1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van NGÔN NGỮ tạp văn NGUYỄN NGỌC tư QUA KHẢO sát tập NGÀY MAI của NHỮNG NGÀY MAI DOC

98 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn Ngữ Tạp Văn Nguyễn Ngọc Tư Qua Khảo Sát Tập Ngày Mai Của Những Ngày Mai
Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Trường học Đại Học
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản Năm 2023
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 493,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.M.Lotman - nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng người Nga cho rằng: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ đượcxây dựng chồng lên trên, ngôn ngữ tự nhiên với

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do để chọn đề tài

Cuộc sống ngày nay đã có nhiều thay đổi, văn học cũng có những bướcđổi thay để đáp ứng nhu cầu của người đọc Do tính chất công việc và thờigian bị hạn hẹp, độc giả hôm nay dường như có xu hướng đọc nhanh, đọcđược nhiều và muốn đọc được những tác phẩm thật sự có ý nghĩa Vì vậy màngười ta tìm đến các thể loại có khả năng đáp ứng được như truyện ngắn,truyện mini (truyện cực ngắn), tạp văn, bút ký… Những thể loại này khôngnhững có chứa nội dung ngắn, dễ hiểu… mà chúng còn được viết bởi ngônngữ, gần gũi, quen thuộc Đây là lý do đầu tiên khiến chúng tôi lựa chọn đềtài này cho luận văn tốt nghiệp đại học

Hiện nay “tạp văn” là thể loại được sử dụng khá phổ biến Chẳng hạn

hầu như báo Văn nghệ số nào ít nhất cũng đăng một tác phẩm, nhiều loại báo

không chuyên về văn chương cũng in tạp văn Văn học nước ngoài và văn họcViệt Nam có không ít tác giả có tạp văn bên cạnh các thể loại khác như tiểuthuyết, truyện ngắn, kịch… và họ cũng rất thành công Song dường nhưnhững ý kiến nhận xét, đánh giá, nghiên cứu về thể loại này còn rất ít Giảiquyết đề tài này góp phần nghiên cứu rõ hơn về thể loại tạp văn

Nguyễn Ngọc Tư là gương mặt văn xuôi đương đại tiêu biểu, sắc sảo,

đa dạng Chị tuy mới chỉ xuất hiện trong những năm đầu của thế kỷ XXInhưng đã gây được sự chú ý của độc giả bên cạnh một số cây bút nữ như:Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,Ngân Hoa,… Nguyễn Ngọc Tư đã góp một tiếng nói riêng của mình vào nềnvăn xuôi nước nhà Tác phẩm của chị ra mắt đều đặn, chứng tỏ Nguyễn Ngọc

Tư là một cây bút giàu nội lực Những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đượcđánh giá rất cao và đạt nhiều giải thưởng Khi tìm hiểu về tác phẩm củaNguyễn Ngọc Tư dù từ bất cứ phương diện nào cũng là việc làm thiết thực,

Trang 2

không chỉ giúp hiểu thêm về một tác giả, mà còn có thể hình dung phần nàodiện mạo của văn xuôi Việt Nam đương đại Chính điều này đã khiến chúngtôi đi lựa chọn và tìm hiểu về đề tài này.

Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút truyện ngắn khá xuất sắc, nhưng bêncạnh đó chị còn có những sáng tác thuộc thể loại bút ký, tạp văn và gây được

sự chú ý trong lòng độc giả thời gian gần đây Đọc văn của Nguyễn Ngọc Tư,độc giả không chỉ bị lôi cuốn bởi cái duyên kể chuyện, bởi những nhân vậtsống động, gần gũi, mà còn được tắm đẫm trong cái phong vị rất riêng củamột vùng đất Làm nên cái phong vị ấy phải kể đến cái ngôn ngữ đậm chấtNam Bộ mà Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng hết sức nhuần nhuyễn Mỗi một câybút văn chương đều có những đóng góp của mình cho nền văn học nước nhà

và đóng góp ở phương diện ngôn ngữ là vô cùng đáng quý Thêm một lý do

để chúng tôi lựa chọn đề tài NGÔN NGỮ TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

QUA KHẢO SÁT TẬP NGÀY MAI CỦA NHỮNG NGÀY MAI cho công việc

tập dượt nghiên cứu khoa học

1 Lịch sử vấn đề

Những công trình bàn về thể loại tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư chưanhiều, chưa thu hút được sự quan tâm cần thiết, đúng mức của giới nghiêncứu Những nhận xét, đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếudành cho lĩnh vực truyện ngắn và văn chính luận thì chỉ có một vài bài viết lẻ

tẻ trên báo Văn nghệ, tạp chí văn học,

Những sáng tác tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư viết về cả những gì có liênquan đến cuộc sống con người nơi đây: hình ảnh ngọn gió, hình ảnh dòngsông, bến chợ… cho ta thấy được những phong tục, thói quen sinh hoạt, đờisống kinh tế của người dân Nam Bộ; còn hình ảnh những gia đình, những sốphận con người lại cho ta hiểu sâu hơn về tính cách, lối sống, tình cảm chânthành, rộng mở và đầy nghị lực của con người nơi đây Tất cả những cái đóchẳng có gì xa lạ, chẳng có gì là khoảng cách với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 3

Sự thấu hiểu tường tận, sự quan tâm sâu sắc của tác giả đến cuộc sống và con

người Nam Bộ cho ta thấy Nguyễn Ngọc Tư là “nhà văn của xóm rau bèo”,

nhà văn của nông dân, nhà văn của những vấn đề bình thường, giản dị, gầngũi nhất

Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư là những trang viết về tình cảm, đạo đức,phong hoá mang đậm chất trữ tình, lại vừa là những trang viết phản ánh kịpthời đời sống còn nhiều khó khăn bất cập, những vấn đề mang tính chất thời

sự nóng bỏng của mảnh đất Nam Bộ nhiều nắng và gió

Cho đến nay, các ý kiến đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư khá

đa dạng, phong phú Nghien cứu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu thiên

về truyện ngắn, đặc biệt là truyện Cánh đồng bất tận, cú cỏc bài viết sau:

“Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” – Hoàng Thiờn Nga,

“Là trẻ con ” – Phan Quý Bớch, Báo Văn nghệ Trẻ số 17 (28/04/2006).

“Nỗi nhớ qua Cánh đồng bất tận” – Nguyễn Quang Sỏng, Bỏo Tuổi Trẻ

(25/11/2005)

“Tụi viết trong nỗi im lặng” – Phong Điệp phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư,

Báo Văn nghệ Trẻ số 45 (06/11/2005)

“Nguyễn Ngọc Tư – quả sầu riêng của trời” – Trần Hoàng Thiờn Kim,

Bỏo Hà Nội Mới

“Một nhịp cầu” – Huỳnh Kim, Báo Đồng Nai (24/01/2006).

“Dữ dội và nhân tình”–Phạm Xuân Nguyên, Báo Tuổi Trẻ (03/12/2005).

“Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách” – Nguyên Ngọc, viettnamnet

(02/11/2005)

Trang 4

“Nguyễn Ngọc Tư – điền đạm mà thấu đáo”, phỏng vấn nhà văn Dạ

Ngân, Bỏo Tuổi Trẻ (22/04/2004)

“Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt của tâm trạng” – Minh Thị, Báo

“Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” – Trần Phỏng

Diều, Báo Văn nghệ Quân Đội số 647 (06/2006)

“Sức lụi cuốn của ngũi bút Nguyễn Ngọc Tư” – Phan Quý Bớch, Báo

Văn nghệ Trẻ số 46 (12/11/2006)

V.v

Tạp văn cũng là một thể loại được Nguyễn Ngọc Tư sáng tác rất nhiều.Song dường như thể loại này của chị chưa thu hút được sự quan tâm cần thiết,đúng mức của giới nghiên cứu Những đánh giá chủ yếu dành cho truyệnngắn, còn tạp văn thì thi thoảng có một vài bài viết lẻ tẻ in thêm các báo vàmột số công trình nghiên cứu khoa học như:

“Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư”,, Thanh Vân, evan.com (07/02/2006).

“Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư: Nguyễn Ngọc Tư - quen mà lạ”, Hạ Anh,

Báo Thanh Niên (19/01/2006)

Trang 5

“Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư”, Trần Hữu Dũng, (lời bạt của tập tạp văn Nguyễn Ngọc Tư ).

“Đọc tạp văn “Trở gió” cuả Nguyễn Ngọc Tư”, Phú Cường, Thời Báo

Ngọc Tư qua Ngày mai của những ngày mai

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng các kiến thức lý thuyết ngôn ngữ, lý luận văn học,chúng tôi nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ ở 32 bài tạp văn của Nguyễn Ngọc

Tư được tập trung trong cuốn Ngày mai của những ngày mai do nhà xuất bản

Phụ nữ ấn hành năm (2007)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Có nhiều vấn đề đặt ra cần tìm hiểu về ngôn ngữ, nhưng trong khuôn khổluận văn này, chúng tôi xác định nhiệm vụ giới hạn khảo sát đặc điểm ngônngữ ở những nội dung cơ bản sau:

Khảo sát, phân tích các đặc điểm về từ ngữ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư.

Khảo sát, phân tích, tìm hiểu cách tổ chức câu văn trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 6

Đi sâu vào phân tích, tìm hiểu một số biện pháp tu từ nghệ thuật, dung

lượng, kết cấu và giọng điệu trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của

Nguyễn Ngọc Tư

4 Mục đích nghiên cứu

Trong giới hạn nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi mongmuốn đạt được mục đích cuối cùng là chỉ ra được những nét độc đáo, đặc sắccủa Nguyễn Ngọc Tư trong việc sử dụng ngôn ngữ, xây dựng kết cấu, giọngđiệu ở thể loại tạp văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, phân loại trên cơ sở thống kê các loại từ ngữ, cáccâu văn xuất hiện ở mỗi tác phẩm chúng tôi phân loại và quy chúng về nhữngdạng cụ thể

Phương pháp phân tích, khái quát, tổng hợp những đặc sắc trong việc sửdụng các biện pháp tu từ; cách xây dựng, tạo lập dung lượng, kết cấu và giọngđiệu mang lại những ấn tượng độc đáo cho tác phẩm

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn bao gồm có những

chương sau:

Chương 1: Tạp văn và ngôn ngữ thể loại tạp văn.

Chương 2: Từ ngữ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TẠP VĂN VÀ NGÔN NGỮ THỂ LOẠI TẠP VĂN 1.1 Khái niệm tạp văn

Tạp văn là một khái niệm chưa được minh định rõ ràng, còn lẫn lộn với

các tên gọi khác như: tản văn, bút ký, tạp bút, tạp cảm… Từ trước đế nay đã

có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà lý luận văn học, nhà ngôn ngữ học, cố gắngđưa ra những định nghĩa về tạp văn Sở dĩ như vậy vì đây là một thể loại vănhọc khá đặc biệt, tương đối tự do trong đề tài cảm xúc, linh hoạt về phươngthức biểu đạt và có khả năng dung chứa trong nó những thể loại văn học khác

Từ điển văn học, tập 2 (1984), Nxb Khoa học xã hội có tới 2 định nghĩa

về tạp văn:

Định nghĩa 1: “Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính nghệ thuật.Phạm vi của tạp văn rất rộng bao gồm tạp cảm, tùy cảm, tiểu phẩm, bình luậnngắn… đặc điểm nổi bật là ngắn gọn” [55, tr 333]

Định nghĩa 2: “Tạp văn là một bộ phận lớn của nhà văn Trung Quốc LỗTấn, viết theo một thể loại đặc biệt bao gồm những bài cảm nghĩ nhỏ, luậnvăn, tuỳ bút, thư từ, nhật ký, hồi ức…” [55, tr 333]

Từ điển thuật ngữ văn học, (2004), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội cho

rằng: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có tác dụngchiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa cótính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xãhội” [21, tr 294]

Dương Tấn Hào còn đóng góp thêm một cách hiểu nửa về tạp văn: “Theonghĩa đen thì hai chữ “tạp văn” dùng để chỉ những thể văn đoản thiên khôngđồng một thể với tập thi ca, tản văn, tiểu thuyết và bi kịch đã thịnh hành từxưa Ngày nay bản chất thứ tạp văn đã biến tướng và danh từ đó hiện giờ đã

Trang 8

chuyên chỉ lối văn đoản thiên những thiên tạp trở giàu tính cách tranh đấu”[37, tr 21].

Như vậy khái niệm tạp văn vẫn chưa được minh định rõ ràng Các cáchhiểu, các định nghĩa nêu trên về cơ bản đã gọi đúng tính chất, đặc điểm cốtyếu, khái quát nhất về thể loại này

Qua cac ý kiến nêu trên, chúng tôi có thể rút ra một số đặc điển của thểloại tạp văn như sau:

- Rất năng động, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thưởng thức của độc giảhiện đại

1.2 Ngôn ngữ thể loại tạp văn

1.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ một loại hình ngôn ngữ chung đểbiểu đạt nội dung, hình tượng của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng tác lờitruyền miệng và văn học viết) Tuy nhiên khi bàn và khái niệm ngôn ngữnghệ thuật lại có nhiều ý kiến, ở đây chúng tôi xin dẫn một số quan niệm củacác tác giả:

Theo G.V.Xtêpanốp: “Ngôn ngữ văn học là một hiện tượng nghệ thuật

do nghệ sỹ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật Văn bản nghệ thuậtphải truyền đạt một ý nghĩa mà không một phát ngôn đồng nghĩa nào có thểthay thế được”

Trang 9

M.Bakhtin cho rằng: thật là ngây thơ nếu cho rằng nghệ sỹ chỉ cần mộtngôn ngữ như ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ của ngôn ngữ học (bởi vì chỉ nhàngôn ngữ học mới nghiên cứu ngôn ngữ như là một ngôn ngữ) Thực ra, nghệ

sỹ gia công ngôn ngữ như là ngôn ngữ để biến nó thành phương tiện biểu hiệnnghệ thuật của ngôn ngữ, mà chỉ là sử dụng nó thôi

I.M.Lotman - nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng người Nga cho rằng:

“Văn học có tính nghệ thuật nói bằng ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ đượcxây dựng chồng lên trên, ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai”.Theo ông thì ngôn ngữ nghệ thuật được hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên,nhưng lại có sự khác biệt về đặc trưng: “Trong văn bản có tính nghệ thuậtngôn từ thì không chỉ có ranh giới giữa các ký hiệu là khác nhau, mà bản chấtkhái niệm ký hiệu cũng khác nhau”

Từ quan niệm của I.M.Lotman ta có thể hiều ngôn ngữ tự nhiên chính là

sự xuất phát cho sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật, những nó cótính độc lập với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai

Theo Đinh Trọng Lạc: “Ngôn ngữ phi nghệ thuật” được hiểu trùng với

“Ngôn ngữ tự nhiên”, nó bao gồm lời nói sinh hoạt hằng ngày, các loại ngônngữ thuộc phong cách hành chính, chính luận, khoa học “Ngôn ngữ phinghệ thuật có thể được xác định như là một mó chung, phổ biến nhất, tức một

hệ thống tớn hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng tín hiệu đó mà con người dùng

để việt hóa các ý nghĩa, tỡnh cảm của mỡnh, tức để diễn đạt các ý nghĩ, tỡnhcảm này trong một hỡnh thức được tri giác một cách cảm tính: Từ ngữ, phátngôn ”

Khi nói tới ngôn từ nghệ thuật là nói tới toàn bộ các đặc điểm của vănbản nghệ thuật của tác phẩm văn học như là một chỉnh thể toàn vẹn, sinhđộng Sự phân biệt” ngôn ngữ” và “lời nói” cũng được áp dụng vào lĩnh vựcnghệ thuật khi nói ngôn ngữ nghệ thuật là nói “mã ” nói tới một hệ thống các

Trang 10

phương thức trên tạo hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tínhiệu thẫm mỹ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật.

Trong văn học, nội dung và ngôn ngữ không tách rời nhau, cho nên hiệntại các nhà nghiên cứu văn học có xu hướng vận dụng tri thức ngôn ngữ học,còn ngược lại trong các nhà ngôn ngữ học đã có khuynh hướng khám phá đặcthù văn học Dù thế nào thì tính hình tượng văn học và ngôn ngữ văn học vẫnđược thừa nhận

Trong cuốn Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên) lại định nghĩa như

sau: “Ngôn từ nghệ thuật là văn, văn chương Đó là ngôn từ của tác phẩm vănhọc, của thế giới nghệ thuật, là kết quả sáng tạo của nhà văn Đó là ngôn từgiàu tính hình tượng nhất và giàu sức biểu hiện nhất, được tổ chức một cáchđặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác động củathẩm mỹ tới người đọc”

Theo Trần Đình Sử trong cuốn Giáo trình dẫn luận thi pháp học cho

rằng: “Ngôn từ nghệ thuật là một hiện tượng nghệ thuật (thể hiện ở tính hìnhtượng của ngôn từ nghệ thuật) Đồng thời ngôn từ nghệ thuật còn được thểhiện ở nhãn quan và loại hình ngôn từ văn học (sử thi, tiểu thuyết) thi phápngôn từ trên các cấp độ ngôn ngữ (từ và cụm từ, cú pháp) thi pháp ngôn từtrên cấp độ hình thức nghệ thuật (lời trực tiếp của nhân vật, lời gián tiếp)”.Trên các tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về ngôn ngữ nghệ thuật,chúng tôi xét thấy trong những quan niệm đã trình bày thì quan niệm của Trần

Đình Sử trong cuốn Giáo trình dẫn luận thi pháp học và của Phương Lựu trong cuốn Lý luận văn học là xác đáng hơn cả Và chúng tôi xem đây chính

là công cụ lý thuyết làm cơ sở để khảo sát, phân tích, đánh giá những vấn đềđặt ra trong đề tài mà chúng tôi đã nêu

1.2.2 Ngôn ngữ thể loại tạp văn

Tạp văn là thể loại chưa được minh định rõ ràng Vì vậy đi vào nghiên

cứu thể loại này, các nhà nghiên cứu không chỉ gặp bất cập khi bàn về khái

Trang 11

niệm tạp văn, mà việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nói riêng, đặctrưng thể loại tạp văn nói chung còn có những khó khăn nhất định Dựa vàođặc điểm của thể loại tạp văm, (cũng như nghệ thuật ngôn từ), cùng vớinhững thành tựu của các nhà nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ của tạp văn Xéttrên tổng thể, ngôn ngữ tạp văn cũng là ngôn ngữ nghệ thuật, vì vậy ngôn ngữtạp văn cũng mang những đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật, hay nói cáchkhác ngôn ngữ tạp văn cũng có những đặc điểm khác với ngôn ngữ phi nghệthuật (ngôn ngữ tự nhiên).

Ngôn ngữ tạp văn thuộc hệ thống tín hiệu thứ 2, còn ngôn ngữ phi nghệthuật là hệ thống tín hiệu thứ nhất, là cơ sở để cấu thành ngôn ngữ tạp văn (hệthống tín hiệu thứ hai)

Nếu như ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm nhận chức năng giao tiếp, nó đẩychức năng thẩm mĩ ra phía sau, thì ngược lai ngôn ngữ tạp văn nói riêng, ngônngữ nghệ thuật nói chung lại coi trọng chức năng thẩm mĩ Mặt khác so vớingôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ tạp văn cũng có tính hệ thống nhưng có sự khácnhau về chất

Ngôn ngữ tạp văn là ngôn ngữ nghệ thuật nên nó phải có tính truyền cảm.Tính truyền cảm của nó làm cho người đọc, người nghe có cảm giác tâm trạngbuồn, vui, yêu, thích như chính người viết (kể) Đây chính là điều làm nênđiểm mạnh của ngôn ngữ tạp văn, bởi nó tạo sự hòa đồng giao cảm, cuốn hút,gợi cảm xúc ở người tiếp nhận Tuy nhiên mức độ tạo ra sự đồng cảm, giaocảm, gợi cảm xúc ở người đọc còn tùy thuộc vào tài năng của người sáng tạo,

và không thể nổi trội bằng thể loại trữ tình (thơ)

Mang đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tạp văn cũng mangtính “Cá thể hóa” Đó là dấu ấn sáng tạo của mỗn tác giả là cái thuộc về đặcđiểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc đối với ngôn ngữ tạp văn nói riêng

và ngôn ngữ nghệ thuật nói chung Trên cơ sở là phương tiện diễn đạt chungcủa cộng đồng, ở mỗn nhà văn lại thể hiện một giọng điệu riêng, một phong

Trang 12

cách riêng đặc biệt là ở những nhà văn lớn, văn phong của họ càng độc đáo,

đa dạng

Cũng vì ngôn ngữ tạp văn là một thể loại của ngôn ngữ nghệ thuật nênngôn ngữ tạp văn còn mang tính “Cụ thể hóa” có thể nói đây là thuộc tính duynhất của ngôn ngữ tạp văn nói riêng và của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung

Sự cụ thể hóa của ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng, là di sản, tính bình diệncủa khái niện ngôn ngữ Song bình diện hình tượng, đặc điểm này giải thích

sự tác động của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tạp văn nói riêngđối với người đọc Tất nhiên để có sự cụ thể hóa ngôn từ nghệ thuật, nhà viếttạp văn nói riêng, chủ thể sáng tạo ngôn từ nói chung phải có sự lựa chọn tinhluyện, tổ chức các phương tiện ấy Cũng như các thuộc tính khác ở mỗn nhàvăn cũng đem lại những hiệu quả khác nhau về tính cụ thể hóa với nhữngphong trào khác nhau

Tính hệ thống của một yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật được xác định bởi vịtrí, vai trò của nó trong hệ thống các hình tượng của tác phẩm và phong cách

cá nhân của tác giả Còn đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật, tính hệ thống gắnvới sự khu biệt xã hội đối với ngôn ngữ

Nếu như ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình diện nghĩa, thì ngônngữ tạp văn cũng như ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa (một bìnhdiện hướng vào ngôn ngữ văn học với ý nghĩa của các từ, của các bình diệnngữ pháp; và mặt khác hướng vào hệ thống các hình tượng của tác phẩm nghệthuật)

Tạp văn là một loại hình nghệ thuật vì thế ngôn ngữ tạp văn cũng mangđặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật Tính hình tượng biểu hiện ở khảnăng truyền đạt không chỉ thông tin logic mà còn cả thông tin được tri giácmột cách cảm tính Tính hình tượng không chỉ trong từ mà còn ở các cấp độ

lớn hơn Theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học tiếng Việt thì:

“Hình tượng là một tín hiệu phức tạp, trong đó xuất hiện với tư cách là bình

Trang 13

diện nội dung, có sự biểu đạt mới không bị rút gọn lại ở cái biểu đạt trướcđó”.

Tính cấu trúc là một thuộc tính tất yếu của ngôn ngữ nghệ thuật và ngônngữ tạp văn, bởi tự bản thân văn bản đã là một cấu trúc Tính cấu trúc củangôn ngữ là tính chất mà các yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩm phải gắn bóqua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, hỗ trợ, bổ sung cho nhau

để đạt hiệu quả nhất định cho sự biểu đạt chung Điều này giải thích nguyênnhân không thể thay thế, hay lược bỏ cũng như thêm vào một từ hay một chữtrong văn bản, cũng là cơ sở để đánh giá của một chủ thể sáng tạo ngôn từ Ngôn ngữ tạp văn là một bộ phận của nghệ thuật ngôn từ cho nên bêncạnh những đặc điểm khác biệt so với ngôn ngữ nghệ thuật ở các đặc điểm:

Hệ thống tín hiệu; chức năng; tính hệ thống; bình diện nghĩa; vai trò trongngôn ngữ dân tộc Thì ngôn ngữ tạp văn luôn có đầy đủ mọi đặc điểm củangôn ngữ nghệ thuật, đó là tính hình tượng, tính cấu trúc, tính truyền cảm,tính cá thể hóa tuy nhiên ngôn ngữ tạp văn có tính đặc thù

Ngôn ngữ tạp văn thuộc ngôn ngữ tự sự, xét trong khu biệt với ngôn ngữtrữ tình và ngôn ngữ kịnh Do vậy ngôn ngữ tạp văn một mặt mang nhữngđặc điểm của ngôn ngữ thuộc thể loại tự sự nhưng nó có sự khác biệt so vớithể loại trữ tình và kịch

Ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình là ngôn ngữ thấm đẫm cảm xúc, là sảnphẩm của sự thăng hoa cảm xúc của chủ thể sáng tạo, đó là ngôn ngữ đánhdấu sự tồn tại của chủ thể trữ tình Nhưng tác phẩm trữ tình, đặc biệt là ngônngữ thơ giàu tính nhạc, biểu hiện ở vần, nhịp và sự cân đối, ngôn ngữ thườngđưa người đọc vào những tâm lí “bí ẩn”, thâm thúy, kỳ ảo, giàu chất thơ, chấttâm linh của đời sống dân giã

Nếu như ngôn ngữ của tác phẩm kịch phải có tính hành động, tính khẩungữ phù hợp với tính cách nhân vật thì ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự lại làngôn ngữ khách quan, yên tĩnh Do vậy ngôn ngữ người trần thuật thường

Trang 14

trầm tĩnh, nhịp điệu; ngôn ngữ tự sự thường khoan thai hơn chứ không nhưnhịp điệu ngôn ngữ hành động kịch là luôn luôn vận động với những mụcđích đã định Ngôn ngữ nhân vật có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua lời ngườitrần thuật, hoặc có thể chêm, tách, đan xen trong ngôn ngữ người trần thuật.

Sự khác biệt ngôn ngữ này là do đặc trưng phản ánh cuộc sống của mỗn thểloại quy định

Như vậy, khi xét ngôn ngữ tạp văn thuộc tác phẩm tự sự ta thấy đượcnhững đặc trưng khu biệt so với tác phẩm trữ tình, kịch Tuy nhiên khi sosánh, tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ tạp văn so với các thể loại trong cùng hệthống các tác phẩm tự sự ta thấy: Ở truyện ngắn, người trần thuật thường là sựchấm phá Còn ở tạp văn cũng là giọng điệu tự sự, trầm tĩn khoan thai nhưngphức tạp hơn, ngôn ngữ mang tính đa thanh đậm hơn, sâu sắc và linh hoạthơn, ngôn ngữ thường hướng và suy tư của tác giả, của nhân vật, về đờingười, về sự phân tích căn kẽ các diễn biến tình cảm Ngôn ngữ tạp văn sửdụng mọi loại lời nói của ngôn ngữ đời sống, phá vỡ khoảng cách lời trongvăn học và ngoài văn học, tạo nên ngôn ngữ đối thoại giữa các giọng khácnhau

Tuy nhiên khi chỉ ra những đặc trưng khu biệt này cũng chỉ có tính chấttương đối mà thôi, bởi lẽ mỗn thể loại xét về đặc điểm ngôn ngữ không thể có

sự phân biệt rạch ròi, nó vừa có nhược điểm, vừa có ưu điểm của thể loại rađời trước và tồn tại cùng nó Mặt khác giữa các thể loại luôn có sự kế thừa,giao thoa với nhau, nó tạo nên nét cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Tuy vậy ởkhóa luận này, chúng tôi bám vào tính đặc thù của ngôn ngữ tạp văn để triểnkhai đề tài

Trang 15

1.3 Nguyễn Ngọc Tư và tạp văn Ngày mai của những ngày mai

1.3.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn Nam Bộ với tuổi đời còn rất trẻ Chị sinhnăm 1976 Quê quán tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Chịsống gần ba má và anh chị

Ba truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư đều viết về tình bạn ở

đồng quê đã được cha đem gửi ở tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau Cả ba tác

phẩm đều được đăng báo Thế là ban ngày chị làm việc hăng say, tối về cũngsay sưa viêt

Hiện nay chị làm việc tại Hội Văn học nghệ thuật Cà Mau, đồng thời làmột đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau

Năm 2006, Nguyễn Ngọc Tư đã được kết nạp vào Hội Nhà văn ViệtNam

1.3.2 Vị trí tạp văn Ngày mai của những ngày mai trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ra mắt đều đặn, chứng tỏ chị là cây bútgiàu nội lực, những tác phẩm mà Nguyễn Ngọc Tư cho ra mắt bạn đọc như:

Ngọn đèn không tắt (tập truyện - Nxb Trẻ 2000); Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi – Nxb Trẻ 2001); Biển người mênh mông (tập truyện - Nxb Kim Đồng 2003); Giao Thừa (tập truyện – Nxb Trẻ 2003); Nước chảy mây trôi (tập truyện và ký - Nxb Văn nghệ Tp.HCM 2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện - Nxb Văn hóa Sài Gòn 2005); Cánh đồng bất tận - những truyện hay và mới nhất (tập truyện - Nxb Trẻ 2006); Sống chậm thời @ (in chung với Lê Thiếu Nhơn), Nxb Trẻ 2006; Ngày mai của những ngày mai (tạp văn - Nxb Phụ nữ 2007); Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ 2008… Một tác giả

mới chỉ xuất hiện không lâu, một tác giả với khoảng thời gian sáng tác mườinăm như vậy nhưng lại cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ, lại lànhững tác phẩm mang dấu ấn sâu sắc trong dư luận văn học cả nước Điều

Trang 16

này chứng tỏ chị là một nhà văn có sức viết tốt và rất tài năng Tác phẩm củachị đã đạt được nhiều giải thưởng cao quý như: giải nhất cuộc vận động sáng

tác Văn học tuổi 20 lần 2 với tác phẩm Ngọn đèn không tắt năm 2000; giải B Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện Ngọn đèn không tăt 2001; tặng thưởng

-dành cho tác giả trẻ - Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ

thuật Việt Nam - tập truyện Ngọn đèn không tắt năm 2000; giải nhất Hội Nhà văn Việt Nam cho truyện Cánh đồng bất tận năm 2006; một trong “Mười

gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003” do Trung ương Đoàn trao tặng

Như vậy, sáng tác chủ yếu của Nguyễn Ngọc Tư là ở thể loại truyệnngắn, càng về sau thì Nguyễn Ngọc Tư lại càng chuyển sang sáng tác theo thểloại mới như: phóng sự, bút ký, tạp cảm, tạp bút, tạp văn Dạo này truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư ít thấy xuất hiện trên văn đàn Điều ấy cũng khá dễhiểu, bởi mấy năm trước, những truyện ngắn truyện dài của chị đã được đưavào “tầm ngắm” của chính quyền địa phương Dù bây giờ chuyện ấy cũng đãnguôi quên dần, nhưng rõ ràng đã có một vết sẹo trong tim người cầm bút màphải khó lắm mới hết được Nhưng Nguyễn Ngọc Tư vẫn âm thầm viết, chịcần mẫn viết tạp bút gửi đăng báo vừa để nuôi dưỡng cảm xúc văn chương,vừa để có tiền nuôi con Những bài viết ấy, đã xuất hiện trong 3 cuốn tạp

bút, và Ngày mai của những ngày mai là cuốn sách thứ 4 Cuốn sách gồm 32

bài tạp văn, đọc một thoáng là hết, nhưng dư vị thì có thể ngân nga trong lòngcho tới tận ngày mai của những ngày mai

Tiểu kết chương 1

Như vậy, khi bàn về khái niệm tạp văn đã có rất nhiều quan điểm khácnhau Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng dù quan niệm “Tạp văn” thế nào đichăng nữa thì ngôn ngữ tạp văn cũng là một loại hình quan trọng trong ngônngữ nghệ thuật Đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ ta dễ dàng nhận thấyđược cái hình thức cũng như nội dung tác phẩm, từ đó nhận thấy được phongcách của một nhà văn Có thể khẳng định Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút đặc

Trang 17

sắc của văn xuôi đương đại Việt Nam Với tạp văn Ngày mai của những ngày mai tác giả đã đưa đến cho bạn đọc Việt Nam một cái nhìn mới, một cách tiếp cận văn học mới Tạp văn Ngày mai của những ngày mai như một trò chơi về

ngôn ngữ, nó dẫn người đọc vào những trò chơi ú tim bởi cái đa dạng, phongphú về ngôn từ, câu văn, dung lượng, kết cấu và giọng điệu trong đó Chínhcái đặc sắc về ngôn ngữ, đặc sắc về nghệ thuật đó đã thúc đẩy các nhà văn,các nhà ngôn ngữ đi sâu vào tìm hiểu chúng

Trang 18

Chương 2

TỪ NGỮ TRONG TẠP VĂN NGÀY MAI CỦA NHỮNG NGÀY MAI

2.1 Nhìn chung về việc nghiên cứu từ trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật

2.1.1 Khái niệm về từ

Chúng ta đã biết “từ” là một đơn vị hết sức quan trọng, giống như viêngạch để xây dựng nên toà lâu đài ngôn ngữ Vi vậy “từ” là đối tượng nghiêncứu, khảo sát của bốn ngành ngữ âm (mặt âm thanh của từ), Từ vựng (mặt ýnghĩa của từ), Ngữ pháp (mặt kết hợp cuả từ), và phong cách (nghệ thuật sửdụng từ) Tuy nhiên khi bàn về khái niệm “từ” lại có những quan niệm khácnhau:

Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cốđịnh, bất biến, có một ý nghĩa nhất định nằm trong một phương thức (hoặcmột kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhấtđịnh, lớn nhất trong tiếng và nhỏ nhất để cấu tạo câu”

Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏnhất, có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một

“chữ” viết rời”

Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặcmột số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do

để cấu tạo nên câu”

Tuy các nhà nghiên cứu có khái niệm khác nhau về từ nhưng hầu hết cácnhà việt ngữ khi định nghĩa về từ đều thống nhất ở một số điểm chính: âmthanh, ý nghĩa, cấu tạo, và có khả năng hoạt động tự do, ở khoá luận nàychúng tôi đi theo hướng định nghĩa về “từ” của Đỗ Thị Kim Liên

Như vậy, khi nói về “từ” là nói đến các đặc điểm sau:

1 Từ là một ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết

Trang 19

2 Từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất.

3 Từ có cấu tạo hoàn chỉnh

4 Từ có khả năng vận dụng để tạo câu

2.1.2 Việc nghiên cứu từ trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Muốn hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ bản

chất thẩm mĩ của ngôn từ trong tác phẩm văn học cũng như phong cách ngônngữ của nhà văn, nhất thiết phải gắn nó với thể loại, bởi mỗn thể loại đòi hỏimột thứ ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ của thể loại ấy Có thể áp dụng quan niệmnày để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, trước hết là ởcấp độ từ ngữ

Do những quy định của thể loại, từ ngữ trong văn bản tự sự có những đặctrưng riêng, và những đặc trưng này dễ thấy nhất khi ta đối sánh từ ngữ trongvăn xuôi tự sự với từ ngữ trong thơ

Từ ngữ trong thơ – xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy – không phải làthứ sản phẩm gì xa lạ Đó vẫn là những từ ngữ của đời sống, được lấy ra tưcái vốn từ ngữ toàn dân Những từ ngữ ấy đã có nghĩa xác định, và đó là tấm

“giấy thông hành” để chúng luân chuyển, tồn tại trong các ngữ cảnh khácnhau với những người sử dụng khác nhau Trong sáng tạo văn học, cách thức

tổ chức quyết định sự lựa chọn vật liệu Từ ngữ trong thơ thường được lựachọn dưới nhiều áp lực: cảm hứng, cá tính sáng tạo, thể thơ, âm luật Thơcàng chặt chẽ về kết cấu, thi luật thì áp lực càng nặng nề Về lý thuyết, mọi từngữ đều có thể có mặt trong thơ, nhưng thực tế, từ ngữ thơ ca nặng tính “đặctuyển” Khi người ta xem mỗi từ trong thơ đều là kết quả của viêc đãi lọc từ

“hàng tấn quặng ngôn từ” chính là muốn nhấn mạnh tính chất ấy Một số lớp

từ rất ít có cơ may được đưa vào thơ Ngay cả thơ hiện đại vẫn chưa thoátkhỏi tình trạng này Cho nên, vốn từ cần cho thơ không phong phú bằng vốn

từ cần cho văn xuôi tự sự

Trang 20

Khác với thơ, văn xuôi tự sự có tham vọng tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm

lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó Ngôn ngữ tự sự làngôn ngữ của cuộc sống đời thường Nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái,mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ Không phải vănxuôi không cần trau chuốt, nhưng sự trau chuốt từ ngữ của một cây bút vănxuôi rất khác với sự trau chuốt của một nhà thơ Đối với người viết văn xuôi

tự sự, áp lực rõ nhất là làm sao từ ngữ phải lột tả được đối tượng một cáchchính xác nhất qua cái nhìn của anh ta

Do sự phong phú của nó, từ ngữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự vẫy gọinhiều cách tiếp cận Người nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật xem từ ngữ làmột trong những yếu tố quan trọng tạo nên giọng điệu của một tác giả Nhà từvựng học thống kê vốn từ của nhà văn, đặt chúng trong tương quan với vốn từcủa toàn dân ở một nhát cắt đồng đại để đưa ra nhận xét Nhà ngữ pháp họcthì quan tâm đến vấn đề từ loại, cách tạo từ trong tác phẩm và đối chiếu vớiđặc điểm từ loại, đặc điểm cấu tạo từ trong ngôn ngữ chung Nhà ngữ dụnghọc quan sát từ ngữ trong tác phẩm của nhà văn ở sự hành chức của nó, và cắtnghĩa sự hành chức ấy dưới ánh sáng của lý thuyết hoặc tìm kiếm những ngữliệu sống động nhằm củng cố thêm một số vấn đề lý thuyết

Qua thống kê, người ta có thể đưa ra số liệu chính xác về việc sử dụng từngữ của một cây bút Sự giàu nghèo trong việc sử dụng từ ngữ của các nhàvăn là hoàn toàn khác nhau, tùy thuộc vào học vấn, trình độ văn hóa, sự amhiểu thực tế đời sống, khả năng tích lũy ngôn ngữ của từng người Cuốicùng là phát hiện và đánh giá một cách thỏa đáng những sáng tạo độc đáo củanhà văn trong cách dùng từ ngữ Những điều cơ bản trên đây sẽ được chúng

tôi quán triệt khi tìm hiểu hệ thống từ ngữ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư.

Trang 21

2.2 Từ ngữ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai

Khi bàn về phương ngữ, đụng đến vấn đề “Khái niệm” cũng như kháiniệm về từ hay từ loại khác, “Khái niệm” phương ngữ vẫn cũn tồn tại nhiềuquan niệm khỏc nhau

Theo Hoàng Thị Chõu: “Phương ngữ là một thuật ngữ học để chỉ sự biểuhiện của ngôn ngữ toàn dân ở mọt địa phương cụ thể với những nét khác biệtcủa nó so với ngụn ngữ toàn dân hay một phương ngữ khác…” (Hoàng Thị

Châu, Tiếng Việt trờn miền đất nước, Nxb Khoa học xó hội, Hà Nội, 1984).

Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Vương Toàn nhấn mạnh đến tính hệthống của phương ngữ: “Phương ngữ là hỡnh thức ngụn ngữ có hệ thống từvựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lónh thổhay xó hội hẹp hơn là ngôn ngữ, là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp

cú nguồn gốc chung với hệ thống khỏc được coi là n (cho toàn dân tộc) (Cácngữ có người gọi là tiếng địa phương, phương ngữ) khác nhau trước hết là

cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng (Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên miền đất nước, Nxb Khoa học xó hội, Hà Nội, 1984).

Nguyễn Nhó Bản, Nguyễn Hoài Nguyờn, Hoàng Trọng Canh cú địnhnghĩa như sau: “Phương ngữ không phải là ngôn ngữ riêng, nó là biến dạngcủa ngôn ngữ văn hoá ở một địa phương cụ thể mà có hai sự đối lập: Đối lậpvới ngôn ngữ văn hoá và với các phương ngữ khác về ngữ âm, từ vựng, ngữpháp” (trong đó đối lập – nét khác biệt rừ nhất là ngữ õm)

Tuy các tác giả phát biểu không giống nhau nhưng chúng ta có thể rút ranhững điểm căn bản thống nhất về phương ngữ

Phương ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dan trên mộtvùng địa phương, có sự khác biệt ít nhiều về ngữ âm từ vựng, ngữ pháp so vớingôn ngữ toàn dân Hay nói cách khác, phương ngữ là sự thể hiện của ngônngữ dân tộc trên một vùng địa lý dõn cư nào đó có sự khác biệt so với ngônngữ toàn dân

Trang 22

2.2.1.2 Từ địa phương Nam Bộ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn Nam Bộ rất trẻ, dung dị và bản lĩnh Vốn làmột người con sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất nông thôn cũn nhiều khú khănvất vả, Nguyễn Ngọc Tư thấu hiểu cuộc sống của những người dân lao động,đặc biệt là người nông dân Văn chị giản dị tới mức ai đọc cũng có thể nghĩmỡnh viết được Tưởng như bất cứ cái gỡ tỏc giả cũng viết được, “những câuchuyện bỡnh thường về những điều bỡnh thường của những người bỡnhthường của cuộc sống quanh cô” [42] Chị tâm sự: “Viết vỡ nhiều thứ lắm,phần vỡ sự thôi thúc và để giải toả những cảm xúc dồn nén bên trong, phần

vỡ buồn quỏ, khụng biết núi chuyện cựng ai nờn tỡm cỏch trỳt vào trangviết… những cảnh đời, cảnh người bên cạnh mỡnh, những ngụn ngữ đời sốngbỡnh dị hàng ngày cứ thế ựa vào trang viết” [52]

Quả thật, đọc văn của Nguyễn Ngọc Tư tưởng chừng chị viết giản dị và

dễ dàng vô cùng Chị gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, nơi chị sinh ra, lớn lên vàbây giờ là làm việc cả ở đó cho nên những cảnh vật, thiên nhiên, con ngườinơi đây đi vào trang viết của chị thực tế và sống động lạ Cũn gỡ gần gũi thõnthương hơn hỡnh ảnh gia đỡnh cú ba, cú mỏ và anh chị em trong khụng khớ

của những ngày tết trong Khúc ba mươi Đó là những hỡnh ảnh gần gũi quen

thuộc với con người như dũng sụng, con đường, căn phũng trọ, ngụi nhà…

như trong Bên sông, Người mỏi chân chưa, ở trọ, Làm sông, Láng giềng một thủa….

Khụng chỉ vậy, hỡnh ảnh những người nông dân cực khổ, lam lũ ở nôngthôn Cà Mau hiện lên trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư cũng rất chân chấtmộc mạc, giản dị, dễ gần Nếu như ở truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đó biếtcỏch đưa vào những chi tiết lay động lũng người thỡ trong những bài tạp văncủa mỡnh, Nguyễn Ngọc Tư cũng có được sức rung cảm từ những chi tiết như

thế Đọc hết 32 bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai của chị, gấp

Trang 23

sỏch lại vẫn cũn vương vấn những hỡnh ảnh gần gũi, quen thuộc, gắn bú, thõnthương với chúng ta.

Trên thực tế ta thấy trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư đó rấtkhéo léo sử dụng những phương ngữ Nam Bộ với dụng ý tu từ rõ rệt, làm nêndấu ấn cho một phong cách Ông Trần Hữu Dũng – một giáo sư kinh tế mêvăn học nước nhà và yêu văn chương của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư đó

nhận xột về việc sử dụng phương ngữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận như

sau:

“Nguyễn Ngọc Tư – ngòi bút trẻ ấy rừ ràng đó tạo một chỗ đứng khu biệtcho mình Nhiều người cho rằng: cái độc của Nguyễn Ngọc Tư là sự chânchất mộc mạc tuôn ra từ mỗi truyện cô viết Đúng, song trước hết, cái đầu tiênlàm người đọc choáng váng (cái thích thú) là nồng độ phương ngữ miền Namtrong truyện của Nguyễn Ngọc Tư Nếu bạn là người Nam và nhất là bạn làngười xa quê hương lâu năm, thì chỉ những chữ mà Nguyễn Ngọc Tư dùngcũng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy Từ vựng của NguyễnNgọc Tư không quý phái hay độc sáng (như của Mai Ninh chẳng hạn) nhưngđối nghịch đó là một từ vựng dân dó, lấy thẳng từ cuộc sống chung quanh”.Trên đây là lời nhận xét của ông Trần Hữu Dũng về việc sử dụng phương

ngữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn ngọc Tư Không chỉ có

trong tập truyện này chị mới sử dụng phương ngữ Nam Bộ nhiều mà trongcác sáng tác khác của chị nồng độ phương ngữ Nam Bộ cũng được sử dụng

khá nhiều Và trong đó có tạp văn Ngày mai của những ngày mai.

Phương ngữ Nam Bộ được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai khá nhiều để xưng hô, để gọi tên các đồ vật, để bộc

lộ tình cảm Tuy nhiên, trong các bài khác nhau thì tỉ lệ phương ngữ cũngđược sử dụng khác nhau Có những truyện tác giả sử dụng rất ít phương ngữ,nhưng có truyện lại có số lượng phương ngữ rất lớn Điều này được thể hiệnqua bảng thống kê sau

Trang 24

Bảng 1: Số lượng từ địa phương Nam Bộ trong một số bài tạp văn trong

Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư.

Có thể nói ngôn ngữ, không khí Nam Bộ đã ăn sâu vào trong bản chất,cốt cách, tình cảm của người dân nơi đây nói chung và Nguyễn Ngọc Tư nóiriêng Môi trường sống đó ăn sâu đến nỗi có muốn gột bỏ cũng không dễ dàng

gì Nhà văn Nguyễn Ngọc tư từng tâm sự: “Nhà văn chỉ thực sự viết bằngchính thứ ngôn ngữ đã nuôi dưỡng anh ta lớn lên Tôi sinh ra ở một vùng quê,nhà tôi nằm ngay trên bờ sông, ngày nào tiếng tắc ráng, tiếng tàu máy đuôitôm rồi chợ họp trên sông cũng nhộn nhịp Tôi đã từng phải hái rau cho bà,cho mẹ đem ra chợ bán Sống trong môi trường như thế thì cố tạo cho mình

Trang 25

giọng văn rặt những ngôn ngữ “sang trọng” mà làm gì? Tôi không cố ý sửdụng nhiều những phương ngữ, từ địa phương Tôi viết như vậy vì chỉ cóngôn ngữ ấy mới giúp tôi lột tả hết được cái tình của người dân quê” [53] Cái làm người đọc “choáng váng” là nồng độ phương ngữ miền Namtrong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư Nếu bạn là người miền Nam, và nhất là nếubạn đã xa quê hương lâu năm, thì chỉ những chữ mà Nguyễn Ngọc Tư dùngcũng đủ làm bạn sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy Từ vựng của NguyễnNgọc Tư khong quý phái hay độc sáng nhưng đối nghịch, đó là một từ vựngdân dã, lấy thẳng từ cuộc sống chung quanh Đó là lối viết “Nam Bộ” mộtcách như không, chẳng cần một chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ

đi trước “Trong văn chương Nguyễn ngọc Tư, chúng ta khắp mọi phươngtrời tìm lại được cái quê hương đích thực trong tâm tưởng, những tình tự ngủquên trong lòng mình, những kỷ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ”[27]

Điều làm nên sức hấp dẫn về ngôn ngữ trong văn chương Nguyễn Ngọc

Tư nói chung, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư nói riêng không chỉ ở kho từ vựngmiền Nam dồi dào, tự nhiên mà hơn thế nữa, đó còn là lối sử dụng phươngngữ tối đa vào những câu chuyện thật “miền Nam” Đó là miền Nam của tỉnh

lẻ, của cuộc sống gia đình, của ruộng vườn, của sông, của mưa, của chợ, củatất cả những gì có liên quan, gắn bó với cuộc sống của người dân lao độngnghèo khổ nơi đây Ngôn ngữ trong văn chị là một thứ ngôn ngữ thấm đẫmvăn hóa Nam Bộ

Ông Trần Hữu Dũng đã nhận xét rất tinh tế và khẳng định tài năng, côngsức của Nguyễn Ngọc Tư trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật Việt Namnhư sau: “Tôi nghĩ không chỉ tôi là cảm nhận được cái “tính Nam Bộ” củaNguyễn Ngọc Tư, và không phải chỉ cái tính Nam Bộ của cô làm tôi quý mến,

mà trân trọng hơn nữa là cái tài thiên bẩm của cô Tôi nghĩ miền nào cũng

Trang 26

may mắn nếu có được một nhà văn thể hiện được cái “chất” của địa phươngmình như Nguyễn Ngọc Tư đã làm cho Nam Bộ” [27].

Cũng có ý kiến nhận xét rằng văn của Nguyễn Ngọc Tư chỉ là văn của

“tiểu vùng” Nam Bộ, do ngôn ngữ địa phương chi phối mà nó không thể đạttới cái tầm “quốc gia” như nhiều nhà văn Bắc Bộ khác khi họ sử dụng ngônngữ toàn dân là ngôn ngữ “chuẩn” Về vấn đề này, nhà văn Dạ Ngân nói rằng:

“Văn của Nguyễn Ngọc Tư mang đậm chất Nam Bộ: hồn hậu, hào sảng Vănhóa tiểu vùng khác nhau, sản sinh ra những tác giả khác nhau Ở Bắc Hàkhông sinh ra văn của Nguyễn Ngọc Tư được, mà ở Nam Bộ không thể sinh

ra được văn của Y Ban, Tạ Duy Anh được” [3]

Thiết nghĩ đó cũng là sự nhìn nhận toàn diện, thấu đáo vấn đề của nhàvăn Dạ Ngân đối với Nguyễn ngọc Tư nói riêng và văn học Việt Nam nóichung trong xu thế viết ngày nay Bởi ta cũng phải thừa nhận rằng trong vănhọc đương đại này, lối viết của các cây bút dường như không có khoảng cách

xa lắm với lời ăn tiếng nói hằng ngày của con người bình thường Đặc biệt thểloại tạp văn là thể loại gần với ký, nên tính chất “người thật, việc thật” trongngôn ngữ cũng được vận dụng khá linh hoạt Và chính ngôn ngữ Nam Bộđậm đặc đó đã tạo cho tạp văn Ngọc Tư có những nét độc đáo riêng, hấp dẫnriêng, vị thế riêng

Nét độc đáo và sự cuốn hút của những bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai đó là ở ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ Chính điều này đã góp

phần tô đậm màu sắc địa phương (vùng miền) cho nhân vật, cho tác phẩm.Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ để nói về những lốisống, tình cảm và con người nơi đây Đó là những con người chân chất, mộc

mạc, giàu tình cảm, hào sảng, thuỷ chung, tình nghĩa như trong Ván cờ, Láng giềng một thuở, Ở trọ, Giữa bầy đàn….Người nông dân Nam Bộ sống tình

cảm, họ hay nuối tiếc, hoài niệm về quá khứ để soi tỏ mình hơn trong hiện tại

Hâu hết các bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn

Trang 27

Ngọc Tư đều thể hiện tình cảm này Chính bởi những câu chuyện thật “miềnNam” này đã khiến cho chị phải sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp - đó làphương ngữ của vùng miền nơi đây Phương ngữ xuất hiện trong tạp văn

Ngày mai của những ngày mai ở các dạng như sau:

Dựa vào đặc điểm từ loại chúng ta có thể phân chia phương ngữ trong tạp

văn Ngày mai của những ngày mai thành 3 nhóm:

Nhóm từ xưng hô: Má, nhỏ bạn, con nhỏ, thằng nhỏ, chị Hai, anh Năm,ba,v.v

Nhóm động từ, danh từ, tính từ chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất: Thiệt,chiên, ngó, mắc, vô, xuồng, đìa, ghe,v.v

Nhóm từ tình thái: Nghen, chớ,v.v

Dựa vào số lượng âm tiết chúng ta có thể chia thành 2 nhóm:

Từ đơn tiết: Ba, má, cực, nhậu, thiệt, ngó, biểu, tánh,v.v

Từ đa tiết: Dữ lắm, hào hển, cà khịa, quá chừng, ghiền mầy quá trời, ácnhơn,v.v

Như vậy, việc khảo sát, phân tích ở trên chúng ta nhận thấy rằng NguyễnNgọc Tư không những có vốn từ địa phương phong phú, đa dạng, điều đángkhâm phục là Nguyễn Ngọc Tư đã rất am hiểu vốn từ điạ phương (phươngngữ Nam Bộ), nơi chị sống và sáng tác

2.2.2 Từ hội thoại

2.2.2.1 Khái niệm từ hội thoại

Từ hội thoại là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng trongsinh hoạt hàng ngày, nhất là trong đối thoại

(Theo Đình Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt Nxb Giáo dục 2000).

Ngôn ngữ được sử dụng trong phong cách sinh hoạt hàng ngày tồn tại ởhai dạng nói và viết mà dạng nói là chủ yếu Tồn tại duới dạng nói là nhữnglời trò chuyện, tâm sự, thăm hỏi, trao đổi, đánh giá,…Và cũng chính bởi

Trang 28

những đặc điểm của tạp văn cho nên việc sử dụng ngôn ngữ thuộc phong cáchsinh hoạt là điều đương nhiên và nó rất phù hợp.

Trong văn học, những từ hội thoại được nhà văn sử dụng như một công

cụ lợi hại nhất để miêu tả, tái tạo cuộc sống thực Nhiều khi chỉ cần điểm mộtvài từ hội thoại là tính cách nhân vật cũng hiện ra rõ nét

Theo Từ điển văn học định nghĩa: “Tạp văn là những bài văn nghị luận

có tính nghệ thuật Phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tuỳ cảm,phóng sự, tiểu phẩm, bình luận ngắn,…Đặc điểm nổi bật là ngắn gọn”

Trong tạp văn, những từ hội thoại giàu màu sắc tu từ được dùng khánhiều, nhằm diễn đạt những khái niệm phức tạp một cách rõ ràng, giản dị, dễhiểu; đồng thời bày tỏ thái độ, tình cảm một cách mạnh mẽ

2.2.2.2 Từ hội thoại trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư

Những từ hội thoại được sử dụng trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư thường chỉ về hành động nhân vật, miêu tả sự

vật, hiện tượng, chỉ tính chất, màu sắc và bày tỏ tình cảm…như:

Đoạn văn sau Nguyễn Ngọc Tư sử dụng từ hội thoại là:

“Chị buồn lâu ơi là lâu Bỗng rưng biết rằng cái món tiền mà mình vắt óc

kiếm được hôm nay dường như làm cho vài người đau nhói” (Người giàu cũng giấu, tr 123).

Trong câu 1 “Chị buồn lâu ơi là lâu” thì cụm từ “lâu ơi là lâu” đượcNguyễn Ngọc Tư sử dụng thêm vào nhằm nhấn mạnh hơn nỗi buồn của nhânvật chị Cụm từ này không phải là cụm từ thường dùng trong sáng tác vănchương mà là dùng nhiều trong giao tiếp hằng ngày Qua việc sử dụng nàychứng tỏ văn chương của Nguyễn Ngọc Tư rất gần gũi với cuộc sống hằngngày

Hay như trong đoạn văn sau trong “Đất cháy” có sử dụng từ hội thoại. Vuông mình lúc này có tôm tép gì không bác?

Trang 29

Có ôn gì đâu Chắc được chừng mấy chục ngàn Thấy rầu!

Cá ngoài đầm chắc nhiều hả bác?

Cũng cạn rồi Người đông vậy, tôm cá nào mà còn Tội, bây xuống lúcnày cực ăn – giọng ông đầy áy náy Tôi cười: “Xứ mình hồi đó cá nhiềughê…” và thấy hối hận khủng khiếp, trời ơi, mình lại nhắc chuyện xưa rồi”

(Đất cháy, tr 42).

Hay như trong đoạn văn sau, khi đọc lên cảm giác rất gần gũi với đờithường, y như là Nguyễn Ngọc Tư bê vào trong văn chương những gĩ có sẵn

từ cuộc sống vậy Những câu chuyện rất đời, rất người

“Cả đoàn người dựng thẳng lưng dậy, hăng hái bẻ tay rôm rốp, hồ hởicười ha ha Một ông lão trước đó cởi quần dài ra vì gió Lào nóng hừng hựcgiờ lúi húi mặc vào Săp tới A Tép, hẳn chỗ đó quan trọng lắm, sầm uất lắm

nên cột cây số mới thông tin liên tục như vậy chớ” (A Tép – km ký sự, tr 14) Việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai là hết sức phổ biến Nói chung, việc sử dụng từ hội thoại làm cho giọng

văn của Nguyễn Ngọc Tư thoải mái hơn, tự do phóng khoáng hơn, làm cholời nói sinh động cụ thể hơn, tạo sự gần gũi, thân mật, người đọc như đượctrực tiếp tiếp xúc với nhân vật, nghe nhân vật nói như nghe người bạn mình

nói Những từ hội thoại đó được xuất hiện nhiều trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai đặc biệt là những truyện về tình cảm, về con người và cuộc

sống thường ngày… vì vậy nó lại càng thân mật, gần gũi hơn với những aicùng lứa tuổi, cùng những câu chuyện xảy ra cùng lứa tuổi

Việc dùng từ ngữ hội thoại trong văn chương của mình góp phần tạo nênmột giọng điệu riêng, một phong cách riêng trong văn Nguyễn Ngọc Tư

2.2.3 Từ láy

2.2.3.1 Khái niệm từ láy

Khái niệm từ láy được nhiều nhà ngôn ngữ học quan niệm như sau:

Trang 30

Theo Hoàng Văn Hành thì : “Từ láy là những từ được cấu tạo bằng cáchnhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định sao cho quan hệ giữa cáctiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giátrị tượng trưng hoá”.

Đỗ Hữu Châu định nghĩa từ láy như sau: “Từ láy là những từ được tạotheo phương thức láy, đo là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hìnhthức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanhtức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi,thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng)của một hình vị hay đơn vị có nghĩa”

Như vậy, để xác định từ láy qua bề mặt hình thức, âm thanh không phải

là vấn đề khó Nhưng khi đi tìm lời đáp cho câu hỏi: Từ láy là gì? lại là vấn đềkhông đơn giản, hiện nó còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau

Về tên gọi: ở vấn đề tên gọi của từ láy hiện nay còn tồn tại một số tên gọikhác nhau như: từ láy âm, từ ngữ kép phân thức, từ lấp láy, từ trùng điệp…

Về cơ chế cấu tạo từ láy hiện nay cũng có 3 hướng ý kiến khác nhau: coiláy là phụ tố; coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá; coi láy

là ghép

Chúng ta thấy vấn đề từ láy là rất phong phú, đa dạng và không kémphần phức tạp Từ láy góp phần tạo cho các tác phẩm văn học một vẻ đẹpmuôn màu, sức sống bền bỉ của mỗi tác phẩm văn học một phần nhờ sựphong phú, đa dạng và phức tạp đó

2.2.3.2 Từ láy trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai

Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi khác nhau ở hình thức tổ chức.Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ được tổ chức một cách đặc biệt( Phan Ngọc gọi nó

là ngôn ngữ “quái đản”), mà hiệu lực nó hướng tới là tạo ra một thứ chất nhạcđặc trưng Là văn xuôi thì ngược lại, nó tạo cho ta cái cảm giác: người viết

Trang 31

lắng nghe và ghi lại một cách trung thực những lời ăn tiếng nói trong cuộcsống hàng ngày, và đó được xem là một phẩm chất nghệ thuật Trong vănxuôi, bên cạnh các tác giả viết lối văn góc cạnh, thô ráp thì cũng không ít tácgiả biết vận dụng kinh nghiệm từ nghệ thuật thơ ca để làm cho lời văn củamình ngân lên những giai điệu riêng.

Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn tạo được tính nhạc trongvăn của mình bằng việc khai thác mặt ngữ âm của từ ngữ, của cấu trúc để tạocho ngôn ngữ văn chương cvủa mình thêm giàu nhạc điệu, thêm giàu chấtthơ Một trong những biện pháp đó là việc sử dụng từ láy trong văn chươngcủa chị

“Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt Mỗi từ láy là một

“nốt nhạc” về âm thanh, chứa đựng trong mình một “bức tranh” cụ thể củacác giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khẩu giác…”

Trong những bài tạp văn của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng từ láy

với một số lượng khá lớn, chẳng hạn như Chân không: 30 từ; Buồn buồn nói chuyện… buồn chơi: 47 từ; Mờ mờ nhân ảnh: 38 từ; ở trọ: 50 từ; Làm sông:

44 từ…Từ láy trong những bài tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư vừa phong phú

về từ loại (có cả danh từ, động từ, tính từ) vừa giàu sắc thái biểu cảm Ở khóa

luận này chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm từ láy trong Ngày mai của những ngày mai trên các phương diện sau:

+ Về cấu tạo, khi tìm hiểu từ láy trong một số bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư chúng tôi có thể chia thành hai

loại: Láy hoàn toàn và láy bộ phận

Với tổng số 209 từ láy đã khảo sát được trong 5 bài tạp văn: Chân không

có 30 từ, Buồn buồn nói chuyện buồn chơi có 47 từ, Mờ mờ nhân ảnh có 38

từ, Làm sông có 44 từ, Ở trọ có 50 từ trong cuốn tạp văn Ngày mai của những ngày mai thì từ láy hoàn toàn xuất hiện là 21 lượt từ chiếm 10% Đây là một

tỷ lệ không nhiều và trong số 21 lượt từ láy hoàn toàn đó chúng tôi chỉ thấy

Trang 32

xuất hiện từ láy đôi mà không có láy ba, láy tư Và chúng tôi chia thành haidạng sau:

- Láy hoàn toàn điệp vần: Tức điệp phụ âm đầu, vần và thanh điệu

Ví dụ: Bìm bìm, buồn buồn, cười cười, nao nao, xa xa, rưng rưng,v.v

Ở dạng này ta có thể bắt gặp các kiểu kết hợp như:

“Gặp cậu lần nào cũng ngó mình, rưng rưng, com Lam của cậu cùng tuổi

với bây” (Buồn buồn nói chuyện buồn chơi, tr 23).

“Cho đến một ngày buồn buồn, Lam tìm đến cái chết” (Buồn buồn nói chuyện buồn chơi, tr 24).

“Gã đứng trong khoảng sân nhỏ chuồn chuồn bay vơ vất, nghĩ mình biếtlàm sao với giồng cải này, cây ổi này, luống hẹ kiểng này, với chốn trọ này”

(Ở trọ, tr 149).

V.v

- Láy hoàn toàn đối vần: Tức là điệp phụ âm đầu, điệp vần và đối nhau

về thanh điệu

Ví dụ: Tưởng tượng, đau đáu, dửng dưng, thui thủi,v.v

Ở kiểu láy hoàn toàn đối vần này chúng ta bắt gặp các kiểu kết hợp như:

“Chị thui thủi đi qua tuổi xuân xanh xủa mình chỉ vì còn lắm người nhưanh, chỉ nhìn chị như một anh hùng mà quên chị là phụ nữ” [tr 88]

“Gã nằm đằng này, tưởng tượng ra ngay cái cười lỏn lẻn của Năm” (Ở trọ, tr 146).

“Nhưng tôi thì chẳng còn lòng dạ nào, bởi tim nghẹn lại, đau đáu nhớ về

con bé chân không thủa trước” (Chân không, tr 8).

Cũng với tổng số 209 lượt từ láy xuất hiện trong 5 bài tạp văn trên thìchúng tôi thống kê được 188 lượt từ láy bộ phận và chiếm tỷ lệ lên đến 90%.Với số lượng từ láy bộ phận nhiều như vậy, chúng ta thấy có đầy đủ cả haidạng là láy âm đầu và láy vần

Trang 33

Từ láy phụ âm đầu được sử dụng nhiều như: Ngỡ ngàng, thân thiện, runrẩy, khẽ khàng, xanh xao, xủng xoảng, dai dẳng, xa xôi, mỏng manh, dịudàng,v.v chúng được thể hiện trong các câu như:

“Những cái buồn không nắm bắt được Mù mịt Vây bủa Không biết lối

nào mà thoát khỏi nó” (Buồn buồn nói chuyện buồn chơi, tr 25).

“Để một bữa sau đợt mưa dai dẳng, người ta ra nhìn trời, bắt gặp vạt sân

rực rỡ” (Ở trọ, tr 147).

“Bên ấy, khói đang lên, những ngọn khói ban đầu thì mảnh, khẽ khàng,

dùng dằng, sau cuộn lên day diết” (Mờ mờ nhân ảnh, tr 181).

Bên cạnh những từ láy phụ âm đầu ta cũng bắt gặp không ít từ láy vầnnhư: Lem nhem, lờ mờ, đằm thắm, tồng ngồng, bờm xờm, bảng lảng,v.v Những từ láy phụ âm đầu này được tác giả sử dụng như:

“Con nhỏ thong thả đi qua, dáng nó lớn tồng ngồng nhưng tâm hồn chưa

kịp lớn theo, chẳng chịu đằm thắm, dịu dàng gì cả” (Chân không, tr 5).

“Vài người bỗng đẹp lên một cách ngỡ ngàng vì được lược bỏ một số chitiết thừa, chẳng hạn như mặc áo chim cò, quần thì rách lai, tóc tai bờm

xờm ” (Mờ mờ nhân ảnh, tr 180).

“Chiều đó người ta thấy gã xách cái thùng tưới lọm thọm trong sân”(Ở trọ, tr 149).

+ Về kết hợp, từ láy trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai có rất

nhiều kiểu kiểu kết hợp với đủ từ loại khác nhau nhung trong đó chủ yếu nhấtvẫn là: danh từ động từ, tính từ

- Từ láy kết hợp với danh từ: Khi bàn về danh từ trong tiếng Việt, có rấtnhiều ý kiến khác nhau: Có ý kiến gạt bỏ từ loại (trong đó có danh từ); Có ýkiến thùa nhận danh từ Xu hướng thừa nhận có danh từ ngày cáng đượckhẳng định Ở khóa luận này chúng tôi đi theo hướng thừa nhận có danh từ.Theo chúng tôi, danh từ là những lớp từ có ý nghĩa khái quát về sự vật,

đó là những thực từ chỉ vật thể (người, động vật, thực vật, đồ vật), những hiện

Trang 34

tượng tự nhiên, hiện tượng xà hội và cả những khái niệm mang tính chất trừu

tượng Trong Ngày mai của những ngày mai để làm cho con người, hiện

tượng, sự vật, hiện lên sinh động, có hồn, có sự thu hút người đọc NguyễnNgọc Tư đà cho một số danh từ kết hợp với từ láy Sự kết hợp này tương đốiphổ biến với những kiểu kết hợp như:

“Trong phim có một đứa con gái tung tăng nhảy chân sáo trên con đườngnhiều hoa cỏ, hai bên đướng đâu đó người ta bày những “nỗi đau”, “niềm

vui”” (Chân không, tr 5).

“Rác xao xác bên đường cũng chẳng khác gì lá vàng đang hát khúc ca về

cội” (Mờ mờ nhân ảnh, tr 179).

“Con nhỏ đi ưa, dáng nó lớn tồng ngồng nhưng tâm hồn chưa kịp lớn

theo, chẳng chịu đằm thắm, dịu dàng gì cả” (Chân không, tr 5).

“Anh hớn hở ra hiệu chị dừng lại ” (Làm sông, tr 86).

“Những mái nhà lem nhem khói ” (Mờ mờ nhân ảnh, tr 181).

Như vậy, kiểu kết hợp danh từ, cụm danh từ với từ láy đã mang lại cho

tạp văn Ngày mai của những ngày mai một nét riêng, đạt được hiệu quả nghệ

thuật cao Với kiểu kết hợp này, người đọc cảm nhận về sắc thái, đặc điểmcon người và sự vật một cách sâu sắc

- Từ láy kết hợp vơi động từ: Động từ là những từ chỉ hoạt động Vì vậykhi cho một từ láy kết hợp với động từ hay cụm động từ, mục đích cốt yếucủa nhà văn là nhằm mang lại những sắc thái ý nghĩa cần biểu đạt cho nhữnghoạt động của nhân vật Đồng thời qua kết hợp đó, nhà văn cũng thể hiện

được ý đồ nghệ thuật của mình Trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai,

ta bắt gặp các kiểu kết hợp giữa từ láy với động từ như:

“Nhưng tôi thì chẳng còn lòng dạ nào, bởi tim nghẹn lại, đau đáu nhớ về

con bé chân không thủa trước” (Chân không, tr 8).

“Chị đang lúi húi mở dây buộc xuồng, cười xòa mắc chán” (Làm sông,

tr 85)

Trang 35

“Giờ này, chị Hai chắc đang lui cui dọn quán ” (Bên sông, tr 21).

Đọc những câu văn có sự kết hợp giữa động từ với từ láy, ta thấy được

sự sinh động của nó, sự kết hợp này nhằm mang lại sắc thái mới cho mọi hoạtđộng Những từ láy đi kèm với động từ này nhằm khắc họa rõ hơn cho hànhđộng cưa các nhân vật Đặc biệt những kết hợp này đã thể hiện được tinh thầnsáng tạo ở Nguyễn Ngọc Tư

- Từ láy kết hợp với tính từ: Tính từ là những từ chỉ tính chất, màu sắc.Khi kết hợp chúng với từ láy nhằm tạo nên sự sinh động, phong phú cho sựvật, sự việc, hiện tượng

Kiểu kết hợp này mang lại hiệu quả nghệ thuật cao, tính chất, sự vật,hiện tượng như có hồn hơn, độc đáo hơn Sự kết hợp này được thể hiện trongmột số câu văn như:

“Anh nhìn lại dòng sông qua ống kính máy ảnh và thấy cả hai – anh vàcái máy – đều bất lực, không thể chuyển tải, diễn tả, không thu gọn được cái

đẹp mênh mang, sâu thẳm này trong một vài bức hình” (Làm sông, tr 87).

“Và cái giồng cải gieo lẫn trong mấy bụi hành cũng mải miết xanh” (Ở trọ, tr 147).

“Già, chắc chắn không ai muốn, bà chủ nhà dịu lại, nhìn ra vạt sân đằng

trước đong đưa hoa cỏ chép miệng “phải ai cũng được như cô” ” (Ở trọ, tr.

Trang 36

thuật của tác giả Từ láy đã trở thành nét nổi bật, một nét phong cách trongviệc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư Đặc điểm này góp phần manglại hiệu quả nghệ thuật và sự thành công của Nguyễn Ngọc tư trên con đường

nghệ thuật Vì thế khi nói đến đặc điểm ngôn ngữ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai không thể không nhắc đến hiện tượng từ láy xuất hiện dày

đặc với sự phong phú về vốn từ, đa dạng về kiểu loại kết hợp Nó là một đặctrưng nghệ thuật trong sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư nói chung và

Ngày mai của những ngày mai nói riêng Tuy nhiên cái độc đáo trong việc sử dụng ngôn từ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai còn được thể hiện

Nguyễn Văn Tu: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đãmất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm lại một khốivững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành

tố tạo ra, có thể có tính hình tượng, cũng có thể không có Nghĩa của chúngkhác nghĩa của từ, nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” (Hoàng

Thị Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội,

1984)

Còn Đỗ Hữu Châu thì không nói riêng về thành ngữ, mà ông đặt thànhngữ trong ngữ cố định và cho rằng : “Nói ngữ cố định là nói các cụm từ cốđịnh hoá là nói chung… Bởi vậy cái quyết định để xác định ngữ cố định làtính tương đối với từ của chúng về chức năng cấu tạo, chúng ta nói ngữ cốđịnh là tính tương đối với từ không phải chỉ vì chúng có thể thay thế cho một

Trang 37

từ, ở vị trí của từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu” (Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1999)

Từ điển giải thích thuật ngữ ngon ngữ học định nghĩa: “Thành ngữ làcụm từ trong ngữ cố định, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành mộtchỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành

tố cấu tạo thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêngbiệt ở trong câu”

Ngoài ra còn rất nhiều quan niệm khác nữa về thành ngữ nhưng từ cáckhái niệm trên có thể thấy rằng: Thành ngữ là một cụm từ cố định, có kết cấuvững chắc, có chức năng định danh và mang ý nghĩa bên trong được sử dụngtương đương như từ

2.2.4.2 Thành ngữ trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư

Thành ngữ là nguồn liệu quý giá và là đối tượng nghiên cứu của nhiềungành khoa học: Forcore, sử học, dân tộc học, tâm lý học, phong tục học,ngôn ngữ học, văn học và văn hoá học

Thành ngữ có cấu trúc đơn giản, lại được diễn đạt bằng những từ ngữ,hình ảnh gần gũi với cuộc sống của con người nên nó thường dễ nhớ, dễ hiểu,

nó tránh được sự tối nghĩa Thành ngữ là sự cô đúc, sự rút gọn từ chính conngười, từ chính cuộc đời nên nó còn là triết lý về cuộc đời của ông cha ta.Trong văn của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng nhiều thành ngữ Chịrất tài tình khi để cho nhân vật sử dụng thành ngữ vào lời thọai, vào tác phẩm.Thành ngữ được vận dụng vào trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư rất linhhoạt và có sự biến hoá Tuỳ vào từng hoàn cảnh của từng nhân vật mà cácthành ngữ này đem đến những ý nghĩa, nội dung khác nhau

Trong quá trình khảo sát, thống kê, chúng tôi nhận thấy hầu hết các bài

tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai tác giả đều sử dụng thành ngữ.

Trang 38

Sau đây là bảng thống kê về một số bài tạp văn tiêu biểu trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai có sử dụng thành ngữ:

Bảng 2: Thành ngữ trong một số bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai của Nguyễn Ngọc Tư

Người giàu cũng…giấu Dậm chân dậm cẳng, Ngắc nga ngắc ngoải

Mẹ Đi qua đi lại, Bớt đen bớt đỏ, Kéo dây kéo nhợ,

Lộn gan lộn ruột

Sau khi khảo sát 5 bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai

chúng tôi thấy xuất hiện 17 thành ngữ Như vậy trung bình cứ một bài tạp văn

có tren 3 thành ngữ Có thể nói đây là tỉ lệ tương đối cao Thành ngữ được sử

dụng trong tạp văn Ngày mai của những ngày mai hết sức đa dạng và phong

phú về cấu tạo và nội dung biểu hiện

Xet về mặt cấu tạo chúng tôi thấy 16 thành ngữ trên được Nguyễn Ngọc

Tư sử dụng không giống nhau Có những thành ngữ được tác giả dùng nguyên

cả thành ngữ (nguyên gốc), nhưng có những thành ngữ tác giả chỉ sử dụng na

ná, được đảo trật tự hoặc thêm bớt một vài yếu tố nào đó so với thành ngữgốc

Dùng nguyên cả thành ngữ như: Bất di bất dịch, Thương yêu thầm nén, Hoa thơm cỏ lạ, Thân sơ thất sở,v.v Đây là loại mà tác giả sử dụng nhiều.

Ví dụ:

Trang 39

“Thích đến nao lòng, nhưng chỉ là thương yêu thầm lén, anh lấy cớ qua chơi cờ với ông già, để tranh thủ ngó mong” (Ván cờ, tr 47).

“Nhiều nơi lắm, chị ơi, tuyệt nhiên không có núi cao, hồ thẳm, không

hoa thơm cỏ lạ” (Còn gì khi vẫy chào nhau?!, tr 34).

“Những lúc nghĩ tới cái ngày anh , bởi vì tôi nghèo, tôi không gốc gác,

tôi thân sơ thất sở, tôi không xứng tái dại đi” (Ván cờ, tr 50).

Những thành ngữ được dùng na ná, được đảo trật tự hoặc được thêm bớt

một vài yếu tố nào đó như: Dậm chân dậm cẳng, Năm sông bảy núi, Lộn gan lộn ruột,v.v

Ví dụ:

“Bình thường thì tôi, một người bản địa, kiêm hướng dẫn viên bất đắc dĩ

nhìn cảnh ấy thấy lại mình đã từng đi năm sông bảy núi, rồi thì ký ức sạch trơn” (Còn gì khi vẫy chào nhau?!, tr 33).

“Bạn dậm chân dậm cẳng khi đổ bệnh bất ngờ, bồn chồn “Trời ơi, uổng tiền muốn chết, mình không dám ăn, không dám mặc, vậy mà ” (Người giàu cũng giấu, tr 119).

“Hai đứa hay giành ăn với nhau nên hục hặc suốt, nửa đêm nghe chửi bới

lộn gan lộn ruột, sáng sau thấy trở nhau trên xe đạp cười ỏn ẻn” (Mẹ, tr 72).

Xét về nội dung thể hiện, với 17 thành ngữ trong 5 bài tạp văn trên,Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện những sự kết hợp khéo léo với những dụng ýnghệ thuật khác nhau:

Thành ngữ thể hiện sự tình

Ví dụ:

“Những lúc nghĩ tới cái ngày anh từ tốn buông từng con cờ lăn lông lốc

trên đất , bởi vì tôi nghèo, tôi không gốc gác, tôi thân sơ thất sở, tôi không xứng tái dại đi” (Ván cờ, tr 50).

Trang 40

“Bình thường thì tôi, một người bản địa, kiêm hướng dẫn viên bất đắc dĩ

nhìn cảnh ấy thấy lại mình đã từng đi năm sông bảy núi, rồi thì ký ức sạch trơn” (Còn gì khi vẫy chào nhau?!, tr 33).

Thành ngữ thể hiện tính cách, hành động nhân vật

Ví dụ:

“Bạn dậm chân dậm cẳng khi đổ bệnh bất ngờ, bồn chồn “Trời ơi, uổng tiền muốn chết, mình không dám ăn, không dám mặc, vậy mà ” (Người giàu cũng giấu, tr 119).

“Hai đứa hay giành ăn với nhau nên hục hặc suốt, nửa đêm nghe chửi bới

lộn gan lộn ruột, sáng sau thấy trở nhau trên xe đạp cười ỏn ẻn” (Mẹ, tr 72).

“Tụi con nít cũng bận lắm, chạy đi chạy lại “Lấy dùm ba cây bàn chải”,

“Chặt dùm má mấy trái dừa”, , “Chạy đi mua cho má mấy bịch muối, cho

đầy hủ, nhỏ ơi”” (Khúc ba mươi, tr 82).

V.v

Như vậy chúng ta thấy Nguyễn Ngọc Tư đã đưa những thành ngữ nàyvào trong câu văn của mình một cách tự nhiên không gượng ép Trong nhữngsáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều của vănhọc dân gian, trên cơ sở của thành ngữ văn học dân gian, giữ nguyên hoặcbiến hoá để thich nghi một cách tự nhiên vào lời văn của mình tạo nên tínhchất phác của hình tượng nhân vật

Thành ngữ là những lời nói sẵn để ta tiện dung - để diễn đật một ý hoặc

cả một trạng thái gì đó cho có màu mè Vì vậy việc sử dụng nó phải biết kết

hợp nó với ngữ cảnh cụ thể Hầu hết trong các bài tạp văn trong Ngày mai của những ngày mai, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng thành ngữ với

dụng ý nghệ thuật là làm tăng tính chính xác cho lời nói, nhấn mạnh, khẳngđịnh câu nói, đồng thời đảm bảo tính khách quan cho câu chuyện

Đưa thành ngữ vào trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư có nhữngđóng góp tích cực vào sự phát triển của văn học đương đại Điều đặc biệt là

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hạ Anh (1/2006), “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư: Nguyễn Ngọc Tư- Quen mà lạ”, Báo Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư: Nguyễn Ngọc Tư-Quen mà lạ”
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1999
3. Báo Tuổi Trẻ (phỏng vấn nhà văn Dạ Ngâ), “Nguyễn Ngọc Tư – điềm đạm mà thấu đáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư – điềmđạm mà thấu đáo
4. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giong điệu trong văn xuôi hện đại”, TC Văn học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giong điệu trong văn xuôi hện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
5. Phan Huy Bích (11/2006), “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”, Báo Văn nghệ Trẻ số 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn NgọcTư
6. Lê Phú Cường (10/2005). “Đọc tạp văn Trở gió của Nguyễn Ngọc Tư”, Thời Báo Kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đọc tạp văn Trở gió của Nguyễn Ngọc Tư
7. Đỗ Hữu Châu (1973), “Khái niện “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng”, TC Ngôn ngữ số 2 tr.45-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niện “trường” và việc nghiên cứu hệthống từ vựng”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1973
8. Đỗ Hữu Châu (1990), “Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, TC Ngôn ngữ số 2, tr. 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữhọc các sự kiện văn học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1990
9. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục HàNội
Năm: 1999
10. Hoàng Thị Châu (1984), Tiếng Việt trên các miền đất nước , Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội Hà Nội
Năm: 1984
11. Trương Chính (1990), “Từ ngôn ngữ đến văn chương: dùng từ”, TC Ngôn ngữ số phụ, tr. 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ đến văn chương: dùng từ
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1990
12. Nguyễn Đức Dân, Đặng Thái Minh (1999), Thống kê ngôn ngữ học, một số ứng dụng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê ngôn ngữ học,một số ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân, Đặng Thái Minh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
13. Trần Hữu dũng (2004), “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản Miền Nam”, Diễn đàn tháng 2 (theo viet – studies.org) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản Miền Nam
Tác giả: Trần Hữu dũng
Năm: 2004
14.Trần Hữu Dũng (2005), “Có một tủ sách Nguyễn Ngọc Tư ở Mỹ”, www. viet – studies.org. Văn hoá - Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có một tủ sách Nguyễn Ngọc Tư ở Mỹ”
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2005
15.Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt–từ loại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt–từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
16. Hà Minh Đức (2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
17. Nguyễn Thiện Giáp (1995), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học vàTrung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
18. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xà hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Khoahọc xà hội Hà Nội
Năm: 2002
19. Cao Xuân Hạo (1991), Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học xà hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xàhội
Năm: 1991
20. Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, văn Việt, người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng từ địa phương Nam Bộ trong một số bài tạp văn trong - Luan van NGÔN NGỮ tạp văn NGUYỄN NGỌC tư QUA KHẢO sát tập NGÀY MAI của NHỮNG NGÀY MAI  DOC
Bảng 1 Số lượng từ địa phương Nam Bộ trong một số bài tạp văn trong (Trang 24)
Bảng 2: Thành ngữ trong một số bài tạp văn trong Ngày mai của những - Luan van NGÔN NGỮ tạp văn NGUYỄN NGỌC tư QUA KHẢO sát tập NGÀY MAI của NHỮNG NGÀY MAI  DOC
Bảng 2 Thành ngữ trong một số bài tạp văn trong Ngày mai của những (Trang 38)
Nhìn vào bảng 3, chúng ta thấy trong 5 bài tạp văn khảo sát trên của - Luan van NGÔN NGỮ tạp văn NGUYỄN NGỌC tư QUA KHẢO sát tập NGÀY MAI của NHỮNG NGÀY MAI  DOC
h ìn vào bảng 3, chúng ta thấy trong 5 bài tạp văn khảo sát trên của (Trang 48)
Bảng 4: Phân loại câu ghép - Luan van NGÔN NGỮ tạp văn NGUYỄN NGỌC tư QUA KHẢO sát tập NGÀY MAI của NHỮNG NGÀY MAI  DOC
Bảng 4 Phân loại câu ghép (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w