1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm hóa học thpt

43 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Thực Hành Hóa Học Cho Học Sinh Thông Qua Dạy Học Thí Nghiệm Chuyên Đề Estelipit Và Cacbohiđrat Hóa Học 12 Trung Học Phổ Thông
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình tổng thể môn hóa học ban hành ngày 26/12/2018 đã đề cập đến quan điểm xây dựng chương trình môn hóa học: “… đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về tính toán; chú

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, toàn ngành giáo dục đang ra sức nỗ lực thực hiện nhằm nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước nhà Trong đó mỗi một giáo viên đóng một vai trò then chốt cho sự phát triển

đó, là một giáo viên THPT tôi vẫn rất trăn trở để tìm giải pháp đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo dục đất nước

Trong những năm gần đây trong kì thi THPT Quốc Gia của môn Hóa học luôn có các câu hỏi thực hành thí nghiệm Chương trình tổng thể môn hóa học ban hành ngày 26/12/2018 đã đề cập đến quan điểm xây dựng chương trình môn hóa học: “… đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về tính toán; chú trọng trang bị các khái niệm công cụ và phương pháp sử dụng công cụ, đặc biệt

là giúp học sinh có kĩ năng thực hành thí nghiệm, kĩ năng vận dụng các tri thức hoá học” Đồng thời hướng tới mô hình giáo dục STEAM là mô hình giáo dục

mà Bộ giáo dục đang định hướng phát triển trong chương trình giáo dục mới Do

đó, một trong những NL mà GV cần chú ý hình thành và phát triển cho HS trong môn hóa học là NLTHHH

Sử dụng TN là một biện pháp mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển NLTHHH Tuy nhiên, thực tế DHHH ở nước ta, tình trạng “dạy chay, học chay” vẫn còn tồn tại HS chỉ biết đến các phản ứng hóa học thông qua sách vở, thông qua lời giảng của GV Khi được tiếp xúc với dụng cụ TN, hóa chất mặc dù rất hào hứng nhưng các em lại rất lúng túng với các thao tác TN, cách quan sát, mô

tả hiện tượng Vì thế, hiệu quả dạy học có thể chưa cao cũng như chưa phát triển được ở HS các NL cần có đặc biệt là NLTHHH

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm chuyên đề este- lipit và cacbohiđrat hóa học 12 trung học phổ thông” Nghiên cứu, lựa chọn,

xây dựng và sử dụng hệ thống TNHH trong hai chuyên đề este-lipit và cacbohidrat theo hướng dạy học tích cực định hướng phát triển NLTHHH cho

HS, góp phần nâng cao chất lượng DHHH ở trường phổ thông

Trong khuôn khổ của sáng kiến tôi lựa chọn hai chuyên đề trên là do các thí nghiệm trong hai chuyên đề này đều là những thí nghiệm quan trọng của

Trang 2

chương trình hóa học hữu cơ nói chung, các thí nghiệm thường xuất hiện trong

đề thi THPT Quốc gia Nội dung giảng dạy của hai chuyên đề có đủ các các dạng bài lý thuyết, bài luyện tập và bài thực hành

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Nhiều năm qua, việc xây dựng nội dung sách giáo khoa cũng như các loại sách bài tập tham khảo của giáo dục nước ta nhìn chung còn mang tính hàn lâm, chưa chú trọng đến năng lực thực hành và hướng nghiệp cho học sinh; chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội cũng như nhu cầu của người học Học sinh còn hạn chế về năng lực phản biện, tư duy, sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp; kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và cạnh tranh lành mạnh chưa cao; khả năng tự lập nghiệp còn hạn chế do ít được quan sát, trực tiếp làm các thí nghiệm thực hành

Qua công tác giảng dạy cũng như chấm, trả các bài kiểm tra, tôi nhận thấy

có Chỉ có 5% HS của mình đang giảng dạy có NLTHHH ở mức tốt, 35% HS có NLTHHH mức độ khá và 60% HS có NLTHHH ở mức trung bình Kết quả này cho thấy NLTHHH của HS đa số chưa tốt Mà hầu hết các GV đánh giá sử dụng

TN hiệu quả giúp làm tăng sự yêu thích môn học, tăng mức độ hiểu và nhớ bài lâu hơn, rèn luyện kĩ năng thực hành, tăng niềm tin vào khoa học, tạo không khí lớp học sôi nổi, giải thích các hiện tuợng trong thực tiễn Hầu hết GV cho rằng việc phát triển NLTH cho HS là cần thiết

Từ năm học 2015- 2016 tôi đã bắt đầu có ý thức đổi mới phương pháp dạy học bằng việc sử dụng các thí nghiệm trong bài dạy lý thuyết bài tập, đưa ra các bài tập thí nghiệm thực hành, yêu cầu HS làm ở nhà một số thí nghiệm… Năm học 2019- 2020 tôi áp dụng phương pháp này một cách cụ thể hơn, đặc biệt quan tâm đến thí nghiệm hướng dẫn ở nhà với yêu cầu dễ làm và thực hiện hết ít thời gian Các thí nghiệm dùng trong bài học và bài thực hành cần phân tích kĩ các bước làm, lưu ý các thao tác, điều kiện và vai trò của các chất để phục

vụ cho việc các em làm các câu hỏi về thí nghiệm thực hành trong đề thi TN THPTQG Vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào để có thể phát triển toàn diện NLTH cho HS bản thân tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:

* Thuận lợi:

- Học sinh rất hứng thú khi được xem trực tiếp thí nghiệm, làm thí nghiệm trên lớp, tạo nhóm làm thí nghiệm tại nhà, khắc phục tình trạng ngại học, chán học môn Hóa học Tôi đã tiến hành khảo sát và cho kết quả đa số HS thích giờ hóa có TN (65%), chỉ có 2,5% HS không thích giờ học có thí nghiệm

Trang 3

- Nâng cao chất lượng giờ học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, rèn cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt vấn đề Để từ đó học sinh tự nhận thức, tự giáo dục, tự phát triển và tự hoàn thiện mình

* Khó khăn:

Trong nhà trường vẫn còn thiếu dụng cụ hóa chất, điều kiện làm thí nghiệm chưa thuận tiện như dụng cụ còn ít nên chia nhóm HS còn đông nên HS trực tiếp làm thí nghiệm chưa nhiều Thời gian tiết học bị hạn chế nên thực hiện được ít thí nghiệm Kĩ năng làm thí nghiệm của HS còn kém nên thời gian làm thí nghiệm kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ nội dung của tiết học

Đây là những vấn đề khi thực tế dạy học sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học tôi cũng như đồng nghiệp gặp phải

Với mong muốn phát triển năng lực thực hành cho HS nên tôi mạnh dạn

đề xuất đề tài “Phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm qua chuyên đề Este – Lipit và Cacbohiđrat hóa học

12 trung học phổ thông”

2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến

2.1 Định hướng tiếp cận ban đầu

Với câu hỏi “Làm thế nào để sử dụng TN hiệu quả nhằm phát triển năng lực thực hành cho HS lớp 12 trong điều kiện HS vẫn phải dành thời gian tập trung cho ôn tập hướng đến kì thi TN THPT?” Đồng thời khắc phục những khó khăn về điều kiện thời gian của tiết học, hóa chất dụng cụ còn thiếu

Hướng giải quyết là tiến hành nhiều làm thí nghiệm trong các không gian khác nhau như: GV làm thí nghiệm để HS quan sát, hướng dẫn HS tự làm thí nghiệm trong các giờ học lý thuyết, cải tiến các TN theo hướng đơn giản để HS thực hiện, lồng ghép các thí nghiệm có nội dung thực tiễn vào bài dạy, tổ chức các thí nghiệm HS có thể thực hiện tại nhà, tăng tỉ lệ bài tập có nội dung rút ra từ thực hành thí nghiệm trong kiểm tra Hầu hết HS đã rất hứng thú, đặc biệt giải pháp tổ chức các thí nghiệm ngoại khóa, các thí nghiệm HS có thể thực hiện tại nhà được

2.2 Năng lực thực hành hóa học

2.2.1 Khái niệm năng lực thực hành hóa học

NLTH của HS phổ thông là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng thực hành cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập và thực tiễn thực tiễn một cách phù hợp hiệu quả

Trang 4

Từ đó, có thể định nghĩa NLTHHH là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra trong học tập và thực tiễn có liên quan đến hóa học một cách phù hợp và đạt hiệu quả NLTHHH thể hiện thông qua các hoạt động giải thích đƣợc các hiện tượng liên quan đến hóa học, thực hiện thành công các TNHH, đề xuất, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm,… phục vụ cho cuộc sống Như vậy, NLTHHH gắn liền với khả năng hành động, đòi hỏi HS phải giải thích được, làm được, vận dụng được kiến thức hóa học vào thực tiễn

2.2.2 Cấu trúc của năng lực thực hành hóa học

NLTHHH gồm 4 thành tố: xác định vấn đề và đề xuất phương án thực hành; thiết kế phương án thực hành; tiến hành thực hành; xử lí, phân tích, báo cáo kết quả và rút ra kết luận về kiến thức Mỗi thành tố được cụ thể hóa thành các hành

vi được thể hiện trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của NLTHHH

2.2.3 Các biểu hiện của năng lực thực hành hóa học

Các biểu hiện của NLTHHH bao gồm các hành vi:

- Xác định được mục đích thực hành

Trang 5

- Đề xuất được các phương án thực hành

- Xác định được các dụng cụ, hóa chất, các điều kiện cần thiết

- Xác định được quy trình tiến hành thực hành

- Sử dụng các dụng cụ, hóa chất một cách thích hợp

- Thực hiện được quy trình thực hiện đã đề ra

- Thu thập được các thông tin cần thiết trong quá trình thực hành

- Xử lí được các thông tin thu thập được trong quá trình thực hành

- Giải thích được các hiện tượng liên quan

- Rút ra được các kết luận cần thiết trong quá trình thực hành

2.2.4 Biện pháp phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh trung học phổ thông

Để phát triển NLTHHH cho HS, GV có thể áp dụng các biện pháp:

- Sử dụng các bài tập có nội dung thực hành trong DHHH Các bài tập này có thể được sử dụng khi nghiên cứu bài mới, khi ôn tập, khi kiểm tra

- Sử dụng kênh hình trong hoạt động hình thành kiến thức, trong hoạt động củng

cố kiến thức, trong hoạt động ngoại khóa

- Sử dụng thí nghiệm trong các giờ dạy hóa học kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực Đây là biện pháp hữu hiệu để phát triển NLTHHH cho HS Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung nghiên cứu biện pháp sử dụng thí nghiệm để phát triển NLTHHH cho HS

2.2.5 Đánh giá sự phát triển năng lực thực hành hóa học của học sinh trung học phổ thông

Để đánh giá NLTHHH của HS, GV có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, hoặc có thể phối hợp các phương pháp:

Đánh giá thông qua bài kiểm tra

Đánh giá thông qua bài kiểm tra là hình thức đánh giá được áp dụng phổ biến nhất ở các trường phổ thông GV có thể đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra

15 phút, 45 phút với hình thức tự luận khách quan hoặc trắc nghiệm hoặc có thể kết hợp cả 2 hình thức Khi đánh giá dựa vào các bài kiểm tra có câu hỏi tự luận, ngoài việc căn cứ vào nội dung khoa học thì GV còn căn cứ vào cách trình bày, diễn đạt, bố cục,… để đánh giá HS

Đánh giá thông qua quan sát

Đánh giá thông qua quan sát trong giờ học là một phương pháp quan trọng giúp

GV có cái nhìn tổng quát về thái độ, hành vi, sự phát triển các kỹ năng của HS trong suốt quá trình dạy học GV có thể quan sát nhiều khía cạnh khác nhau như thái độ trong giờ học, quan sát tinh thần xây dựng bài, quan sát thái độ trong

Trang 6

hoạt động nhóm, quan sát kỹ năng trình bày của HS, quan sát HS thực hiện các thao tác Muốn đánh giá HS bằng cách quan sát, GV phải làm phiếu quan sát hoặc có thể quan sát tự do và có ghi chép bằng nhật ký dạy học

Việc đánh giá HS thông qua quan sát, GV ghi chép lại nhật kí các giờ học, các hoạt động diễn ra cũng như thái độ, thể hiện của HS, thông báo cho HS kết quả các ghi chép

Đánh giá thông qua vấn đáp, thảo luận nhóm

GV đặt câu hỏi cho HS về nội dung bài cũ để kểm tra việc học bài ở nhà Các câu hỏi được trả lời theo cá nhân hoặc theo nhóm trong quá trình dạy bài mới giúp GV đánh giá mức độ đạt được mục tiêu bài học cũng như phát hiện đƣợc những khó khăn mà HS mắc phải, từ đó cải tiến quá trình dạy học Kỹ thuật công não, kỹ thuật tia chớp sẽ giúp GV thu được nhiều hơn thông tin phản hồi từ

HS

Học sinh tự đánh giá

Đây là hình thức HS tự đưa ra đánh giá kiến thức, kỹ năng đạt đƣợc của mình sau các giờ học HS thực hiện các nhiệm vụ đƣợc GV yêu cầu Sau đó HS tự đánh giá bài làm của mình thông qua các tiêu chí GV đưa ra Bảng kiểm đƣợc thiết kế theo nhiều mức độ, phù hợp với NL cần đánh giá

Đánh giá dựa vào một số kỹ thuật thu nhận thông tin phản hồi

khác

Sau khi kết thúc bài học, GV có thể yêu cầu HS viết về nội dung mình đã học được, lập sơ đồ tư duy nội dung bài học hay trả lời các câu hỏi áp dụng kiến thức vào thực tiễn

2.3 Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học nhằm phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh

2.3.1 Vai trò của thí nghiệm trong chương trình môn hoá học ở phổ thông

Trong DHHH, TNHH có vai trò rất quan trọng:

- Giúp HS dễ dàng hơn để hiểu bài cũng như hiểu nội dung bài học một cách sâu sắc TN là cơ sở, là khởi đầu cho quá trình nhận thức của HS Quá trình nhận thức cảm tính xuất phát từ TN, sau đó diễn ra quá trình trừu tượng hóa và phát triển lên sự cụ thể hóa trong tư duy

- Củng cố niềm tin vào khoa học của HS, giúp HS bồi dưỡng sự say mê nghiên cứu khoa học

- TNHH là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành, là tiêu chuẩn khẳng định tính đúng đắn của kiến thức, hỗ trợ cho sự tư duy sáng tạo của HS

Trang 7

- Là phương tiện giúp hình thành cho HS các kỹ năng thực hành, tư duy kĩ thuật Các TN do GV biểu diễn với các thao tác chính xác sẽ là khuôn mẫu cho HS bắt trước Để sau khi làm TN, HS sẽ học được cách tiến hành TN

Qua đó, có thể thấy, TNHH là một phương tiện trực quan chủ yếu trong DHHH Việc sử dụng TNHH có thể được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình DHHH

2.3.2 Phân loại và yêu cầu sư phạm của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học

Ở trường phổ thông hiện nay, các TNHH đươc sử dụng dưới 2 hình thức:

* TN do GV biểu diễn: GV tự thực hiện và trình bày trước HS

TN do GV biểu diễn phải đảm bảo các yêu cầu:

- Đảm bảo an toàn: Đây là yêu cầu quan trọng nhất khi tiến hành TN Khi thực hiện TN, GV phải tuân thủ các quy định trong phòng thí nghiệm, các thao tác phải chính xác

- Đảm bảo TN thành công: TN được GV thực hiện thành công tác động rất tích cực đến HS Do đó, GV cần nắm vững thao tác TN, thực hiện đúng kĩ tuất lắp ráp dụng cụ, phải chuẩn bị TN chu đáo và dự kiến trước những yếu tố ảnh hưởng đến TN

- TN phải rõ ràng, HS được quan sát đầy đủ: Khi tiến hành TN, GV phải bố trí sao cho các hiện tượng TN được tất cả các HS quan sát một cách rõ ràng: bàn để biểu diễn TN đủ cao, phông nền, ánh sáng thích hợp để HS quan sát TN được rõ nhất

- Các TN phải đơn giản, chính xác khoa học

- Số lượng TN trong một bài học vừa phải: việc tiến hành TN tốn khá nhiều thời gian Do đó, GV phải tính toán số lượng TN trong một bài học sao cho phù hợp

- Nội dung TN phải liên quan chặt chẽ với bài học để HS có thể quan sát, nhận xét, giải thích và rút ra các kết luận cần thiết Từ đó nội dung kiến thức cần lĩnh hội sẽ được khắc sâu

* TN do HS thực hiện: HS tự làm dưới các dạng:

- TN đồng loạt của HS khi học bài mới trên lớp: TN được làm với tất cả HS hoặc một vài HS do GV chỉ định nhằm nghiên cứu sâu một nội dung nào đó trong bào học

- TN thực hành trong phòng thí nghiệm: được tiến hành sau một chương, một học kì nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành, phát triển NLTHHH cho HS

- TN ngoại khóa: TN vui, các TN có liên quan đến thực tiễn,…

Trang 8

- TN ở nhà: là các TN đơn giản, các TN dài ngày được giao cho HS thực hiện ở nhà

TN khi HS thực hiện phải đảm bảo:

- Chuẩn bị cẩn thận, kỹ lưỡng:

+ HS cần được trang bị các nội quy phòng thí nghiệm, các quy tắc đảm bảo an toàn, nội dung, cách tiến hành TN

+ GV cần làm thử TN trước để hướng dẫn HS một cách tỉ mỉ, chính xác, phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm Các hóa chất, dụng cụ được sắp xếp đầy

đủ, gọn gàng, HS dễ tìm

- Các TN HS thực hiện phải đảm bảo an toàn tuyệt đối Những TN phức tạp, sinh ra các chất độc hại, TN dễ cháy nổ thì nên sử dụng video hoặc GV biểu diễn cho HS quan sát GV luôn giám sát HS trong suốt quá trình thực hiện TN

để đảm bảo an toàn cũng như xử lý kịp thời các tình huống xảy ra

- Các dụng cụ phải đơn giản nhưng vẫn đảm bảo tính thẩm mĩ, tính khoa học Các thao tác tiến hành đơn giản nhưng phải rõ hiện tượng và đảm bảo tính khoa học

2.3.3 Phương pháp sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh

* Các phương pháp sử dụng TN khi nghiên cứu bài mới

Có ba phương pháp sử dụng TNHH khi dạy bài mới bao gồm: phương pháp nghiên cứu, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp kiểm chứng

- Sử dụng TN theo phương pháp nghiên cứu

Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu, TNHH được sử dụng là nguồn kiến thức để HS học hỏi, là phương tiện để khẳng định tính chính xác của các giả thuyết khoa học Sử dụng phương pháp này sẽ hình thành ở HS tư duy độc lập, sáng tạo, có kĩ năng nghiên cứu tốt cũng như nắm kiễn thức vững chắc, sâu sắc

và phong phú

Tiến trình dạy học: nêu vấn đề nghiên cứu → nêu các gải thuyết, đề xuất

TN → tiến hành TN (hoặc xem video, TN ảo) → phân tích, giải thích hiện tượng từ đó xác nhận giả thuyết đúng → kết luận và vận dụng

- Sử dụng TN theo phương pháp giải quyết vấn đề

GV đặt HS vào một tính huống có chứa bài toán nhận thức, HS tiếp nhận mâu thuẫn nhận thức đó và biến thành mâu thuẫn của chính mình Nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó là động lực để HS suy nghĩ GV hướng dẫn, điều khiển HS hoạt động để giải quyết vấn đề, từ đó rút ra kiến thức cần lĩnh hội Trong

Trang 9

phương pháp này, HS được coi như “các nhà khoa học”, tự mình tìm ra kiến thức mới, đồng thời hình thành cho HS phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn

đề

Dạy học sử dụng TN theo phương pháp giải quyết vấn đề đuợc thực hiện theo quy trình: nêu vấn đề → tạo mâu thuẫn nhận thức bằng TN → phân tích và rút ra kết luận → vận dụng

- Sử dụng TN theo phương pháp kiểm chứng

Theo phương pháp kiểm chứng, HS có cơ hội củng cố, vận dụng kiến thức đã có, hiểu rõ, sâu và rộng hơn kiến thức lý thuyết đã học, đồng thời cũng hình thành phương pháp hình thành kiến thức mới là phương pháp suy diễn hoặc suy lí song phép suy diễn hoặc suy lí đó cần được kiểm chứng bằng thực hành mới có thể đưa ra kết luận chính xác

Tiến trình sử dụng TN theo phương pháp kiểm chứng: nêu vấn đề nghiên cứu → cho HS dự đoán hiện tượng → làm TN, nêu hiện tượng, so sánh với dự đoán ban đầu từ đó xác định sự đúng sai của dự đoán → kết luận → vận dụng

Mỗi phương pháp sử dụng TN có những điểm mạnh, điểm yếu riêng Tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung và vị trí sử dụng TN mà GV lựa chọn phương pháp sử dụng TN thích hợp, tránh lầm tưởng chỉ sử dụng TN theo phương pháp nghiên cứu mới là tích cực

* Sử dụng TN trong bài luyện tập, ôn tập

Trong giờ ôn tập, luyện tập, GV sử dụng TN để nâng cao tính tích cực nhận thức, giải tỏa không khí nặng nề căng thẳng trong giờ học, nâng cao hứng thú học tập của HS

Thí nghiệm trong giờ luyện tập, ôn tập là các TN mới, chưa được thực hiện Các TN này có dấu hiệu chung với các TN đã làm nhưng có thêm dấu hiệu của kiến thức mới nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức GV có thể sử dụng TN như một dạng bài tập nhận thức, tổ chức cho HS tiến hành TN, quan sát, mô tả đầy đủ TN và giải thích hoặc biểu diễn dưới dạng TN vui và yêu cầu HS giải thích

Để giải thích đầy đủ các hiện tượng xảy ra của TN trong bài luyện tập, HS phải huy động tổng hợp các kiến thức Do đó, GV có thể chọn một hoặc hai TN

để rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức cũng như phát triển NLTHHH cho HS

* Sử dụng TN trong các bài thực hành

Sử dụng TN trong các giờ thực hành là phương pháp học tập đặc thù nhất của DHHH, có tác dụng giáo dục, rèn luyện HS một cách toàn diện, đặc biệt là phát triển NLTHHH cho HS Các TN trong giờ thực hành được HS thực hành là

Trang 10

các TN do HS tự thực hiện nhằm minh họa, củng cố, vận dụng kiến thức đã học cũng như rèn luyện kỹ năng thực hành Thông qua các TN này, mà HS nghiên cứu tính chất các chất, điều chế các chất, nhận biết các chất và giải các bài tập thực hành

Để buổi học thực hành diễn ra hiệu quả và an toàn, khâu chuẩn bị của GV

là vô cùng quan trọng GV phải:

- Xác định cụ thể mục tiêu của bài thực hành

- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất cần thiết

- Tiến hành trước tất cả các TN có trong bào thực hành để đảm bảo TN an toàn và thành công cũng như rút ra những lưu ý và hướng dẫn cụ thể cho HS

- Chuẩn bị các phiếu nội dung hướng dẫn TN cho HS

- Dự kiến phương thức tổ chức các hoạt động trong giờ thực hành

Các bước thực hiện bài thực hành hóa học:

- GV nêu mục đích của giờ thực hành, chia nhóm HS và sắp xếp vị trí cho các nhóm

- Tổ chức cho HS nhắc lại các kiến thức liên quan, dự đoán trước hiện tượng TN, lưu ý HS trong từng TN

- Tổ chức cho các nhóm làm TN, quan sát, ghi chép các hiện tượng và giải thích

- Yêu cầu các nhóm HS báo cáo kết quả TN

- GV nhận xét, đánh giá kết quả giờ học và kết luận rút ra từ TN

- Tổ chức cho các nhóm hoàn thành báo cáo và vệ sinh phòng thí nghiệm

2.4 Lựa chọn các nội dung thí nghiệm, xây dựng hệ thống thí nghiệm nhằm phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh trung học phổ thông

2.4.1 Một số nguyên tắc khi lựa chọn – sử dụng thí nghiệm hóa học phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh trung học phổ thông

Khi lựa chọn TN trong DHHH, GV cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Nên lựa chọn các thí nghiệm an toàn, hạn chế tối đa độc hại

với HS và GV Nếu các hóa chất sử dụng trong TN là hóa chất độc hại thì có thể tìm hóa chất thay thế hoặc sử dụng video TN hoặc TN ảo đảm bảo an toàn Muốn vậy, GV phải nắm vững các quy tắc an toàn trong phòng thí nghiệm, tuân thủ các hướng dẫn và dự trù trước các nguy hiểm có thể xảy ra

Nguyên tắc 2: GV nên lựa chọn các TN có khả năng thành công cao và

chính xác khoa học Để TN thành công, GV phải thực hiện đúng quy trình TN,

có kĩ năng thành thục, chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi tiến hành Nếu TN không thành công phải tìm ra nguyên nhân và giải thích rõ ràng cho HS

Trang 11

Nguyên tắc 3: Các TN được lựa chọn cần gắn liền với kiến thức trọng tâm

của bài, số TN thực hiện trên lớp trong một bài vừa phải, thời gian cho mỗi TN hợp lí, các TN đơn giản HS có thể thực hiện ở nhà

Nguyên tắc 4: Các TN được chọn có tính trực quan cao, hiện tượng dễ

dàng quan sát Như vậy, dụng cụ TN phải có kích thước, hình đáng phù hợp, hóa chất hợp lí, có thể dùng phông màu để dễ quan sát và GV hướng dẫn HS quan sát

Nguyên tắc 5: Các TN được lựa chọn cho HS biểu diễn trên lớp phải là

các TN đơn giản, dễ thực hiện Với những TN khó, kéo dài, GV nên hướng dẫn

HS quan sát video hoăc thực hiện ở nhà

Nguyên tắc 6: Các TN được chọn phải hấp dẫn, kích thích hứng thú học

tập của HS, đồng thời đáp ứng các tiêu chí phát triển NLTHHH cho HS

2.4.2 Quy trình xây dựng thí nghiệm hóa học nhằm phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh trung học phổ thông

Xây dựng TNHH nhằm phát triển NLTHHH cho HS phổ thông qua các bước:

Bước 1: Xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung kiến thức có liên quan đến

TN

Bước 2: Lựa chọn các TN đáp ứng các tiêu chí của NLTHHH

Bước 3: Tiến hành làm thử các TN đã chọn để xây dựng hướng dẫn cụ thể

về dụng cụ, hóa chất trong điều kiện của trường và thực tiễn cuộc sống, cải tiến

2.5.1 Phân tích nội dung kiến thức trong các thí nghiệm chuyên đề Este – Lipit và Cacbohiđrat

Các kiến thức thí nghiệm trong chuyên đề Este – Lipit và Cacbohiđrat được khai thác ở các khía cạnh: tính chất vật lí, tính chất hóa học của este và các hợp chất cacbohiđrat, điều chế este; tính chất vật lí, tính chất hóa học của chất béo; các hoạt động ngoại khóa như làm son môi hay xà phòng, xác định thành phần có trong quả chuối xanh, chuối chín

Các thí nghiệm của hai chuyên đề là các thí nghiệm quan trọng Bao hàm hết các thí nghiệm của các nhóm chức quan trọng như este, anđehit, ancol,

Trang 12

axit Hóa chất của các thí nghiệm dễ kiếm, có nhiều thí nghiệm thực tế mà HS

có thể thực hiện ở nhà nên có thể tổ chức cho HS làm các thí nghiệm theo định hướng giáo dục STEM Đồng thời cũng là hệ thống thí nghiệm hay được hỏi trong các đề thi THPTQG

2.5.2 Hệ thống thí nghiệm và một số lưu ý trong chuyên đề

THÍ NGHIỆM 1: ĐIỀU CHẾ ESTE

a) Lý thuyết về phản ứng:

C2H5OH + CH3COOH

0 ,

xt t

  CH3COOC2H5 + H2O (xúc tác H2SO4 đặc)

+ Phản ứng thuận nghịch

+ Phản ứng cần đun nóng mới xảy ra

+ Phải sử dụng CH3COOH, C2H5OH tinh khiết hay đậm đặc Không sử dùng giấm ăn hay rượu vì có nước, làm giảm hiệu suất phản ứng

+ Vai trò H2SO4 đặc: vừa làm xúc tác, vừa hút nước để tăng hiệu suất phản ứng + Không được thay thế H2SO4 đặc bằng H2SO4 loãng hay HCl

+ Chú ý là tắt đèn trước khi tháo ống dẫn hơi este, do este dễ cháy

b Các bước tiến hành:

- Giai đoạn 1: Thực hiện phản ứng este hóa

+ Bước 1: Cho 1 ml C2H5OH, 1 ml CH3COOH và vài giọt dung dịch H2SO4

đặc vào ống nghiệm Lắc đều và kẹp ống nghiệm lên giá

+ Thường ở bước này sẽ cho thêm đá bọt hay cát sạch, mục đích giúp chất lỏng trong ống nghiệm không sôi bùng lên, ngoài ra nó còn có tác dụng tăng đối lưu, làm hỗn hợp sôi đều hơn

+ Sau bước này chưa xảy ra phản ứng nên chất lỏng trong ống nghiệm vẫn đồng nhất

+ Bước 2: Đun nóng nhẹ ống nghiệm bằng đèn còn hoặc đun cách thủy (trong nồi nước nóng) khoảng 5 - 6 phút ở 65 – 700C

+ Sau bước này, chất lỏng trong ống nghiệm phân thành hai lớp, phía trên là este còn phía dưới là hỗn hợp nước, ancol và axit

- Giai đoạn 2: Tách este khỏi hỗn hợp sản phẩm

Sau giai đoạn 1: hỗn hợp sản phẩm chứa este, 1 lượng vừa phải nước, axit và ancol

+ Cách 1: Thêm dd NaCl bão hòa hoặc KCl bão hòa vào → thì este sẽ nổi lên trên nhiều hơn

Vai trò chính của NaCl bão hòa: để tách este ra khỏi hỗn hợp

Trang 13

+ Cách 2: Sau khi mới điều chế thì người ta cho este vào cốc nước lạnh, rồi thêm tiếp vài viên đá lạnh vào hỗn hợp sản phẩm thì este nổi lên trên nhiều

hơn

- Giai đoạn 3: Tinh chế este

+ Bước 1: Cho hỗn hợp sản phẩm lên phễu chiết rồi gạn lấy lớp este phía trên + Bước 2: Sau bước 1, trong lớp este vẫn còn chứa 1 lượng nhỏ nước, ancol và

axit Nên cho hỗn hợp sản phẩm

Mô hình: thường có hai kiểu

THÍ NGHIỆM 2: THỦY PHÂN ESTE

a) Lý thuyết:

- Thủy phân trong môi trường axit là phản ứng thuận nghịch:

- Thủy phân trong môi trường kiềm là phản ứng 1 chiều:

CH3COOC2H5 + NaOH → CH3COONa + C2H5OH (đun nóng)

Chú ý: Khi chưa đun nóng thì phản ứng không xảy ra

b) Tiến hành thí nghiệm:

Bước 1: Cho vào hai ống nghiệm 2ml etyl axetat Thêm vào ống thứ nhất 1ml

dung dịch H2SO4 20%, ống thứ hai 1 ml dung dịch NaOH 30%

Hiện tượng: Sau bước này do chưa có phản ứng xảy ra nên dung dịch vẫn phân lớp ở hai ống nghiệm

Bước 2: Lắp ông sinh hàn đồng thời đun nhẹ hoặc đun cách thủy để phản ứng xảy ra xong

Hiện tượng: Chất lỏng trong ống nghiệm thứ nhất phân lớp và ống thứ hai đồng

nhất vì phản ứng ở ống thứ nhất là 2 chiều nên este chưa hết, ở ống 2 là phản ứng 1 chiều nên este hết tạo muối và ancol đều tan tốt

THÍ NGHIỆM 3: PHẢN ỨNG XÀ PHÒNG HÓA CHẤT BÉO, ĐIỀU CHẾ

XÀ PHÒNG

a) Lý thuyết:

(RCOO)3C3H5 + 3NaOH → 3RCOONa + C3H5(OH)3 (đun nóng)

Trang 14

+ Chất béo không tan trong nước

+ Muối của axit béo sẽ kết tủa lại nếu dung dịch có độ phân cực lớn (khi thêm NaCl bão hòa vào), kết tủa màu trắng tạo thành sẽ nổi lên trên mặt hỗn hợp phản ứng

+ Glixerol có thể hòa tan được Cu(OH)2 tạo phức màu xanh lam

máy thì dầu bôi trơn xe máy là hiđrocacbon

+ Có thể thay thế dung dịch NaOH bằng dung dịch KOH Nhưng không được thay thế Ca(OH)2 hay Ba(OH)2 vì (RCOO)2Ca hay (RCOO)2Ba sẽ kết tủa bền + Sau nước này thì phản ứng vẫn chưa xảy ra vì chưa đun nóng

* Bước 2: Đun sôi nhẹ hỗn hợp khoảng 30 phút và khuấy liên tục bằng đũa thủy tinh, thỉnh thoảng thêm vào vài giọt nước cất để giữ cho thể tích của hỗn hợp không đổi

Giải thích bước này:

+ Phải khuấy liên tục để tăng diện tích tiếp xúc giữa chất béo và dung dịch NaOH vì chất béo (không phân cực) tan kém trong dung dịch NaOH (phân

* Bước 3: Rót thêm vào hỗn hợp 4-5 ml dung dịch NaCl bão hòa nóng, khuấy

nhẹ rồi để nguội đến nhiệt độ phòng

Giải thích bước này:

+ Mục đích chính của thêm NaCl bão hòa: là để tách xà phòng ra khỏi hỗn hợp phản ứng

+ Muối RCOONa (xà phòng) tan vừa phải trong nước, khi tăng độ phân cực của hỗn hợp bằng cách thêm NaCl bão hòa vào thì xà phòng kết tủa và tách ra,

nổi lên trên hỗn hợp (màu trắng)

Trang 15

+ Phần dung dịch phía dưới chứa glixerol nên hòa tan được Cu(OH)2 tạo phức màu xanh lam

THÍ NGHIỆM 4: Phản ứng của glucozơ, fructozơ, saccarozơ với Cu(OH) 2

- Tiến hành thí nghiệm:

Bước 1: Cho vào ống nghiệm 5 giọt dung dịch CuSO4 5% và 1 ml dung dịch NaOH 10%

Bước 2: Lắc nhẹ, gạn lớp dung dịch để giữ kết tủa Thêm 2 ml dung dịch

glucozơ 10% vào ống nghiệm, lắc nhẹ

- Quan sát hiện tượng:

+ Lúc đầu xuất hiện kết tủa màu xanh lam sau đó kết tủa tan tạo thành dung dịch màu xanh lam

- Giải thích:

Lúc đầu xuất hiện kết tủa màu xanh lam

CuSO4 + 2NaOH → Cu(OH)2↓ + Na2SO4

+ Thêm dung dịch glucozơ vào ống nghiệm làm kết tủa tan và tạo phức màu xanh lam

+ Thí nghiệm này chỉ chứng minh glucozơ có nhiều nhóm OH liền kề chứ không

chứng minh có 5 nhóm OH

+ Đây không phải là phản ứng oxi hóa khử

THÍ NGHIỆM 5: PHẢN ỨNG CỦA GLUCOZƠ, FRUCTOZƠ VỚI AgNO 3 TRONG NH 3

- Tiến hành thí nghiệm:

+ Cho vào ống nghiệm sạch 1 ml dung dịch AgNO3 1%, sau đó thêm từng giọt dung dịch NH3 5% và lắc đều cho đến khi kết tủa tan hết, cho thêm một vài giọt dung dịch NaOH 10% (để đảm bảo môi trường kiềm thì thường thêm NaOH, nhưng ở bước này không cần thêm NaOH cũng không ảnh hưởng nhiều gì đến phản ứng)

+ Thêm tiếp 1 ml dung dịch glucozơ, hơ nóng nhẹ ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn (hoặc đặt ống nghiệm vào cốc nước nóng, đun cách thủy) trong vài phút

- Quan sát hiện tượng:

+ Ban đầu vẫn đục sau đó tan tạo dung dịch trong suốt

+ Sau khi hơ nóng ống nghiệm quan sát thấy có lớp màu trắng bạc bám trên ống nghiệm

- Giải thích:

Trang 16

+ Dung dịch NH3 tác dụng với dung dịch AgNO3 tạo thành kết tủa nên dung dịch vẫn đục sau đó tiếp tục cho NH3 tới dư vào thì kết tủa tan tạo phức nên dung dịch trở nên trong suốt

AgNO3 + 3NH3 + H2O → [Ag(NH3)2]OH + NH4NO3

+ Dung dịch AgNO3 trong NH3 đã oxi hoá glucozơ thành axit gluconic và giải phóng kim loại bạc

CH2OH[CHOH]4CHO + 2[Ag(NH3)2]OH → CH2OH[CHOH]4COONH4 + 2Ag↓

Ở bước này không thể dùng saccarozơ tinh thể và H2SO4 đặc vì

C12H22O11 bị than hóa khi cho vào H2SO4 đặc Có thể thay thế H2SO4 loãng bằng dung dịch HCl loãng

+ Ngừng đun, trung hoà hỗn hợp phản ứng bằng dung dịch NaOH 10%, thử môi trường bằng giấy quỳ tím

Ở bước này mục địch là trung hòa axit dư, vì các bước sau phải thực hiện trong môi trường kiềm Có thể thay NaOH bằng NaHCO3 hoặc KOH,…nhưng không dùng Ba(OH)2 vì có BaSO4 kết tủa

+ Thực hiện phản ứng với AgNO3/NH3 (giống thí nghiệm 5)

- Quan sát hiện tượng:

+ Dung dịch có kết tủa Ag

- Giải thích:

+ Dung dịch saccarozơ không có tính khử nhưng khi đun nóng với axit thì tạo thành dung dịch có tính khử là do nó bị thủy phân thành glucozơ và fructozơ: + Sau đó glucozơ và fructozơ hoà tan được kết tủa Cu(OH)2 tạo dung dịch màu xanh lam

THÍ NGHIỆM 7: Nhận biết tinh bột bằng phản ứng màu với iot

- Tiến hành thí nghiệm:

+ Pha hồ tinh bột: Cho khoảng 10 gam tinh bột vào cốc thuỷ tinh 500 ml, thêm tiếp khoảng 300 ml nước sôi, khuấy đều, thu được dung dịch hồ tinh bột.( Khi làm thí nghiệm trên lớp thì yêu cầu HS mang nước cơm đi)

Trang 17

+ Rót ống nghiệm khoảng 2 ml dung dịch hồ tinh bột, cho thêm vào khoảng một vài giọt dung dịch iot Quan sát hiện tượng

+ Đun nóng ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn, sau đó để nguội Quan sát hiện tượng

- Quan sát hiện tượng:

+ Khi chưa đun nóng: Màu xanh tím đặc trưng xuất hiện

+ Khi đun nóng: Màu xanh tím mất đi

+ Sau khi đun nóng, để nguội: Màu xanh tím lại xuất hiện

- Giải thích:

+ Phân tử tinh bột hấp thụ iot tạo ra màu xanh tím Khi đun nóng, iot bị giải phóng ra khỏi phân tử tinh bột làm mất màu xanh tím đó Khi để nguội, iot bị hấp thụ trở lại làm dung dịch có màu xanh tím Phản ứng này được dùng đề nhận ra tinh bột bằng iot và ngược lại (Lưu ý: hấp thụ hay hấp phụ đều đúng)

THÍ NGHIỆM 8: THUỶ PHÂN XENLULOZƠ

- Tiến hành thí nghiệm:

+ Cho một nhúm bông vào cốc đựng dung dịch H2SO4 70% (phải dùng 70% nếu H2SO4 thì phản ứng không xảy ra), đun nóng đồng thời khuấy đều cho đền khi thu được dung dịch đồng nhất Trung hòa dung dịch thu được bằng dung dịch NaOH 10%, sau đó đun nóng với dung dịch AgNO3 trong NH3

- Quan sát hiện tượng: Bạc kim loại bám vào thành ống nghiệm

- Giải thích:

+ Xenlulozơ bị thủy phân trong dung dịch axit nóng tạo ra glucozơ

+ Sau đó glucozơ phản ứng với AgNO3 trong NH3 tạo thành kết tủa Ag

THÍ NGHIỆM 9: ĐIỀU CHẾ THUỐC SÚNG KHÔNG KHÓI

- Tiến hành thí nghiệm:

+ Cho 4 ml axit HNO3 vào cốc thủy tinh, sau đó thêm tiếp 8 ml H2SO4 đặc, lắc đều và làm lạnh hỗn hợp bằng nước Thêm tiếp vào cốc một nhúm bông Đặt cốc chứa hỗn hợp phản ứng vào nồi nước nóng (khoảng 60– 70oC) khuấy nhẹ trong 5 phút, lọc lấy chất rắn rửa sạch bằng nước rồi ép khô bằng giấy lọc sau đó sấy khô (tránh lửa)

- Hiện tượng: Sản phẩm thu được có màu vàng Khi đốt, sản phẩm cháy nhanh,

không khói không tàn

- Giải thích: Xenlulozơ phản ứng với (HNO3 + H2SO4) khi đun nóng cho xenlulozơ trinitrat:

[C6H7O2(OH)3]n + 3nHNO3 →[C6H7O2(ONO2)3]n + 3nH2O

Trang 18

Xenlulozơ trinitrat là chất dễ cháy và nổ mạnh được dùng làm thuốc súng

2.5.3 Một số biện pháp đã sử dụng trong thực tế

2.5.3.1 Sử dụng thí nghiệm khi nghiên cứu bài mới

* Sử dụng TN theo phương pháp nghiên cứu:

Ví dụ : Thí nghiệm về tính chất hóa học của este

- GV đặt vấn đề: Este bị thủy phân

trong môi trường axit hoặc bazo Vậy

phản ứng thủy phân este trong môi

trường axit và bazo khác nhau như thế

nào?

- Cho HS quan sát video TN và giới

thiệu dụng cụ, hóa chất, cách tiến hành

TN, yêu cầu HS quan sát và nêu hiện

tượng:

+ Dụng cụ và hóa chất: Dụng cụ: đèn

cồn, ống nghiệm, pipet, cốc thủy tinh

Hóa chất: etyl axetat, H2SO4 20%,

NaOH 30%

+ Cách tiến hành: Cho vào 2 ống

nghiệm mỗi ống 2 mL etyl axetat, sau

đó thêm vào ống thứ nhất 1 ml H2SO4

20%, ống thứ hai 1 ml NaOH 30%

Lắc đều cả hai ống nghiệm và đun

cách thủy trong cốc nước nóng 60 –

700 C trong khoảng 5 – 10 phút

- Hướng dẫn HS rút ra kết luận:

+ Tại sao có hiện tượng phân lớp ở ống

nghiệm thứ nhất?

+ Qua hiện tượng quan sát được nhận

xét về phản ứng thủy phân este trong

môi trường axit và bazo (thuận nghịch

hay không thuận nghịch)?

+ Hướng dẫn HS viết PTHH

- Thông tin: Phản ứng thủy phân este

trong môi trường kiềm còn gọi là phản

- HS lắng nghe

- Lắng nghe và theo dõi video TN, nêu hiện tượng:

+ Khi cho H2SO4 vào ống thứ nhất, NaOH vào ống thứ hai, chất lỏng trong

cả hai ống phân thành 2 lớp do etyl axetat không tan trong dung dịch

H2SO4 và dung dịch NaOH

+ Khi đun cách thủy cả hai ống khoảng một thời gian, chất lỏng trong ống thứ nhất vẫn phân thành 2 lớp, chất lỏng trong ống thứ hai trở nên đồng nhất

- Trả lời câu hỏi:

+ Ống nghiệm thứ nhất có hiện tượng phân lớp là do este chưa phản ứng hết nổi lên trên Điều đó chứng tỏ phản ứng thủy phân este trong môi trường axit là phản ứng thuận nghịch, trong môi trường kiềm là không thuận nghịch

- Viết PTHH:

Trang 19

ứng xà phòng hóa

* Sử dụng TN theo phương pháp kiểm chứng:

Ví dụ: Dùng bài tập thực hành để củng cố bài glucozo

GV: Yêu cầu HS làm bài tập thực hành:

HS: Làm bài tập thực hành: Xác định dung dịch gluocozo trong hai dung dịch

mất nhãn gluocozo và glixerol

GV: Chuẩn bị dụng cụ hóa chất

-Hóa chất: Các dung dịch gluocozo và glixerol riêng biệt không ghi tên

Các dung dịch: NaOH, CuSO4 ; AgNO3; NH3

- Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, đèn cồn, công tơ hút

HS: Đề xuất phương án thực hiện

- Thuốc thử dùng dung dịch AgNO3/ NH3

- Cách tiến hành:

+ Cho vào ống nghiệm sạch 1 ml dung dịch AgNO3, sau đó thêm từng giọt dung dịch NH3 đến dư vào ống nghiệm và lắc đều cho đến khi kết tủa tan hết

+ Thêm tiếp 1 ml dung dịch glucozơ, hơ nóng nhẹ ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn trong vài phút

GV: Kết luận cách làm, lưu ý thao tác thực hiện

HS: Tiến hành làm thí nghiệm xác định dung dịch glucozo

2.5.3.2 Sử dụng thí nghiệm trong bài thực hành và hướng dẫn HS tự làm thí nghiệm ở nhà

Để buổi học thực hành diễn ra thành công và an toàn, khâu chuẩn bị của

GV đóng vai trò rất quan trọng GV phải xác định rõ mục tiêu buổi học, chuẩn

bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất, các phiếu hướng dẫn TN, thực hiện trước các TN để

có những hướng dẫn cụ thể và các lưu ý để TN thành công cũng như dự kiến hình thức tổ chức buổi thực hành

Sau mỗi buổi thực hành tôi có hệ thống bài tập về các thí nghiệm có liên quan đến nội dung bài thực hành để các em vận dụng các kiến thức vừa được thực hành và nhớ kiến thức được lâu hơn

Các thí nghiệm HS tự làm ở nhà, đó có thể là các TN vui, TN liên quan đến thực tiễn hay các TN dài ngày được giao cho HS thực hiện ở nhà với các hóa chất, dụng cụ dễ tìm Các TN trong buổi thực hành trên lớp, HS sẽ được hướng dẫn cụ thể làm như thế nào, còn với các TN ngoại khóa, TN ở nhà, HS sẽ

Trang 20

phải tự phân tích điều kiện TN, tự lập kế hoạch và thực hiện Các TN này giúp

HS thêm yêu thích môn học, thấy được sự thiết thực của môn hóa học cũng như góp phần phát triển NLTNHH của HS tiến hành và thực hiện TN

Một số TN HS có thể làm ở nhà như: Phát hiện dầu ăn bị pha trộn các chất tinh bột, nhận biết chất béo bão hòa và chưa bão hòa, xác định sự có mặt của chất béo trong thực phẩm, làm xà phòng, son môi, tinh dầu, làm nến thơm các TN vui với xà phòng,

Trong điều kiện lớp 12 các em vẫn phải tập chung cho học để hướng tới

kì thì TN THPTQG thì theo tôi nên chọn những thí nghiệm dễ làm, dễ ra sản phẩm, không quá nặng nề về kiến thức chủ yếu để HS thấy yêu thích môn học

và biết được những chất các em đang học ở trường là những chất tạo nên các vật dụng hang ngày mình sử dụng và cách tạo ra các sản phẩm không quá khó khăn Thường tổ chức hướng dẫn vào tiết thực hành rồi sau đó các em về nhà làm theo nhóm, có yêu cầu quay lại quá trình làm thí nghiệm, làm video giới thiệu quá trình làm của nhóm

2.5.3.3 Cải tiến thí nghiệm theo hướng đơn giản để tất cả học sinh thực hiện

Cải tiến TN theo hướng đơn giản nhưng vẫn giữ được hiệu quả của TN, không những tiết kiệm được thời gian, chi phí mà còn tạo điều kiện cho tất cả

HS đều thực hiện được, được tự quan sát, rút ra kết luận, đồng thời các kỹ năng thực hành cũng được cải thiện

- Thay thế hóa chất TN bằng hóa chất dễ tìm:

Ví dụ TN xác định chất béo bão hòa và không bão hòa, có thể sử dụng cồn iot dễ dàng mua ở hiệu thuốc thay cho brom hoặc dung dịch iot

- Cải tiến dụng cụ đơn giản:

Như trong phản ứng thủy phân este thay vì lắp ống sinh hàn để este bay hơi quay trở lại phản ứng thì có thể sử dụng cách đun cách thủy trong cốc nước nóng khoảng 60 – 650 C hoặc đun nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn để hỗn hợp không

bị sôi lên

Trong thí nghiệm phản ứng tráng gương của glucozo thì ko cần đun mà chúng ta tiến hành thí nghiệm trong bình cầu và lắc tròn bình cầu để Ag sinh ra bám lên thành bình

Trong thí nghiệm của hồ tinh bột với iot, có thể thay dung dịch tinh bột bằng lát cắt củ khoai hoặc quả chuối xanh

2.5.4 Kế hoạch dạy học minh họa

BÀI : ESTE

I Mục tiêu

Trang 21

1 Kiến thức

- Nêu được đặc điểm cấu tạo phân tử este

- Trình bày được tính chất vật lí và tính chất hóa học cơ bản của este

- Trình bày được phương pháp điều chế este và ứng dụng của một số este

2 Kĩ năng

- Viết được CTCT và gọi tên được một số este đơn giản và thường gặp

- Viết được PTHH minh họa cho tính chất hóa học của este

- Tiến hành TN, mô tả hiện tượng TN và rút ra kết luận

3 Định hướng phát triển năng lực

- NLTHHH: Tiến hành TN nghiên cứu tính chất vật lí của este; quan sát, mô tả hiện tƣợng và rút ra kết luận từ TN thủy phân este

- NL sử dụng ngôn ngữ hóa học

- NL vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn

II Chuẩn bị

1 Chuẩn bị của GV

- Hóa chất: etyl axetat, nước cất

- Dụng cụ: công tơ hút, ống nghiệm, giá đựng ống nghiệm

IV Tổ chức các hoạt động dạy học

Hoạt động trải nghiệm: Các mùi trái cây là do sự hiện diện phức tạp của các

chất hóa học, trong đó este đóng vai trò quan trọng Mỗi loại trái cây có mùi thơm đặc trưng được quyết định bởi loại este chiếm ưu thế chứa trong loại trái cây đó Vậy este có đặc điểm cấu tạo như thế nào, có tính chất và ứng dụng gì, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong bài học hôm nay

Hoạt động hình thành kiến thức mới

HOẠT ĐỘNG CỦA

THẦY VÀ TRÒ

Biểu hiện của NLTHHH

NỘI DUNG

Hoạt động 1

 GV yêu cầu HS viết

phương trình phản ứng

este hoá của axit đơn

I – KHÁI NIỆM, DANH PHÁP

Ngày đăng: 27/01/2022, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5] Phạm Văn Hoan, Hoàng Đình Xuân (2016), “Phát triển cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụng thí nghiệm Hóa học hữu cơ”, Tạp chí khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụng thí nghiệm Hóa học hữu cơ”
Tác giả: Phạm Văn Hoan, Hoàng Đình Xuân
Năm: 2016
[6] Phạm Thị Bích Đào – Đặng Thị Oanh (2017), “Đề xuất cấu trúc và đánh giá năng lực thực nghiệm cho hoc sinh thông qua môn khoa học tự nhiên cấp trung học cở sở”. Tạp chí khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất cấu trúc và đánh giá năng lực thực nghiệm cho hoc sinh thông qua môn khoa học tự nhiên cấp trung học cở sở
Tác giả: Phạm Thị Bích Đào – Đặng Thị Oanh
Năm: 2017
[1] Bộ sách giáo khoa hóa học 10-11-12. NXB Giáo dục Khác
[2] Sách giáo viên 10-11-12. NXB Giáo dục Khác
[3] Bộ GD & ĐT (2018), Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 Khác
[9] Tìm kiếm thông tin trên mạng về thí nghiệm của chuyên đề Este- Lipit và Cacbohidrat Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w