nhìn nhận, đánh giá, phản ánh bằng nguồn cảm xúc dạt dào, bằng tình cảm nồng nhiệt của nhà văn
3 Nghệ thuật trần thuật đóng vai trò quan trọng trong sáng tác Đỗ Chu Nó tạo nên sức hấp dẫn, cuốn hút người đọc, chi phối đến nội dung và nghệ thuật tác phẩm, thể hiện phong cách nhà văn Cách trần thuật của Đỗ Chu linh hoạt trên nhiều phương diện Điểm nhìn trần thuật đa dạng, trong đó nổi bật lên điểm nhìn trần thuật chủ quan Với điểm nhìn này, nhà văn có điều kiện đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật, khám phá, phản ánh các sắc thái tình cảm, các cung bậc cảm xúc và bộc lộ quan điểm của nhà văn về cuộc sống, con người Điểm nhìn trần thuật được phát triển bởi nhịp điệu trần thuật Trong truyện, người đọc ít khi bắt gặp nhịp kể vội vã, khẩn trương mà chủ yếu là nhịp kể chậm rãi, khoan thai Giọng điệu điệu trữ tình, đằm thắm, phù hợp với việc khắc hoạ tâm trạng nhân vật Do thiên về phản ánh thế giới nội tâm nên ngôn ngữ trần thuật của nhà văn là kiểu ngôn ngữ giàu chất trữ tình, kết hợp khéo léo
Trang 5Những câu văn có nhịp điệu chậm rãi vừa phải làm cho câu
chuyện được kể diễn ra tự nhiên, theo lời kể nhân vật bức tranh
thiên nhiên, cuộc sống, sự kiện, biến cố từ từ hiện ra
5
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát 35 truyện ngắn trong hai tuyển tập Chuyện mùa hạ
và Lão mai
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Từ góc nhìn tự sự để nhìn nhận, lý giải những thành công trong truyện ngắn của ông
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định các phương diện chính trong nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn; khảo sát, phân tích nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu trên các phương diện: điểm nhìn, nhịp điệu, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật; bước đầu đánh giá những đóng góp của Đỗ Chu đối với truyện ngắn Việt Nam hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân loại; Phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đưa ra cái nhìn toàn diện, hệ thống về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu Mở ra một hướng tiếp cận mới, từ góc độ tự sự học lý giải sự thành công của truyện ngắn Đỗ Chu
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Nhà văn Đỗ Chu và thể loại truyện ngắn
Chương 2: Điểm nhìn và nhịp điệu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
Chương 3: Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
Trang 6Chương 1 NHÀ VĂN ĐỖ CHU VÀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN
1.1 Sự nghiệp sáng tác và quan điểm văn học của Đỗ
Chu
1.1.1 Đôi nét về nhà văn Đỗ Chu
Nhà văn Đỗ Chu tên thật là Chu Bá Bình, sinh ngày 05
tháng 02 năm 1944, tại xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc
Giang Đỗ Chu viết văn khi còn là học sinh trường THPT Hàn
Thuyên (Bắc Ninh) Năm 1963, Đỗ Chu gia nhập quân đội, là lính
cao xạ thuộc quân chủng phòng không – không quân Năm 1965,
Đỗ Chu học khoá 2 Trường bồi dưỡng viết văn Hội nhà văn Việt
Nam Năm 1971 được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Từ năm
1975, ông chuyển ngành, công tác tại Hội nhà văn Việt Nam
Với những đóng góp, cống hiến cho văn học nghệ thuật,
nhà văn vinh dự được nhận nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng
Nhà nước về Văn học nghệ thuật (2001); Giải thưởng Hội nhà văn
Việt Nam (2005); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
(2012)
1.1.2 Sự nghiệp văn học
Hơn 45 năm cầm bút, Đỗ Chu đã có một sự nghiệp văn
chương đáng trân trọng, 8 tập truyện ngắn, 3 tập tuỳ bút và một số
tác phẩm thuộc nhiều thể loại Một số tác phấm chính: Hương cỏ
mật (tập truyện ngắn, 1963), Phù sa (tập truyện ngắn, 1966), Trung
du (tập truyện ngắn,1967), Vòm trời quen thuộc (tập truyện ngắn,
1971) Mảnh vườn xưa hoang vắng (tập truyện ngắn, 1989), Một
loài chim trên sóng (tập truyện ngắn, 2002), Chuyện mùa hạ (tập
truyện tuyển, 2010), Lão mai (tập truyện tuyển, 2010), Những chân
trời của các anh (tuỳ bút, 1986), Tản mạn trước đèn (tuỳ bút,
2006)
Những đoạn văn trữ tình ngoại đề mỗi khi xuất hiện sẽ cung cấp thông tin về một phương diện nào đó trong suy nghĩ, quan điểm của tác giả, nhân vật… Những đoạn văn trữ tình ngoại đề đã trở thành một phần không thể thiếu để hoàn chỉnh giá trị truyện ngắn của Đỗ Chu và giúp tác phẩm ghi dấu ấn sâu sắc hơn, sống lâu hơn trong lòng độc giả
3.2.4 Ngôn ngữ địa phương, khẩu ngữ
Truyện ngắn Đỗ Chu luôn gợi lên cảm giác gần gũi, thân mật, mang hơi thở của cuộc sống Nhà văn thường dùng các từ ngữ
địa phương như thầy, u, giời, giở giói, nhổng, bi bơ, nhặng xị ngậu,
rỗ huê, nỏ mồm, hấp lìm, nói gở, con đĩ đồng đanh, cốc láo, tếch, lô phôn, chửa, động cỡn, tèng quá, mần ruộng, cái đậu ấy, tập tọng,
cờ bạc lu bù, nhai tóp tép, ba lăng nhăng, chưa nhọ mặt người…
Sử dụng các thành ngữ, ca dao, tục ngữ: Đầu cua tai đỉa,
thôi chín bỏ làm mười, mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh, cổ thắt mắt treo, khô chân gân mặt, điếc hay nghe què hay chạy, giục tốc bất đạt, rồng chầu hổ phục…Các thành ngữ, cao dao, tục ngữ được
sử dụng linh hoạt, sáng tạo và đưa vào lời nhân vật kheo léo tài tình
Có trường hợp sử dụng các thành ngữ, ca dao, tục ngữ làm nổi bật lên tính cánh, phẩm chất nhân vật như trường hợp ông thầy thuốc
trong Lão mai Hinh trong Người muôn năm trước
3.2.5 Câu văn trần thuật đa dạng
Nhà văn thưởng sử dụng những câu văn trần thuật dài, nhiều vị ngữ trong miêu tả cảnh vật, tâm trạng con người và tạo giọng điệu trữ tình đằm thắm, nhịp điệu chậm rãi, khoan thai, nhẹ nhàng Các câu văn nhịp điệu đều vừa phải diễn tả bước đi của thời gian, sự vận động khẽ khàng của cuộc sống, nhưng cũng có khi được sử dụng khi cần tự sự một nội dung nào đó một cách chậm rãi,
từ tốn, cũng có khi là những hồi ức về quá khứ…
Trang 7Ngôn ngữ trần thuật kết hợp kể, tả có tác dụng trong biểu
đạt cảnh vật thiên nhiên, sự vật, sự việc cũng như thái độ, cảm xúc
tâm trạng con người Tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mối tương
quan giữa ngôn ngữ tả, kể có sự khác nhau có khi thiên về kể, có
khi thiên về tả nhưng nhìn chung ngôn ngữ Đỗ Chu vẫn thiên về tả
3.2.3 Sử dụng trữ tình ngoại đề
Trữ tình ngoại đề là một yếu tố ngoài cốt truyện, là đoạn
văn mà tác giả hay người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tình
cảm, ý nghĩa, quan điểm của mình đối với nhân vật, cuộc sống trong
tác phẩm Những đoạn văn trữ tình ngoại đề thường mang tính biểu
cảm cao, bổ sung thông tin, hay giải thích một nội dung nào đó, góp
phần bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác phẩm, làm sáng tỏ thêm hình
tượng nhân vật
Trữ tình ngoại đề có thể là suy ngẫm của nhân vật, tác giả
về chiến tranh, đất nước, quê hương, tình cảm con người, quá khứ,
hiện tại, quan niệm sống, thân phận con người… Nghĩa (Một người
lính trở) nhìn những ngôi nhà mới mọc lên, nhìn cuộc sống đang
thay đổi từng ngày Anh thấy lòng mình phấn khởi Anh tâm niệm
và tự hứa với lòng mình sẽ làm một con người tốt, tham gia vào xây
dựng bảo vệ tổ quốc Đó là những đoạn văn thể hiện suy nghĩ của
Nhưỡng (Cánh đồng không có chân trời) về toán học, về cuộc đời
Khi chưa đi bộ đội đối với Nhưỡng toán học là tất cả, mọi thứ trên
đời đều bắt nguồn từ toán học Nhưng khi khoác lên mình chiếc ba
lô văng vật trần khắp chiến trường, anh nhận ra nhiều lĩnh vực đời
sống toán học không với tới được, toán không lý giải được tâm hồn
con người Đống (Mảnh vườn xưa hoang vắng) suy nghĩ về đổi mới,
về thời cuộc, anh không ngờ đồng tiền lại chi phối đến con người
như vậy Người ta coi đồng tiền là “đệ nhất”, tình cảm thâm sâu phụ
thuộc và sức nặng nhẹ của đồng tiền
7
Về thể loại truyện ngắn: Đỗ Chu là nhà văn có sở trường về truyện ngắn Truyện của ông mang tính chất trữ tình, giàu chất thơ; văn phong giản dị, nhẹ nhàng; nhân vật đa dạng; giọng điệu trữ tình đằm thắm; lối kể chuyện hấp dẫn thường dựa vào cảm xúc của nhân vật
Về thể loại tiểu thuyết: Năm 1973, Đỗ Chu ra mắt bạn đọc
với cuốn tiểu thuyết Đám cháy trước mặt nhưng tác phẩm này
không thực sự gây ấn tượng như ở một số truyện ngắn
Về thể loại tuỳ bút, Đỗ Chu có 3 tác phẩm, Những chân trời
của các anh (1986), Tản mạn trước đèn (2004), Thăm thẳm bóng người (2008) Tuỳ bút Đỗ Chu nội dung sâu sắc, văn phong nhẹ
nhàng, đằm thắm
1.1.3 Quan điểm về văn học của Đỗ Chu
Đỗ Chu là nhà văn luôn có ý thức trách nhiệm đối với văn chương Ông đã bày tỏ quan điểm về văn chương, về nghề văn, nhà văn… trên một số bài viết, bài phỏng vấn của các nhà báo, đồng nghiệp, nhà lý luận ở một số phương diện:
Thứ nhất: Về nghề văn, ông cho rằng, viết văn là một kiểu
lao động đặc thù, không phải có tác phẩm được in thành sách thì trở thành nhà văn Nhà văn chỉ trở thành nhà văn khi những trang viết
là sản phẩm của lao động nghệ thuật nghiêm túc, nó chứa đựng tình cảm chân thực của người viết và phản ánh chân thành hiện thực cuộc sống
Thứ hai: Về nhà văn, nhà văn phải có vốn sống và không
ngừng học tập nâng cao vốn hiểu biết, phải đi nhiều, đọc nhiều, phải luôn đổi mới, nhà văn không đổi mới nghĩa là anh đang chết dần
Thứ ba: Về truyện ngắn, nhà văn quan niệm: “Một truyện
ngắn hay có thể làm cho người ta cười lớn hoặc ứa nước mắt”, “mỗi
Trang 8truyện ngắn trở thành một mảnh của sự phân thân”, “viết truyện
ngắn là công việc rất thiêng liêng”
1.2 Nhìn chung về hành trình truyện ngắn của Đỗ Chu
1.2.1 Khái niệm truyện ngắn và ưu thế thể loại
Cho đến nay có khá nhiều khái niệm về truyện ngắn, nổi bật
lên là quan niệm của R Pautopxki; Nguyễn Kiên; Nguyễn Công
Hoan; Lê Bá Hán, Trần Đình Sử… Qua một số khái niệm ấy, chúng
ta rút một số đặc điểm chính về truyện ngắn:
Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, hàm súc, chi tiết
chọn lọc (1) Truyện ngắn thường miêu tả một khoảnh khắc, một
phút loé sáng trong cuộc đời nhân vật (2) Truyện ngắn thường tập
trung vào một chủ đề, cốt truyện thường không phức tạp (3) Truyện
ngắn có thể biểu hiện những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng
lớn (4)
Truyện ngắn là một thể loại có lịch sử lâu đời trong nền văn
học Châu Âu cũng như châu Á Từ khi ra đời cho đến nay, truyện
ngắn không ngừng vận động, phát triển và đã có diện mạo như bây
giờ Hiện nay, truyện ngắn được xem là thể loại năng động, luôn có
sự thay đổi dưới sự tác động của điều kiện lịch sử, văn hoá, xã hội
và đáp ứng các nhu cầu thưởng thức văn chương của độc giả Trong
hiện tại và tương lai truyện ngắn sẽ tiếp tục phát triển và đạt nhiều
thành tựu rực rỡ
1.2.2 Vị trí truyện ngắn Đỗ Chu
* Truyện ngắn Đỗ Chu trước năm 1975
Những truyện ngắn ra đời trong giai đoạn đầu của sự nghiệp
thường là những truyện về tuổi thơ, học sinh, những anh lính trẻ;
phản ánh tình cảm, cảm xúc của họ đối với gia đình, quê hương, bạn
bè; giọng văn ngọt ngào… như Hương cỏ mật, Thung lũng cò,
Chiến sĩ quân bưu, Bồng chanh đỏ… Về sau, truyện chuyển sang
Giọng hài hước, bông đùa mang lại cho tác phẩm vẻ trẻ trung, tươi mới; góp phần phản ánh thế giới nội tâm, tính cách nhân vật; thể hiện tài năng, sự quan sát tinh tường cũng như khả năng xây dựng, bộc lộ suy nghĩ nhân vật của tác giả
3.2 Ngôn ngữ trần thuật
3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ trần thuật
Điểm nhìn, nhịp điệu, giọng điệu đều thể hiện qua ngôn ngữ trần thuật Thông qua ngôn ngữ trần thuật, người đọc phần nào nhận
ra phong cách nhà văn
Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu có đặc điểm riêng Nhà văn thường kết hợp ngôn ngữ tả kể, dùng từ ngữ khẩu ngữ, trữ tình ngoại đề…
3.2.2 Kết hợp ngôn ngữ tả và kể
Ngôn ngữ miêu tả là ngôn ngữ làm nổi bật đặc điểm sự vật,
sự việc, chi tiết, cảnh vật, nội tâm nhân vật Ngôn ngữ kể là ngôn ngữ dùng để thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong truyện… kể câu chuyện trong không gian, thời gian nào, chuyện quá khứ, chuyện hiện tại…
Trong miêu tả, Đỗ Chu thường kết hợp giữa ngôn ngữ tả và
kể Do đó các sự kiện, tình tiết, biến cố, nhân vật được giới thiệu, miêu tả khá rõ nét Ngôn ngữ kể làm rõ không gian thời gian, ngôn ngữ tả là nội bật lên đặc điểm cảnh vật thiên nhiên hay tâm trạng
con người như tâm trạng của Huy, Tuân (Hương cỏ mật), Hàm
(Ráng đỏ), người lính (Đường qua nhà)… Cảnh vật thiên nhiên dù
ở đâu, như thế nào đều được giới thiệu và mang vẻ đẹp trang nhã, nhẹ nhàng Ở một số trường hợp, ngôn ngữ kể, tả làm nổi bật số
phận bất hạnh nhân vật như Hoàng Trữ (Mê lộ), Đống (Mảnh vườn
xưa hoang vắng)
Trang 9Giọng điệu trữ tình trong truyện ngắn Đỗ Chu rất có thể
được bắt nguồn từ quan điểm sống, quan điểm sáng tác của nhà văn
Nhà văn luôn trân trọng và hướng tới chân thiện, mỹ, tới cội nguồn
văn hoá đạo đức truyền thống dân tộc
3.1.3 Giọng điệu chiêm nghiệm, cảm thông
Giọng điệu chiêm nghiệm, cảm thông xuất hiện khá nhiều
trong những tác phẩm sáng tác sau năm 1975 Giọng điệu này gắn
liền với những suy tư, trăn trở của nhân vật như An, Bích (Trung
Du), Triều, Chi (Chân Trời), Đống (Mảnh vườn xưa hoang vắng),
người mẹ (Mê lộ), nhân vật “tôi” (Lão mai)…
Thông qua giọng điệu trần thuật này, nhà văn đã gửi gắm
những chiêm nghiệm, suy tư về cuộc sống, các mối quan hệ, số
phận con người, văn hoá truyền thống… Nhiều vấn đề nhà văn đưa
ra những câu hỏi lớn cần lời giải đáp
3.1.4 Giọng hài hước, bông đùa
Giọng điệu này chủ yếu xuất hiện trong các sáng tác trước
năm 1975, viết về những con người tuổi mươi tám đôi mươi, học
sinh, sinh viên, thanh niên xung phong và những người lính trẻ Sự
dí dỏm, hài hước gắn với những tình huống, suy nghĩ, lời nói, hành
động của nhân vật
Giọng hài hước, bông đùa nhằm thể hiện sự tươi trẻ, hồn
nhiên, tinh thần lạc quan của nhân vật hoặc là lên án phê phán nhẹ
nhàng đến một thói hư tật xấu nào đó hay làm giảm những khó khăn
vất vả Đó là màn phóng xe đạp đầy phẫn khích của Vĩnh
“ngôn”(Tháng hai); là lời phê phán của ông chú (Mảnh vườn xưa
hoang vắng) đối với “tài năng” thổi kèn đám ma của Đống; là cách
trả lời dí dỏm của anh bộ đội về chiếc đài cũ nát (Trung du); là nỗi
ấm ức của Hoài khi bị con gái xem thường (Bồng chanh đỏ)…
9
những vấn đề mang tính thời đại Nhân vật chủ yếu là người lính, thanh niên xung phong, người dân bình thường… Giọng điệu trữ tình sâu lắng, ngôn ngữ giàu chất thơ, nhịp kể chuyện khoan thai, chậm rãi
* Truyện ngắn Đỗ Chu sau năm 1975
Sau năm 1975, truyện ngắn Đỗ Chu về cơ bản vẫn mang những đặc điểm của giai đoạn trước và có thêm nhiều điểm mới Truyện đề cấp đến nhiều vấn đề, mở ra nhiều giai tầng trong xã hội Các vấn đề được nhà văn mổ xẻ phân tích khá cụ thể và được nhìn nhận đánh giá trong nhiều chiều như vấn đề số phận người lính trở
về sau chiến tranh, các mối quan hệ con người trong đời sống xã hội Đến những năm 1990, Đỗ Chu tiếp tục khẳng định tài năng, tên
tuổi và sự đổi mới của mình bằng những truyện ngắn Một loài chim
trên sóng, Lão mai, Người của muôn năm trước, Hoạ mi hót… Các
tác phẩm có chiều sâu về tư tưởng, lẽ đời, tình đời được thể hiện sâu sắc Nhà văn đã xới lên những mảng tối của đời sống Đó là sự xuất hiện của những kẻ cơ hội, là sự tha hoá về nhân cách, đạo đức, là lối sống thực dụng Văn phong, giọng điệu phong phú, ngoài giọng điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào, đậm chất trữ tình còn có giọng điệu đậm chất đời, chiêm nghiệm, suy tư, có khi là mỉa mai, cay đắng, có khi
là sự bâng khuâng, nuối tiếc
Sự có mặt của Đỗ Chu góp phần làm cho đời sống văn học phong phú hơn Truyện ngắn Đỗ Chu góp thêm tiếng nói, một phong cách, bổ sung cho bức tranh truyện ngắn Việt Nam hiện đại đang không ngừng vận động phát triển
1.3 Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
1.3.1 Khái niệm trần thuật
Trần thuật là yếu tố quan trọng trong tác phẩm tự sự, là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học Trần
Trang 10thuật là giới thiệu, kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin sự kiện
nhân vật theo một cách nhìn, một thứ tự nhất định trong không gian,
thời gian nào đó Nghệ thuật trần thuật là phương diện cơ bản của
phương thức tự sự, nó có tác dụng soi sáng nội dung tư tưởng của
tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo độc đáo của nhà văn
1.3.2 Vai trò của trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu
Nét nổi bật trong phong cách tự sự của nhà văn là dù kể cái
gì, miêu tả cái gì cũng mang màu sắc trữ tình Người đọc luôn cảm
thấy được sống trong không khí truyện đặc thù, giàu cảm xúc và
cảm giác gần gũi, thân mật như Hương cỏ mật, Thung lũng cò,
Chân trời, Bồng chanh đỏ… và càng về sau càng định hình rõ nét ở
các tác phẩm Ráng đỏ, Người lính trở về, Tháng hai, Trung du,
Tiếng vang của rừng…
Sức hấp dẫn của nghệ thuật trần thuật của Đỗ Chu còn thể
hiện ở điểm nhìn, giọng điệu Các điểm nhìn được sử dụng linh
hoạt Tuỳ vào ý đồ nghệ thuật, đối tượng miêu tả mà nhà văn có lựa
chọn điểm nhìn phù hợp Giọng điệu trần thuật đa dạng có giọng
chậm rãi, khoan thai, giọng chiêm nghiệm cảm thông, giọng hài
hước bông đùa
Nhìn chung, nghệ thuật trần thuật đóng vai trò quan trọng
trong sáng tác của nhà văn Nó là yếu tố làm nên sức hấp dẫn của
một tác phẩm, chi phối đến nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, là cơ
sở để đánh giá tài năng của nhà văn
Chương 3 GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU 3.1 Giọng điệu trần thuật
3.1.1 Khái niệm giọng điệu
Trong nghệ thuật trần thuật, giọng điệu là một yếu tố quan trọng bên cạnh điểm nhìn Mỗi một tác phẩm, nhà văn phải tạo ra một giọng điệu riêng, nếu thiếu giọng điệu tác giả cũng như tác phẩm thiếu bản sắc
Trên cơ sở các khái niệm của các nhà nghiên cứu, lí luận về giọng điệu, chúng tôi xác định giọng điệu là thái độ, tình cảm của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, là sắc thái lời văn được tạo nên bởi các phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật thông qua cách xưng hô, dùng từ, gọi tên sử dụng các biện pháp tu từ
3.1.2 Giọng điệu trữ tình, đằm thắm
Truyện Đỗ Chu thường không có “chuyện” mà chủ yếu là cảm xúc, tình cảm của nhân vật, khi viết về mảng đề tài nào người lính, chiến tranh hay lao động sản xuất… đều có giọng trữ tình đằm thắm, lối kể chuyện nhẹ nhàng tập trung thể hiện thế giới nội tâm nhân vật
Giọng trữ tình, đằm thắm là giọng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn, có tác dụng thể hiện những sắc thái cảm xúc nhân vật hay biểu hiện vẻ đẹp nên thơ của cảnh vật thiên nhiên… Nhà văn đã diễn tả tinh tế những rung động, cảm xúc con người như giây phút
gặp gỡ của bố con Huy, Tuân (Hương cỏ mật), những ký ức tuổi thơ
êm đềm (Thung lũng cò, Bồng chanh đỏ), cảm xúc nhớ thương lưu luyến… của những người đang yêu (Ráng đỏ)… Thiên nhiên, cảnh
vật đa dạng có đầy đủ núi non, rừng biển, đồng bằng, trung du, vùng cao… Cảnh vật mang vẻ đẹp trang nhã, nên thơ, tươi sáng