1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt

56 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức trò chơi trong dạy và học môn Hóa học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
Trường học Trường THPT (Bạn có thể thay đổi tên trường cụ thể)
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thực tế vận dụng, nhiều giáo viên còn lúng túng khi thực hiện các kĩ thuật dạy học tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin, liên hệ kiến thức với các vấn đề trong thực tế

Trang 1

Trang 1

môi trường Những nội dung này góp phần giúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể tiếp tục học lên, đồng thời có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hóa học trong đời sống và sản xuất; mặt khác, góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Tuy nhiên, thực tế việc dạy Hóa ở các trường THPT cho thấy, học sinh vẫn nặng về lý thuyết, chưa gắn các kiến thức lý thuyết với các hiện tượng thực tiễn, chưa có nhiều hoạt động phát huy được năng lực của học sinh Phương pháp dạy học vẫn còn cũ, chưa khơi dậy được sự hứng thú, tính độc lập sáng tạo của học sinh

Việc sử dụng trò chơi trong dạy học nói chung và dạy học môn hóa học nói riêng đang là xu thế của việc phát triển dạy học hiện đại nhằm kích thích cho học sinh tìm tòi kiến thức môn hóa học, tạo cho học sinh niềm say mê sáng tạo và yêu thích bộ môn hơn Hơn nữa, hiện nay Hóa học cùng các môn học khác là Vật lí, Sinh học, Địa lí, Lịch sử và Giáo dục công dân là các môn học tự chọn để tạo thành hai bài thi tổ hợp Tự nhiên và tổ hợp Xã hội Trong những năm tới, ở cấp trung học phổ thông, Hóa học sẽ là môn học bắt buộc với lớp 10 nhưng chỉ còn là môn tự chọn với lớp 11, 12 Do đó, việc giáo viên Hóa học phải dạy cuốn hút hơn, phải khơi gợi tình yêu Hóa học trong mỗi em học sinh là một trong những nhiệm vụ sống còn

Việc sử dụng trò chơi mở có thể được sử dụng để đánh giá học sinh thông qua các hoạt động của học sinh trong trò chơi Ngoài đánh giá về kiến thức giáo viên còn có thể đánh gia thông qua các kĩ năng mà học sinh thể hiện để tham gia trò chơi

Các loại trò chơi trong dạy học nói chung và dạy học môn hóa học nói riêng rất da dạng và phong phú Giáo viên không tìm hiểu kĩ càng thì không biết được loại trò chơi nào phù hợp với trường mình học sinh của mình và vì thế nên giáo viên không thường xuyên sử dụng trò chơi trong dạy học Vì biên soạn ra một trò chơi áp dụng vào bài dạy mất rất nhiều thời gian nên nhiều giáo viên sưu tầm được giáo án của bài dạy có sử dụng trò chơi áp thì áp dụng luôn cho học sinh của mình mà không tìm hiểu xem có thích hợp với học sinh của mình hay không

Với trách nhiệm của người giáo viên Hóa học trực tiếp đứng lớp giảng dạy ở trường trung học phổ thông nhiều năm, tôi quan tâm nhiều đến chất lượng học tập của học sinh, đến suy nghĩ, tâm tư tình cảm của học sinh đối với bộ môn của mình, quan tâm

Trang 2

Trang 2

giản và quen thuộc, môn học và kĩ năng được dạy theo một trật tự cụ thể, chặt chẽ, đánh giá của giáo viên đơn giản, theo những hình thức học sinh đã biết, đánh giá của trường học, của các sở giáo dục được thực hiện một cách dễ dàng…

Đa số giáo viên đều có ý thức trong việc đổi mới phương pháp dạy học, dạy học tích hợp liên môn, vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo góp phần phát triển toàn diện cho học sinh Tuy nhiên, trong thực tế vận dụng, nhiều giáo viên còn lúng túng khi thực hiện các kĩ thuật dạy học tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin, liên hệ kiến thức với các vấn đề trong thực tế,…

Đối với việc sử dụng trò chơi trong dạy và học môn hóa học có nhiều ưu điểm có thể

kể ra như:

- Học trong quá trình vui chơi, là quá trình lĩnh hội tri thức vốn sống một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm lí sinh học ở học sinh Học tập bằng trò chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm thiểu sự căng thẳng thần kinh ở các em

- Trong quá trình chơi học sinh huy động các giác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ Học sinh phải tự phân tích tổng hợp so sánh khái quát hóa làm cho các giác quan tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn, các thao tác trí tuệ được hình thành

- Qua trò chơi học tập học sinh tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu được nhiều tri thức nhiều khái niệm trên cơ sở đó những phẩm chất trí tuệ của các em được hình thành như:

Sự nhanh trí, tính linh hoạt, sáng tạo và kiên trì

- Trò chơi dạy học là kĩ thuật, hoạt động bổ trợ trong quá trình dạy học Hoạt động này thiên về phần chơi, trong lúc chơi con người dường như quên đi mọi nỗi ưu tư, phiền muộn Chính vì vậy mà trò chơi dạy học giúp xua đi nỗi lo âu nặng nề của việc học cho học sinh, giúp gắn kết tình cảm giữa giáo viên và học sinh trong lúc chơi

- Trong lúc chơi tinh thần của học sinh thường rất thoải mái nên khả năng tiếp thu kiến thức trong lúc chơi sẽ tốt hơn, hoặc sau khi chơi cũng sẽ tốt hơn

- Trò chơi dạy học cũng có thể hình thành nên cho học sinh những kĩ năng của môn học, học sinh không chỉ có cơ hội tìm hiểu kiến thức, ôn tập lại các kiến thức đã biết mà còn có thể có được kinh nghiệm, hành vi

- Một số trò chơi dạy học còn giúp cho học sinh có khả năng tư duy, cách giải quyết vấn đề nhanh nhẹn không chỉ trong lĩnh vực mình chơi mà cả các lĩnh vực của cuộc sống

Trang 3

Trang 3

Không nhất thiết tổ chức trò chơi trong tất cả thời gian của tiết học mà có thể chỉ trong một hoạt động cụ thể nào đó Những tiết học có sử dụng trò chơi học sinh cảm thấy hứng thú, vũi vẻ hơn, không khí học tập trong lớp thoải mái, bớt nặng nền, thầy trò gần gũi và hiểu nhau hơn Sau mỗi tiết học học sinh không cảm thấy căng thẳng mệt mỏi mà có thể bắt đầu ngay tiết tiếp theo Mỗi tiết học có sử dụng trò chơi gây được sự hưởng ứng của

tất cả học sinh trong lớp có thể để lại dư âm đến rất nhiều tiết học sau đó của bộ môn

Với cơ chế mở của thông tư 26/2020/TT-BGDĐT qua mỗi trò chơi giáo viên có thể đánh giá học sinh bằng điểm số để khuyến khích động viên học sinh tích cực tham gia trò chơi trong mỗi tiết học hơn

1.1.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

Việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn hóa học có nhiều bất cập

Đối với bộ môn hóa học

Hóa học là một môn hóa học đặc thù mang tính chất nối tiếp rất cao, nếu không nắm vững kiến thức của bài trước sẽ khó có thể học các bài sau, nếu chương trước không hiểu thì khi học chương sau sẽ rất dễ dẫn đến chán nản và môn hóa học sẽ trở thành một môn học khó để theo học được

Khi thi tuyển sinh vào lớp 10 đa số các em không được học nhiều về môn hóa mà chỉ học các môn ngữ văn, toán, ngoại ngữ nên khi bắt đầu học lớp 10 của chương trình trung học phổ thông các em không có các kiến thức cơ bản về môn hóa nên thường ngại học hóa, sợ học hóa vì mất gốc

Nhiều mảng kiến thức trừu tượng, nhiều phương trình hóa học phức tạp và danh pháp dễ gây nhầm lẫn nhiều nên học sinh thường hay mất gốc và chán nản với bộ môn Học sinh học tập miễn cưỡng, chiếu lệ; ưu tiên lựa chọn các môn thuộc tổ hợp tổng hợp xã hội với suy nghĩ học các môn này sẽ “nhàn” hơn, khi thi THPT Quốc gia sẽ

có kết quả cao hơn so với các môn thuộc tổ hợp tổng hợp tự nhiên

Đối với học sinh

Đa số học sinh có ý thức tốt, mong muốn mình có vốn hiểu biết và kết quả học tập

cao Nhưng Hóa học là một trong những môn học khó có tính chất nối tiếp của các phần kiến thức nên đòi hỏi các em phải chăm chỉ và có tư duy tốt

Trang 4

Trang 4

động dạy học chưa tạo được niềm say mê, hứng thú và hấp dẫn học sinh

Giáo viên thừa nhiệt tình nhưng chưa đủ kiến thức sâu rộng và khả năng linh hoạt

về phương pháp giảng dạy Một số giáo viên có ý thức đổi mới phương pháp dạy học nhưng chỉ mang tính đối phó khi có thao giảng, dự giờ, kiểm tra Một bộ phận giáo viên không tích cực đầu tư cho tiết dạy cũng như công tác soạn giảng, thậm chí còn sao chép giáo án của người khác hoặc tải trên mạng về điều chỉnh chút ít để làm giáo án của riêng mình và để đối phó; lên lớp thiếu sự chuẩn bị phương tiện, đồ dùng dạy học dẫn đến tình trạng dạy chay, giờ học nhàm chán, thiếu sức hút

Riêng việc sử dụng trò chơi trong các tiết dạy còn nhiều bất cập như giáo viên ít

sử dụng, không biết có các loại trò chơi nào để lựa chọn cho phù hợp

Nhiều giáo viên đã áp dụng trò chơi để nâng cao chất lượng dạy học, tạo hứng thú cho học sinh tuy nhiên áp dụng chưa đúng lúc đúng chỗ như cố áp dụng các trò chơi trong khi cơ sở vật chất của nhà trường, các trang thiết bị của học sinh không đáp ứng được yêu cầu của trò chơi

Nhiều giáo viên quá lạm dụng trò chơi, khi sưu tầm được các bài giảng có tổ chức trò chơi từ các nguồn trên internet, các nhóm đổi mới phương pháp dạy học đều dùng để giảng dạy cho học sinh của mình mà thực sự lại không phù hợp với đối tượng học sinh mình giảng dạy

Nhiều giáo viên không áp dụng linh hoạt được các trò chơi trong các tiết dạy khiến trò chơi nặng nề, quá tham về kiến thức dẫn đến mất nhiều thời gian mà học sinh không hiểu bài

Giáo viện chọn hình thức tổ chức trò chơi không phù hợp như chia nhóm để hoạt động nhưng chỉ có một thành viên trong nhóm phát biểu, các học sinh khác không có các hoạt động để chủ đông lĩnh hội kiến thức

Việc sử dụng trò chơi cũng có mặt trái là tốn thời gian, gây áp lực đến việc việc duy trì điểm số trong các kì thi, chưa chú trọng đến kĩ năng làm bài, với cách đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ Giáo dục

Để khách quan hơn trong việc tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng dạy và học môn hóa học ở trường THPT Xuân Trường C, tôi đã tiến hành thu thập thông tin qua phiếu điều tra với các em học sinh lớp tôi dạy (Phụ lục 1)

Trang 5

% học sinh phân vân

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Bộ Giáo dục và đào tạo có chỉ rõ:

“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm của từng đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

K.D.Usinxki (một nhà giáo dục lỗi lạc người Nga) cho rằng: “Trong học tập không có hứng thú mà chỉ dùng sức mạnh của sự cưỡng ép, nó sẽ làm cho óc sáng tạo ngày thêm mai một, nó sẽ làm cho người học ngày một thờ ơ với loại hình hoạt động này”

Sự hứng thú của người học thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say

mê với các môn học Sự hứng thú là động cơ thúc đẩy người học tham gia tích cực và sáng tạo vào việc tìm hiểu kiến thức ở các môn học Trong hoạt động học, khi không có hứng thú sẽ làm cho người học mất đi động cơ học, kết quả học tập không cao, thậm trí xuất hiện những cảm xúc tiêu cực vì vậy tôi đã tạo hứng thú cho học sinh thông qua sử dụng trò chơi trong dạy học môn hóa học

Để sử dụng trò chơi trong các tiết học nhằm tạo được hứng thú cho các em học sinh nhằm nâng cao chất lượng bộ môn giáo viên cần lựa chọn và thiết kế trò chơi phù hợp với nội dung kiến thức và đối tượng sử dụng

Trước hết giáo viên cần xác định rõ mục đích mục tiêu bài học: Đây là yêu cầu

đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng bài giảng Khi xác định được mục tiêu bài học giáo viên mới xác định được các phương pháp kĩ thuật cũng như lựa chọn được trò chơi phù hợp với nội dung kiến thức bài học

Lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh: Khi lựa chọn trò

chơi cần phải cân nhắc để phù hợp với nội dung bài dạy và phù hợp với đối tượng học sinh Với một bài mới có kiến thức có liên quan nhiều đến kiến thức cũ, có thể từ bài cũ xây dựng được nên kiến thức của bài mới giáo viên có thể lựa chọn trò chơi mà để phần nhiều “đất diễn” cho học sinh, giáo viên chỉ cần đóng vai trò định hướng ban đầu và kết

luận lại bài học

Thiết kế trò chơi với lượng kiến thức vừa phải mang tính chất giải trí, giảm tải căng thẳng, tạo không khí thi đua, vừa giúp ôn tập – hình thành – rèn luyện kiến thức

Trang 6

Trang 6

Trò chơi phải củng cố được một nội dung kiến thức cụ thể trong chương trình (có thể là kiến thức cũ, kiến thức bài mới, kiến thức thực hành, luyện tập, liên hệ thực tế…) Các trò chơi được xây dựng trên cơ sở các dạng bài tập, lý thuyết cần nhẹ nhàng, gây hứng thú cho học sinh góp phần hình thành, củng cố hoặc hệ thống kiến thức Các trò chơi phải giúp học sinh rèn luyện kĩ năng hóa học, phát huy trí tuệ, óc phân tích, hoặc khả năng làm việc nhóm…

Trò chơi cần có sức hấp dẫn thu hút được sự chú ý, tham gia của học sinh, tạo không khí vui vẻ thoải mái Trò chơi không quá cầu kỳ, phức tạp hay theo một khuôn mẫu nhất định nhưng cần gần gũi, phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh, thích hợp với học sinh của lớp dạy, của nhà trường

Trò chơi cần được diễn ra trong một quỹ thời gian nhất định, trong thời gian một tiết học ứng với 40 – 45 phút hoặc trong thời gian 5- 7 phút cuối mỗi tiết để củng cố kiến thức tùy theo dụng ý của người giáo viên Tùy theo thời gian mà có thể sử dụng các hình thức chơi khác nhau có thể chơi theo nhiều vòng theo mô hình trò chơi đường lên đỉnh Olympia hoặc chỉ 3 - 5 câu hỏi cho mỗi đội – nhóm chơi

Hình thức chơi, các câu hỏi đưa ra trong trò chơi phải được lựa chọn và sử dụng phù hợp, đúng địa chỉ, tránh việc lan man, không liên quan đến nội dung kiến thức hoặc chỉ tập trung vào một số ít học sinh

Trong quá trình tôt chức trò chơi cần linh hoạt trong mỗi tiết dạy để đạt được hiệu quả cao nhất Trong quá trình sử dụng trò chơi giáo viên không hẳn nhất thiết theo kịch

bản đã chuẩn bị trước, cần tùy cơ ứng biến Giáo án chuẩn bị trước gồm nhiều phần nhưng khi tiến hành tổ chức trò chơi nếu mất nhiều thời gian hơn so với dự định, giáo viên có thể rút ngắn phần trò chơi, bớt đi các câu hỏi trong các phần để dành thời gian tóm tắt, củng có lại các phần đã học

Học sinh chưa hiểu rõ yêu cầu của trò chơi dẫn đến thực hiện không đúng yêu cầu của giáo viên hoặc không biết phải làm gì, làm như thế nào Để tránh tình huống này giáo viên cần phổ biến rõ luật chơi, có động tác hỏi các em học sinh, đến khi cả lớp hiểu yêu cầu mới tiến hành trò chơi

Trong quá trình tổ chức trò chơi để hình thành kiến thức cho tiết học lý thuyết, học sinh thường chỉ chú ý đến các phần của trò chơi mà không ghi chép bài, giáo viên cũng cần chốt lại các phần kiến thức để học sinh ghi chép vào trong vở

Trong quá trình tổ chức trò chơi có chia nhóm học sinh trong lớp, giáo viên cũng cần phân chia các nhóm đều về số lượng, đều về học lực, và đôi khi cũng cần đều về giới tính nếu nhiệm vụ của các nhóm liên quan hay phụ thuộc vào giới tính Nếu sản phẩm của mỗi nhóm là phần viết, vẽ, sơ đồ tư duy thì cũng cần phân nhóm sao cho mỗi nhóm

có một cá nhân có thể hoàn thành nhiệm vụ này để cả lớp cùng hiểu được, quan sát được sản phẩm của mỗi nhóm

2.2 Thực nghiệm sư phạm

Qua nghiên cứu tôi tạm chia trò chơi thành 2 loại: Loại thứ nhất là trò chơi chỉ sử dụng các loại phương tiện dạy học cơ bản, không cần sử dụng đến mạng internet – tôi tạm gọi là trò chơi offline Loại thứ hai là trò chơi có sử dụng các thiết bị như laptop, điện thoại thông minh, máy tính bảng… có kết nối mạng internet – tôi tạm gọi là trò chơi

online

2.1.1 Trò chơi offline

Trang 7

Trang 7

Có rất nhiều loại trò chơi mà không cần dùng đến mạng internet như ai nhanh hơn, thử trí thông minh, kết bạn, truyền tin… ở đây tôi xin giới thiệu trò chơi xếp hình và trò chơi đường lên đỉnh Olympia mà tôi đã áp dụng vào các lớp tôi dạy

2.1.1.1 Trò chơi xếp hình

- Trò chơi xếp hình sử dụng các mảnh ghép bằng giấy có ghi các thông tin về câu hỏi và câu trả lời về các nội dung kiến thức trong bài học, không yêu cấu các thiết bị dạy học hiện đại, vì vậy giáo viên có thể sử dụng trong bất kì tiết học nào và có thể sử dụng cho nhiều lớp khác nhau với cùng một bộ mảnh ghép câu hỏi – câu trả lời Đây cũng có thể là phương án dự phòng cho các trường hợp các thiết bị dạy học như máy tính, máy chiếu, điện thoại thông minh, máy tính bảng không được sử dụng Do trò chơi này đơn giản nên học sinh có thể tự thiết kế các câu hỏi, câu trả lời theo yêu cầu của giáo viên để

tổ chức ra đề - xếp hình - chấm chéo giữa các nhóm

- Quy tắc: Hình mẫu được xếp bởi các mảnh ghép là các hình tam giác, hình vuông, hình ngũ giác, hình lục giác… hay trộn lẫn các hình với nhau Hai hình có chung một cạnh sẽ có một câu hỏi và một câu trả lời (có thể màu chữ khác nhau hoặc độ dậm nhạt khác nhau để phân biệt câu hỏi và câu trả lời) Nếu hình mẫu có nhiều mảnh ghép thì nên có mảnh ghép gợi ý (Đặt ở vị trí cố định trong hình mẫu) Giáo viên giới hạn nội dung và số lượng câu hỏi cho mỗi nhóm và nhóm này cho nhóm khác Có thể cho một số mảnh ghép gây nhễu để thử độ nhanh nhạy và chính xác của học sinh cũng như hạn chế học sinh ghép hình theo cảm tính hay sử dụng sự thông minh toán học

- Áp dụng vào bài dạy: Tôi áp dụng trò chơi này cho học sinh lớp 10 trong 3 bài Lần 1 và lần 2 tôi thiết kế để các em xếp thành hình theo ý tưởng, hình vẽ của tôi Trên

cơ sở hiểu cách thức vận hành của trò chơi, lần ba tôi cho các em tự thiết kế hình vẽ, biên soạn câu hỏi theo nhóm để các nhóm làm chéo bài của nhau

+ Lần 1: Tôi áp dụng vào bài 15 - Hóa trị và số oxi hóa phần II Số oxi hóa

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung cơ bản Hoạt động 3:

-Hãy trình bày khái niệm về

số oxi hoá? VD?

-KN:Số oxi hoá của 1 nguyên

tố trong phân tử là điện tích của nguyên tử nguyên tố đó trong phân tử ,nếu giả định rằng liên kết giữa các nguyên

tố trong phân tử là liên kết ion

II.SỐ OXI HOÁ: 1.Khái Niệm: Số oxi

hoá của 1 nguyên tố trong phân tử là điện tích của nguyên tử nguyên tố đó trong phân tử ,nếu giả định rằng liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử

*Qui tắc 1: Số oxi hoá của nguyên tố trong đơn chất bằng 0

*Qui tắc 2: Trong phân tử,

2.Qui tắc xác định:

*Qui tắc 1: Số oxi hoá của nguyên tố trong đơn chất bằng 0

*Qui tắc 2: Trong phân

tử, tổng số oxi hoá

Trang 8

*Qui tắc 4: Trong hầu hết các hợp chất, số oxi hoá của H = +1(Trừ NaH, CaH 2 ….) Số oxi hoá của Oxi là -2 (Trừ :

OF 2 , H 2 O 2 )

trong nguyên tố bằng 0

*Qui tắc 3: Số oxi hoá trong các ion đơn nguyên tử bằng điện tích của ion đó.Trong ion đa nguyên tử, tổng

số oxi hoá của các nguyên tố bằng điện tích của ion

*Qui tắc 4: Trong hầu hết các hợp chất, số oxi hoá của H = +1(Trừ NaH, CaH 2 ….) Số oxi hoá của Oxi là -2 (Trừ :

OF 2 , H 2 O 2 )

Hoạt động 5:

Tổ chức trò chơi Giáo viên chia nhóm và phổ biến luật chơi, đưa cho các nhóm các hình mẫu, gợi ý nếu cần thiết

Cuối giờ giáo viên nhận xét

về sự tích cực của tổ, của cá nhân khi tham gia các hoạt động Tuyên dương những thành viên tích cực đồng thời nhắc nhở các thành viên chưa tích cực để rút kinh nghiệm lần sau

Học sinh hoạt động nhóm

Trang 9

Trang 9

Hình mẫu và sản phẩm của học sinh tổ 2 lớp 10A1 năm học 2019-2020

Trang 10

Trang 10

Hình mẫu và sản phẩm của học sinh tổ 3 lớp 10A1 năm học 2019-2020

+ Lần 2: Tôi áp dụng vào bài 17 - Phản ứng oxi hóa khử phần I Định nghĩa

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Nội dung cơ bản Hoạt động 1: Chất

khử-chất oxi hoá; Sự khử- Sự oxi hoá

Gv nhắc lại ĐN sự oxi hoá ở lớp 8

Cho pư:

Mg + O 2 MgO

- Số oxi hoá của Mg tăng hay giảm? Mg đã nhường e hay nhận e?

-Xác định số oxi hoá của Mg và O 2 trước và sau pứ

-Nhận xét về sự thay đổi số oxi hoá của Mg

-Xác định số oxi hoá của Mg, O trước và sau phản ứng

- Hs viết sự nhường

e của Mg

- Hs viết sự nhận e của O

- Gv lấy ví dụ, yêu cầu học sinh xác định số oxi hoá của

Cu, H trước và sau phản ứng

- Hs viết sự nhận e của Cu

O → 2 Mg O 2 2

+ − (1)

Số oxh của Mg tăng từ 0 lên +2, Mg nhường electron:

Mg 0 → Mg 2

+ + 2e Oxi nhận electrron:

0

O + 2e →

2

O

→Quá trình Mg nhường electron là quá trình oxh Mg

Ở phản ứng (1): Chất oxh là oxi, chất khử là Mg

VD2:

2 2

Cu O

+ − + 0 2

HCu 0 +

1 2 2

H O

+ − (2)

Số oxh của đồng giảm từ +2 xuống 0, đồng trong CuO nhận thêm 2 electron:

Trang 11

Trang 11

và O 2 Cho pư:

CuO + H 2 Cu +

H 2 O

- Số oxi hoá của Cu tăng hay giảm? Cu đã nhường e hay nhận e?

- Qua 2 vd trên, thế nào

là chất khử- chất oxi hoá, thế nào là sự khử-

sự khử- sự oxi hoá, viết các quá trình

2

Cu

+ + 2e →

+ nhận thêm 2 electron gọi là quá trình khử

2

Cu

+ (sự khử

2

Cu

+ ) Phản ứng (2): Chất oxh là CuO, chất khử là Hiđro

Tóm lại:

+ Chất khử ( chất bị oxh) là chất nhường electron

+ Chất oxh ( Chất bị khử) là chất thu electron

+ Quá trình oxh ( sự oxh ) là quá trình nhường electron

+ Quá trình khử (sự khử ) là quá trình thu electron

2.Xét phản ứng không có oxi tham gia

2x1e VD3: 2

0

Na + 0 2

Cl → 2

1 1

Na Cl

+ − (3)

Phản ứng này có sự thay đổi số oxi hóa,

sự cho nhận electron:

Na 0 → Na 1

+ + 1 e

Cl 0 + 1 e → Cl 1

VD4 : H 0 2 + Cl 0 2 → 2 H Cl 1 1

+ − (4) Trong phản ứng (4) có sự thay đổi số oxi hóa của các chất, do cặp electron góp chung lệch về Clo

N O

+ + 2H 2 O

Phản ứng (5) nguyên tử N -3 nhường e,

N +5 nhận e → có sự thay đổi số oxh của một nguyên tố

Hoạt động 2: Phản ứng oxi hoá- khử

- Nhận xét gì về số oxi hoá của nguyên

tố trước và sau pư

3 Phản ứng oxi hoá- khử

ĐN: Phản ứng oxh – khử là phản ứng hóa học, trong đó có sự chuyển electron

Trang 12

→Những phản ứng như vậy gọi là phản ứng oxi hoá- khử

giữa các chất phản ứng, hay pư oxh – khử là phản ứng hóa học trong đó có sự thay đổi số oxh của một số nguyên tố

Hoạt động 3:

Tổ chức trò chơi Giáo viên chia nhóm

và phổ biến luật chơi, đưa cho các nhóm các hình mẫu, gợi ý nếu cần thiết

Học sinh hoạt động nhóm

Sản phẩm của học sinh lớp 10A1 năm học 2019-2020

Trang 13

.Tiết 1: Giáo viên giới hạn nội dung chương Halogen, số lượng câu hỏi từ 25 –

40 câu trong đó có 25% là bài tập gồm cả cơ bản và nâng cao

Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thảo luận hình mẫu, tìm số câu hỏi ứng với mỗi hình

Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên (số lượng câu hỏi thuộc bài nào, phần nào)

Mỗi thành viên hoàn thành câu hỏi của mình

Nhóm trưởng tổng kết các câu hỏi và câu trả lời nộp cho giáo viên

Giáo viên kiểm tra nội dung và chỉnh sửa rồi đưa lại cho nhóm trưởng Yêu cầu học sinh thiết kế câu hỏi lên hình mẫu, gửi cho cô trước khi đến tiết chơi trò chơi

Giáo viên đưa tiêu chí chấm điểm cho các nhóm trước

1 Nội dung 7 Đúng, đủ

2 Khoa học 1 Sử dụng ngôn ngữ phù hợp bộ môn, kí

hiệu và hình tượng hóa nội dung

3 Thẩm mỹ 1 Giấy đẹp hay chất liệu đẹp, chữ đẹp

4 Sáng tạo 1 Hình mẫu đẹp, độc và lạ

Tiết 2: Tổ chức chơi trò chơi: Các nhóm chơi sản phẩm của nhóm khác theo

sơ đồ sau:

Lần 1: Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 1 Lần 2: Nhóm 4 Nhóm 3 Nhóm 2 Nhóm 1 Nhóm 4 Sau 2 lần chơi, giáo viên nhận xét về sự tích cực của tổ, của cá nhân khi tham gia các hoạt động Tuyên dương những thành viên tích cực đồng thời nhắc nhở các thành viên chưa tích cực để rút kinh nghiệm lần sau Sau đó chấm điểm từng nhóm theo tiêu chí

đã đưa trước

Giáo viên cho học sinh kiểm tra 15 phút gồm khoảng 20 câu được chọn từ các câu hỏi của 4 nhóm nhằm kiểm tra kiến thức của học sinh Cho học sinh chấm chéo nhau để rèn kĩ năng học hỏi từ sản phẩm của người khác

Trang 14

Trang 14

Hình mẫu và sản phẩn của học sinh nhóm 1 lớp 10A1 năm học 2019-2020

2.1.1.2 Trò chơi đường lên đỉnh Olympia

- Giới thiệu: Đường lên đỉnh Olympia là một cuộc thi kiến thức trên truyền hình dành cho học sinh trung học phổ thông do VTV3 – Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Qua nhiều năm phát sóng, cứ mỗi năm lại có thêm những cải tiến và những luật chơi mới Cuộc thi gồm 4 phần thi: Phần thi khởi động, phần thi vượt chướng ngại vật, phần thi tăng tốc, phần thi về đích

Khi áp dụng vào bài giảng, không nhất thiết phải giữ nguyên luật chơi mà tùy vào các bài học khác nhau mà có thể biến đổi luật chơi khác nhau hoặc chỉ chọn một phần thi

để áp dụng vào nội dung bài dạy cho phù hợp

Với trò chơi đường lên đỉnh Olympia phương tiện dạy học cần thiết phải có máy tính, máy chiếu

Phần thi khởi động, là phần thi đầu tiên giáo viên có thể kiểm tra kiến thức cũ hoặc hỏi các kiến đã được chuẩn bị trước của học sinh thông qua bộ câu hỏi trả lời nhanh Phần thi vượt chướng ngại vật giáo viên đưa ra câu hỏi các tổ - nhóm giơ tay hoặc bấm chuông để giành quyền trả lời

Phần thi tăng tốc: Giáo viên có thể soạn các câu hỏi mảnh ghép để cuối cùng học sinh tìm được từ khóa của cả phần thi

Phần thi về đích: Giáo viên đưa ra các bộ câu hỏi theo các gói giống như luật của chương trình cho các tổ - nhóm chọn để trả lời, mỗi gói câu hỏi có thể hỏi về một đơn vị kiến thức nhằm củng cố các đơn vị kiến thức đó

- Áp dụng vào bài dạy: Tôi đã áp dụng từng phần thi của trò chơi này trong nhiều bài khác nhau Ở đây tôi xin giới thiệu bài học mà tôi đã áp dụng cả 4 phần thi vào trong một tiết của lớp 11A7 năm học 2019-2020 Tất nhiên, tôi cần giao nhiệm vụ cho các em

và kiểm tra tiến độ để có phần chuẩn bị tốt nhất

GIÁO ÁN BÀI 11: HỢP CHẤT CỦA CACBON (tiết 1)

I Mục tiêu

1 Kiến thức

- Học sinh biết:

Trang 15

- Giải thích tính chất hóa học của CO, CO 2

- Thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau để rút ra các kiến thức mới về tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dụng và điều chế một số hợp chất của cacbon

- Viết được phương trình hóa học và xác định vai trò chất khử hoặc chất oxi hóa…để chứng minh cho tính chất của chúng

- Phân biệt khí CO, CO 2 với hợp chất khí khác

3 Thái độ

- Rèn luyện thái độ làm việc khoa học, nghiêm túc.

- Xây dựng tính tích cực, chủ động, hợp tác, có kế hoạch và tạo cơ sở cho các em yêu thích môn hóa học

- Có ý thức yêu quí và bảo vệ môi trường khí quyển trong sạch

4 Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

- Năng lực nghiên cứu và thực hành hóa học

- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học

- Năng lực tính toán

- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống

II Chuẩn bị:

* GV: - Bài giảng powerpoint, hệ thống câu hỏi và giáo án

- Sơ đồ tư duy để trống thông tin

- Phiếu học tập: gồm 4 phiếu học tập

* HS: - Ôn tập kiến thức cũ, nghiên cứu tự học bám sát vào phiếu học tập, chuẩn

bi bài powerpoint theo tổ tương ứng với các đội chơi + Đội 1: Chuẩn bị bài powerpoint về TCVL của CO và CO 2 + Đội 2: Chuẩn bị bài powerpoint tính chất hóa học của CO + Đội 3: Chuẩn bị bài powerpoint về phương pháp điều chế CO, CO 2

+ Đội 4: Chuẩn bị bài powerpoint về tính chất hóa học CO 2

III Phương pháp

- Sơ đồ tư duy, hoạt động nhóm, thuyết trình

- Đặt vấn đề, vấn đáp, trực quan

- Tổ chức dạy học theo chương trình cuộc thi đường lên đỉnh olympia

IV Tiến trình dạy học

1 Ổn định trật tự: (1 phút)

2 Kiểm tra bài cũ: Trong quá trình giảng bài mới

3 Nội dung các hoạt động: (44 phút)

3.1 Khởi động: (5 phút)

* Mục tiêu

- Kích thích HS huy động kiến thức cũ để vận dụng vào thực tiễn

Trang 16

Trang 16

- Rèn luyện năng lực tư duy đánh giá nhận xét, động não

* Cách tiến hành

GV cho HS xem video nói về sai lầm khi sử dụng than củi và than tổ ong

GV nêu câu hỏi

- Sau khi xem xong video em có nhận xét gì? Cá nhân em có giải pháp gì để khắc phục?

HS trả lời ý kiến cá nhân (2-3 HS)

* GV dẫn dắt:

Vào mùa đông giá rét nhiều người hay đốt than tổ ong, than củi trong phòng ngủ đóng kín cửa cho ấm Hậu quả là có nhiều người thiệt mạng vì sưởi ấm bằng bếp than Vậy khí than có thành phần gì mà độc vậy?

Khi đốt than thì các khí thoát ra thường gồm: CO, CO 2 , SO 2 , … trong đó có CO (cacbon oxit) là chất khí rất độc Khí này lại không màu, không mùi, nên cơ thể không nhận biết được nó Khi hít phải khí này thì CO sẽ tạo liên kết phức với Hemoglobin (Hb) làm cho

Hb không mang được oxi tới các tế bào dẫn đến não thiếu oxi Triệu trứng đầu tiên là cơ chế ngất dần và lịm hẳn khi không có người cứu giúp kịp thời Vậy ngoài hậu quả ngộ độc khí than thì việc đốt than tổ ong còn ảnh hưởng đến môi trường như thế nào? Chúng

ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay: “ Hợp chất của cacbon”

3.2 Hoạt động hình thành kiến thức

Hoạt động 1: Giới thiệu vào bài (2 phút)

*GV giới thiệu chương trình đường lên đỉnh olympia

HS Các đội chơi giới thiệu về đội của mình

Hoạt động 2: Nghiên cứu về tính chất vật lí và phương pháp điều chế CO, CO 2 (7 phút)

* Mục tiêu

- Giúp HS biết về tính chất vật lí và phương pháp điều chế CO, CO 2

- Hình thành NL tự học, giải quyết vấn đề, hợp tác, đánh giá, giao tiếp

* Cách tiến hành: GV tổ chức vòng thi “Khởi động”

1 GV tổ chức vòng thi “Khởi động”

1.1 GV chiếu đồng thời câu hỏi của mỗi đội và hoàn thành trong 2

phút (phụ lục 3)

- Sau khi đã hết thời gian 2 phút, GV kiểm tra bài làm từng đội và yêu cầu đội 1 và đội 3 lên thuyết trình

- HS đội khác nhận

I Tính chất vật lí và phương pháp điều chế

CO, CO 2

1 Tính chất vật lí của

CO, CO2

Trang 17

Trang 17

phần bài đã được giao

- GV nhận xét bổ sung, chốt kiến thức và thông báo số điểm mỗi đội

1.2 GV chiếu lần lượt 3 câu hỏi trắc nghiệm giúp HS củng cố kiến thức, mỗi câu trả lời đúng 10 điểm, trả lời sai đội khác được

giành quyền trả lời (phụ lục 3)

- GV chốt và lưu ý, yêu cầu hs điền

vào sơ đồ tư duy

- GV: Tổng kết điểm của 4 đội trong vòng thi “khởi động”

xét và bổ sung

- Đại diện đội 3 lên thuyết trình phương pháp điều chế CO,

CO 2

- HS đội khác nhận xét và bổ sung

- HS: Ghi bài (hoàn thiện sơ đồ tư duy để trống

2 Phương pháp điều chế

CO, CO 2

Hoạt động 3: Nghiên cứu về tính chất hóa học của CO, CO 2 (10 phút)

* Mục tiêu

- Giúp HS hiểu rõ về tính chất hóa học của CO, CO 2

- Hình thành NL tự học, giải quyết vấn đề, hợp tác, đánh giá, giao tiếp

* Cách tiến hành: GV tổ chức vòng thi “Vượt chướng ngại vật”

2 GV dẫn chuyển ý, tổ chức vòng thi “Vượt chướng ngại vật”

GV chiếu từng chướng ngại vật

Đội nào trả lời sai, đội khác bấm chuông giành quyền trả lời

II Tính chất hóa học của

CO, CO2

Trang 18

Trang 18

*GV: kết luận về tính chất hóa học của CO, CO 2

- Chướng ngại vật 2,3 (phụ lục 3)

+)GV yêu cầu học sinh giải thích +)GV nhận xét và bổ sung

- GV nhấn mạnh lại ý chính, yêu cầu HS bổ sung vào sơ đồ tư duy

*GV: Tổng kết điểm của 4 đội trong vòng thi “Vượt chướng ngại vật”

- Đội 2 và đội 4 lần lượt thuyết trình

- Cho các đội khác nhận xét chéo và bổ sung

- HS tiếp tục hoàn thiện sơ đồ tư duy trống

- HS bấm chuông trả lời

- Tại phần thi tăng tốc GV đưa lần lượt 3 câu hỏi trắc nghiệm nhanh

3.1 Tăng tốc 1 (phụ lục 3) 3.2 Tăng tốc 2 (phụ lục 3) 3.3 Tăng tốc 3 (phụ lục 3)

- GV nhấn mạnh lại ý chính, yêu cầu HS bổ sung vào sơ đồ tư duy

*GV tổng kết điểm của 4 đội qua vòng thi “Tăng tốc”

- HS bấm chuông giành quyền trả lời

- HS giải thích

- HS hội ý nhanh và điền thông tin vào sơ

đồ tư duy và hoàn thiện phiếu học tập số 4

Hoạt động 4: Vận dụng và phát triển kiến thức (12 phút)

* Mục tiêu

- Tạo cơ hội cho HS vận dụng kiến thức, kĩ năng có được vào thực tiễn

Trang 19

4.1 Về đích 1:

- HS: Thảo luận và bấm chuông giành quyền trả lời

+) GV Yêu cầu học sinh giải thích 4.2 Về đích 2:

+) GV Yêu cầu học giải thích, đội khác sẽ nhận xét chéo

4.3 Về đích 3:

+) GV Yêu cầu học giải thích, đội khác sẽ nhận xét chéo

4.4 Về đích 4: Ô mạo hiểm (phụ lục 3)

+ Đối với câu hỏi trong ô mạo hiểm

Đội nào trả lời đúng sẽ được gấp đôi số điểm cược

- HS nhận xét và bổ sung

- HS giải thích

- HS bổ sung và nhận xét

- HS thảo luận làm bài và bấm chuông giành quyền trả lời

- HS đội khác nhận xét chéo

Trang 20

Trang 20

+ GV giao về nhà để HS quay video minh chứng 1 trong 2 ý tưởng

*GV tổng kết điểm của 4 đội qua bốn vòng thi ( kết hợp điểm trên 4

phiếu hoc tập và sơ đồ tư duy) GV: Tổng kết điểm của các đội, trao phần thưởng cho đội thắng cuộc và hướng dẫn

- HS được lựa chọn 1 trong 2 ý tưởng để trả lời câu hỏi

Sơ đồ tư duy “Hợp chất của cacbon (tiết 1)”

5 Hướng dẫn tự học ở nhà: (1 phút)

- Ôn lại bài cũ và nghiên cứu tiếp phần axit cacbonic và muối cacbonat

- Hoàn thiện các bài tập 1, 2, 3, 4, 5 (SGK – T 75)

- Hiệu ứng nhà kính là gì? Nêu nguyên nhân, sự biểu hiện, hậu quả của sự gia tăng hiệu ứng nhà kính và giải pháp của em là gì?

- Mở rộng: Nếu điều kiện của giáo viên đáp ứng được thì giáo viên có thể tích hợp thêm trong phần trả lời của các cá nhân hoặc các đội chơi phần trả lời bằng phiếu QR code trên

phần mềm plickers Giáo viên chuẩn bị sẵn các phiếu QR code plickers để học sinh trả lời

nhanh và hiện được ngay kết quả trên phông của máy chiếu

2.1.2 Trò chơi online

Hiện nay với công văn của bộ Giáo dục và đào tạo có cho phép học sinh được mang điện thoại đến trường Vận dụng linh hoạt điều này giáo viên có thể thiết kế các trò chơi online có sử dụng mạng internet trên các ứng dụng như kahoot.com, thatquiz.com, quizizz.com, google form hoặc các phần mềm thí nghiệm ảo… Với việc được sử dụng điện thoại, máy tính bảng phục vụ cho quá trình học tập sẽ làm cho học sinh hứng thú với học tập hơn Hơn nữa các công cụ online thường cho kết quả và xếp thứ tự ngay do đó giáo viên có thể chuẩn bị một số phần thưởng để trao cho học sinh trong quá trình học tập Các ứng dụng tôi giới thiệu ở đây bản thân tôi mới áp dụng ở các bài luyện tập là phần nhiều, để áp dụng được vào một bài lý thuyết với hoạt động hình thành kiến thức chắc sẽ cần tư duy để hoàn thiện và kết hợp với các trò chơi offline ở trên

Ở đây tôi không đi sâu vào hướng dẫn sử dụng các ứng dụng, các phần mềm bởi hiện nay các thầy cô có thể dễ dàng tiếp cận các video hướng dẫn sử dụng trên internet trực quan và dễ hiểu hơn rất nhiều so với việc trình bày bằng lời, bằng chữ khô khan Tôi chỉ giới thiệu sơ qua về các ứng dụng, các phần mềm mà tôi đã sử dụng và tập trung hơn vào việc áp dụng các ứng dụng, phần mềm đó trong bài học như thế nào nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn

2.1.2.1 Sử dụng ứng dụng Kahoot

- Giới thiệu về Kahoot: Kahoot chính là một ứng dụng hỗ trợ người sử dụng học tập miễn phí nổi tiếng hiện nay dựa trên hình thức trò chơi và được sử dụng giống như một lớp học có sự tương tác qua lại Về bản chất thì Kahoot chính là một website vì vậy

Trang 21

Ưu điểm của Kahoot + Giúp người sử dụng có thể chủ động tương tác hơn

+ Có thể đặt chế độ cài thời gian cho mỗi câu hỏi

+ Có thể sử dụng bất kỳ trình duyệt web nào mà không cần phải cài đặt

+ Có sẵn bộ câu hỏi hay được chia sẻ trên cộng đồng của Kahoot, do đó bạn hoàn toàn có thể tì và sử dụng thêm các câu đố khá

+ Cuối mỗi bài học, người học có thể phản hồi về bài kiểm tra để giúp cho giáo viên có thể ngày càng hoàn thiện bộ câu hỏi của mình

+ Kahoot hoàn toàn không mất phí

Nhược điểm của Kahoot + Kahoot chỉ có cho ra những câu hỏi trắc nghiệm

+ Bởi vì đây là trò chơi trực tiếp nên người sử dụng phải ở cùng một phòng trong cùng một thời điểm

+ Chỉ có 95 ký tự cho các câu hỏi và 60 ký tự cho câu trả lời

- Sử dụng ứng dụng Kahoot: Giáo viên điều hành trên máy tính, chiếu trên phông của máy chiếu, học sinh đọc câu hỏi trên phông và trả lời bằng điện thoại, máy tính bảng Phần mềm sẽ tự động tính thời gian, tính điểm của từng học sinh và đưa ra các học sinh làm bài chính xác và nhanh nhất sau mỗi phần thi

- Áp dụng vào bài dạy: Trong quá trình dạy học tôi đã áp dụng Kahoot trong các bài luyện tập củng cố kiến thức chương sự điện li (bộ câu hỏi – phụ lục 5)

Trang 22

Trang 22

Tiết học có sử dụng ứng dụng Kahoot của lớp 10A1 và 11A7

năm học 2019-2020 Một số ứng dụng tương tự mà giáo viên có thể sử dụng để thay thế kahoot như quizizz, quizlet, gimkit, blocket Với ứng dụng blocket có 10 chế độ chơi trực tuyến và 5 chế độ chơi dạng bài tập về nhà thay vì chỉ có một hay hai chế độ chơi truyền thông như kahoot, quizizz Với một bộ câu hỏi có thể chơi với 10 hình thức, chế độ chơi khác nhau, mỗi chế độ chơi đều có trải nghiệm chơi riêng biệt ví dụ như gold quest (tìm vàng), racing (đường đua), battle royale (đối kháng theo cặp)

2.1.2.2 Sử dụng QR code

- Giới thiệu về QR code: QR Code, viết tắt của Quick response code (tạm dịch "Mã

phản hồi nhanh") hay còn gọi là mã vạch ma trận (matrix-barcode) là dạng mã vạch hai chiều (2D) có thể được đọc bởi một máy đọc mã vạch hay smartphone có chức năng chụp ảnh (camera) với ứng dụng chuyên biệt để quét mã vạch Bên trong một mã QR có thể chứa các thông tin liên quan đến sản phẩm, hoặ trang web, thông tin sự kiện, thông tin liên hệ, tin nhắn, hoặc cả một đoạn văn bản vị trí thông tin địa lý Tùy thuộc vào thiết bị đọc mã vạch QR khi quét nó sẽ dẫn tới các kết quả có chứa sẵn bên trong

- Sử dụng ứng dụng QR Code: Giáo viện tạo ra bộ câu hỏi – bài tập và mã hóa chúng thành các mã QR code qua các công cụ như https://www.the-qrcode- generator.com/, https://www.qrstuff.com/, hoặc tiện ích trình tạo mã QR của google chrome Giáo viên có thể tổ chức trò chơi như vòng thi vượt chướng ngại vật của trò chơi đường lên đỉnh Olympia Mỗi tổ - nhóm trong lớp chọn một mã QR bất kì để lấy câu hỏi – bài tập của mình, giải và đưa ra kết quả, nếu đúng sẽ được cộng điểm, sai bị trừ điểm Giáo viên có thể tạo các mã QR code không phải trả lời vẫn được điểm hay mất lượt để tăng hứng thú cho học sinh

- Áp dụng vào bài dạy: Trong bài luyện tập halogen dạy trên lớp tôi đã chuẩn bị ba

bộ câu hỏi (phụ lục 6) được mã hóa bằng QR code Học sinh quét mã được bộ câu hỏi nào thì trả lời bộ câu hỏi đó Tuy nhiên nếu tạo bằng website https://www.the-qrcode-

Trang 24

- Sử dụng ứng dụng Padlet: Giáo viên có thể đưa ra một chủ đề nào đó hoặc tổ chức một cuộc thảo luận nhóm để học sinh có thể đặt câu hỏi hoặc trình bày quan điểm của mình theo một cách công khai danh tính hoặc ẩn danh Qua các câu hỏi giáo viên có thể biết được phần kiến thức học sinh thắc mắc, hoặc vấn đề học sinh quan tâm Phần tiện dụng của ứng dụng này là học sinh có thể ẩn danh để trả lời các yêu cầu của giáo viên Bản thân tôi thường dùng ứng dụng này để thu thập các ý kiến góp ý của học sinh về bản thân cũng như bộ môn

- Áp dụng vào dạy học: Ở đây cuối giờ học áp dụng trò chơi online tôi thường tranh thủ một số phút cuối giờ khảo sát ý kiến của các em về giáo viên, bộ môn, về các ý kiến đề xuất của các em đối với bản thân tôi Tuy nhiên, không thể tránh được việc các

em up các ảnh, nội dung không liên quan đến khảo sát

Khảo sát: Em có ấn tượng gì về môn hóa và giáo viên dạy môn hóa của lớp 11A7

năm học 2019-2020

Trang 25

Trang 25

Khảo sát: Nêu các ý kiến đề xuất đối với việc dạy và học môn hóa học của lớp 10A1

năm học 2019-2020 Tương tự như ứng dụng padlet, giáo viên có thể sử dụng ứng dụng menti (tại địa chỉ http://menti.com)

Ưu điểm của ứng dụng Plickers:

+ Học sinh không cần sử dụng thiết bị cầm tay như điện thoại thông minh, máy tính bảng

+ Trong thời gian ngắn, giáo viên có thể ghi lại câu trả lời của tất cả học sinh trong lớp và có thể biết rõ học sinh nào đã trả lời, học sinh nào chưa trả lời câu hỏi

+ Giáo viên có thể kết hợp với các trò chơi offline có sử dụng máy tính, máy chiếu

đã trình bày ở trên trong phần kiểm tra khảo sát đánh giá năng lực sau mỗi trò chơi Nhược điểm của ứng dụng Plickers:

+ Ứng dụng Plickers là một ứng dụng có trả phí, bản free chỉ có thể tạo được danh sách lớp dưới 40 học sinh và chỉ tạo được dưới 5 câu hỏi cho một bộ câu hỏi Để được nhiều hơn giáo viên cần tạo nhiều bộ câu hỏi

- Sử dụng ứng dụng Plickers: Giáo viên có thể kết hợp kiểm tra đánh giá sau mỗi tiết học để nắm bắt được các nội dung kiến thức mà học sinh đã hiểu, biết vận dụng Giáo viên tạo danh sách lớp trên ứng dụng, in cho học sinh bộ mã QR của ứng dụng (mỗi mã

QR in trên ½ trang A4 được sử dụng cố định cho một học sinh) Giáo viên chiếu câu hỏi trên phông của máy chiếu, các học sinh trả lời bằng cách giơ mã QR xoay chiều đúng với đáp án đã lựa chọn Giáo viên dùng mở ứng dụng trên điện thoại dùng camera quét hình

Trang 27

Các kiến thức liên quan trực tiếp đến bài học:

- Liên kết ion, liên kết cộng hóa trị

- Hóa trị của nguyên tố trong hợp chất ion, trong hợp chất cộng hóa trị

- Quy tắc xác định số oxi hóa

I/ Mục tiêu bài học

1 Nội dung kiến thức

(1) Định nghĩa, bản chất của liên kết, hiệu độ âm điện, đặc tính của liên kết ion, liên kết cộng hóa trị có cực, liên kết cộng hóa trị không cực

(2) Hóa trị của nguyên tố trong hợp chất ion, hóa trị của nguyên tố trong hợp chất cộng hóa trị, quy ước cách viết điện hóa trị, cộng hóa trị

(3) Các quy tắc xác định số oxi hóa của nguyên tố

(4) Xác định kiểu liên kết trong phân tử dự vào giá trị hiệu độ âm điện

(5) Xác định được điện hoá trị, cộng hóa trị, số oxi hoá của nguyên tố trong một số phân tử đơn chất và hợp chất cụ thể

(6) Viết được phương trình biểu diễn sự hình thành ion từ các nguyên tử tương ứng

2 Năng lực 2.1 Năng lực chung

Tự chủ - tự học

(7) Hoàn thành các phiếu học tập cá nhân màu trắng tại vòng chuyên gia và phiếu học tập nhóm dựa trên cơ sở kiến thức cũ hoặc tra cứu từ tài liệu

Giao tiếp - hợp tác

(8) Trao đổi thảo luận hoàn thành 2 phiếu học tập cá nhân màu xanh và phiếu học tập A1 của cả nhóm

Giải quyết vấn đề sáng tạo

(9) Vận dụng các nội lý thuyết đã được ôn lại trong phiếu học tập cá nhân hoàn thành được các bài tập trong phiếu học tập nhóm

2.2 Năng lực đặc thù

Năng lực nhận thức hoá

học

Khái niệm liên kết hoá học, liên kết ion, liên kết cộng hoá trị, hoá trị

của nguyên tố trong hợp chất ion và hợp chất cộng hoá trị, số oxi hoá

Năng lực vận dụng kiến

Trang 28

Trang 28

phiếu học tập nhóm

Trung thực Từ các nội dung phiếu học tập nhóm của từng thành viên tổng hợp ra

kết quả của cả nhóm trình bày trong phiếu học tập khổ A1 (không tham khảo ý kiến của các nhóm khác)

Không nhắc bài bạn khác khi trả lời các câu hỏi trong phần khởi động

và củng cố, trả lời các câu hỏi dựa trên quan điểm cá nhân (không nghe

ý kiến từ các bạn khác)

Trách nhiệm Tích cực hoàn thành các phiếu học tập các nhân, đóng góp các ý kiến

cho nhóm để hoàn thành phiếu học tập nhóm

4 Trọng tâm

- So sánh các loại liên kết hoá học

- Hoá trị của nguyên tố trong hợp chất ion, hợp chất cộng hoá trị

- Số oxi hoá của nguyên tố

- Phương trình biểu diễn sự hình thành ion từ các nguyên tử tương ứng

II/ Phương pháp và kĩ thuật dạy học

1 Phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học nhóm, đàm thoại gợi mở, thuyết

trình

2 Các kĩ thuật dạy học: Chia nhóm, mảnh ghép, trò chơi

III/ Thiết bị dạy học và học liệu

Nhóm 2: Phiếu học tập cá nhân 2 màu trắng, phiếu học tập cá nhân 1, 3 màu xanh; ghim theo thứ tự 2,1,3

Nhóm 3: Phiếu học tập cá nhân 3 màu trắng, phiếu học tập cá nhân 1, 2 màu xanh; ghim theo thứ tự 3,1,2

- Phiếu QR code

2 Học sinh (HS)

- Ôn tập các bài: Bài 12: Liên kết ion-tinh thể ion, Bài 13: Liên kết cộng hoá trị, Bài

15: Hoá trị và số oxi hoá

- Đồ dùng học tập

IV/ Tiến trình dạy học

A Tiến trình dạy học

Ngày đăng: 06/08/2023, 11:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình mẫu và sản phẩm của học sinh tổ 3 lớp 10A1 năm học 2019-2020 - sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt
Hình m ẫu và sản phẩm của học sinh tổ 3 lớp 10A1 năm học 2019-2020 (Trang 10)
Hình mẫu và sản phẩn của học sinh nhóm 1 lớp 10A1 năm học 2019-2020 - sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt
Hình m ẫu và sản phẩn của học sinh nhóm 1 lớp 10A1 năm học 2019-2020 (Trang 14)
Sơ đồ tư duy “Hợp chất của  cacbon (tiết 1)” - sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt
Sơ đồ t ư duy “Hợp chất của cacbon (tiết 1)” (Trang 20)
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới - sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt
o ạt động 2: Hình thành kiến thức mới (Trang 29)
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới - sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt
o ạt động 2: Hình thành kiến thức mới (Trang 31)