Một số nhận định dùng để vận dụng thêm: “ Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực” Lí luận Macxit “ Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại” Ban zắc “ Tiểu thuyết là sự thực ở
Trang 1Ngày soạn: 19 12 2022
Ngày giảng: 21 12 2022
CHUYÊN ĐỀ 1:
TỔNG HỢP NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG KỲ THI HSG
- Rèn kỹ năng phát hiện vấn đề lý luận văn học trong các đề nghị luận văn học
- Rèn kỹ năng phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học
1 Theo M Gorki, “văn học là nhân học” có nghĩa, văn học là khoa học về con người.
Trong bất kì thời đại nào con người vẫn trở thành đối tượng trung tâm của VH bởi Mác đãtừng nói: “Lấy con người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, VH có được một điểm tựa đểnhìn ra toàn thế giới”
2 Ta biết rằng,Con người trong VH là con người được nhận thức với toàn bộ tính tổnghợp, toàn vẹn và sinh động trong các mối quan hệ đời sống phong phú, phức tạp nhất Nókhác với con người sinh học, khác với con người tâm lý Con người trong VH là con ngườitính cách: cả con người cá nhân và con người xã hội, cả con người sinh lý và tâm lý; cả conngười ý thức và vô thức, Ta bắt gặp một Lão Hạc tưởng như gàn dở nhưng lại sâu sắc biếtbao; một Chí Phèo mất trí nhưng lại tỉnh táo nhất làng Vũ Đại; một anh Tràng ngật ngưỡng
“thỉnh thoảng ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch” nhưng đầy nhân hậu, yêu thương, quên sựsống đang bên bờ vực thẳm để đón nhận một con người… Tất cả điều đó khiến con ngườitrong VH trở nên vô cùng sinh động và hấp dẫn
( Truyện "Vợ nhặt" có tiền thân từ tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" Tác phẩm được viết ngay saucách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và mất bản thảo Sau hoà bình lập lại (1954) KimLân dựa vào phần cốt truyện cũ và viết lại thành truyện "Vợ nhặt" Tác phẩm được in trongtập truyện "Con chó xấu xí" Truyện tái hiện lại bức tranh nạn đói năm 1945 Qua đó, thểhiện tấm lòng cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với con người trong nạn đói Câu chuyện
kể về nhân vật Tràng là anh chàng xấu xí, thô kệch, ngờ nghệch, sống cùng mẹ ở xóm ngụ
cư, làm nghề kéo e thóc thuê Ở đó, qua mấy câu bông đùa và bốn bát bánh đúc, anh quyếtđịnh nên vợ chồng với cô thị Trên đường đưa thị về nhà, anh tỏ ra vui vẻ Về nhà, anh lóng
Trang 2ngóng khi thấy mẹ mãi chưa về Hôm sau, Tràng nhận ra sự thay đổi to lớn trong cuộc sốngkhi mọi thứ bừa bộn đều trở nên tươm tất Trong bữa ăn đầu, bát cháo cám nghẹn trong cổTràng nhưng khi nghe cô thị kể về dân quân đi phá kho thóc Nhật, lá cờ đỏ sao vàng bayphấp phới trong suy nghĩ của Tràng).
3 Điều đặc biệt, Con người trong VH có khả năng cảm nhận được những gì vô cùng tinh tế,phức tạp trong đời sống và trong thế giới tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của chính con người.Tiếng thở dài chua chát của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tự tình” của HXH được cất lên
là từ sự thấu cảm trước thân phận làm lẽ của kiếp người phụ nữ trong xhpk; Tiếng thét đớnđau của Chí Phèo cuối truyện Chí Phèo là kết quả của bao đắng cay, bao uất hận ở ngườinông dân trước cách mạng bị tước đi quyền làm người; tiếng gọi “A Phủ cho tôi theo với”của Mị trong “Vợ chồng A Phủ” là dấu chấm than chấm dứt bao năm tháng làm kiếp súc nô
để mở đường đến chân trời mới của người nông dân miền núi,…Tất cả những con người ấytrong VH là biểu hiện cao nhất cho những nỗi đau, niềm khát khao và sự mạnh mẽ của conngười trong cuộc sống Bất chợt, ta tự hỏi, nếu không có những con người trong VH ấy liệunhân loại có tiến bộ như ngày nay chăng?
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!
- Hồ Xuân Hương (chưa rõ năm sinh, năm mất) quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhưng bà chủ yếu sống ở kinh thành Thăng Long
- Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng ở gần Hồ Tây có tên là Cố Nguyệt Đường
- Bà từng đi nhiều nơi và quen biết với nhiều danh sĩ nổi tiếng (trong đó có cả Nguyễn Du)
- Cuộc đời của Hồ Xuân Hương từng trải qua nhiều cuộc tình ngang trái, thường rơi vào cảnh ngộ éo le (làm vợ lẽ)
- Các tác phẩm của bà chủ yếu bao gồm thơ Nôm và thơ chữ Hán Theo các nhà nghiên cứu, hiện nay còn khoảng 40 bài thơ được tương truyền là của Hồ Xuân Hương
- Các sáng tác của bà đa phần đều viết về phụ nữ với tiếng nói thương cảm, cũng như sự khẳng định đề cao khát vọng của họ
- Hồ Xuân Hương từng được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”
- Một số bài thơ nổi tiếng như: Bánh trôi nước, Khóc Tổng Cóc, Không chồng mà chửa, Quả mít…
- Chùm thơ "Tự tình" bộc lộ những nỗi niềm sầu tủi, cay đắng của chính nhà thơ
- Bài thơ trong SGK là bài "Tự tình II"
Trang 3- Tự tình: Tự bộc lộ tâm tư, tình cảm một cách trực tiếp Đó là lời tự bạch, tự trải lòng mìnhcủa Hồ Xuân Hương.
- Bài thơ Tự tình (II) chính là nỗi đau của riêng nhà thơ Hồ Xuân Hương hay cũng là nỗi đau đáu, bẽ bàng của một lớp phụ nữ bị chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ loi
4 Hồ Chí Minh đã từng khẳng định, đại ý, VH bao giờ cũng phải trả lời câu hỏi: Viết cho ai?Viết để làm gì? Thực chất, mục đích cuối cùng của VH là viết cho con người nhằm giúpcon người nhận thức, khám phá đời sống, khái quát những vấn đề, những quy luật cơ bảncủa đời sống Nhưng khác với các hình thái ý thức khác, tất cả những gì VH cần khái quátđều phải thông qua việc mô tả, khắc họa những nhân vật điển hình: Hình tượng Chí Phèo làđiển hình cho nỗi thống khổ của người nông dân trước CM; Hình tượng nhân vật Hộ (Đờithừa), Điền ( Trăng Sáng) là điển hình cho gương mặt của người trí thức vật vã, đớn đautrước cảnh sống thừa của chính mình trong những năm 30-45; Hình tượng nhân vật Mỵ( VCAP) là điển hình cho người nông dân miền núi từ trong đau thương đã nhận thức, đấutranh, giải phóng để đưa cuộc đời đến cánh đồng hoa,…
( Hộ là một nhà văn nghèo có lương tâm và có tài Khi chưa có vợ con “với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiểm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói
là cực khổ” Nhưng từ khi “đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn”, với một bầy con thơ
“nhiều đen, nhiều sài quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc”, thì
Hộ đã rơi vào tấn bi kịch ghê gớm, bị cái nợ áo cơm ghì sát đất! Hộ cứ luẩn quẩn mãi trong bao nỗi khổ tàm “thứ nhất con đói, thứ hai nợ đòi, thứ ba nhà dột” như dân gian đã nói Hộ vốn là một nhà văn rất có ý thức sâu sắc về sự sống Anh muốn sống đẹp, muốn
“nâng cao giá trị đời sống” của mình bằng một sự nghiệp văn chương có ích cho đời Nhưng rồi năm tháng trôi qua, cuộc đời quá phũ phàng, “kết cục chẳng làm được cái gì”, mọi ước mơ tiêu tan, Hộ dần dần trở thành một ké ‘‘vô ích", sống một “đời thừa” cay đắng.
Hộ vốn là nhà văn có tài và tự tin, từng ôm ấp “một hoài bão lớn”, một mộng đẹp văn chương Với Hộ “đói rét không có nghĩa lí gì”, hắn “khinh nhưng lo lắng tủn mủn về vật chất” Hắn say mê lí tưởng, đầu hắn “chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở” Với Hộ “nghệ thuật là tất cả” Hộ khao khát vinh quang “băn khoăn nghĩ tới một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời” Phải nói rằng cái khao khát ấy của Hộ là chính đáng, là ước mong chân chính của người có tài, có lương tâm, muốn khẳng định mình trong xã hội Hộ không muốn sống tầm thường nhạt nhẽo Khao khát của anh không phải là sự thèm khát hư danh và hám lợi của bọn tiểu nhân, phàm tục! Hay nhân vật Điền nhân vật chính trong truyện là Điền, một trí thức nghèo đang thất
nghiệp Điền ôm ấp một giấc mộng văn chương rất lớn nhưng chưa có điều kiện biến giấcmộng ấy thành hiện thực Đã vậy, cuộc sống vật chất túng quẫn hằng ngày ràng buộc, khiếncon người anh trở nên tầm thường bởi những tính toán vụn vặt, nhỏ nhoi Tuy thế, ước mơtrở thành văn sĩ nổi tiếng trong anh chưa tắt Nhân một đêm trăng sáng, sau bữa cơm raudưa đạm bạc, Điền mang ghế ra sân ngồi ngắm trăng lên Dưới ánh trăng xanh huyền ảo,mọi vật trở nên đẹp đẽ bội phần, thôi thúc mộng văn chương trong lòng Điền Anh tự nhủ
Trang 4sẽ viết ra những tác phẩm lời phải đẹp, ý phải thanh cao, khơi nguồn cho những tình cảmđầy thơ mộng Mọi người sẽ đọc văn anh, mê văn anh Các quý bà, quý cô sẽ gửi cho anhnhững bức thư tỏ tình sực nức mùi nước hoa đắt tiền và anh sẽ thành văn sĩ nổi tiếng Đôicánh kì diệu của trí tưởng tượng không biết sẽ đưa Điền bay bổng đến đầu nếu không cótiếng càu nhàu gắt gỏng của vợ anh, tiếng khóc lóc rên rỉ của con anh vì đau bụng màkhông có thuốc uống Những âm thanh trần tục ấy kéo anh trở về với thực tế phũ phàng: vợyếu, con đau, hết tiền, hết gạo: Vụt cái, trăng mật đẹp Điền cúi mặt bẽn lẽn như bị bắt quảtang làm việc xấu Anh bừng tỉnh nhận ra rằng tất cả những điều mình mới nghĩ đây thôichỉ là phù phiếm, vô vị trước thực tại này: Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trănglừa dối Tác giả mượn lời Điền để bày tỏ thái độ phủ định của mình đối với quan điểmnghệ thuật vị nghệ thuật Ông cho rằng loại văn chương mơ mộng hão huyền cũng giốngnhư ánh trăng xanh huyền ảo chứa đầy dối lừa bởi ánh trăng làm đẹp cả những cảnh thật rachỉ tầm thường, xấu xa Có biết đâu trong những căn lều nát biết bao người quằn quại,nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp người.
Như vậy, hình tượng văn học là một phương thức đặc thù trong phản ánh của văn chương.Hình tượng VH vừa mang đặc trưng cụ thể, cá biệt vừa mang tính khái quát, đa nghĩa vừaphải có tính thẩm mỹ cao Bởi Theo Bêlinxki “Cái đẹp là điều kiện ko thể thiếu của nghệthuật Nếu thiếu cái đẹp thì sẽ ko có và ko thể có nghệ thuật” Hình tượng lôi cuốn ngườiđọc trước hết phả đẹp, phải mang tính thẩm mĩ thật sự Và nó phải chứa đựng nhiều nộidung đời sống và ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Ý nghĩa mà hình tượng mang lại cho người đọcbao giờ cũng vượt ra ngoài những gì mà nó mô tả trực tiếp, vượt qua ko gian, thời gian, thờiđại,…Những hình tượng VH tiêu biểu thường “ko đáy” về ý nghĩa Nó giống như “tảngbăng trôi” chỉ có 1 phần nổi, 7 phần chìm
Tóm lại, VH luôn là 1 hình thái ý thức xh đặc biệt bởi nó hướng tới 1 đối tượng nhận thức riêng, mang nội dung nhận thức riêng và sử dụng một phương thức khám phá đời sống riêng “VH là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ, phản ánh đời sống XH vàthể hiện sự nhận thức, sáng tạo của con người” (Từ điển thuật ngữ VH)
VẤN ĐỀ 2: BẢN CHẤT CỦA VĂN CHƯƠNG ( Chú ý: đề văn nào cũng xuất phát từ bản chất văn chương)
1 Văn chương bao giờ cũng phải bắt nguồn từ cuộc sống:
Grandi từng khẳng định “ Không có nghệ thuật nào là không hiện thực” Cuộc sống lànơi bắt đầu và là nơi đi tới của văn chương Hơn bất cứ một loại hình nghệ thuật nào, vănhọc gắn chặt với hiện thực cuộc sống và hút mật ngọt từ nguồn sống dồi dào đó Ai đó đãtừng ví văn học và cuộc sống như thần Ăng Tê và Đất Mẹ Thần trở nên vô địch khi đặthai chân lên Đất Mẹ cũng như văn học chỉ cường tráng và dũng mãnh khi gắn liền vớihiện thực đời sống Đầu tiên và trên hết, văn chương đòi hỏi ở tác phẩm nghệ thuật chấthiện thực Hiện thực xã hội là mảnh đất sống của văn chương, là chất mật làm nên tínhchân thực, tính tự nhiên, tính đúng đắn, tính thực tế của tác phẩm văn học Một tác phẩm
có giá trị hiện thực bao giờ cũng giúp người ta nhận thức được tính quy luật của hiện thực
và chân lý đời sống ( Ý nghĩa của điển tích Ăng-tê và Đất Mẹ: thể hiện sự gắn kết của
Trang 5thiên nhiên, của vạn vật với đất - đất nuôi dưỡng vạn vật Hay chính cũng là biểu tượng cho tình cảm mẹ con thiêng liêng, cao quý, mẹ luôn ở bên cạnh và tiếp thêm sức mạnh cho con trên những hành trình dài đầy gian nan thử thách).
Những tác phẩm kinh điển bao giờ cũng chở đi được những tư tưởng lớn của thời đạitrên đôi cánh của hiện thực cuộc sống Cánh diều văn học dù bay cao bay xa đến đâu vẫngắn với mảnh đất cuộc sống bằng sợi dây hiện thực mỏng manh mà vô cùng bền chắc Lê
Quý Đôn từng nói: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có cảnh
núi sông kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được” chính là khẳng định vai trò của
hiện thực cuộc sống đối với thơ nói riêng và văn học nói chung Nếu văn chương tách rờikhỏi dòng chảy cuộc đời sẽ không thể vươn tới giá trị đích thực của nó là nghệ thuật vịnhân sinh được nữa Chế Lan Viên đã từng thấm thía vấn đề này:
“Tôi đóng cửa phòng văn hì hục viết Nắng trôi đi oan uổng biết bao ngày”
Văn chương của người nghệ sĩ sẽ có gì nếu nó không mang dáng dấp cuộc đời? Cóchăng chỉ là những dòng chữ rời rạc bị bẻ vụn mà thôi Song có phải người nghệ sĩ phảnánh toàn bộ những biến đổi, những sự việc của nhân tình thế thái vào tác phẩm thì tácphẩm sẽ trở thành kiệt tác? Thành tác phẩm chân chính giữa cuộc đời? Không phải nhưvậy
2 Văn chương cần phải có sự sáng tạo bởi sáng tạo là quy luật đặc thù của văn
học, là điều kiện tiên quyết của văn học Theo Tề Bạch Thạch “ nghệ thuật vừa giống vừa
không giống với cuộc đời Nếu hoàn toàn giống cuộc đời thì đó là nghệ thuật mị đời Cònnếu hoàn toàn không giống cuộc đời thì đó là nghệ thuật dối đời” Nghệ thuật thường vừa
hư vừa thực, vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa bình thường vừa phi thường Mỗi tác phẩmvăn học, mỗi nhân vật, mỗi câu chữ trong tác phẩm phải tạo được sự bất ngờ, lý thú đốivới người đọc Cùng viết về con người những năm 1930-1945 người đọc bắt gặp baodáng cấy, dáng cày nhọc nhằn, vất vả nhưng đọc Chí Phèo của Ncao người đọc bao đờivẫn dâng lên cảm xúc đau đớn, xót xa trước sự quằn quại, quẫy đạp của con người trướccách mạng khi họ buộc phải lựa chọn giữa 2 con đường: sống thì phải làm quỷ, khôngmuốn làm quỷ thì phải chết Chí Phèo đã chết giữa ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lươngthiện để giữ lấy nhân cách cho bản thân Đọc “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam người đọc lạicảm thương trước cuộc sống mỏi mòn, leo lét của hai đứa trẻ Chúng đang âm thầm tiếnđến cái “chết” ngay khi còn sống Đọc “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, độc giả chợtnhận ra “cái đẹp cứu vãn thế giới”, cái đẹp về nhân cách và tài năng của Huấn Cao đã
“cảm được tấm lòng trong thiên hạ của Quản Ngục… Rõ ràng, Nam Cao, Thạch Lam,Nguyễn Tuân,… bằng tài năng của mình đã tạo nên những khám phá riêng đầy giá trị trênnền hiện thực xã hội Các nhà văn ấy đã chứng minh cho quy luật: Nghệ thuật không chấpnhận sự lặp lại của người khác cũng như lặp lại chính bản thân mình, không chấp nhận sựsao chép đời sống bởi“ chân lý nghệ thuật chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với chân
lý đời sống”
Trang 6- Tác phẩm văn học là tấm gương soi chiếu hiện thực cuộc sống nhưng phải qualăng kính chủ quan của nhà văn Chính vì vậy, hiện thực trong tác phẩm còn thực hơnhiện thực ngoài đời sống vì nó đã được nhào nặn qua bàn tay nghệ thuật của người nghệ
sĩ, được thổi vào đó không chỉ hơi thở của thời đại mà cả sức sống tư tưởng và tâm hồnngười viết
Hiện thực đời sống không phải chỉ là những hiện tượng, những sự kiện nằm thẳng
đơ trên trang giấy mà phải hòa tan vào trong câu chữ, trở thành máu thịt của tác phẩm.Chất hiện thực làm nên sức sống cho tác phẩm và chính tài năng người nghệ sĩ đã bất tửhóa sức sống ấy
Ví dụ: cùng viết về số phận, cảnh Người nông dân trước cách mạng nhưng NgôTất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân, Nam Cao, đều có những cáchnhìn, cách khám phá khác nhau
- Ngô Tất Tố đi sâu vào phản ánh nỗi thống khổ của những người nông dân nghèo trướcnạn siêu thuế
- Nguyễn Công Hoan khai thác nạn cướp ruộng đất
- Vũ Trọng Phụng nhìn thấy nỗi khổ của người dân bởi nạn vỡ đê
- Kim Lân đau đớn trước thảm cảnh nạn đói 1945 - hậu quả của chế độ thực dân phátxít
- Nam Cao - sâu sắc và lạnh lùng khi khám phá ra con đường tha hóa về nhân hình lẫnnhân tính của người nông dân Tác phẩm của Nam Cao là tiếng chuông: hãy cứu lấy conngười
→ Nam Cao là nhà văn có cái nhìn sắc bén về hiện thực xã hội
* Trong sáng tạo văn học, nhà văn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi VH không chỉphản ánh đời sống mà còn biểu hiện thế giới quan của nhà văn: “Văn học là hình ảnh chủquan của thế giới khách quan” Tất cả những gì hiện diện trong sáng tác của nhà văndường như đều được lọc qua lăng kính chủ quan của họ
Một số nhận định dùng để vận dụng thêm:
“ Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực” ( Lí luận Macxit)
“ Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại” ( Ban zắc)
“ Tiểu thuyết là sự thực ở đời” ( Vũ Trọng Phụng)
“ Nghệ thuật là tiếng đau khổ thoát ra từ kiếp lầm than” ( Nam Cao)
* Bài tập vận dụng:
Đề 1: “Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự
thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật”
(Dẫn theo Lí luận văn học, Hà Minh Đức chủ biên, NXB Giáo
Trang 7sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật” (Dẫn theo Lí luận văn học, Hà Minh Đức chủ biên, NXB Giáo dục, tr 57)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ “cái đẹp của
sự thật đời sống” được nhà thơ Chính Hữu “khám phá một cách nghệ thuật” qua bài thơ “Đồng chí”.
*Yêu cầu chung: Biết cách tạo lập một bài nghị luận văn học về một ý kiến
bàn về văn học Văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết,không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
*Yêu cầu cụ thể:
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
Trình bày đầy đủ ba phần: Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; Kết bài khái quát được vấn đề
b Triển khai vấn đề nghị luận: Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm,
luận cứ phù hợp, thuyết phục; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng HS có thể triển khai theo những cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
Ý 1: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và trích dẫn ý kiến.
(Nếu không trích dẫn ý kiến trừ 0,25 điểm)
Ý 2: Giải thích nội dung ý kiến:
+ “Cái đẹp của văn học”: là cái đẹp nghệ thuật được sáng tạo bởi tài năng của
người nghệ sĩ được thể hiện ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
+ “Cái đẹp của sự thật đời sống”: là cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực, được kết
tinh, chắt lọc từ hiện thực
+ “Cái đẹp được khám phá một cách nghệ thuật”: cái đẹp của đời sống được
khám phá và cảm nhận ở chiều sâu tư tưởng, tình cảm và sự tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sĩ bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo
=> Ý kiến đã khẳng định cái đẹp của sáng tạo nghệ thuật trong mối quan
hệ với hiện thực đời sống và tài năng của người nghệ sĩ trong việc khám phá, sáng tạo cái đẹp
Ý 3: Phân tích, chứng minh:
a “Cái đẹp của sự thật đời sống” được khám phá, chắt lọc trong bài thơ (1,25 điểm).
* Khai thác hiện thực cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh của người lính
trong buổi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (0,5 điểm)
- Xuất thân nghèo khó (quê anh “nước mặn đồng chua”, quê tôi nghèo “đất
cày lên sỏi đá”).
- Thiếu thốn quân trang, quân bị “áo anh rách vai”, “quần tôi vài mảnh vá”,
“chân không giày”,
Trang 8* Vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, cao đẹp: (0,5 điểm)
- Chung lý tưởng của lòng yêu nước, cùng sát cánh bên nhau trong chiến
đấu:“Súng bên súng đầu sát bên đầu”;…
- Cảm thông sâu xa những tâm tư nỗi lòng của nhau “ruộng nương anh gửi
bạn thân cày”, “gian nhà không mặc kệ gió lung lay”…
- Cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính:“Đêm
rét chung chăn”, “cơn ớn lạnh, sốt run, vừng trán ướt mồ hôi”;…
* Vẻ đẹp tâm hồn người lính: (0,25 điểm)
- Tinh thần lạc quan trong khó khăn, gian khổ “miệng cười buốt giá”;…
- Tâm hồn lãng mạn, trẻ trung, yêu đời của những người nông dân mặc áo lính
“đầu súng trăng treo”;
b “Cái đẹp của sự thật đời sống” được “khám phá một cách nghệ thuật”
(0,75 điểm)
* Hình thức nghệ thuật độc đáo: (0,5 điểm)
- Thể thơ tự do với cách ngắt nhịp linh hoạt
- Hình ảnh thơ chân thực, cụ thể
- Ngôn ngữ thơ giản dị, cô đọng mà giàu sức biểu cảm
- Sử dụng thành công các biện pháp tu từ như điệp từ, nhân hóa, ẩn dụ, ; vận dụng linh hoạt, sáng tạo thành ngữ, tục ngữ, ca dao,
- Kết hợp hài hòa bút pháp hiện thực và lãng mạn
- Giọng thơ tâm tình thiết tha, sâu lắng,
* Sáng tạo trong cách xử lý đề tài: (0,25 điểm) Chính Hữu mở ra một
khuynh hướng sáng tác mới khi cảm hứng thơ nghiêng về chất hiện thực của cuộc kháng chiến để khai thác vẻ đẹp của người lính trong những cái bình dị,
bình thường làm nên sức hấp dẫn của thi phẩm và phong cách nghệ thuật riêng
độc đáo của nhà thơ
Ý 4 Đánh giá khái quát:
- Ý kiến hoàn toàn đúng đắn khi đề ra tiêu chí để đánh giá “cái đẹp” của một tác phẩm nghệ thuật chân chính Đến với “Đồng chí” là đến với hiện thực của
cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại; tình cảm đẹp đẽ, thiêng liêng của tình đồng chí, đồng đội là sức mạnh tinh thần giúp người lính vững vàng vượt qua hiện thực của cuộc chiến tranh khốc liệt; khơi gợi trong lòng thế hệ trẻ hôm nay lòng trân trọng hòa bình, ý thức trách nhiệm và tình yêu quê hương đất nước sâu sắc
- Ý kiến cũng đề ra bài học cho người sáng tạo và người tiếp nhận:
+ Đối với người sáng tạo: cần phải đi sâu vào hiện thực để khám phá và chắt
lọc cái đẹp của sự thật đời sống bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo nhằm truyền tải những nội dung tư tưởng có ý nghĩa sâu sắc
+ Đối với người đọc: để thưởng thức cái đẹp của một tác phẩm văn học cần
trau dồi năng lực thẩm mĩ, bồi đắp tâm hồn để đồng cảm và đồng sáng tạo với
Trang 9Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích chi tiết “vết thẹo” trên gương mặt ngườicha và chi tiết “cây lược ngà” mà người cha làm tặng con trong đoạn trích truyện “Chiếclược ngà” của Nguyễn Quang sáng để thấy sự “to lớn, lấp lánh” của những chi tiết đó
GỢI Ý
* Yêu cầu chung: Biết cách tạo lập một bài nghị luận văn học vè một ý kiến bàn về
văn học Văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết, không mác
lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
* Yêu cầu cụ thể:
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận.
Trình bầy đầy đủ 3 phần:
Mở bài biết dẫn dắt hợp lý và nêu được vấn đề; thân bài biết tổ chức thành nhiều
đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; kết bài khái quát
được vấn đề.
b Triển khai vấn đề cần nghị luận: Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm,
luận cứ phù hợp, có sức thuyết phục; sử dụng tốt các thao tác lập luân; biết kết hợp
giữa nêu lí lẽ và nêu dẫn chứng HS có thể triển khai theo những cách khác nhau
nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
1 Giới thiệu vấn đề nghị luận:
- Dẫn dắt vấn đề nghị luận, dẫn ý kiến giới hạn phạm vi dẫn chứng
( Nếu không trích dẫn ý kiến không cho điểm)
2 Giải thích ý kiến :
-“chi tiết “ là những tiểu tiết của tác phẩm có ý nghĩa quan trọng làm nên sự sốngcho truyện ngắn
-“Cái vặt vãnh không dễ thấy “là những vun vặt bé nhỏ
-“trở tành to lớn trước mặt mọi người “ là giá trị tư tưởng, tình cảm và tài năng sángtạo của người nghệ sĩ
Trang 10-> Ý kiến của K.Pauxtopxki đã khẳng định vai trò quan trọng của chi tiế nghệ thuậttrong văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng:chỉ là những tiểu tiết bé nhỏ nhưngmang tới những ý nghĩa lớn lao đối với người đọc
3 Chứng minh ý kiến
3.1:Giới thiệu tác giả, tác phẩm (0,5 điểm )
(Trường hợp HS làm ở phần giới thiệu vấn đề nghị luận hoặc trước phần giải thách
ý kiến vẫn cho điểm tối đa )
3.2:Phân tích, chứng minh
* Thuật dựng chi tiết : vị trí, lí do xuất hiện chi tiết (0,5 điểm )
- Chi tiết “vết thẹo”xuất hiện ba lần trong tác phẩm :Lần thứ nhất, phút đầu bé Thu
gặp ba,lần thứ hai,cuộc trò chuyện với bà ngoại;lần thứ ba,Thu nhận ra ba,hôn bakhắp, hôn cả vết thẹo
-Chi tiết “cây lược ngà”xuất hiên hai lần trong tác phẩm :lần thứ nhất, khi ông Sáu
“cầm khúc ngà”cẩn thận ,tỉ mỉ làm cây lược cho con;lần thứ hai là trước lúc hisinh,ông đã rút “cây lược ngà”nhờ bác Ba trao lại cho con gái
*Ý nghĩa “to lớn,lấp lánh trước mọi người”của chi tiết (2,25 điểm)
- Tạo nên sự hoàn chỉnh,chặt chẽ cho cốt truyện thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện (0,5 diểm)
+ “Vết thẹo”trên mặt ông Sáu là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, kết nối các tình tiếttrong truyện, tạo nên kịch tính cho tình huống truyện với nghệ thuật thắt nút, mởnút bất ngờ,hợp lý:
++ Chỉ vì “vết thẹo” “đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ”mà bé Thu không nhận
ra ba, đối xử với ba một cách lạnh lùng,cự tuyệt
++ Khi được bà ngoại giải thích về “vết thẹo” trên gương mặt ba, mối nghi ngờcủa bé Thu về ông Sáu đã được giải tỏa, khiến bé Thu nhận ra cha
++ Khi nhận ra ba,tình cảm, thái độ của em thay đổi hoàn toàn
“nó hôn tóc, hôn cổ,hôn vai và hôn luôn cả vết thẹo dài trên má ba nó nữa”
+ chi tiết “chiếc lược ngà” đã thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện:
++ Đến giây phút cuối của cuộc đời,người cha vẫn không quên gửi cây lược về chocon “anh đưa tay vào túi,móc cây lược,đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu”.Đó là
Trang 11ước nguyện của tình phụ tử,ước nguyện gìn giữ tình cha con bất diệt
- Khắc họa rõ nét vẻ đẹp của các nhân vật (1,0 điểm)
+ Chi tiết “vết thẹo” cho thấy ông Sáu là người yêu nước,dũng cảm,dám chấp nhận
hi sinh;bé Thu là cô bé ương ngạnh,có cá tính mạnh mẽ,có tình yêu thương sâusắc,mãnh liệt dành cho ba;
+ Chi tiết “cây lược ngà” thể hiện tình yêu thương,nỗi nhớ nhung sâu nặng và cảnỗi ân hận của ông Sáu:vẻ mặt “hớn hở” khi gtimf được “khúc ngà” làm cây lượccho con;sự “thận trọng,tỉ mỉ” khi làm cây lược;nhớ con “anh lấy cây lược ra ngắmnghía rồi mài lên mái tóc cho thêm bóng,thêm mượt”;mong muốn gửi trao câylược lại cho con trước lúc hi sinh,giây phút ấy “hình như chỉ có tình cha con làkhông thể chết được”;
- Thể hiện sâu sắc tư tưởng, chủ đề, làm nên giá trị hiện thực và giá trị nhân văncho tác phẩm ( 0,5đ)
+ Chiến tranh đã gây ra bao nỗi dâu thể xác và tinh thần cho con người, đã chia cắtnhiều gia đình, cướp đi nhiều sinh mạng
+ Chiến tranh có thể hủy diệt tất cả nhưng không thể hủy diệt được tình cảm củacon người, nhất là tình cha con, tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng Tình cảm giađình đã làm sâu sắc hơn tình yêu quê hương đất nước
- Thể hiện tài năng và tấm lòng của nhà văn ( 0,25đ) lựa chọn, sắp xếp các chi tiếtmột cách hợp lí, thấu hiểu và yêu thương con người tha thiết
* Lưu ý: HS có thể sắp xếp các luận cứ theo trình tự khác so với đáp án; giám khảochấm tránh đếm ý cho điểm
4 Đánh giá khái quát:
- Ý kiến của K.Pauxtopxki là hoàn toàn đúng đắn khi khẳng định chi tiết nghệ thuật
là yếu tố quan trọng làm nên sự sống của một tác phẩm văn học Giá trị của truyệnngắn sẽ tăng lên rất nhiều khi nhà văn sáng tạo ra những chi tiết nghệ thuật đắtgiá, có khả năng mở ra những ý nghĩa “ to lớn, lấp lánh trước mọi người” Với haichi tiết nghệ thuật đặc sắc trong “chiếc lược ngà” , Nguyễn quang sáng đã gópthêm một góc nhìn mới mẻ về tình cha con khi văn học chống Mĩ thời kì này khaithác những tình cảm lớn lao của thời đại nhưng không bỏ quên những tình cảm caođẹp khác của con người
Trang 12- Ý kiến cũng đề ra bài học đối với người sáng tạo và người tiếp nhận:
+ Với người sáng tạo: Không ngừng rèn luyện để nâng cao tài năng để sáng tạo ra
những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, độc đáo
+ Với người đọc: Cần có sự cảm thụ tinh tế để phát hiện, giải mã các chi tiết nghệ
thuật đặc sắc làm bừng sáng nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, để đồng sáng
tạo với nhà văn
c Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề
nghị luận
* Vận dụng:
Làm rõ sự sáng tạo của nhà văn trong các tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1975
Trang 131930-Ngày soạn: 02 01 2023
Ngày giảng: 04 01 2023
CHUYÊN ĐỀ 1:
TỔNG HỢP NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG KỲ THI HSG
- Rèn kỹ năng phát hiện vấn đề lý luận văn học trong các đề nghị luận văn học
- Rèn kỹ năng phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học
có đến 24 chức năng
Vậy, thực chất văn học có bao nhiêu chức năng? Muốn trả lời câu hỏi này thì cầnphải hiểu rõ chức năng của văn học là gì? Chức năng của văn học là khái niệm xác địnhvai trò và ý nghĩa của văn học đối với đời sống xã hội Vì vậy nên đặt văn học trong mốiquan hệ phong phú giữa con người với hiện thực đời sống Tránh hạ thấp vai trò của vănhọc, xem văn học thuần túy là công việc nhàn rỗi, là trò mua vui giải trí tầm thường
Ba chức năng chủ yếu của văn học mà tất cả đều đồng tình đó là:
Thứ nhất: Chức năng nhận thức
Văn học có chức năng khám phá những quy luật khách quan của đời sống xã hội vàđời sống tâm hồn của con người Nó có khả năng đáp ứng nhu cầu của con người muốnhiểu biết về thế giới xung quanh và chính bản thân mình Không phải ngẫu nhiên đã cóngười cho rằng “ Văn học là cuốn sách giáo khoa của đời sống” Chính cuốn sách ấy đãthể hiện một cách tinh tế và sắc sảo từng đổi thay, từng bước vận động của xã hội Nó tựanhư “chiếc chìa khoá vàng mở ra muôn cánh cửa bí ẩn, đưa con người tới ngưỡng cửamới của sự hiểu biết thế giới xung quanh”
Thứ hai: Chức năng thẩm mĩ
Trang 14Chức năng thẩm mĩ của văn chương bộc lộ ở chỗ: làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ,phát triển năng lực, thị hiếu thẩm mĩ của con người Cũng tức là, nghệ thuật làm thỏa mãnnhu cầu về lí tưởng, ước mơ, sự hoàn thiện hoàn mĩ của con người trước thế giới Nghệthuật thực hiện chức năng thẩm mĩ bằng nhiều cách Trước hết là làm thỏa mãn nhu cầuthẩm mĩ của người đọc bằng việc miêu tả và phản ánh cái đẹp trong tự nhiên và xã hội.Cái đẹp là cái khả năng đưa đến cho người ta một khoái cảm, một thích thú, một niềm xúcđộng khi con người nhìn thấy hoặc thưởng thức Văn học rèn luyện năng lực thẩm mĩ chocon người, làm cho cảm xúc con người càng tinh tế, nhạy bén hơn Nó hình thành ở conngười một nhận thức sâu sắc hơn về cái đẹp Chẳng hạn khi nói đến sen, nếu nhìn ở ngoàiđời ta chưa thấy hết cái đẹp của nó Nhưng khi nhìn nó trong nghệ thuật ta mới thấy hếtcái đẹp của nó Đẹp từ màu sắc, hương vị, hình thức, phẩm chất
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Giải thích cái đẹp trong nghệ thuật có phần duy tâm, nhưng Hégel đã khẳng định:
Ngay bây giờ chúng ta có thể khẳng định rằng cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp
của tự nhiên Nghệ thuật không chỉ miêu tả, phản ánh cái đẹp trong tự nhiên, xã hội mà
còn sáng tạo ra cái đẹp mới vốn không có trong hiện thực - tác phẩm nghệ thuật
Nghệ thuật là hình thái đặc trưng, hình thành từ những tìm tòi, khám phá của ngườinghệ sĩ về hiện thực đời sống Nghệ thuật mang đến cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về
xã hội, thể hiện những quan điểm của người nghệ sĩ, từ đó tác động mạnh mẽ đến nhậnthức, tình cảm, cảm xúc của người tiếp nhận Chính vì vậy, nghệ thuật luôn ẩn chứa sứmệnh cao cả và thiêng liêng, góp phần làm đẹp cho cuộc đời Tố Hữu đã từng phát biểu
“Nghệ thuật là câu trả lời đầy thẫm mĩ cho con người; thay đổi, cải thiện thế giới tinh thầncủa con người, nâng con người lên” Còn Nguyên Ngọc thì khẳng định “Nghệ thuật là sựvươn tới, sự hương về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người”
Văn học đem đến cho con người những cảm nhận chân thực, sâu sắc và tinh tếnhất Nghệ thuật sáng tạo trên nguyên tắc cái đẹp, vì thế ko thể thoát khỏi quy luật của cáiđẹp Văn học luôn khai thác cái đẹp ở nhiều góc độ: thiên nhiên, đất nước, con người, conngười, dân tộc Giá trị thẩm mĩ của tác phẩm ản chứa cả nội dung và hình thức nghệ thuật
Nó đem đến cho người đọc cảm nhận, rung cảm về những nét đẹp giản dị, gần gũi ở cảcuộc đời thường lẫn những nết đẹp tượng trưng, mới lạ Cách thức xây dựng ngôn từ củamỗi nhà văn, nhà thơ cũng đem lại nét đẹp cho tác phẩm Ta vẫn yêu biết bao cái sắc Huếtrong những vần thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử “Sao anh….chữ điền”
Câu thơ mở đầu hầu hết là thanh bằng, gợi âm điệu ngọt ngào của giọng người xứHuế Phải chăng đó là lời thăm hỏi, lời mời trách dịu dàng, tha thiết của người xưa đangvang trong trí tưởng tượng của thi nhân? Hay đây là lời thi nhân đang tự nhủ, tự nói vớichính mình trong giây phút nhớ thương về quá khứ, về miền đất đẹp đẽ bình yên có ngườixưa? Chẳng biết Chỉ biết rằng sau lời mời trách ấy tâm hồn đau thương và cô đơn của thi
Trang 15sĩ hồi sinh, thi sĩ đã sống trong một trời cảm xúc với bao nhiêu kỉ niệm về thôn Vĩ Cảnhđất trời xứ Huế đã hiện ra thật đẹp, rất thơ, rất thực, tràn đầy sức sống với khu vườn xanhmát đang tắm mình trong khoảnh khắc của hừng đông Ánh nắng ban mai tinh khôi, trongtrẻo như đang tỏa hương chan hòa khắp thôn Vĩ Cảnh vật gần gũi, giản dị, mộc mạc đơn
sơ như chính gương mặt người xứ Huế “lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Vẻ đẹp của con người và thiên nhiên với bao đường nét kỳ thú như vậy đã trở thành một đặc trưng cho những cảm hứng của thơ ca lãng mạn đầu thế kỷ XX
Thứ ba: Chức năng giáo dục
Văn học là nhân học
Văn chương có chức năng làm thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, quan điểm, nhậnthức của con người theo chiều hướng tiến bộ hoặc cách mạng, giúp cho con người từ chỗtán thành đến hành động theo lí tưởng nhân vật hoặc lí tưởng tác giả Hoặc bằng nhữnghình tượng nghệ thuật sinh động và hấp dẫn, tác giả giúp con người phân biệt được tốt -xấu, đúng - sai, từ đó liên hệ đến mình và xác định cho mình một thái độ một lập trường
nhất định Chẳng hạn với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã khơi dậy ở người đọc ước mơ về tự
do, công lí Hình tượng Thúy Kiều giáo dục lòng hiếu nghĩa với cha mẹ, lòng chung thủy
vợ chồng và nhân cách, phẩm giá của con người Với Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy Còn với Người mẹ của M.Gorki, Lê-nin cho rằng đây là một quyển
sách kịp thời bởi vì chính tác phẩm đã có sức mạnh cải tạo tinh thần, tư tưởng cho công
nhân Nga lúc bấy giờ Theo lời của M.Gorki, nhiều công nhân đã tham gia cách mạng
một cách vô ý thức và tự phát, và bây giờ họ đọc Người mẹ, điều đó có lợi cho chính bản thân họ.
Bên cạnh việc chuyển tải nội dung thẩm mĩ, tác phẩm nghệ thuật còn tác động đếnnhận thức của con người, đánh thức những tình cảm, cảm xúc, bản năng của con người,khơi dậy sức sống và niềm tin yêu, hi vọng vào thế giới ấy Một tác phẩm dù lớn hay nhỏđều ẩn chứa những giá trị nhận thức riêng biệt Một Xuân Diệu nồng nàn tươi trẻ vớinhững bước chân vội vàng, cuống quýt, vồ vập trong tình yêu; một Huy Cận mang mangthiên cổ sầu; một Hàn Mặc Tử yêu đời, yêu cuộc sống đến tha thiết nhưng đành “bó taynhìn thể phách và linh hồn tan rã”,…Những nhà thơ mới mỗi người 1 vẻ, 1 sắc thái nhưng
đã hòa cùng dòng chảy của văn học, mang đến những cảm nhận mới lạ, tinh tế, tác độngmạnh mẽ tới tri giác, đánh thức những bản năng khát yêu, khát sống trong mỗi con người.Còn dòng VH hiện thực lại tác động vào con người theo những hình tượng nhân vật Mộtchị Dậu giàu đức hi sinh đã kiên cường đấu tranh với kẻ thống trịđể bảo vệ gia đình; mộtChí Phèo bước ra từ những trang văn lạnh lùng nhưng ẩn chứa nhiều đớn đau của NamCao; một Xuân Tóc đỏ với bộ mặt “chó đểu” của xã hội, Tất cả đã tác động lên ngườiđọc nhận thức đầy đủ, phong phú về xã hội, từ đó khơi dậy ý thức đấu tranh giai cấp đểgiành lại quyền sống, ý thức cải tạo xã hội và ý thức về giá trị con người
Trên hành trình kiếm tìm, vươn tới nghệ thuật, mỗi người nghệ sĩ lại tìm cho mìnhmột định nghĩa, một chuẩn mực để đánh giá văn chương, nghệ thuật Có người cho rằnggiá trị cao nhất của văn chương là vì con người Có người lại quý văn chương ở sự đồng
Trang 16điệu tri âm “Thơ ca giúp ta đi từ chân trời một người đến với chân trời triệu người” Còn
có người lại coi văn chương nghệ thuật là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực màchúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi 1 thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng ngườitrong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam) Nguyên Ngọc cũng từng khẳng định “ nghệthuật là phương thức tồn tại của con người”, Tất cả những quan điểm các nhà nghệ sĩ đãgiúp cho chúng ta nhận ra văn học là một yêu cầu thiết yếu, một nhu cầu không thể thiếucủa con người Ta tự hỏi con người sẽ sống như thê nào nếu mai kia chẳng còn vănchương? Có lẽ tâm hồn con người sẽ khô cằn, chai sạn lắm bởi văn chương cho ta được làCON NGƯỜI với 2 chữ viết hoa, với đầy đủ những ý nghĩa cao đẹp “Văn chương giữcho con người mãi mãi là con người, ko sa xuống thành con vật” Văn chương nâng conngười lớn dậy, thanh lọc tâm hồn con người Bởi vậy, hành trình đến với văn chương làhành trình kiếm tìm, vươn tới “Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hương về, sự níu giữ mãimãi tính người cho con người” Xét đến cùng, hành trình của một tác phẩm văn chương làhướng con người đến con đường CHÂN_THIỆN_MĨ
=> Một tác phẩm văn chương đích thực bao giờ cũng là sự hòa quyện của 3 chức năng.Chức năng thẩm mỹ là đặc trưng của nghệ thuật Chức năng giáo dục là nhiệm vụ củanghệ thuật và chức năng nhận thức là bản chất của văn chương
Ba chức năng của văn chương có quan hệ khăng khít và xuyên thấu vào nhau đểcùng tác động vào con người Chức năng này đồng thời biểu hiện chức năng kia, tồn tạitrong chức năng kia và ngược lại
1 Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ngòi bút chỉ có thể cất lên một cách đẹp đẽ nhất, lộng lẫy
nhất khi anh đem cái lòng yêu phổ vào cảnh vật, phổ vào sự sống
- Vì sao cần phải đem lòng yêu phổ vào tác phẩm?
Mỗi tác phẩm được thai nghén, ra đời không chỉ là quá trình phản ánh, bê nguyên hiện thực đời sống vào tác phẩm mà nó còn là sự rung cảm của mỗi tác giả đối với thiên nhiên, cảnh vật, đối với mỗi mảnh đời Nếu một tác phẩm chỉ đơn thuần là ghi chép các sự việc thì chắcchắn văn học sẽ không thể bằng một chiếc máy quay phim trực quan, sinh động Điểm khác
Trang 17biệt của mỗi tác phẩm văn học đó chính là lăng kính, là tình yêu thương thế giới và con người mà mỗi tác giả gửi gắm trong tác phẩm của mình.
* Phân tích, chứng minh
a Chứng minh qua tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa
- Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm
- Trước hết tình yêu cuộc sống được bộc lộ qua khung cảnh thiên nhiên đầy chất thơ: mây cuộn tròn từng cục chui vào gầm xe, nắng vàng trải dài, rồi cả những con bò trên sườn núi,
…
- Nhưng tình yêu đó được bộc lộ rõ nhất qua nhân vật anh thanh niên: Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn nhưng anh không hề cảm thấy cô độc, vẫn tìm thấy tình yêu và niềm vui sống:
+ Biết tạo ra niềm vui cho cuộc sống của mình -> trồng hoa trước nhà
+ Biết tổ chức một cuộc sống gọn gàng, ngăn nắp -> căn nhà anh ở sạch sẽ…
+ Biết nối mình với cuộc sống văn minh, tự nâng cao hiểu biết, chuyên môn nhờ đọc sách
-> nhờ bác lái xe mua sách
+ Coi công việc như một người bạn “ta với công việc là đôi”
+ Thấy hạnh phúc khi được làm việc: tin vào ý nghĩa công việc mình làm, dự báo chính xácthời tiết giúp người nông dân sản xuất, từng giúp không quân bắn rơi máy bay
=> Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên:
+ Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới (công việc của anh giúp ích cho lao động sản xuất và chiến đấu)
+ Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình
đã chọn: ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét -> tất cả đều lặng lẽ
và bền bỉ với đời sống, với công việc
+ Anh tác động lớn tới ông họa sĩ và cô kĩ sư Ông họa sĩ tìm thấy ở anh lí tưởng sáng tạo của mình Còn cô kĩ sư cũng tìm thấy ở anh một tấm gương về tình yêu cuộc sống, tình yêu công việc
=> Là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho quê hương, đất nước
b Chứng minh qua tác phẩm Ánh trăng
- Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm Ánh trăng
- Tác phẩm là câu chuyện giữa người bạn “ánh trăng” với con người Ánh trăng đã đồng hành với con người trong rất nhiều không gian, thời gian khác nhau: hồi nhỏ, chiến tranh, ở rừng,…Họ đã trở thành đôi bạn tri âm, tri kỉ của nhau
- Những tưởng tình cảm đẹp đẽ đó sẽ không bao giờ bị phai mờ, nhưng không, khi hòa bìnhlập lại, con người quen dần với những tiện nghi đèn điện, đã lãng quên vầng trăng lúc nào không hay
- Một biến cố đã khiến con người thức tỉnh: mặt đối mặt con người đã tự soi mình tự thức
tỉnh bản thân “Rưng rưng”: là những cảm xúc đang ùa về trong giây phút con người nhận
ra vầng trăng tri kỉ của đời mình -> để rồi thức tỉnh
Trang 18Càng thức tỉnh sâu sắc hơn khi: “Trăng”:
+ “tròn vành vạnh”: ẩn dụ cho nghĩa tình không bao giờ thay đổi, không bao giờ vơi cạn
của nhân dân, đất nước
+ “im phăng phắc”: bao dung, độ lượng và nghiêm khắc -> cái im lặng chứa đựng lời nhắc
nhở, cảnh báo, thức tỉnh con người
- Người “giật mình” -> thức tỉnh:
+ Nhận ra những cám dỗ vật chất khiến con người đánh mất đi những giá trị tinh thần đẹp
đẽ, khiên tâm hồn họ trống rỗng, nghèo nàn
+ Nhận ra: không được lãng quên quá khứ, không được thờ ơ, bội bạc với nghĩa tình sâu nặng, thiêng liêng
+ Biết trở về nâng niu, trân trọng quá khứ; biết sống ân nghĩa, thủy chung
->Với khoảnh khắc giật mình, nhà thơ đã gieo vào lòng người đọc niềm tin và sức sống mãnh liệt của lương tri con người
=> Tình yêu con người, yêu cuộc sống được thể hiện bằng hành trình thức tỉnh của chính con người trước quá khứ thủy chung, tình nghĩa
ĐỀ 2
Câu 1 (8,0 điểm)
R.Ta-go, nhà thơ Ấn Độ, cho rằng: "Thà làm một bông hoa sen nở khi thấy mặt trời
rồi mất hết tinh nhụy, còn hơn giữ nguyên hình nụ búp trong sương lạnh vĩnh cửu của mùa đông".
Anh chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về nhận định trên
0,25
Trang 19 Cần phải sống mạnh mẽ, vươn lên, cống hiến hết mình
1 Giải thích ý nghĩa của lời nhận định
- "Hoa sen": ủ mầm trong bùn đất, tối khuất, nhơ bẩn nhưng
mạnh mẽ vươn lên Hoa sen là biểu tượng cho phẩm cách
thanh sạch, biết vươn lên trong cuộc sống của con người
- "Mặt trời": Đó là ánh sáng vĩnh cửu đem lại sự sống cho
vạn vật Mặt trời tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, sự
huy hoàng
- "Nụ búp": ẩn dụ cho cái non nớt, nhút nhát, e sợ của con
người
- "Sương lạnh vĩnh cửu": là môi trường lạnh giá, khắc
nghiệt, ở đó vạn vật phải ẩn mình, thu mình, không thể sinh
sôi phát triển Vì thế, nó tượng trưng cho những khó khăn,
thử thách trong cuộc sống
Ý nghĩa câu nói: Câu nói đặt ra vấn đề về cách sống và
lẽ sống ở đời: cần phải sống mạnh mẽ, vươn lên, cống hiến
hết mình
2 Bàn luận vấn đề
- Ý kiến của Ta-go hoàn toàn đúng Nó là một triết lý sống
mạnh mẽ, tích cực và tiến bộ Trong cuộc sống có rất nhiều
khó khăn, thử thách, nhưng nếu biết sống và cống hiến hết
mình ta sẽ nhận được thành quả xứng đáng Nếu sống nhút
nhát, thụ động thì cuộc đời thật nhạt nhẽo, vô nghĩa
2.1 Tại sao nên chọn cách sống như "bông hoa sen"?
- Cuộc sống rất quý giá nhưng lại ngắn ngủi và chỉ đến duy
nhất một lần Ta phải sống thế nào cho xứng đáng, phải
sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những tháng năm đã
sống hoài, sống phí Ta cần có một trái tim đầy nhiệt huyết
để sống hết mình, để cảm nhận từng hơi thở trong khoảnh
khắc của đời mình
- Đã là con người thì cần phải có ước mơ, lý tưởng và khát
khao thực hiện những điều đó Tuy nhiên, cuộc sống luôn
ẩn chứa những khó khăn, thử thách và những điều tốt đẹp
không bỗng dưng mà có Thay vì để khó khăn đánh bại, ta
hãy đón nhận chúng như một cơ hội để rèn luyện bản lĩnh
0.25
0.25
0,5
Trang 20của chính mình, để ta thêm trưởng thành.
- Khi ta chọn làm "bông hoa sen nở trong ánh mặt trời", đó
là lúc ta sống hết mình và cống hiến hết mình Ta sẽ có cơ
hội được toả sáng, được khẳng định, lưu lại dấu chân trên
con đường đã đi và tận hưởng những điều tuyệt diệu mà
cuộc sống mang lại Đó cũng chính là cách khiến cuộc sống
của ta thêm ý nghĩa và trở nên có ích Đó mới là cuộc sống
đích thực của con người
- Nêu dẫn chứng: Ví dụ như tinh thần chiến đấu quả cảm
của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Võ Thị
Sáu Cách sống và tình yêu nước của nhân vật văn học;
cách sống cống hiến hết mình của Bác Hồ, hi sinh cuộc đời
riêng cho đất nước
2.2 Tại sao không nên chọn cách sống như "nụ búp"?
- Nếu ta không dám đối mặt trước những khó khăn, thử
thách của cuộc sống vì ta sợ sai lầm, sợ sẽ thất bại, sợ bị
cười chê để rồi mãi mãi ta sống trong vỏ bọc hèn nhát của
mình Đó là lối sống mòn, sống thừa, sống vô ích mà không
được ai biết đến Một "cuộc sống đang mòn ra, đang rỉ đi,
đang nổi váng."
- Cuộc sống không mục tiêu, ước mơ, hoài bão thật vô vị
Sống như thế thực chất chỉ là tồn sự tại mà thôi, là chết
ngay cả khi đang sống
Ví dụ: Cách sống của những kẻ phản quốc làm tay sai cho
giặc thù; cách sống của một bộ phận giới trẻ dựa dẫm vào
sự bao bọc của bố mẹ và gia đình Trong bài thơ “Giục
Giã”, nhà thơ Xuân Diệu viết: “Thà một phút huy hoàng rồi
chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.”
3 Mở rộng, nâng cao.
- Liệu có phải lúc nào ta cũng sống hết mình? Nếu cứ hết
mình như thế sẽ có lúc ta kiệt sức Vậy ta cần phải biết
lượng sức mình, không phải lúc nào cũng nên lao về phía
trước Để đối mặt với mọi thử thách trên đường đời trước
tiên ta phải trân trọng chính bản thân ta Đừng nôn nóng
theo đuổi mục đích mà quên mất bản thân mình
0,25
0,5
0,25
0,25
Trang 21- Có những phút giây ta nên thu mình lại khi đã cảm thấy
mỏi mệt Khi ấy không phải ta đang hèn nhát, chỉ là ta đang
tìm kiếm chút bình yên cho tâm hồn, tìm được lại ý chí,
lòng quyết tâm để tiếp tục tiến lên phía trước
4 Bài học nhận thức và hành động
- Phê phán lối sống yếu mềm, thụ động, chỉ biết ngồi chờ
vận may và sự thuận lợi
- Cuộc sống của mỗi người được quyết định bởi sự tự nhận
thức, bản lĩnh và nghị lực vươn lên không ngừng Cuộc
sống quá ngắn ngủi, hãy cứ cháy hết mình đến tận cùng của
khát vọng, ước mơ
0,25
2
2.1 Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận đủ 3 phần, mỗi
phần làm đúng nhiệm vụ của mình (Mở bài nêu được vấn
đề nghị luận Thân bài triển khai được vấn đề Kết bài
2.3 Triển khai vấn đề nghị luận qua các luận điểm, có lí
lẽ, dẫn chứng, đảm bảo một số nội dung chính :
a Giới thiệu vấn đề nghị luận :
- Tầm quan trọng cái hay cái đẹp đối với một tác phẩm thơ
ca
- Giới thiệu bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” và khẳng định
bài thơ thành công ở hai phương diện ấy, dẫn dắt và trích
dẫn ý kiến
b Triển khai vấn đề nghị luận thông qua các luận điểm,
luận cứ chủ yếu sau :
1 Giải thích
- Bài thơ: Là tác phẩm văn học thuộc thể loại trữ tình, có
đặc trưng cơ bản là bộc lộ tình cảm, cảm xúc thông qua hệ
thống ngôn ngữ, hình ảnh, vần nhịp
0,25
0,25
Trang 22- Ý tứ độc đáo: sự mới mẻ trong nội dung cảm xúc biểu
trong những đặc trưng về giá trị của thơ ca Nội dung cảm
xúc mới mẻ, độc đáo phải được biểu hiện qua những yếu tố
nghệ thuật có tính thẩm mĩ
2 Bàn luận:
- Chân, thiện, mĩ là mục đích hướng tới của văn học Bởi
vậy, bản thân TPVH phải mang vẻ đẹp cả về nội dung và
hình thức nghệ thuật
- Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Cho nên nội
dung cảm xúc mà người nghệ sĩ bộc lộ trong tác phẩm phải
độc đáo, mới mẻ, không lặp lại người khác và không lặp lại
chính mình, có như vậy tác phẩm và tác giả mới có chỗ
trong sự tiếp nhận của độc giả
- Mỗi TPVH đều là sự thống nhất chặt chẽ của hai phương
diện: nội dung và hình thức Ý tứ độc đáo phải gắn liền với
hình thức nghệ thuật biểu hiện phù hợp, đặc sắc mới tạo nên
chỉnh thể tác phẩm có chất lượng
3 Chứng minh
3.1 Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm
- Tác giả: Huy Cận là một cây bút nổi tiếng của phong trào
thơ mới với tập thơ “Lửa thiêng” Ông tham gia cách mạng
từ trước năm 1945 Sau cách mạng tháng Tám, ông là một
nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam Thơ Huy
cận sau cách mạng tràn đầy niềm vui, niềm tin yêu cuộc
sống mới Thiên nhiên, vũ trụ là nguồn cảm hứng dồi dào
trong thơ Huy Cận và nó mang những nét đẹp riêng
- Tác phẩm: Bài thơ được viết vào năm 1958, khi đất nước
đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và đi vào xây
dựng cuộc sống mới Không khí hào hứng, phấn chấn, tin
0,5
0,25
Trang 23tưởng bao trùm trong đời sống xã hội và ở khắp nơi dấy lên
phong trào phát triển sản xuất xây dựng đất nước Chuyến
thâm nhập thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh vào nửa cuối
năm 1958 đã giúp nhà thơ Huy Cận thấy rõ và sống trong
không khí lao động ấy của nhân dân ta, góp phần quan
trọng mở ra một chặng đường mới trong thơ Huy Cận
- Bài thơ ĐTĐC là bài thơ hay về nội dung và đặc sắc về
nghệ thuật, đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về
vẻ đẹp thiên nhiên và con người vùng biển Quảng Ninh và
những tình cảm sâu sắc của tác giả
3.2 Bài thơ “ĐTĐC” đã thể hiện “những ý tứ độc đáo”
3.2.1 Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên biển cả:
* Cảnh hoàng hôn trên biển tràn đầy màu sắc rực rỡ, kỳ
vĩ, huy hoàng
- Nhân hóa, so sánh: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” gợi
tả hình dáng, màu sắc rực rỡ, vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ của mặt
trời lúc hoàng hôn
- Với sự liên tưởng thú vị độc đáo qua phép nhân hóa”Sóng
đã cài then…… Huy Cận đã miêu tả rất thực sự chuyển đổi
thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển vào đêm thật kì
vĩ, tráng lệ như thần thoại Vũ trụ như một ngôi nhà lớn với
màn đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ với những lượn
sóng hiền hoà gối đầu nhau chạy ngang trên biển như
những chiếc then cài cửa Phác hoạ được một bức tranh
phong cảnh kì diệu như thế hẳn nhà thơ phải có cặp mắt
thần và trái tim nhạy cảm
* Cảnh biển đêm đẹp lung linh huyền ảo, thơ mộng, đặc
biệt là hình ảnh các loài cá làm toát lên vẻ đẹp giàu có
trù phú của biển cả quê hương
- Cảnh đàn cá: “Cá Nhụ cá chim cùng cá đé/ Cá song lấp
lánh đuốc đen hồng/ Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe/
Đêm thở sao lùa nước hạ long”
Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt
kê tên các loài cá và tập trung miêu tả màu sắc của chúng
trong đêm trăng Những con cá song giống như ngọn đuốc
0,25
0,25
Trang 24đen hồng đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp
lánh quả là hình ảnh ẩn dụ độc đáo Tuy nhiên “cái đuôi em
quẫy trăng vàng chóe” lại là hình ảnh đẹp nhất Ánh trăng
in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quẫy ánh
trăng tan ra vàng chóe Phải thật tinh tế mới có được những
phát hiện tuyệt vời ấy Cảnh biển về đêm mới đẹp đẽ và thi
vị làm sao!
- Cảnh biển đêm: “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình
ảnh nhân hóa đẹp Đêm được miêu tả như một sinh vật đại
dương: nó thở Tiếng thở của đêm chính là tiếng rì rào của
sóng Nhưng tưởng tượng của nhà thơ lại được cắt nghĩa
bằng một hình ảnh bất ngờ “sao lùa nước Hạ Long” làm nên
tiếng thở của đêm Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng
biển đu đưa lùa bóng sao trời nơi đáy nước chứ không phải
bóng sao lùa sóng nước Đây là một hình ảnh lạ - một sáng
tạo nghệ thuật của Huy Cận khiến cho cảnh thiên nhiên
thêm sinh động
* Cảnh bình minh khi đoàn thuyền trở về tươi sáng tinh
khôi, tràn đầy sức sống.
- Lúc rạng đông lên kết thúc một đêm lao động:
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
+ Hình ảnh “vẩy bạc đuôi vàng” là hình ảnh đẹp vừa hiện
thực vừa lãng mạn Những con cá vừa được kéo lên từ biển,
ăm ắp khoang thuyền dưới ánh nắng hồng ban mai, chúng
quẫy đạp làm ánh lên những sắc màu rực rỡ, tươi vui - đó
còn là hình ảnh ẩn dụ gợi sự giàu có của thiên nhiên Sự
tươi đẹp của cuộc sống mới…
- Khi bình minh lên đoàn thuyền trở về:
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Hai câu kết khép lại bài thơ nhưng lại mở ra một cảnh
tượng thật kì vĩ và chói lọi Phải nói rằng Huy Cận đã rất
tinh tế khi miêu tả sự vận hành của vũ trụ Mặt trời từ từ
nhô lên trên sóng nước xanh lam, chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ,
0,25
0,25
Trang 25cảnh biển bừng sáng và còn đẹp hơn với kết quả lao động.
Con thuyền chở về khoang nào cũng đầy ắp cá Mắt cá phản
chiếu ánh mặt trời giống như muôn vàn mặt trời nhỏ li ti
Đó thật sự là một cảnh tượng đẹp, huy hoàng giữa bầu trời
và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động
=> Bức tranh thiên nhiên biển cả quê hương thể hiện tình
yêu, niềm tự hào sâu sắc của tác giả về vẻ đẹp của quê
hương, đất nước, của sự nghiệp cách mạng
3.2.2 Vẻ đẹp của con người
Cảm hứng về lao động và cảm hứng lãng mạn cách mạng
làm nên hình ảnh người lao động nổi bật trên nền của thiên
nhiên biển cả quê hương kỳ vĩ, tươi đẹp
* Khi ra khơi: con người hào hứng phấn khởi, hăng say
và tràn đầy hi vọng.
- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày
Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang trạng thái nghỉ
ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động: “Đoàn
thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm trong gió
khơi.” > Sự đối lập này làm nổi bật tư thế lao động của
con người trước biển cả
+ Nhịp thơ nhanh mạnh như một quyết định dứt khoát
Đoàn ngư dân ào xuống đẩy thuyền ra khơi và cất cao tiếng
hát khởi hành Từ “lại” vừa biểu thị sự lặp lại tuần tự,
thường nhật, liên tục mỗi ngày của công việc lao động vừa
biểu thị ý so sánh ngược chiều với câu trên: đất trời vào
đêm nghỉ ngơi mà con người bắt đầu lao động, một công
việc lao động không ít vất vả
+ Hình ảnh “câu hát căng buồm” - cánh buồm căng gió ra
khơi - là ẩn dụ cho tiếng hát của con người có sức mạnh
làm căng cánh buồm Câu hát là niềm vui, niềm say sưa
hứng khởi của những người lao động lạc quan yêu nghề,
yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm
giầu cho Tổ quốc
- Con người ra khơi với câu hát ca ngợi biển cả:
Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
0,25
0,25
Trang 26Cá thu biển đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi
+ Điệp ngữ “hát” thể hiện niềm vui phơi phới, sự lạc quan
trong lao động
+ Nhân hóa, Câu cầu khiến: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
> Tiếng gọi thiết tha: Khát vọng chinh phục biển cả,
chinh phục thiên nhiên, mong ước đánh bắt được nhiều tôm
cá Niềm tự hào của tác giả về vùng biển quê hương
> Tiếng hát của họ đã thể hiện tâm hồn chan chứa niềm
vui, phấn khởi, hăng say lao động Họ hát khúc hát ca ngợi
sự giàu có của biển cả Họ hát bài ca gọi cá vào lưới, mong
muốn công việc đánh cá thu được kết quả tốt đẹp
* Khi đánh cá trên biển đêm
- Khí thế hăng hái, tư thế hung dung mạnh mẽ như
người chiến sĩ xung trận.
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
+ Hình ảnh vừa thực vừa lãng mạn: Lái gió, buồm trăng…
vây giăng đã tạo nên hình ảnh vừa khỏe khoắn vừa nên thơ
của những con thuyền đánh cá đêm trên biển
+ Một loạt động từ chỉ hoạt động: “lái, lướt, ra, dò, vây
giăng, dàn đan’” miêu tả hoạt động tích cực khẩn trương,
hăng hái của đoàn thuyền như đang bước vào chiến trận
=> Bút pháp khoa trương phóng đại làm cho hình ảnh con
thuyền nhỏ bé trở thành con thuyền kĩ vĩ, khổng lồ ngang
tầm vũ trụ Miêu tả hình ảnh đoàn thuyền nhà thơ làm nổi
bật tư thế, sức mạnh của con người trước thiên nhiên vũ trụ
- Khí thế lao động đầy niềm vui, đậm chất thơ:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là
“trăng cao gõ” Trong đêm trăng sáng, vầng trăng in xuống
0,25
Trang 27mặt nước, sóng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn
thuyền thành hình ảnh “nhịp trăng cao gõ” Có thể nói đây
là hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ, làm đẹp thêm công việc
lao động đánh cá trên biển Thiên nhiên đã cùng với con
người hòa đồng trong lao động
Câu thơ “biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn đời ta tự
buổi nào” là một lời hát ân tình sâu sắc trong bài ca lao
động say sưa thơ mộng, hùng vĩ và đầy lòng biết ơn
* Một đêm trôi đi thật nhanh trong nhịp điệu lao động
hào hứng hăng say:
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
Những đôi bàn tay kéo lưới nhanh thoăn thoắt gợi lên vẻ
đẹp rắn rỏi, khỏe mạnh với những bắp tay cuồn cuộn của
người dân chài khi kéo mẻ lưới đầy cá nặng Từ phía chân
trời bắt đầu bừng sáng Khi mẻ lưới được kéo lên, những
con cá quẫy dưới sánh sáng của rạng đông và lóe lên màu
hồng gợi khung cảnh thật rạng rỡ huy hoàng, tươi đẹp Câu
thơ “lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” tạo một sự nhịp
nhàng giữa sự lao động của con người với sự vận hành của
vũ trụ Con người muốn chia sẻ niềm vui với ánh bình
minh
* Khi trở về
Khí thế vẫn khẩn trương, tràn đầy niềm tự hào, tư thế lớn
lao sánh ngang tầm vũ trụ:
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
- Đoàn thuyền đánh cá đã ra đi vào lúc hoàng hôn trong
tiếng hát và trở về vào lúc bình minh cũng trong tiếng hát
Những câu thơ được lặp lại như một điệp khúc của một bài
ca lao động Nếu như tiếng hát lúc trước thể hiện niềm vui
khi lao động thì tiếng hát sau lại thể hiện sự phấn khởi vì
kết quả lao động sau một đêm làm việc hăng say Họ trở về
0,25
Trang 28trong tư thế mới “chạy đua cùng mặt trời” Từ “chạy đua”
thể hiện khí thế lao động mạnh mẽ, sức lực vẫn dồi dào của
người lao động Đoàn thuyền được nhân hóa, cả mặt trời
cũng tham gia vào cuộc chạy đua này và kết quả con người
đã chiến thắng
=> Vẻ đẹp của người lao động mới làm chủ quê hương làm
chủ biển trời với tình yêu lao động, yêu quê hương đất nước
sâu sắc Đó chính là cái hay cái đẹp làm nên sức hấp dẫn
của bài thơ
3.3 Vẻ đẹp tâm hồn tác giả: Niềm vui, niềm tự hào
trước đất nước, con người và cuộc sống.
- Ca ngợi, tự hào vẻ đẹp của quê hương, đất nước, vẻ đẹp
của biển Quảng Ninh Ca ngợi vẻ đẹp của con người trong
lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc niềm tin
yêu vào cuộc sống mới
3.4 Bài thơ đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ đẹp về
hình thức nghệ thuật.
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh
bằng liên tưởng tưởng tượng phong phú, độc đáo Các thủ
pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa ẩn dụ, phóng đại,
liệt kê… được sử dụng vô cùng tài tình và điêu luyện mang
lại giá trị biểu đạt cao
- Bài thơ có âm hưởng của khúc hát vừa khỏe khoắn, sôi nổi
vừa phơi phới bay bổng được tạo ra nhờ các yếu tố: Lời thơ,
vần điệu nhịp thơ Nhịp điệu thơ như khúc hát say mê, hào
hứng của người lao động
- Thể thơ 7 chữ, cách gieo vần biến hóa linh hoạt, vần trắc
tạo sức mạnh khỏe khoắn, vần bằng sự vang xa bay bổng
Hình ảnh thơ kì vĩ tráng lệ được sáng tạo bằng cảm hứng
lãng mạn và cảm xúc về thiên nhiên vũ trụ con người kết
cấu đầu cuối tương ứng thể hiện trọn vẹn hành trình ra khơi
đánh cá và trở về, thẻ hiện tinh thần lạc quan, niềm tin
tưởng của tác giả vào tương lai tươi sáng của đất nước
Trang 29cuộc sống mới, con người mới Bài thơ tràn ngập niềm vui phơi phới, niềm say sưa hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình Đây cũng là bài ca ca ngợi vẻ đẹp lộng lẫy, hùng vĩ và nên thơ của thiên nhiên đất nước qua cái nhìn và tâm trạng hứng khởi của nhà thơ Bài thơ vừa cổ kính vừa mới mẻ trong hình ảnh, ngôn ngữ Âm điệutạo nên âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại phơi phới bay bổng Điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ để cho đến bây giờ đọc lại ta vẫn thấy hay trong khi một số bài thơ khác cùng viết về đề tài này đã rơi vào quên lãng.
- Ý kiến đã nhấn mạnh tầm quan trọng cái hay cái đẹp đối với một tác phẩm thơ ca Nó mang đến bài học sâu sắc với
cả người sáng tác và tiếp nhận: phải gắn bó yêu mến cuộc sống, con người, tránh sự sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm một cách tầm thường cả về nội dung và nghệ thuật, biết phát hiện và thẩm thấu được vẻ đẹp của thơ ca
0,25
2.4 Sáng tạo : Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ
sâu sắc về vấn đề nghị luận
0,25
2.5 Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo quy tắc chính
tả, dùng từ, đặt câu, đặt câu theo yêu cầu tiếng Việt hiệnhành
0,25
Câu 1 (3,0 điểm)
Giữa một vùng đất khô cằn sỏi đá, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở ra những chùm hoa thật rực rỡ.
Anh chị hãy viết bài văn ngắn khoảng 600 chữ nêu suy nghĩ của mình về nhận định trên.
Câu 2 (5,0 điểm)
"Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người
nhiều hơn" (M.L.Kalinine)
Qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của tác giả Nguyễn Quang Sáng em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
LÀM VĂN
Trang 301 Giải thích câu nói:
- Hình ảnh “vùng sỏi đá khô cằn”: gợi liên tưởng, suy nghĩ về môi trường
sống khắc nghiệt, đầy gian khó Nói cách khác, đó là nơi sự sống khó sinh sôi, phát triển.
- Hình ảnh“cây hoa dại”: Loại cây yếu ớt, nhỏ bé, cũng là loại cây bình
thường, vô danh, ít người chú ý.
- Hình ảnh“cây hoa dại vẫn mọc lên và nở hoa”: Cây hoa dại sống giữa tự
nhiên lặng lẽ mà kiên cường Nó thích nghi với hoàn cảnh, vượt lên điều kiện khắc nghiệt để sống và nở hoa Những bông hoa là thành quả đẹp đẽ, kết tinh
từ sự chắt chiu, thể hiện sức sống mãnh liệt.
Như vậy, câu nói mượn hiện tượng thiên nhiên mà gợi ra suy nghĩ về thái
độ sống của con người Cho dù hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu, sự sống vẫn
hiện hữu, cái đẹp vẫn tồn tại Con người muốn tồn tại và phát triển phải có ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống.
2 Bàn luận vấn đề
- Ý kiến trên hoàn toàn đúng Cây cối, cỏ hoa xung quanh ta luôn ẩn chứa một sức sống mạnh mẽ, bền bỉ Chúng sẵn sàng thích nghi với mọi điều kiện sống khắc nghiệt Vậy nên, con người muốn tồn tại và phát triển thì phải có ý chí, nghị lực vươn lên, sẵn sàng vượt qua khó khăn thử thách.
Tại sao con người cần phải có ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống?
- Cuộc sống không bao giờ bằng phẳng, luôn chứa đựng những bất ngờ, biến
cố ngoài ý muốn Những thử thách, những khó khăn của thực tế đời sống luôn luôn hiện hữu Vì vậy, quan trọng là cách nhìn, thái độ sống của con người trước thực tế đó Ta không nên đầu hàng hoàn cảnh, không buông xuôi phó thác cho số phận
- Chính trong thách thức của hiện thực cuộc sống, nghị lực và sức sống của con người càng được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết
Dẫn chứng:
+ Nơi xa mạc nóng bỏng, cây xương rồng vẫn mọc lên, vẫn nở hoa, những
bông hoa nép mình dưới xù xì gai nhọn.
+ Ở cánh đồng băng Nam Cực, các nhà khoa học sững sờ khi phát hiện dưới
lớp băng dày vẫn có những đám địa y.
+ Nhà văn Nga vĩ đại M Go-rơ-ki đã có một cuộc đời sớm chịu nhiều cay
đắng, gay go, đã không ngừng tự học, tự đọc để vươn lên khẳng định tài năng
Trang 31cảnh nghiệt ngã: không thể tự mình duy chuyển, khả năng ngôn ngữ hạn chế.
Vậy mà người thanh niên đó đã sống bằng nghị lực, quyết tâm học tập và
nghiên cứu phần mềm tin học Cuối cùng anh đã thành công.
3 Mở rộng, nâng cao.
- Sống trong môi trường, điều kiện sống thuận lợi, có người biết tận dụng nó
để phát triển tối đa năng lực của mình, đóng góp cho cuộc sống Song cũng có
những người ỷ lại mà không nỗ lực cố gắng, chỉ biết hưởng thụ, dẫn đến lãng
phí thời gian, tiền bạc, tâm huyết, tình cảm của người thân Sự lãng phí ấy là
vô cùng đáng trách.
- Không gặp được những thuận lợi trong cuộc sống, có người đã sống chán
nản, buông xuôi và dẫn tới thất bại Trường hợp này có thể cảm thông song
không nên đồng tình vì tuy hoàn cảnh có vai trò quan trọng song những nỗ lực
cố gắng của con người càng quan trọng hơn.
4 Bài học nhận thức và hành động
- Để có thể vượt lên khó khăn, có những đóng góp, cống hiến trong cuộc sống,
con người cần có nghị lực, ý chí, năng lực Song cũng rất cần sự động viên,
khích lệ, tình yêu và niềm tin của những người thân và cả cộng đồng.
- Cộng đồng nên có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về những đóng góp
của những người ở hoàn cảnh đặc biệt, đồng thời nên có những chính sách hỗ
trợ, giúp đỡ để họ nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.
2.1 Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận đủ 3 phần, mỗi phần làm đúng
nhiệm vụ của mình ( Mở bài nêu được vấn đề nghị luận Thân bài triển
khai được vấn đề Kết bài khẳng định lại được vấn đề).
0,25
2.2 Xác định đúng vấn đề nghị luận :
- Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người
lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn.
- Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người
lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn.
0,25
2.3 Triển khai vấn đề nghị luận qua các luận điểm, có lí lẽ, dẫn chứng,
đảm bảo một số nội dung chính :
a Giới thiệu vấn đề nghị luận :
- Chức năng của văn học là nhận thức và giáo dục Mỗi tác phẩm văn học
không chỉ cung cấp cho người đọc những kiến thức mà còn hướng ta tới
0,25
Trang 32nhận thức nhất định về con người, về cuộc sống Qua văn học, con người ta
sẽ có những hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống xung quanh và về chính bản
thân mình Sứ mệnh của người cầm bút cũng trở nên quan trọng.
- Trích dẫn lời nhận định.
b Triển khai vấn đề nghị luận thông qua các luận điểm, luận cứ chủ
yếu sau :
1 Giải thích:
- Văn học: Loại hình nghệ thuật ngôn từ, phản ánh hiện thực bằng cách sáng
tạo các hình tượng nghệ thuật, qua đó bày tỏ quan điểm, thái độ của người
nghệ sĩ với cuộc sống.
- Lời nhận định của M L Kalinine đề cập đến những chức năng của văn
học:
2 Bàn luận:
- Văn học làm cho con người thêm phong phú:
+ Văn học cung cấp cho con người tri thức về tự nhiên, xã hội, lịch sử, triết
lí cuộc sống…
+ Văn học tạo cho con người những tình cảm mới mẻ mà họ chưa có, rèn
luyện cho họ những tình cảm sẵn có.
+ Văn học giúp con người có thêm nhiều trải nghiệm sống thông qua việc
nhập thân vào nhân vật.
- Văn học giúp người đọc lớn hơn.
Người đọc nhận ra được hiện thực cuộc sống để hình thành các phẩm chất
tốt đẹp: đức hy sinh, sống có lý tưởng, sống dâng hiến, sống vì cộng đồng,
sự dũng cảm, lòng căm ghét cái ác và sẵn sàng chiến đấu vì cái thiện…
- Văn học giúp người đọc hiểu thêm về con người
+ Vẻ đẹp của con người (trọng tâm là vẻ đẹp tâm hồn)
+ Bản chất của con người: khao khát sống, khao khát hòa bình, khao khát
yêu thương, mong muốn sống một cuộc đời có ý nghĩa…
Để đạt được những điều tác giả nhận định nói, mỗi nhà văn còn cần một
hình thức nghệ thuật phù hợp và độc đáo để làm nên thành công của tác
phẩm văn học, giúp tác phẩm đến gần hơn với bạn đọc.
3 Chứng minh
Thí sinh chọn được những chi tiết tiêu biểu trong truyện, phân tích để
thấy rõ thông qua tác phẩm, người đọc được cung cấp thêm hiểu biết về
cuộc sống, về con người, được bồi dưỡng thêm về tư tưởng tình cảm Có
nhiều cách viết khác nhau, tuy nhiên trong bài viết, thí sinh phải nêu được:
3.1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm “Chiếc lược ngà”:
- Nguyễn Quang Sáng quê ở An Giang, ông là nhà văn nổi tiếng với những
tác phẩm viết về cuộc sống gian nan mà hào hùng của đồng bào miền Nam
trong cuộc đối đầu lịch sử với quân xâm lược Mĩ
- Truyện Chiếc lược ngà sáng tác năm 1966 tại chiến trường miền Tây Nam
Bộ, nội dung kể về tình cha con vô cùng đặc biệt và cảm động của người
Trang 33- Tác phẩm cung cấp cho bạn đọc hiểu biết về cuộc sống của con người
Nam Bộ trong kháng chiến, những đau thương, mất mát, éo le mà chiến
tranh đã mang đến cho bao con người, bao gia đình, nó cũng cướp đi của
con người thời gian để yêu thương, để sum vầy đoàn tụ, nó gây nên chia
cách, gây nên hiểu nhầm, gây nên biết bao mất mát, đau thương Nó cướp đi
của con người cuộc sống hạnh phúc.
Dẫn chứng, phân tích
- Ông Sáu thoát ly đi kháng chiến, đầu năm 1946 Lúc đi, đứa con gái đầu
lòng của anh chưa đầy một tuổi Suốt mấy năm kháng chiến, anh chỉ thấy
con qua tấm ảnh nhỏ.
- Mãi đến khi hòa bình lập lại ông Sáu mới có dịp về thăm nhà Nôn nao và
hạnh phúc khôn tả khi nghĩ đến giây phút gặp con, ông lại thấy đau khổ và
thất vọng hơn khi con không nhận cha…
- Tám năm xa vợ xa con, ở nhà được ba ngày rồi lại lên đường, và ra đi
mãi Đến tận giây phút cuối cùng, khi không còn thời gian để chăm sóc vỗ
về nữa, ông mới thực sự được làm cha Đó là sự thiệt thòi, là sự hi sinh
không thể xem là nhỏ của người chiến sĩ cách mạng
3.3 Văn học giúp người đọc hiểu thêm về con người.
* Tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh:
Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách
mạng và đứa con gái nhỏ Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã
vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và
gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước.
- Bé Thu có một tình cảm chân thành, mãnh liệt mà thánh thiện dành cho
cha… (HS lấy dẫn chứng, phân tích)
- Tình cảm của ông Sáu dành cho con cũng mãnh liệt, sâu nặng, tình cảm ấy
được tác giả thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà và được miêu tả
kỹ lưỡng hơn khi ông ở căn cứ kháng chiến…(HS lấy dẫn chứng, phân tích)
> Tình cảm của cha con ông Sáu không chỉ là tình cảm muôn thủa, có tính
nhân bản bền vững, mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo
và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của
người cán bộ cách mạng Chính vì vậy, tình cảm ấy càng đáng trân trọng và
đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc
sống bình thường của mọi người.
* Tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng:
- Ông Ba bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật như một người trong
cuộc và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện: Chứng kiến nhưng cảnh
ngộ éo le của cha con ông Sáu, ông Ba - người kể chuyện đã phải thốt lên:
“Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi
người,nghe thật xót xa Đó là tiếng "Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu
năm, tiếng "Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó… Nhìn cảnh ấy, bà con xung
quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như
có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi > lòng trắc ẩn, thấu hiểu những hy sinh
0,25
0,5
0,25
Trang 34mà bạn mình phải chịu đựng đã khiến ông Ba xúc động đến đau đớn tột độ
- Ông Ba nhận được lời ủy thác của ông Sáu và thực hiện bằng được lời ủy
thác đó: trải qua bao gian khổ của chiến tranh, ông vẫn giữ cây lược như
một vật quý giá nhất của mình, mãi tới khi bé Thu trở thành cô giao liên,
ông Ba mới trao được kỉ vật của người cha cho Thu Khi trao tận tay Thu
chiếc lược, giữa Thu và người đồng đội của cha mình nảy nở một tình cảm
giống như tình cha con
> Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn
Quang Sáng như muốn nói rẳng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống
ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là
tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và
người sống mãi mãi bất diệt
* Vẻ đẹp của tình yêu nước, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc:
- Cũng như bao người nông dân Việt Nam khác, ông Sáu đi theo tiếng gọi
của quê hương để lên đường đi chiến đấu, để lại người vợ và đứa con thân
yêu Sau tám năm trời xa cách, tận đến năm 1954, ông Sáu mới về thăm nhà.
Được ở nhà 3 ngày, trong ba ngày ấy, đứa con gái nhỏ không nhận ra cha,
Lúc cha con nhận nhau lại cũng chính là lúc người cha vì nhiệm vụ vẫn phải
lên đường với một giới hạn thời gian là “Thống nhất rồi ba con về”, để rồi
lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng bé Thu gọi “Ba”.
- Ông Ba: Tham gia từ cuộc kháng chiến chống Pháp (từ năm 1946) đến hòa
bình (năm 1954) rồi lại tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành một
“người lính già” > ông cũng như bao người dân Việt Nam khác, cả cuộc
đời tham gia kháng chiến, vì độc lập, thống nhất Tổ Quốc.
- Bé Thu: Sau khi người cha hi sinh, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô
bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, để tiếp bước
trên con đường mà cha đã chọn, viết tiếp bản ca chiến thắng.
3.4 Văn học giúp người đọc lớn hơn.
- Suy ngẫm và thấm thía được tình sự đau thương, mất mát của chiến tranh
tàn khốc gây ra Vì thế mà ta càng quí cuộc sống thanh bình của ngày hôm
nay, biết ơn thế hệ đi trước
- Biết trân trọng tình yêu và sự hy sinh vô điều kiện mà cha đã dành cho ta,
trân trọng tình cảm gia đình
- Để làm nên thành công của tác phẩm, để “làm cho con người thêm phong
phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn”
đó chính là nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
+ Xây dựng được một cốt truyện chặt chẽ, hợp lí, đã tạo được những tình
huống éo le, cảm động
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật tài tình, giọng kể nhẹ nhàng,
đằm thắm, cách kể quá khứ xen hiện tại
+ Cách chọn ngôi kể cũng là một nghệ thuật đặc sắc của truyện Kể theo
ngôi thứ nhất, bác Ba vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu
chuyện nên càng có tác dụng làm cho câu chuyện như thật và dễ đi vào lòng
người.
0,25
0,5
Trang 354 Đánh giá:
- Ý kiến trên đã khẳng định chức năng cao cả của văn học: Văn học làm cho
con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được
con người nhiều hơn, đó là căn cứ để đánh giá, thậm định đồng thời cũng là
yêu cầu đối với người cầm bút và định hướng cho sự khám phá, tiếp nhận
tác phẩm.
- Từ nhận thức được chức năng của văn học cần ý thức vai trò quan trọng
của học tác phẩm văn học, hình thành tình yêu, say mê học tập và trân trọng
những giá trị văn học, từ đó, làm giàu vốn hiểu biết của con người, để ta
trưởng thành hơn, tâm hồn phong phú hơn.
- Việc khám phá một tác phẩm đòi hỏi người đọc sống với tác phẩm bằng
toàn bộ tâm hồn để cảm nhận cái thông điệp thẩm mĩ mà tác giả gửi đến cho
người đọc, cảm thụ, thưởng thức, suy ngẫm, từ đó mà nhận ra nhiều điều
sâu sắc lí thú về con người và cuộc đời, làm cho tâm hồn mình mỗi ngày
một phong phú, đa dạng hơn.
2.5 Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt
câu, đặt câu theo yêu cầu tiếng Việt hiện hành.
0,25
Trang 36- Rèn kỹ năng phát hiện vấn đề lý luận văn học trong các đề nghị luận văn học.
- Rèn kỹ năng phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học
3 Thái độ:
- HS tích cực học tập
Trang 37Tiết 9,10,11,12:
NHÀ VĂN VÀ QÚA TRÌNH SÁNG TÁC VẤN ĐỀ THỨ 4: YÊU CẦU ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHỆ SĨ (khi lý giải vấn đề trong đề
thi luôn có phần này)
Yêu cầu thứ nhất: Người nghệ sĩ phải luôn sáng tạo, tìm tòi những đề tài mới, hình thức
mới Nam Cao đã từng khẳng định “Văn chương không cần đến những người thợ khéo taylàm theo 1 vài sản phẩm đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người đào sâu, tìm tòi,khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” She khốp cũng cho rằng “Nếu nhà văn ko có lối đi riêng của mình thì người đó chẳng bao giờ là nhà văn cả”
Người nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo phải là người trinh sát với chiếc cần ăng tennhanh nhạy để nhận mọi tín hiệu, mọi làn sóng; phải biết tổng hợp, đánh giá, phân tích đểphát đi một tiếng nói duy nhất, đúng đắn, sâu sắc Mỗi bài thơ, câu văn đều là kết quả quátrình sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ sau khi đã công phu chọn lựa và nhào nặn chất liệuhiện thực Do vậy, khi 1 nhà văn mới xuất hiện, câu hỏi của chúng ta về anh ta là: Anh ta làngười như thế nào? Liệu anh ta có thể đem lại cho chúng ta điều gì mới mẻ trong cách nhìncuộc sống?
-> Như vậy, sáng tạo là yếu tố then chốt quyết định sự sống còn của nhà văn trong quy luật phát triển chung của văn học
Yêu cầu thứ 2: Người nghệ sĩ phải biết rung cảm trước cuộc đời
Tâm hồn nhạy cảm là sự thể hiện trái tim giàu tình cảm của nhà văn Đó là lúc nhà văn thâm nhập vào đối tượng với một con tim nóng hổi, chuyển hóa cái đối tượng khách quan thành cái chủ quan đến mức “tưởng như chính mình sinh ra cái khách quan ấy” Để từ đó khi viết họ dùng cái vốn bản thân sống sâu nhất để cảm nhận cuộc đời
Tình cảm là yếu tố quyết định sự sinh thành, giá trị và tầm cỡ của nghệ thuật Khi Lê QuýĐôn khẳng định “ Thơ khởi phát từ trong lòng người” là có ý nói tình cảm quyết định đến sựsinh thành của thơ Ngô Thì Nhậm thì nhấn mạnh “ Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút cóthần” nghĩa là tình cảm quyết định đến chất lượng thơ Còn Nguyễn Đình Thi lại đúc kết
“Hình ảnh trong thơ phải là hình ảnh thực, nảy sinh trong tâm hồn ta khi ta đứng trước 1cảnh huống, 1 trạng thái nào đó”
- >Như vậy, gốc của văn chương nói chung, thơ ca nói riêng là tình cảm, nghĩa là người nghệ
sĩ phải biết rung cảm trước hiện thực của đời sống thì mới sáng tạo nên nghệ thuật
Yêu cầu thứ 3: Nhà văn phải có phong cách riêng: Bởi đặc trưng của VH là hoạt động
sáng tạo có tính chất cá thể Nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, ko tạo được tiếng nói riêng, giọngđiệu riêng thì đó là sự tự sát trong VH
Phong cách chính là nhà văn phải đem lại một tiếng nói mới cho văn học, đó là sự độc đáo
mà đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới Đặc biệt nó phải có tính chất thẩm mĩ nghĩa là đemlại cho người đọc sự hưởng thụ thẩm mĩ dồi dào Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởngthành của một nhà văn mà khi đã nở rộ thì nó còn là bằng chứng của một nền văn học đãtrưởng thành
Nhà văn I.X Tuocghenhev khẳng định
Trang 38“Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của
chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác.”
Nguyễn Tuân cũng từng nhấn mạnh “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo Vì vậy, nó
đòi hỏi phải có phong cách, tức là phải có nét gì đó rất mới, rất riêng thể hiện trong tác phẩm của mình”
Cùng quan điểm ấy, Nhà văn Lê ô nốp viết “ Ko có tiếng nói riêng, ko mang lại những
điều mới mẻ cho văn chương mà chỉ biết dẫm theo đường mòn thì tác phẩm nghệ thuật sẽ chết”
Phong cách nghệ thuật có cội nguồn từ cá tính sáng tạo của nhà văn Cá tính sángtạo là sự hợp thành của những yếu tố như thế giới quan, tâm lí, khí chất, cá tính sinhhoạt Phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời đại
- Có thể nhận ra phong cách của nhà văn trong tác phẩm Có bao nhiêu yếu tố trongtác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nhà văn thể hiện Cụ thể:
+ Qua cái nhìn, cách cảm thụ giàu tính khám phá nghệ thuật đối với cuộc đời
+ Qua giọng điệu riêng, gắn liền với cảm hứng sáng tác
+ Nét riêng trong sự lựa chọn, xử lý đề tài, xác định chủ đề, xác định đối tượng miêutả
+ Tính thống nhất, ổn định trong cách sử dụng các phương thức và phương tiệnnghệ thuật
Các biểu hiện của phong cách văn học không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫn nhauhay tồn tại thông qua nhau Tất cả tạo thành một nguyên tắc xuyên suốt trong việc xâydựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho hiện tượng văn học một tính chỉnh thể toàn vẹn Thời gian cứ trôi đi lặng lẽ mà vô tình nhưng thời gian cũng chính là thứ nước rửa ảnhlàm nổi bật lên những tác phẩm hay, độc đáo Có một nữ văn sĩ từng nói đại ý rằng: Sẽkhông bao giờ chúng ta gặp lại mình như chiều nay Cũng như một triết gia từng đúc rút “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” Mỗi khoảnh khắc trôi đi không bao giờtrở lại Sẽ chẳng bao giờ ta gặp lại một Nam Cao, một Nguyễn Tuân, Xuân Diệu hayThạch Lam,…thứ hai trên cõi đời này nữa, bởi lẽ văn chương không bao giờ là sự lặp lại
và mỗi nhà văn có một tạng riêng, một phong cách riêng “Mỗi công dân có 1 dạng vântay/ Mỗi nghệ sĩ thứ thiệt đều có 1 dạng vân chữ/ Không trộn lẫn” (Lê Đạt)
Mở rộng: Vấn đề phong cách còn được biểu hiện qua “cái nhìn” của mỗi người
nghệ sĩ trước cuộc đời
“Đừng cho tôi đề tài, hãy cho tôi đôi mắt” Đôi mắt nhìn đời khác nhau sẽ đem lạinhững trang văn khác nhau và mang đậm cá tính sáng tạo Đây không chỉ đơn thuần làvấn đề về cái nhìn, mà rộng hơn là vấn đề về phong cách nghệ thuật nhà văn “Phong cáchnghệ thuật nhà văn là sự độc đáo, giàu tính khám phá, phát hiện về con người và cuộc đờithể hiện qua hình tượng nghệ thuật độc đáo và những phương thức, phương tiện nghệthuật mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ được thể hiện trong tácphẩm.” Phong cách chính là vấn đề cái nhìn Mỗi nhà văn phải có cách nhìn mới mẻ, độcđáo, cách cảm thụ giàu tính khám phá và phát hiện đối với cuộc đời Cuộc sống này có gì