1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất một số giải pháp quản lý côn trùng bộ cánh cứng (coleoptera) tại vườn quốc gia vũ quang, tỉnh hà tĩnh

79 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất một số giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Lê Đức Nhật Minh
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Bảo Thanh
Trường học Trường đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Quản lý Tài nguyên Rừng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Đa dạng sinh học và đa dạng sinh học côn trùng bộ Cánh cứng (12)
      • 1.1.1. Đa dạng sinh học (12)
      • 1.1.2. Đa dạng sinh học bộ Cánh cứng (13)
    • 1.2. Các nghiên cứu về đa dạng côn trùng bộ Cánh cứng trên thế giới (14)
    • 1.3. Các nghiên cứu về đa dạng côn trùng thuộc bộ Cánh cứng ở trong nước (17)
    • 1.4. Nghiên cứu về giá trị, vai trò của Đa dạng côn trùng bộ Cánh cứng (19)
      • 1.4.1. Đối với hệ sinh thái (19)
      • 1.4.2. Cung cấp thực phẩm, dược liệu (20)
      • 1.4.3. Những ảnh hưởng bất lợi của côn trùng đối với con người (20)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (22)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (0)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (22)
      • 2.4.3. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (24)
      • 2.4.4. Công tác nội nghiệp (33)
  • Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (36)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (36)
      • 3.1.2. Địa hình, địa thế (36)
      • 3.1.3. Khí hậu (37)
      • 3.1.4. Thủy văn (38)
      • 3.1.5. Địa chất, thổ nhưỡng (38)
    • 3.2. Kinh tế - xã hội (39)
      • 3.2.1. Dân số, lao động (39)
      • 3.2.2. Sản xuất nông nghiệp (40)
      • 3.2.3. Sản xuất lâm nghiệp (41)
    • 3.3. Tài nguyên rừng (42)
      • 3.3.1. Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng (42)
      • 3.3.2. ĐDSH và phân bố khu hệ ĐTV rừng quý hiếm, đặc hữu (43)
  • Chương 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (45)
    • 4.1. Xác định thành phần loài côn trùng cánh cứng tại khu vực nghiên cứu . 36 4.2. Đánh giá tính đa dạng loài và phân bố của các loài thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu (45)
      • 4.2.1. Đa dạng loài của côn trùng Cánh cứng (49)
      • 4.2.2. Đa dạng về sinh cảnh của côn trùng Cánh cứng (51)
      • 4.2.3. Vai trò của côn trùng Cánh cứng trong hệ sinh thái (0)
      • 4.2.4. Đa dạng về hình thái của côn trùng Cánh cứng (55)
      • 4.2.5. Đa dạng về tập tính của côn trùng cánh cứng (57)
    • 4.3. Đặc điểm hình thái một số loài côn trùng cánh cứng thường gặp (57)
      • 4.3.1. Vòi voi lớn chân dài (Cyrtotrachelus longimanus) (57)
      • 4.3.2. Bọ dưa (Aulacophora similis) (0)
      • 4.3.3. Bọ rùa (Synonycha grandis) (0)
      • 4.3.4. Kiến vương hai sừng (Xylotrupes gideon) (60)
      • 4.3.5. Xén tóc gỗ khô (Stromatium longicorrne) (61)
      • 4.3.6. Xén tóc tám chấm trắng (Batocera rubus) (62)
      • 4.3.7. Bổ củi xanh (Elateridae) (64)
      • 4.3.8. Ban miêu đen (Epicauta gorhami) (64)
      • 4.3.9. Ban miêu vân vàng (Mylabris cichorii) (0)
    • 4.4. Giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại VQG Vũ Quang (67)
      • 4.4.1. Các giải pháp chung (67)
      • 4.4.2. Các giải pháp cụ thể để quản lý côn trùng gây hại và bảo tồn côn trùng thiên địch (69)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Đa dạng sinh học và đa dạng sinh học côn trùng bộ Cánh cứng

Định nghĩa về ĐDSH rất đa dạng Theo Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) năm 1989, ĐDSH được mô tả là sự phong phú của sự sống trên Trái đất, bao gồm hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, cùng với các gen trong các loài và hệ sinh thái phức tạp tồn tại trong môi trường.

Định nghĩa về đa dạng sinh học (ĐDSH) theo từ điển ĐDSH và phát triển bền vững (2001) mô tả ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên, bao gồm mọi cơ thể sống từ các nguồn khác nhau trong các hệ sinh thái trên đất liền, dưới biển và các hệ sinh thái nước khác ĐDSH không chỉ bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay gen), mà còn giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) Nó còn bao gồm các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hoặc phần cơ thể, các quần thể và các thành phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện có giá trị sử dụng hoặc tiềm năng sử dụng cho con người.

Đa dạng sinh học (ĐDSH) được phân chia thành ba mức độ: mức độ phân tử (gen), cơ thể và hệ sinh thái Trong đó, đa dạng sinh học loài (cơ thể) là lĩnh vực được nghiên cứu và quan tâm nhiều nhất Có nhiều phương pháp để đánh giá ĐDSH loài.

Sau khi hoàn thành công tác đánh giá đa dạng sinh học tại một địa điểm cụ thể, cần lập bảng danh sách các loài sinh vật có mặt, bao gồm thông tin chi tiết về số lượng và mật độ Bảng này cũng nên ghi chú thông tin về tác giả thực hiện, thời gian ghi nhận, địa điểm quan sát, tình trạng và phương pháp thu mẫu Việc thu thập thông tin có thể thông qua điều tra của người dân địa phương Để nâng cao độ chính xác của công tác điều tra, cần có bộ ảnh và mẫu thật.

- Khảo sát theo các tuyến: Nội dung là tính số lượng cá thể gặp ở dọc tuyến điều tra đã được chọn

- Khảo sát theo các điểm, ô tiêu chuẩn: Phương pháp này thường được áp dụng với côn trùng, thủy sinh vật và vinh sinh vật đất

Để đánh giá đa dạng sinh học (ĐDSH), cần xác định nơi ở, ổ sinh thái và hệ sinh thái (HST) của từng loài và cá thể Mỗi loài đều có một nơi ở và ổ sinh thái riêng, và bất kỳ địa điểm nào cần đánh giá đều phải bao gồm ít nhất một hệ sinh thái, được đặc trưng bởi quần xã sinh vật riêng Việc phân biệt các HST với những hiểu biết trước đó về nơi ở và ổ sinh thái của các loài là rất quan trọng để lập kế hoạch quan sát và thu mẫu hiệu quả.

Bản đồ và máy GPS đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá đa dạng sinh học (ĐDSH) bằng cách sử dụng các bản đồ có tỉ lệ phù hợp để ghi chú sự hiện diện của các loài Việc đánh dấu các tuyến khảo sát và ô tiêu chuẩn trên bản đồ cũng rất cần thiết Máy GPS hỗ trợ xác định chính xác vị trí quan sát và thu mẫu, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác nghiên cứu.

1.1.2 Đa dạng sinh học bộ Cánh cứng

Côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong lớp côn trùng, với hơn 400.000 loài đã được mô tả, chiếm 40% tổng số loài côn trùng đã biết Chúng có kích thước rất đa dạng, từ nhỏ hơn 1mm đến trên 75mm, và một số loài có thể đạt kích thước trên 125mm Côn trùng thuộc bộ này phân bố rộng rãi và hiện diện hầu như khắp mọi nơi.

Côn trùng thuộc bộ Cánh cứng thường có hai đôi cánh, trong đó cặp cánh trước được cấu tạo từ chất sừng cứng và cặp cánh sau bằng chất màng, thường dài hơn và xếp lại dưới cặp cánh trước khi nghỉ Miệng của chúng có kiểu nhai gậm với hai ngàm (hàm trên) phát triển mạnh.

Thức ăn của chúng rất đa dạng, chủ yếu là thực vật, nhưng cũng có một số loài ăn động vật, côn trùng nhỏ và các chất hữu cơ mục nát như bào tử nấm Chu kỳ sống của chúng khác nhau, với mỗi năm có từ 3-4 thế hệ và cần nhiều năm để hoàn thành một thế hệ.

Các nghiên cứu về đa dạng côn trùng bộ Cánh cứng trên thế giới

Từ khi xuất hiện, con người đã phải đối mặt với tác động tiêu cực của côn trùng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và chăn nuôi.

Loài người đã bắt đầu nghiên cứu côn trùng từ rất sớm, với việc nuôi tằm ở Trung Quốc cách đây 3000 năm trước công nguyên Aristote, nhà triết học Hy Lạp, đã ghi chép về 60 loài côn trùng trong tác phẩm của mình vào khoảng 400 năm trước công nguyên Đến thế kỷ 18, nhiều học giả đã đóng góp vào lĩnh vực côn trùng học, trong đó nổi bật là Carl Linne, người đã xuất bản cuốn sách nổi tiếng vào năm 1735.

Hệ thống tự nhiên (Systema naturae) đề cập đến ba lĩnh vực chính của tự nhiên: khoáng vật, thực vật và động vật Tác giả của nó là người đầu tiên phân loại động vật, bao gồm cả côn trùng, theo cách hiện đại Phiên bản thứ mười của cuốn sách này đã được xuất bản.

“Hệ thống tự nhiên” ông đã đưa vào cách gọi tên khoa học các loài sinh vật

Vào năm 1793, Sprengel đã xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô tả mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quá trình thụ phấn của côn trùng, lần đầu tiên giải thích vai trò quan trọng của côn trùng trong việc thụ phấn cho hoa.

Vào năm 1829, những đóng góp quan trọng cho khoa học côn trùng, đặc biệt trong lĩnh vực phân loại, đã được thực hiện Cuối thế kỷ 18, Pallas, một viện sĩ người Nga, đã tiến hành nghiên cứu và viết về thành phần loài côn trùng.

Vào thế kỉ 19, côn trùng học đã trở thành một môn khoa học chính thức với sự ra đời của nhiều hội côn trùng ở các nước như Pháp (1832), Anh (1833) và Nga (1859), đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển lĩnh vực này Bước sang thế kỉ 20, côn trùng học thực nghiệm, bao gồm côn trùng nông nghiệp và lâm nghiệp, đã được hình thành Tại Trung Quốc, môn "Côn trùng Lâm nghiệp" đã được giảng dạy chính thức trong các trường đại học Lâm nghiệp từ năm 1952, thúc đẩy nghiên cứu về côn trùng.

Năm 1859, Hội Côn trùng Nga được thành lập, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nghiên cứu côn trùng Nhà côn trùng học Keppen đã xuất bản ba tập sách về côn trùng trong lâm nghiệp vào năm 1882-1883, trong đó đề cập nhiều đến côn trùng bộ Cánh cứng.

Các tác giả như Lamarck, Handrich, Weber và Krepton đã liên tục phát triển các bảng phân loại cho Mọt, Xén tóc và nhiều loại côn trùng thuộc bộ Cánh cứng khác.

Từ năm 1910 đến 1940, Volka và Sonkling đã công bố tài liệu về côn trùng bộ Cánh cứng với 240.000 loài được in trong 31 tập, bao gồm hàng nghìn loài thuộc họ ăn lá Đến năm 1966, Bey - Bienko đã phát hiện và mô tả hơn 300.000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng.

Hơn một nửa số loài côn trùng bộ Cánh cứng trên thế giới sử dụng thực vật làm nguồn thức ăn, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ phấn Mặc dù có nhiều loài côn trùng Cánh cứng, chỉ một phần nhỏ trong số đó là có hại, trong khi phần lớn là có lợi và vô hại cho con người Nhiều loài côn trùng Cánh cứng còn là thiên địch của sâu hại, giúp điều chỉnh sâu bệnh trong hệ sinh thái tự nhiên Ngoài ra, một số loài còn được sử dụng để sản xuất các sản phẩm giá trị cao như sáp trắng và phẩm son, cũng như cung cấp thực phẩm và dược liệu cho con người và thức ăn cho vật nuôi.

Tổ chức Nông lương (FAO) ước tính rằng tổn thất do dịch hại đối với cây lương thực toàn cầu rất lớn, với 14% do sâu hại, 10% do bệnh hại và 11% do cỏ dại Ngay cả trong nền nông nghiệp phát triển cao và công nghệ kiểm soát dịch hiện đại, Cục Nông nghiệp Mỹ cho biết thiệt hại do sâu hại tại Mỹ lên tới 6,8 tỷ đồng mỗi năm trong thập kỷ 1950-1960 Ngoài ra, một số loài côn trùng bộ Cánh cứng không chỉ gây hại trong nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến vật nuôi và sức khỏe con người ở nhiều mức độ khác nhau.

Suy thoái đa dạng sinh học côn trùng trên thế giới, đặc biệt tại Trung Quốc, đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng Các chuyên gia và tổ chức khoa học đã xác định 6 nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tài nguyên đa dạng sinh học của côn trùng bộ Cánh cứng.

- Sự chia cắt sinh cảnh, nhiều diện tích rừng trên thế giới đặc biệt là rừng nhiệt đới bị phân chia thành các khu vực nhỏ và phân tán;

- Sự suy thoái các vùng đất nhạy cảm do việc chăn thả quá mức kéo dài;

- Việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên động, thực vật dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài;

- Sự phát triển ồ ạt công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

- Sự xuất hiện của nhiều loài ngoại lai xâm hại các loài bản địa;

- Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học côn trùng ở các nước đang phát triển là do đói nghèo và sự gia tăng dân số

Bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng là một vấn đề phức tạp và hệ thống, vì côn trùng chỉ là một trong nhiều nhóm sinh vật trên trái đất Mặc dù côn trùng có sự phong phú về thành phần loài và số lượng cá thể lớn, nhưng chúng có mối liên hệ chặt chẽ với các loài sinh vật khác trong hệ sinh thái Do đó, việc bảo vệ các loài côn trùng không thể thực hiện một cách độc lập mà cần phải xem xét toàn bộ hệ sinh thái như một mục tiêu bảo tồn.

Các nghiên cứu về đa dạng côn trùng thuộc bộ Cánh cứng ở trong nước

Trước năm 1954, nghiên cứu về côn trùng còn rất hạn chế, với một số công trình nổi bật như nghiên cứu của đoàn “Mission parie” vào năm 1897, điều tra côn trùng Đông Dương, bao gồm Việt Nam Đến năm 1904, kết quả nghiên cứu đã công bố phát hiện 1020 loài côn trùng, trong đó có 541 loài thuộc bộ cánh cứng.

1942 cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng nói chung ra đời như công trình nghiên cứu của Bou Tan (1904), Bee Nier (1906), Braemer

Về nghiên cứu cây lâm nghiệp, các công trình quan trọng bao gồm nghiên cứu của Bourer (1902), Phạm Tư Thiên (1922) và Vieil (1912), tập trung vào côn trùng trên các loại cây như bồ đề, sồi và giẻ.

Từ đầu thế kỉ 20 đến 1945, nhiều nghiên cứu về côn trùng học ở Việt Nam đã được công bố, bao gồm các tác phẩm của Dupasquier về côn trùng hại chè, Fleutiaux về mối, xén tóc và côn trùng hại mía, đậu đỗ, Joannis về Lepidopteres heteroceres du Tonkin, Trần Thế Tương về Les Chrysomelinae du Sud de la Chine và du Nord Tonkin, Sanvaza về faune entomogique de l’Indonchine, Paulian R về Scarabaeidae, và Lemee A về Lepidoptera.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, công tác điều tra nghiên cứu trong lĩnh vực nông lâm nghiệp được chú trọng do nhu cầu xã hội Từ năm 1961 đến 1965 và từ năm 1967 đến 1968, Bộ Nông nghiệp đã xác định được 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ và 20 bộ khác nhau Năm 1953, “Phòng côn trùng” thuộc Viện Trồng trọt được thành lập, tiếp theo là Cục Bảo vệ Thực vật vào năm 1961 và Hội Côn trùng học Việt Nam vào năm 1966.

GS.TS Nguyễn Thế Nhã trong cuốn “Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích” đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của đa dạng sinh học côn trùng trong nhiều lĩnh vực như thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu, giải trí, làm cảnh và phòng trừ sâu hại Tác giả cũng đã trình bày về đặc tính sinh vật học, sinh thái học, cũng như cách sử dụng và gây nuôi một số loài côn trùng tiêu biểu, đặc biệt là những loài được ứng dụng trong phòng trừ sâu hại và thực phẩm.

Năm 1968 và sau này Medvedev đã công bố một công trình về họ Bọ láChrysomelidae ở Việt Nam, trong đó có 8 loài mới với thế giới

Trong cuốn “Sâu hại rừng và cách phòng trừ”, Đặng Vũ Cần đã giới thiệu các loài Bọ hung gây hại cho lá Bạch đàn, bao gồm Bọ hung nâu lớn, Bọ hung nâu xám bụng dẹt và Bọ hung nâu nhỏ Những sâu trưởng thành này thường xuất hiện trên tất cả các giống Bạch đàn Tác giả cũng đề cập đến nhiều loài sâu hại khác như Bọ vừng (Lepidota bioculata), Bọ sừng (Xylotrupes gideon L.) và Bọ cánh cam (Anomala Cupripes Hope).

Trong giáo trình “Côn trùng trong Lâm nghiệp” của Trần Công Loanh

Bọ ăn lá hồi Oides decempunctata, thuộc họ Bọ lá Chrysomelidae, được giới thiệu lần đầu vào năm 1989 Loài sâu này phổ biến ở vùng rừng hồi Lạng Sơn, đặc biệt là tại huyện Vân Lãng và Tràng Định.

Năm 2011, Mai Văn Quang đã xác định có hơn 36 loài cánh cứng thuộc

13 họ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Thanh Hóa

Năm 2012, nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Bạch Mã đã ghi nhận 178 loài thuộc 128 giống và 17 họ của bộ Cánh cứng Nghiên cứu này cũng đã bổ sung thêm 4 họ, 60 giống và 110 loài vào danh mục côn trùng bộ Cánh cứng tại Bạch Mã.

Nghiên cứu về côn trùng tại Việt Nam đang gia tăng, nhưng chủ yếu tập trung vào việc xác định thành phần loài Cần chú trọng hơn vào các vấn đề sinh học và bảo tồn để nâng cao hiệu quả nghiên cứu.

Các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng côn trùng liên quan mật thiết đến sự tồn tại của chúng trong hệ sinh thái cùng với các sinh vật khác như chim, thú, bò sát, ếch nhái và thực vật Nghiên cứu về các nguyên nhân này đã được thực hiện nhiều, cung cấp cơ sở để đánh giá tình hình suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) của côn trùng Kết quả từ Chương trình bảo tồn ĐDSH Trung Trường Sơn đã chỉ ra ba nhóm nguy cơ đe dọa và thách thức tài nguyên ĐDSH.

- Sự suy giảm nguồn tài nguyên nhanh chóng;

- Thể chế, chính sách và thực thi pháp luật còn phức tạp với nhiệm vụ chưa rõ ràng, chồng chéo của các cơ quan quản lý;

- Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Nghiên cứu về giá trị, vai trò của Đa dạng côn trùng bộ Cánh cứng

Nghiên cứu về vai trò của đa dạng sinh học côn trùng bộ Cánh cứng trên toàn cầu chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như sinh thái, nông nghiệp, thực phẩm, văn hóa và nhân văn.

1.4.1 Đối với HST ĐDSH không chỉ có vai trò cung cấp thực phẩm cho con người mà vai trò quan trọng khác của nó trong hệ sinh thái là tạo ra các chu trình tuần hoàn vật chất năng lượng, ảnh hưởng lớn đến điều kiện tiểu khí hậu và chế độ thủy văn của địa phương Bên cạnh đó, ĐDSHđóng vai trò tích cực trong việc khống chế các loài sinh vật gây hại, tham gia vào quá trình làm sạch các chất ô nhiễm trong môi trường Trong tổng số các loài côn trùng bộ Cánh cứng được mô tả trên thế giới, thì có hơn một nửa sử dụng nguồn thức ăn từ thực vật chủ yếu là mật và phấn hoa Bằng cách thu thập và ăn phấn hoa và mật, côn trùng bộ Cánh cứng có vai trò rất quan trọng trong quá trình thụ phấn của thực vật Cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là các loài cây ăn quả, cây tái sinh bằng hạt phụ thuộc nhiều vào các loài côn trùng thụ phấn Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong tổng số các loàithực vật lưỡng tính ở Trung Quốc có tới 85% là được thụ phấn nhờ côn trùng, 5% là do tự thụ phấn và 10 % còn lại là do gió Các loài luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si côn trùng bộ Cánh cứng ăn phấn hoa hoặc hút mậtthường tập trung xung quanh khu vực cóhoa và thụ phấn cho hầu hết trong số đó Nhân tố trung gian này đã làm tăng sản lượng của nhiều loại cây trồng, rau, hoa quả và thậm chí cả cỏ Ngoài việc lợi dụng các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng trong tự nhiên để thụ phấn cho cây trồng, con người còn biết thuần hóa, sử dụng các loài côn trùng phục vụ các nhu cầu khác của con người

Nghiên cứu cho thấy, mặc dù có nhiều loài côn trùng, đặc biệt là côn trùng thuộc bộ Cánh cứng, chỉ một phần nhỏ trong số đó gây hại Phần lớn các loài côn trùng đều có lợi hoặc vô hại đối với con người Ngoài ra, nhiều động vật ăn thịt và ký sinh là thiên địch của sâu hại, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sâu bệnh trong hệ sinh thái tự nhiên bằng cách tấn công và tiêu diệt chúng.

1.4.2 Cung cấp thực phẩm, dược liệu

Trong quá khứ, sản phẩm từ côn trùng như dược liệu và phẩm son đã đóng vai trò quan trọng trong kinh tế nội địa và thương mại quốc tế Nhiều loài côn trùng, như bọ sừng tê và bọ hung, được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc Bên cạnh đó, côn trùng cũng được coi là thực phẩm ngon và bổ dưỡng ở nhiều quốc gia, bao gồm Mexico và Việt Nam, với giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein, làm cho chúng trở thành lựa chọn tốt cho người ăn kiêng Theo các nhà côn trùng học Trung Quốc, hiện có hơn 600 loài côn trùng bộ Cánh cứng có thể được sử dụng làm thực phẩm tại Trung Quốc.

1.4.3 Những ảnh hưởng bất lợi của côn trùng đối với con người

Côn trùng mang lại giá trị lớn cho con người nhưng cũng gây thiệt hại đáng kể khi cạnh tranh với nguồn tài nguyên Tổ chức Nông lương (FAO) ước tính khoảng 14% thực phẩm toàn cầu bị mất do côn trùng, 10% do bệnh thực vật và 11% do cỏ dại Tại Mỹ, thiệt hại từ côn trùng ước tính lên tới 6,8 tỷ đồng mỗi năm trong thập kỷ 1950-1960, và tình trạng này cũng diễn ra ở nhiều quốc gia khác Ví dụ, sự bùng nổ của châu chấu ở Trung Quốc vào năm 1991 đã gây thiệt hại 250 triệu tấn gạo Một số loài côn trùng còn có thể truyền bệnh cho cây trồng, làm giảm năng suất và thậm chí gây tử vong cho động vật sản xuất Hơn nữa, côn trùng gây hại cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây khó chịu, giảm sức khỏe tổng thể và lây lan nhiều bệnh nguy hiểm như sốt rét và virus West Nile.

Nghiên cứu về đa dạng sinh học (ĐDSH) côn trùng đã được thực hiện tại một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, như VQG Vũ Quang với hơn 316 loài, VQG Tam Đảo ghi nhận 437 loài thuộc 271 giống và 46 họ, và VQG Cúc Phương có 1899 loài côn trùng Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc điều tra và phát hiện thành phần loài, trong khi các khía cạnh như đặc điểm phân bố, giá trị ĐDSH côn trùng và các giải pháp bảo tồn vẫn chưa được chú ý đầy đủ.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Xây dựng cơ sở khoa học nhằm đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng bộ cánh cứng là cần thiết để bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.

- Xác định được thành phần, phân bố của côn trùng bộ Cánh cứng tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh;

- Xác định đượcmột số đặc điểm cơ bản của côn trùng bộ Cánh cứng tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh;

- Đề xuất được các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài côn trùng Cánh cứng tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Các loại côn trùng bộ Cánh cứng tạiVQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

- Phạm vi về không gian: Phân khu dịch vụ hành chính và phân khu phục hồi sinh thái VQG Vũ Quang

- Phạm vi về thời gian: Thời gian thực hiện từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019.

Nội dung nghiên cứu

-Xác định thành phần các loài côn trùng bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu;

Các loài côn trùng bộ Cánh cứng có sự phân bố đa dạng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu Việc nghiên cứu đặc điểm phân bố này giúp hiểu rõ hơn về môi trường sống và sự thích nghi của chúng Để tìm hiểu thêm, bạn có thể tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua email luanvanfull@gmail.com.

- Xác định vai trò của các loài côn trùng bộ Cánh cứng trong khu vực nghiên cứu;

- Đặc điểm hình thái của một số loài đại diện thuộc bộ Cánh cứng;

- Đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng VQG Vũ Quang - tỉnh Hà Tĩnh

+ Đánh giá thực trạng các giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng khu vực nghiên cứu;

+ Đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng

2.4 Các phương pháp nghiên cứu

Thu thập tài liệu có liên quan, bản đồ địa hình, điều tra sơ thám khu vực nghiên cứu

Để chuẩn bị cho việc thu thập mẫu côn trùng, bạn cần các dụng cụ thiết yếu như vợt bắt côn trùng, bẫy đèn, bao giữ mẫu, miếng xốp cắm mẫu, kim cắm mẫu, hộp bảo quản mẫu, cồn 90 độ, địa bàn và máy GPS.

2.4.2.Phương pháp thu thập, đánh giá thông tin và kế thừa tài liệu đã có

Trước khi tiến hành điều tra thực địa, việc thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc biệt là khí hậu, đất đai, và tình hình sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Chúng tôi áp dụng các phương pháp như vẽ sơ đồ phác họa, khảo sát tuyến, và phỏng vấn người dân để thu thập dữ liệu Do chưa có tài liệu nghiên cứu về côn trùng tại Vườn Quốc gia Vũ Quang, chúng tôi tham khảo các tài liệu chuyên môn từ các Khu bảo tồn và Vườn Quốc gia lân cận có điều kiện khí hậu tương tự như VQG Pù Mát và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, cùng với các báo cáo liên quan đến nghiên cứu trong khu vực.

2.4.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Trên cơ sở bản đồ địa hình kết hợp với đi thực địa tiến hành điều tra theo tuyến qua các dạng địa hình

2.4.3.1 Thiết lập các tuyến khảo sát và các điểm điều tra

Việc điều tra và đánh giá côn trùng trong rừng tự nhiên được thực hiện tại các điểm điều tra và tuyến khảo sát thuộc hai phân khu: phân khu dịch vụ hành chính và phân khu phục hồi sinh thái, với năm sinh cảnh chính.

1 Sinh cảnh rừng sản xuất

2 Sinh cảnh nông nghiệp cũ;

4 Sinh cảnh ven khe suối;

5 Sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa;

Sinh cảnh rừng sản xuất luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Sinh cảnh nông nghiệp cũ

Sinh cảnh cây gỗ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Sinh cảnh ven khe suối

Sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa là một trong những sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu Hình 2.1 minh họa các sinh cảnh này, thể hiện sự đa dạng và đặc trưng của hệ sinh thái nơi đây.

Tại mỗi khu vực điều tra, chúng tôi đã thiết lập các tuyến khảo sát đi qua các sinh cảnh chính, với 16 điểm điều tra được phân bố tại 5 sinh cảnh chính.

- Tuyến khảo sát 1: Thuộc phân khu Dịch vụ hành chính

Từ trạm Sao La thuộc tiểu khu 170 có tọa độ (493,125.67; 2,026,759.78) đến điểm có tọa độ (496,754.24; 2,024,165.80) thuộc tiểu khu

170 với độ dài tuyến là 4,500 m Tuyến này đi qua các sinh cảnh nông nghiệp cũ, sinh cảnh ven khe suối, sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa

- Tuyến khảo sát 2: Thuộc phân khu Dịch vụ hành chính

Tuyến đường dài 4,000 m bắt đầu từ trạm Cò tại tiểu khu 182 với tọa độ (487,210.51; 2,023,078.73) và kết thúc tại điểm có tọa độ (491,123.96; 2,021,399.39) thuộc tiểu khu 176 Tuyến này đi qua các sinh cảnh đa dạng, bao gồm cây bụi rừng tre nứa, cây gỗ và nông nghiệp cũ.

Hình 2.1 Tuyến khảo sát 1 và tuyến khảo sát số 2

- Tuyến khảo sát 3: Thuộc phân khu Phục hồi sinh thái

Từ điểm gần biên giới VQG và địa phận xã Sơn Kim II thuộc tiểu khu

Tuyến đường dài 3,000 m nối từ tọa độ (479,158.69; 2,034,826.60) đến tọa độ (479,458.57; 2,031,737.81) thuộc tiểu khu 76, đi qua các sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa và sinh cảnh cây gỗ.

- Tuyến khảo sát 4: thuộc phân khu Phục hồi sinh thái

Tuyến đường dài 2,500 m bắt đầu từ ranh giới giữa xã Hòa Hải và VQG, gần trạm Tân Hòa thuộc tiểu khu 181A, đến điểm có tọa độ (479,458.57; 2,031,737.81) thuộc tiểu khu 181 Tuyến đường này đi qua các sinh cảnh rừng sản xuất và sinh cảnh cây gỗ.

Hình 2.3 Tuyến khảo sát 4 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

2.4.3.2 Phương pháp thu thập mẫu cánh cứng

Các loại côn trùng kiếm ăn trong nhiều môi trường khác nhau, với một số loài như Bọ hung và Hành trùng hoạt động dưới đất, trong khi các loài như Bọ rùa và Xén tóc tìm thức ăn trên cây Do đó, trong quá trình thu thập mẫu, tôi đã áp dụng các phương pháp thu thập phù hợp.

Sau khi xác định số lượng và vị trí các điểm điều tra, cần lập hồ sơ và kế hoạch cho quá trình điều tra Các điểm điều tra sẽ được đánh dấu trên bản đồ Đồng thời, chuẩn bị các dụng cụ cần thiết như địa bàn, thước dây, dao và các biểu ghi để tiến hành công tác điều tra.

Để điều tra thành phần loài côn trùng trên cây, tôi đã chọn 5 mốc tiêu chuẩn Tại mỗi điểm điều tra, tôi đánh dấu một mốc ở tâm của ô và chọn 2 cây tiêu chuẩn Từ điểm này, tôi tiếp tục chọn 4 mốc khác nhau.

Tại bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, cách điểm trung tâm 10m, chúng tôi chọn 2 cây tiêu chuẩn ở mỗi mốc Tại mỗi điểm, tiến hành điều tra 10 cây, ưu tiên chọn cây gần mốc nhất và cao hơn so với các cây xung quanh Trên mỗi cây được chọn, chúng tôi sẽ điều tra 5 cành theo phương pháp chuẩn.

Các cây tiêu chuẩn đã chọn được đánh dấu bằng cách dán giấy và kết quả được ghi ở biểu sau:

Mẫu biểu:Điều tra thành phần các loài côn trùng cánh cứng trên cây

TT cây TC TT loài Tên loài Ghi chú

2 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Mỗi điểm điều tra sẽ khảo sát toàn bộ cây đổ (nếu có), và tình hình sau khi bị phá hoại sẽ phụ thuộc vào loài cây, điều kiện khí hậu, đặc điểm của điểm điều tra, cũng như thời gian từ khi cây đổ cho đến khi tiến hành điều tra.

Khi thu thập mẫu, kết quả được ghi vào biểu sau:

Mẫu biểu: Điều tra thành phần các loài cánh cứng trong cây đổ

Dưới lớp thảm mục và trong lòng đất rừng, có sự hiện diện của nhiều loài sâu, bao gồm sâu non của họ Bọ hung (Scarabacidae) và họ Bổ củi (Elateridae), chuyên sống dưới đất Các loài sâu trưởng thành của họ Bọ hung thường cư trú trong lớp thảm mục, trong khi một số loài sâu khác ăn lá hoặc ký sinh vào sâu ăn lá, thường xuất hiện trong lớp thảm mục khi qua đông hoặc pha nhộng Ngoài ra, trong đất còn có thể tìm thấy sâu non của họ Hành trùng (Carabidae).

Chuẩn bị dụng cụ: thước mét, hộp đựng mẫu bằng nhựa, cuốc xẻng đào đất, rây đất, biểu ghi

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Vườn Quốc Gia Vũ Quang, nằm tại tỉnh Hà Tĩnh, là nơi bảo tồn nhiều loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam Được thành lập theo quyết định số 102/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 30 tháng 7 năm 2002, VQG Vũ Quang nổi bật với loài Mang Vũ Quang (Muntiacus vuquangensis), một loài quý hiếm mang tên vườn quốc gia này.

VQG Vũ Quang nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 75 km

- Phía đông giáp xã Hoà Hải (huyện Hương Khê)

- Phía tây giáp xã Sơn Kim (huyện Hương Sơn)

- Phía nam giáp biên giới Việt Nam - Lào

- Phía bắc giáp xã Sơn Tây (huyện Hương Sơn), và các xã Hương Đại, Hương Minh (huyện Vũ Quang)

VQG Vũ Quang tọa lạc trong khu vực núi thấp trung bình và một phần núi cao, với độ cao địa hình dao động từ 30 đến 2286m tại đỉnh Rào Cỏ Địa hình nơi đây có đặc điểm núi cao, vực sâu và thung lũng hẹp, với độ dốc lớn và sự chia cắt sâu, tạo nên ba kiểu địa hình đặc trưng.

- Kiểu địa hình núi diện tích 31.108 ha chiếm 56,6% diện tích Vườn, phân bố chạy dọc theo biên giới Việt - Lào Độ cao của địa hình núi từ 301 -

2000 m với nhiều đỉnh cao độ dốc 20 - 350, có nơi lên đến hơn 350 Đây là kiểu địa hình đặc trưng có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn ĐDSH

Kiểu địa hình đồi đai cao dưới 300m chiếm 23.681ha, tương đương hơn 43% tổng diện tích của Vườn Độ dốc ở khu vực này thấp hơn so với địa hình núi.

15 - 300, phân bố chủ yếu ở khu vực phân khu phục hồi sinh thái (nhất là các khu vực tiếp giáp vùng đệm)

Kiểu định hình đồng bằng dốc tụ và thung lũng có diện tích nhỏ, chỉ 197 ha, chiếm 0,4% tổng diện tích Vườn Các khu vực này phân bố theo dạng đồng bằng tại Hương Quang (huyện Vũ Quang) và dạng thung lũng tại Hòa Hải (huyện Hương Khê).

VQG Vũ Quang nổi bật với những đỉnh núi cao và hiểm trở, có độ dốc lớn Địa hình nơi đây được chia cắt bởi nhiều khe suối, tạo thành các lưu vực lòng chảo với sườn nghiêng và bãi bằng dưới chân núi.

VQG Vũ Quang có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh và dễ xảy ra sương muối, trong khi mùa khô lại rất nóng và khắc nghiệt Hàng năm, khu vực này trải qua hai mùa rõ rệt, theo số liệu từ các trạm khí tượng, thủy văn trong 10 năm qua tại huyện Hương Sơn và Hương Khê.

Mùa mưa ở Hà Tĩnh bắt đầu từ hạ tuần tháng 8 đến tháng 9 và kéo dài đến trung tuần tháng 11, chiếm tới 54% tổng lượng mưa hàng năm Trong thời gian này, khu vực thường xuyên phải đối mặt với các cơn bão từ biển Đông, dẫn đến tình trạng lũ lụt nghiêm trọng.

- Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn

VQG Vũ Quang nằm ở độ cao trung bình trên 800m so với mặt nước biển, thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 28°C, trong khi nhiệt độ trung bình thấp nhất là 19,7°C, với nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối ghi nhận là 2,6°C Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,5°C, và biên độ nhiệt độ giữa cao nhất và thấp nhất trong ngày lớn nhất vào tháng 7 (7,7°C ở Hương Sơn) và nhỏ nhất vào tháng 2 (7,4°C ở Hương Khê).

VQGVũ Quang chịu ảnh hưởng chủ yếu từ hai loại gió: gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam.

Vườn nằm ở vị trí rất quan trọng trong dãy Trường Sơn; nằm ở giữa VQG Phù Mát (phía Bắc) và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (phía Nam)

VQG Vũ Quang nổi bật với hệ thống sông suối phong phú, là khu vực đầu nguồn của nhiều con sông lớn Nơi đây có khoảng 16 suối lớn trải dài, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đa dạng và hấp dẫn.

10 km và nhiều suối nhỏ hình thành nên 03 hệ thống thủy rõ rệt:

- Phía Tây có hệ thống thủy Khe Chè (thuộc địa phận xã Sơn Kim II) ở độ cao trên 1.400 m chảy hướng Nam Bắcrồi đổ ra sông Ngàn Phố;

Sông Ngàn Trươi, bắt nguồn từ độ cao 1.900 m tại phía Nam VQG Vũ Quang, được hình thành từ nhiều chi lưu nhỏ chảy dốc từ biên giới Việt - Lào, thuộc địa phận xã Hương Quang, huyện Vũ Quang.

- Sông Rào Nổ nằm ở phía Đông VQG tập trung nước ở khe Măng Đằng và khe Nổ

Địa hình suối có đặc điểm ngắn, dốc và nhiều thác ghềnh, dẫn đến tình trạng mưa lũ lên nhanh và rút cũng nhanh Tốc độ dòng chảy lớn nhất đạt khoảng 819 m³/s, trong đó mưa lũ chiếm 70-80% tổng lượng nước hàng năm, chủ yếu là lũ đơn.

3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng Ở VQG Vũ Quang có 02 nhóm đá mẹ như sau:

Nhóm đá Macma axit kết tinh chua thường phân bố ở các khu vực núi có độ dốc lớn, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Đất ở đây có kết cấu không bền vững và hàm lượng mùn thấp Khi rừng bị chặt phá, các khoảng trống dễ bị xói mòn và rửa trôi, dẫn đến tình trạng đất trơ sỏi đá khi có mưa.

Nhóm đá phiến thạch sét chủ yếu phân bố ở địa hình đất, đặc biệt là trong các khu vực phục hồi sinh thái Đất ở đây có hàm lượng khoáng chất dễ tiêu như N, P, K, Mg tương đối cao và có kết cấu tốt.

Theo kết quả điều tra chuyên đề lập địa cấp II, VQG Vũ Quang có các nhóm dạng đất đa dạng, bao gồm các loại đất phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái của khu vực.

Kinh tế - xã hội

VQG Vũ Quang bao gồm 13 xã và thị trấn thuộc 3 huyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang, với tổng cộng 12.960 hộ và 44.588 nhân khẩu Trong số đó, có 282 hộ dân tộc thiểu số với 1.069 nhân khẩu, chủ yếu là người Kinh Dân tộc Lào Thừng chỉ có 282 hộ với 1.069 nhân khẩu, sinh sống tại xã Hương Quang (huyện Vũ Quang), xã Phú Gia (huyện Hương Khê) và xã Sơn Kim 2 (huyện Hương Sơn), gần VQG Vũ Quang.

Trong tổng số 12.960 hộ có 105 thôn, trong đó có 35 thôn có dân cư sống gần rừng đặc dụng Cụ thể như sau:

Huyện Vũ Quang bao gồm 6 xã (Thị trấn Vũ Quang, Hương Điền, Hương Minh, Hương Thọ, Hương Quang, Sơn Thọ) với tổng cộng 35 thôn, trong đó có 20 thôn nằm gần rừng đặc dụng Dân số của huyện đạt 12.658 người, chiếm 42,3% tổng dân số toàn huyện, với mật độ dân số là 24 người/km².

Huyện Hương Sơn bao gồm 2 xã là Sơn Tây và Sơn Kim 2, với tổng cộng 22 thôn nằm trong vùng đệm Trong số đó, có 4 thôn có dân cư sinh sống gần rừng đặc dụng, cụ thể là 2 thôn ở xã Sơn Tây và 2 thôn ở xã Sơn Kim 2 Dân số của huyện đạt 12.232 người, chiếm 10,5% tổng dân số, với mật độ dân số là 36 người/km².

Huyện Hương Khê bao gồm 5 xã: Hòa Hải, Hương Bình, Phú Gia, Phương Điền và Phương Mỹ, với tổng cộng 48 thôn trong vùng đệm Trong số đó, có 11 thôn có dân cư sinh sống gần rừng đặc dụng, cụ thể Hòa Hải có 4 thôn, Hương Bình có 3 thôn và Phú Gia có 4 thôn Dân số toàn huyện đạt 19.698 người, chiếm 19,3% tổng dân số huyện, với mật độ dân số là 49 người/km².

Mật độ dân cư trong khu vực không đồng đều, với xã Phương Điền có mật độ cao nhất đạt 151 người/km², trong khi xã Hương Quang có mật độ thấp nhất chỉ 4 người/km² Các khu dân cư chủ yếu tập trung ở phía Bắc, phía Đông và phía Tây của rừng đặc dụng.

Tỷ lệ gia tăng dân số trong khu vực hiện nay vẫn ở mức cao (1,06%), với dân cư tập trung chủ yếu ở các thung lũng, ven sông suối lớn và khu vực có đất canh tác nông nghiệp Một số xã vùng đệm đang đối mặt với mật độ dân số cao, trong khi diện tích đất canh tác lại hạn chế, tạo ra áp lực lớn đối với tài nguyên rừng tại vùng đệm của VQG.

Vũ Quang Đây là một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong toàn vùng

Hiện nay, vùng lõi có khoảng 329 nhân khẩu, trong khi vùng đệm có 31.073 nhân khẩu, chủ yếu là người Kinh Tỷ lệ hộ làm nông nghiệp chiếm 93%, trong khi tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm 4%, và lâm nghiệp chiếm 3%.

3.2.2 Sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong đó đất lâm nghiệp là chủ yếu (544.947 ha), đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 33 ha, đất phi nông nghiệp có

78 ha (chiếm0,1% diện tích vườn) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Các xã trong VQG Vũ Quang là những khu vực vùng sâu, vùng xa và biên giới, gặp nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội Diện tích sản xuất nông nghiệp tại các xã thuộc vùng đệm đạt hơn 5.900 ha, chủ yếu trồng lúa nước và một số loại cây hoa màu Tuy nhiên, diện tích sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, trung bình chỉ từ 1,5 đến 2 sào mỗi lao động, và phân bố không đồng đều Ngoài ra, một số ruộng bậc thang gặp khó khăn trong việc tưới tiêu do hệ thống thủy lợi nhỏ, dẫn đến chỉ một phần diện tích có đủ nước tưới, trong khi phần còn lại phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.

Lúa là nguồn thu nhập chủ yếu của người dân, nhưng năng suất vẫn còn thấp và không ổn định Điều này dẫn đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên rừng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khu rừng đặc dụng.

Các xã vùng đệm tiếp giáp với vùng đồi núi thấp có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi, đặc biệt là đại gia súc Toàn vùng hiện có 9.329 con trâu, 6.789 con bò, 21.241 con lợn, 2.831 con hươu, 275 con dê, 1.514 tổ ong và nhiều gia cầm khác, tạo thành nguồn thu nhập chính cho nông dân Trung bình mỗi hộ gia đình nuôi từ 2 - 3 con trâu bò, trong khi một số gia đình có thể nuôi từ 10 - 15 con, cho thấy tỷ lệ chăn thả trâu bò ở một số xã khá cao.

Người dân tham gia sản xuất lâm nghiệp chủ yếu thông qua việc khoanh nuôi và bảo vệ rừng cho Vườn Quốc Gia, cũng như thu hái lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng Tuy nhiên, tình trạng khai thác và thu hái không bền vững, đặc biệt trong vùng lõi, đã dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên rừng trong khu vực.

Mặc dù VQG và cơ quan Kiểm lâm đã nỗ lực, nhưng lực lượng mỏng và diện tích rừng lớn khiến việc bảo vệ rừng gặp khó khăn Ý thức bảo vệ rừng của người dân còn thấp, trong khi lợi ích kinh tế từ khai thác rừng rất cao Các hiện tượng như đốt nương, săn bắn và khai thác trái phép vẫn diễn ra Do đó, cần có nhiều giải pháp tổng hợp và hiệu quả, cùng với sự hợp tác của các cơ quan chức năng và cộng đồng dân cư xung quanh rừng để giảm thiểu tác động một cách bền vững.

Tài nguyên rừng

3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng

Theo Quyết định số 1280/QĐ-BNN-TCLN ngày 6/6/2013 của Bộ NN&PTNT, kết quả Điều tra và Kiểm kê rừng năm 2012 cho thấy tổng diện tích đất rừng đặc dụng của VQG Vũ Quang là 52.860,6 ha.

- Đất có rừng: 52.731,3 ha (chiếm 99,8% rùng đặc dụng), gồm rừng tự nhiên 52.387,4 ha (chiếm 99,1%) và rừng trồng 343,9 ha (chiếm 0,7%)

- Đất chưa có rừng: 129,2 ha, chiếm 0,2% rừng đặc dụng

- Độ che phủ của rừng cao chiếm 99,8% Cụ thể như sau:

Bảng 3.1.Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng

TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ %

Tổng diện tích tự nhiên 52.860,5 100

8 Đất chưa có rừng 129,2 0,2 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

3.3.2 ĐDSH và phân bố khu hệ ĐTV rừng quý hiếm, đặc hữu

Số lượng động vật hoang dã tại VQG Vũ Quang đang giảm mạnh, với một số loài có nguy cơ tuyệt chủng Nguyên nhân chính là do dân số tăng nhanh và tình trạng nghèo khó của cư dân vùng đệm, dẫn đến thu nhập không ổn định Nhu cầu về động vật hoang dã và gỗ quý hiếm vẫn cao, trong khi nhận thức của người dân về pháp luật bảo vệ động thực vật hoang dã còn hạn chế, tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng Đây là thách thức lớn đối với công tác bảo tồn tại VQG Vũ Quang.

Trong những năm gần đây, Ban quản lý VQG Vũ Quang đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và ngăn chặn khai thác rừng cũng như săn bắt động vật hoang dã Đồng thời, họ cũng tăng cường công tác kiểm soát và quản lý bảo vệ rừng Phòng nghiên cứu khoa học của Vườn đã phối hợp với các Viện nghiên cứu và tổ chức để khảo sát, điều tra các loài như vượn, dơi, ong nhằm theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.

Xây dựng kế hoạch hợp tác với các tổ chức quốc tế tại Khu bảo tồn Nakai Nam Theun - Lào nhằm trao đổi thông tin và nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học liên biên giới, đồng thời mở rộng và phát triển khu vực xung quanh Vườn.

Theo báo cáo của các nhà nghiên cứu, VQG Vũ Quang có 1.612 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 191 họ, 676 chi Bao gồm:

- 94 loài thực vật quý hiếm cần được bảo tồn có tên trong sách đỏ Việt Nam;

- 339 loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như lim, pơ mu, cẩm lai, trầm hương…;

- 686 loài cây được sử dụng làm thuốc

VQG Vũ Quang đã trở thành điểm nóng về nạn chặt phá rừng và khai thác gỗ bừa bãi trong những năm qua Đầu năm 2019, các nhà nghiên cứu đã phát hiện và công bố một loài thực vật mới mang tên gừng Vũ Quang (Zingiber vuquangense) Từ năm 2016 đến nay, tại VQG Vũ Quang, các nhà khoa học đã phát hiện thêm 6 loài thực vật mới, bao gồm: Chà ran tuyến, trà mi Vũ Quang, trà mi Hà Tĩnh, dẻ Vũ Quang, tân bời lời Vũ Quang và gừng Vũ Quang Điều này khẳng định VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, là khu vực có tính đa dạng sinh học rất cao và còn nhiều bí ẩn cần được khám phá.

VQG Vũ Quang sở hữu hệ động vật phong phú với 94 loài thú thuộc 26 họ, 58 loài bò sát, 315 loài chim, 88 loài cá, 316 loài bướm và 31 loài lưỡng cư.

- 26 loài thú, 16 loài bò sát và hơn 10 loài chim quý hiếm cần được bảo vệ và bảo tồn

- 2 loài thú mới được phát hiện là sao la (dê rừng dài) vào năm 1992 và mang lớn vào năm 1993

- 36 loài phụ thú đặc hữu của núi rừng Trường Sơn Bắc như vượn má vàng, voọc Hà Tĩnh, voọc vá chân nâu…

Một số loài thuộc nhóm động vật nguy cấp cần bảo tồn xuất hiện thường xuyên ở đây như cheo cheo, mang lớn, voi, dơi, một số loài khỉ

Vườn Quốc gia Vũ Quang là nơi sinh sống của nhiều loài rùa có tuổi thọ hàng trăm năm như rùa núi viền, rùa hộp ba vạch và rùa hộp trán vàng Năm 1992, khu vực này đã phát hiện loài thú mới chưa được mô tả là Sao La (Pseudoryx nghetinhenesis), tiếp theo là loài Mang lớn (Megamuntitiacus vuquangensis) vào năm 1993 Ngoài ra, từ năm 1992, VQG Vũ Quang còn phát hiện 5 loài cá mới, 2 loài ếch nhái và 15 loài lưỡng cư được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Xác định thành phần loài côn trùng cánh cứng tại khu vực nghiên cứu 36 4.2 Đánh giá tính đa dạng loài và phân bố của các loài thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tại khu vực VQG Vũ Quang, 16 điểm điều tra đã được khảo sát, thu thập được 48 loài côn trùng cánh cứng thuộc 10 họ khác nhau.

Bảng 4.1 Thành phần loài và mức độ bắt côn trùng cánh cứng tạiVườn quốc gia Vũ Quang

TT Tên Khoa học Tên Việt Nam P% Vai trò

(1) Buprestidae Họ Bổ củi giả

1 Sternocera aequisignata Bổ củi giả 25,00 Hại rễ

2 Chlaenius inops 43,75 Ăn thịt, thiên địch

3 Stromatium longicorne Xén tóc gỗ khô 56,25

4 Batocera rubus Xén tóc tám chấm trắng 87,50

6 Cassida quadriramosa Bọ bốn nhánh 31,25

7 Chrysochus chinensis Bọ xanh ăn lá 43,75

14 Chrysolinafastuosa 18,75 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

TT Tên Khoa học Tên Việt Nam P% Vai trò

16 Synonycha grandis 75,00 Ăn thịt, thiên địch

28 Hypomeces squamosus Câu cấu xanh 56,25 Hại lá, quả

29 Shirahoshizo rufescens Vòi voi xám 43,75 Hại lá

30 Cyrtotrachelus longimanus Vòi voi chân dài 50,00 Hại thân

32 Sitophilus oryzae 43,75 Hại nông sản

35 Mylabris cichorii Ban miêu khoang vàng 50,00

(9) Scarabaeoidae Họ bọ hung luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

TT Tên Khoa học Tên Việt Nam P% Vai trò

37 Anomala sp Bọ hung nâu nhỏ 31,25 Ăn xác chết, xác thực vật mục nát Hại thân, lá, rễ

39 Cercyon ustulatus Bọ hung bầu dục 12,50

41 Holotrichia sauteri Bọ hung nâu lớn 25,00

42 Parena latecincta Bọ hung nâu 18,75

43 Maladera sp Bọ hung nâu vàng 18,75

44 Xylotrupes gideon Kiến vương hai sừng 6,25

46 Serica brunna Bọ hung đen 6,25

47 Melanotus crassicoliss Bổ củi nâu đen 12,50 Hại thân, mầm non

48 Anelastes druryi Bổ củi xanh 12,50 Độ bắt gặp của các loài côn trùng Cánh cứng trong khu vực nghiên cứu được làm rõ hơn trong hình dưới đây:

Hình 4.1 Tỷ lệ bắt gặp các loài côn trùng Cánh cứng

Loài thường gặp Loài ít gặp Loài ngẫu nhiên gặp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Theo hình 4.1, trong tổng số 48 loài được điều tra tại khu vực nghiên cứu, nhóm ngẫu nhiên gặp chiếm ưu thế với 23 loài, tương đương 47,92% Tiếp theo là nhóm ít gặp với 21 loài, chiếm 43,75% Cuối cùng, nhóm thường gặp có số lượng ít nhất, chỉ với 4 loài, chiếm 8,33%.

Danh sách các loài thường gặp và ngẫu nhiên trong khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bảng 4.2 và 4.3

Bảng 4.2 Các loài côn trùng Cánh cứng thuộc nhóm thường gặp

STT Tên khoa học Họ

Bảng 4.3 Các loài Cánh cứng thuộc nhóm gặp ngẫu nhiên

STT Tên khoa học Họ

12 Polydrusus impar Curculionidae luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

STT Tên khoa học Họ

Qua bảng 4.2 ta thấy nhóm các loài thường gặp nhất ở khu vực VQG

Vũ Quang chủ yếu có các loài thuộc họ xén tóc (Cerambycidae) với 2 loài, họ Vòi voi (Curculionidae) với 1 loài, và họ Bọ rùa (Coccinellidae) cũng với 1 loài Theo bảng 4.3, nhóm loài gặp ngẫu nhiên nhiều nhất là họ Ánh kim (Chrysomelidae) và họ Bọ hung (Scarabaeoidea) với 7 loài, tiếp theo là họ Bọ rùa (Coccinellidae) với 4 loài, họ Kẹp kìm (Lucanidae) và họ Bổ củi (Elateridae) với 2 loài mỗi họ, và cuối cùng là họ Vòi voi (Curculionidae) với 1 loài.

4.2 Đánh giá tính đa dạng loài và phân bố của các loài thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu

4.2.1 Đa dạng loàicủa côn trùng Cánh cứng Để thấy rõ hơn sự phong phú của từng loài Cánh cứng trong khu vực nghiên cứu ta tiến hành thống kê số loài theo từng họ Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bảng 4.4 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 4.4 Thống kê loài theo họ côn trùng Cánh cứngtại khu vực nghiên cứu

Số loài % loài Số giống

Theo bảng 4.4, khu vực nghiên cứu ghi nhận 48 loài Cánh cứng thuộc 42 giống và 10 họ Trong đó, họ Bọ rùa (Coccinellidae) chiếm ưu thế với 12 loài, tương đương 25,00% tổng số loài Tiếp theo là họ Ánh kim (Chrysomelidae) và họ Bọ hung (Scarabaeoidea) với 10 loài, chiếm 20,83% Họ Vòi voi (Curculionidae) có 5 loài, chiếm 10,42%, trong khi họ Xén tóc (Cerambycidae) có 3 loài, chiếm 6,25% Các họ Kẹp kìm (Lucanidae), Họ Ban miêu (Meloidae) và họ Bổ củi (Elateridae) đều có 2 loài, chiếm 4,17%, còn họ Hành trùng (Carabidae) và Bổ củi giả (Buprestidae) chỉ có 1 loài, chiếm 2,08%.

Với 10 giống họ Bọ rùa là họ chiếm số giống nhiều nhất với 23,81%, tiếp đến là họ Bọ hung với 9 giống chiếm 21,43%, họ Ánh kim với 8 giống chiếm 19,05%, họ Vòi voi với 5 giống chiếm 11,90%, họ Xén tóc với 3 giống chiếm 7,14%, họ Ban miêu và họ Bổ củi với 2 giống chiếm 4,76%, còn lại các họ khác chỉ có 1 giống chiếm 2,38% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

4.2.2 Đa dạng về sinh cảnh của côn trùng Cánh cứng

Các dạng sinh cảnh khác nhau ảnh hưởng đến thành phần loài côn trùng Cánh cứng Bảng 4.5 sẽ minh họa sự khác biệt trong phân bố của các loài theo từng sinh cảnh.

Bảng 4.5.Thành phần loài côn trùng Cánh cứng theo các dạng sinh cảnh

STT Sinh cảnh Số loài % Loài

1 Sinh cảnh nông nghiệp cũ 31 64,58

2 Sinh cảnh rừng sản xuất 27 56,25

4 Sinh cảnh ven khe suối 12 31,25

Trong bảng thống kê, các loài côn trùng bộ Cánh cứng chủ yếu phân bố ở sinh cảnh nông nghiệp cũ và rừng sản xuất, với tỷ lệ lần lượt là 64,58% và 56,25% Sinh cảnh cây gỗ có tỷ lệ 45,83%, trong khi sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa chiếm 35,42% Cuối cùng, sinh cảnh ven khe suối có số loài tìm thấy ít nhất, chỉ đạt 31,25% Sự khác biệt này được thể hiện rõ hơn qua hình ảnh minh họa bên dưới.

Hình 4.2 Tỷ lệ các loài cánh cứng theo sinh cảnh

Sinh cảnh nông nghiệp cũ

Sinh cảnh rừng sản xuất

Sinh cảnh cây gỗ Sinh cảnh ven khe suối

Sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trong quá trình điều tra, nhóm các loài thường gặp bao gồm những loài xuất hiện ở tất cả các sinh cảnh, trong khi nhóm các loài gặp ngẫu nhiên chỉ xuất hiện ở một sinh cảnh duy nhất Thông tin chi tiết được thể hiện trong bảng 4.6 và 4.7.

Bảng 4.6 Các loài xuất hiện ở tất cả các dạng sinh cảnh

Bảng 4.7 Các loài chỉ xuất hiện ở một dạng sinh cảnh

STT Tên loài Họ Sinh cảnh

1 Hylotrupes bajulus Cerambycidae Sinh cảnh nông nghiệp cũ

2 Aulacophora sp Chrysomelidae Sinh cảnh ven suối

3 Chrysocoris stollii Chrysomelidae Cây gỗ

4 Synonycha grandis Coccinellidae Sinh cảnh cây bụi rừng tre nứa

5 Harmonia octomaculata Coccinellidae Sinh cảnh nông nghiệp cũ

6 Hippodamiavariegata Coccinellidae Sinh cảnh nông nghiệp cũ

7 Anelastes druryi Elateridae Sinh cảnh nông nghiệp cũ

Theo bảng 4.6, chỉ có 5 loài trong 4 họ côn trùng phân bố rộng rãi, trong khi nhóm nghiên cứu đã phát hiện cả 5 loài này ở 5 dạng sinh cảnh khác nhau Ngược lại, bảng 4.7 cho thấy có 7 loài côn trùng cánh cứng chỉ xuất hiện tại 1 dạng sinh cảnh, điều này có thể chỉ ra rằng chúng có phân bố hẹp và yêu cầu nhất định về sinh thái Để xác định rõ hơn về vấn đề này, cần có thêm thời gian và nghiên cứu sâu hơn về côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại VQG Vũ Quang.

4.2.3 Vai trò của côn trùng Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu

Côn trùng thuộc bộ Cánh cứng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, đặc biệt là tại VQG Vũ Quang, với sự đa dạng về hình thức sống Chúng không chỉ góp phần vào chu trình tuần hoàn vật chất mà còn có cả tác động tích cực và tiêu cực đối với môi trường.

4.2.3.1 Vai trò của các loài có ích:

Trong các nghiên cứu trước đây, Hành trùng thường xuất hiện dưới dạng sâu trưởng thành trong đất, với thức ăn chủ yếu là sâu non của các loài sâu hại bộ cánh vẩy và một số loài sâu hại khác, giúp hạn chế sự phát triển của chúng Bọ rùa, loài ăn rệp, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác hại của nhóm sâu có miệng chích hút Do đó, khu vực điều tra ít thấy sự xuất hiện của rệp sáp trên chồi non hay ngọn non của cây rừng.

Một số loài côn trùng như họ Bọ hung và họ Hành trùng có khả năng cải tạo đất bằng cách làm tơi xốp các phần cứng, đưa chúng lên bề mặt để phản ứng với nước và thời tiết Các đường hầm do côn trùng tạo ra giúp thông thoáng khí trong đất, trong khi vận động của nước mao dẫn làm tăng độ mùn và chất hữu cơ Ngoài ra, các cơ thể côn trùng chết tích tụ trên bề mặt đất tạo thành phân bón hữu cơ, và chất tiết của chúng cũng có giá trị như phân bón tốt.

- Mọt và các loài côn trùng ăn gỗ khác tham gia tích cực trong việc phân giải các lớp thảm mục rừng

4.2.3.2 Tác hại của các loài có hại

Nhóm hại lá bao gồm Bọ hung nâu nhỏ, Bọ hung nâu lớn, Bọ lá và Cầu cấu xanh Mặc dù chúng thuộc nhóm cánh cứng gây hại, nhưng mức độ gây hại của chúng là nhỏ, do đó hiện tại chưa cần thiết phải phong trừ Các loài sâu hại này chủ yếu phá hoại cây lá rộng và có khả năng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau khi ở pha trưởng thành.

Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhd 77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77.77.99.44.45.67.22.55.77.C.37.99.44.45.67.22.55.77t@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn.Stt.010.Mssv.BKD002ac.email.ninhddtt@edu.gmail.com.vn.bkc19134.hmu.edu.vn

Nhóm hại rễ và cây con bao gồm các loài như sâu non, bọ hung, bổ củi và vòi voi Mặc dù trong khu vực nghiên cứu có nhiều loài thuộc nhóm này, nhưng mật độ của chúng không cao, dẫn đến mức độ hại nhẹ cho cây trồng.

- Nhóm hại thân, cành như: Xén tóc, Mọt

Kết quả điều tra vai trò của các loài côn trùng trong khu vực điều tra được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.8.Vai trò của côn trùng bộ Cánh cứng tạiVQG Vũ Quang

STT Vai trò Số loài Tỷ lệ (%)

1 Hại lá và quả non 24 50,00

2 Ăn xác chết, xác động - thực vật mục nát 10 20,83

3 Hại rễ, cành và mầm non 3 6,25

6 Hại nông sản (lúa mì, ngô, gạo) 1 2,08

7 Chưa xác định 2 4,17 Để nhìn rõ hơn về sự chênh lệch giữa vai trò của các nhómloài trong HST ta nhìn vào biểu đồ sau đây:

Qua bảng 4.8 và biểu đồ dạng cột 4.4, ta thấy số loài hại lá và quả non

Hại lá và quả non Ăn xác chết, xác động - thực vật mục nát

Hại rễ, cành và mầm non

Hại nông sản (lúa mì, ngô, gạo)

Hình 4.3 Vai trò của côn trùng bộ Cánh cứng tại VQG Vũ Quang luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Đặc điểm hình thái một số loài côn trùng cánh cứng thường gặp

4.3.1 Vòi voi lớn chân dài (Cyrtotrachelus longimanus)

Vòi voi lớn chân dài trưởng thành là một loại côn trùng có cánh cứng dài từ 21 đến 35 mm, màu nâu đỏ với ánh kim Mặt trên của chúng có lưng ngực trước với vân đen hình tứ giác, trong khi cánh trước có hai đốm vàng ở đầu và cuối Sâu non của chúng có hình dạng chữ C, không có chân, với đầu màu nâu và thân béo mập màu trắng.

Sâu hại này có đặc điểm sinh học là sợ ánh sáng và hoạt động mạnh vào buổi chiều tối Mỗi năm, chúng trải qua một thế hệ, trưởng thành vào mùa đông trong đất và xuất hiện vào tháng 5, phổ biến nhất vào tháng 7 - 8 Khi mới trưởng thành, chúng gặm đỉnh măng để ăn, sau đó đẻ trứng vào vết thương của măng, mỗi chỗ một trứng, với một con cái có thể đẻ từ 25 - 30 trứng Sau khoảng 3 ngày, sâu non xuất hiện, đục sâu vào trong măng và ăn măng non để lớn lên Khoảng 15 ngày sau, sâu non thành thục cắn thủng đỉnh măng để chui ra ngoài, rơi xuống đất và chui vào đất để hóa nhộng Sau 14 ngày, nhộng hóa trưởng thành, khiến măng bị hại chết và thối Đây là loài sâu hại phổ biến nhất đối với các loài mọc thành bụi.

Hình 4.5.Vòi voi lớn chân dài (Cyrtotrachelus longimanus)

Sâu non có hình dạng giống con sùng, với màu trắng ngà và đầu màu nâu, chân ngực phát triển rõ rệt Nhộng của chúng nằm trong đất có màu nâu nhạt, được bao phủ bởi một lớp kén tơ bên ngoài.

Bọ trưởng thành có cánh cứng màu vàng cam, hình bầu dục, dài khoảng 6 - 7 mm, với mắt đen và râu dài linh động Thời gian sống của bọ dưa rất dài, dao động từ 100 đến 200 ngày.

- Đặc điểm sinh học: Một cá thể Bọ dưa cái trưởng thành đẻ khoảng

Trứng có kích thước rất nhỏ, dài khoảng 0,8 mm và rộng 0,3 mm, có màu vàng xanh khi mới đẻ và chuyển sang màu vàng nâu khi sắp nở Thời gian ủ trứng dao động từ 8 đến 15 ngày Ấu trùng mới nở có màu trắng sữa, sau đó chuyển sang màu vàng nâu với đầu màu nâu và đặc biệt có một đôi chân giả Ấu trùng trải qua 3 tuổi với thời gian phát triển từ 18 đến 35 ngày Nhộng có màu nâu nhạt và thời gian phát triển của nhộng từ 5 đến 14 ngày.

Nhộng được hình thành trong đất, bên ngoài bao phủ bằng một kén tơ rất dày và phát triển trong thời gian từ 4 - 14 ngày

Bọ dưa thường phát triển mạnh mẽ vào mùa khô, gây hại cho cây dưa vào sáng sớm và chiều tối, trong khi ban ngày chúng ẩn nấp dưới tán lá hoặc trong đất Trứng của chúng được đẻ rải rác quanh gốc cây, và bọ trưởng thành gây hại nặng nề khi cây dưa có từ 4-5 lá, với mật độ cao có thể làm trụi lá, khiến cây phát triển kém hoặc thậm chí chết Mặc dù khi cây dưa lớn, bọ dưa không còn phá hoại nữa, nhưng bọ non vẫn sống trong đất, ăn rễ và cắn gốc cây, gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây, có thể dẫn đến héo chết.

Hình 4.6 Bọ dƣa (Aulacophora similis) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Đặc điểm nhận dạng Dài từ 10,5 đến 13 mm, kích thước chiều rộng 9 - 11,5 mm Cơ thể có hình tròn, rất to; màu đỏ tươi, cam và vàng

Bọ rùa cái có khả năng đẻ từ 15 - 20 trứng mỗi lần, và tổng cộng có thể lên đến hàng ngàn trứng trong suốt cuộc đời Trứng có hình khối bầu dục màu vàng, dài từ 1 - 1.5 mm, bám chặt vào mặt dưới của lá cây Sau khoảng 1 - 2 tuần, trứng nở thành ấu trùng, chúng tìm kiếm rệp và các loại côn trùng khác để ăn thịt Khi lớn lên, ấu trùng ăn nhiều hơn và được coi là thiên địch của các loài gây hại khác.

Hình 4.7 Bọ rùa (Synonycha Grandis)

4.3.4 Kiến vương hai sừng (Xylotrupes gideon)

Con trưởng thành có chiều dài lên đến 6 cm, với màu sắc giúp phân biệt giới tính: con đực có thân màu nâu đỏ, trong khi con cái có thân màu sẫm đen Loài bọ này sở hữu hai sừng dài, cong và cứng như sừng tê giác, với đầu mỗi sừng có rẽ nhánh hình chữ Y Một chiếc sừng lớn nhô ra phía trước và một chiếc sừng nhỏ hơn nhô ra từ phía đầu, đóng vai trò là vũ khí sắc bén để tự vệ và tấn công kẻ thù, đồng thời cũng là vật trang trí để thu hút bạn tình.

Kiến vương hai sừng xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 10 tại các vùng rừng núi có khí hậu ôn hòa Chúng có tuổi thọ từ 6 đến 9 tháng và con cái có khả năng đẻ từ 80 đến 130 trứng.

Hình 4.8: Kiến vương hai sừng cái (Xylotrupes gideon)

4.3.5 Xén tóc gỗ khô (Stromatium longicorrne)

Đặc điểm nhận dạng của loài này bao gồm toàn thân màu đen hoặc nâu tối, được bao phủ bởi lớp lông tơ màu vàng nâu Đỉnh cơ thể có nhiều lông tơ màu vàng xám và chính giữa có một gờ dọc nhỏ Ở con đực, lông tơ bao phủ khiến gờ khó thấy, trong khi cánh cứng tròn ở góc cuối được phủ kín lông tơ xám Mỗi cánh có 2 - 3 hàng gân chạy dọc hơi chéo từ vai xuống góc trong cuối cánh, và ở con cái, gân chìm có thể thấy rõ hơn.

Xén tóc gỗ khô (Stromatium longicorrne) trưởng thành có chiều dài lên tới 27 mm và chiều ngang 8 mm Râu của con đực dài gần gấp đôi cơ thể, với đốt thứ nhất lớn và phủ đầy lông tơ màu xám vàng, trong khi phần kitin dưới có nhiều nốt chấm nhỏ Các đốt râu từ thứ 2 đến thứ 8 phình to và có nhiều lông tơ xám dày, với 2 - 3 hàng lông dài và cứng ở phía quay vào cơ thể Đốt thứ 8, thứ 9 và các đốt cuối có ít lông tơ hơn.

- Đặc điểm sinh học Chúng đẻ trứng vào gỗ khô dùng trong xây dựng và đồ gỗ có độ ẩm 12

Loài xén tóc gây hại cho công trình xây dựng bằng gỗ, với 20% ở những chỗ nứt hoặc khe mộng, nơi chúng làm nơi cư trú và nguồn thức ăn cho sâu non Trứng thường được tập trung tại một chỗ, và sau 2 - 3 năm, một thế hệ hoàn thành Giai đoạn sâu non gặm gỗ, tạo thành các đường hang ngoằn ngoèo, làm giảm sức chịu lực và giá trị sử dụng của gỗ.

Hình4.9.Xén tóc gỗ khô (Stromatium longicorrne)

4.3.6 Xén tóc tám chấm trắng (Batocera rubus)

Cơ thể có màu đỏ, với đầu, ngực trước và đốt đùi chân trước có màu thẫm, gần như đen Toàn thân được phủ lớp lông tơ ngắn, trong đó lông tơ ở mặt lưng có màu xám trắng và nâu xám, còn ở mặt bụng thì dài và dày, mang màu xám nâu hoặc nâu với ánh kim Mỗi bên thân có một đường vân dọc màu trắng tương đối rộng, bắt đầu từ sau mắt kép và kéo dài đến đốt bụng cuối cùng.

Tấm lưng ngực trước có đôi chấm trắng hình quả thận đối xứng, cùng với hai gai nhọn ở mỗi bên ngực hướng về phía sau Mỗi cánh cứng có 4 chấm tròn màu trắng, tổng cộng là 8 chấm Râu đầu của con đực dài từ 1/3 đến 2/3 chiều dài thân, gồm 11 đốt với mép trong có những gai nhỏ, trong khi đốt cuối thứ 10 rất dài và có hình 3 cạnh Râu đầu của con cái dài hơn thân, với gai ở mép trong mảnh hơn, và đốt thứ 10 không phình ra thành hình 3 cạnh như ở con đực.

Gốc cánh cứng có bề mặt với những hạt xù xì nổi bật Cuối cánh bằng, góc ngoài tạo thành hình nhọn, trong khi góc trong có gai nhọn rõ ràng, hướng về phía sau.

Giải pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại VQG Vũ Quang

Để quản lý hiệu quả côn trùng, đặc biệt là côn trùng Cánh cứng, cần hiểu rõ về thành phần loài, hình thái, phân bố và tập tính của chúng Ngoài ra, việc nắm bắt điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tập tục của con người trong khu vực nghiên cứu là rất quan trọng để đưa ra các biện pháp quản lý cụ thể.

Sau quá trình nghiên cứu khóa luận và thu thập thông tin, tôi xin đề xuất một số biện pháp quản lý côn trùng cánh cứng tại VQG Vũ Quang.

- Giải pháp về pháp lý:

+Xây dựng các khung pháp lý, các quy trình, quy chế quy phạm cần thiết để buộc chủ rừng thực hiện;

+Xây dựng các quy định bảo vệ và sử dụng hợp lý côn trùng có ích, có thể sử dụng biện pháp hành chính;

+ Ban hành các quy định về quản lý và thuốc trừ sâu ;

Để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn các loài côn trùng có ích, cần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có kỹ thuật và chuyên môn Đồng thời, cần thiết lập các chính sách khuyến khích và động viên, cùng với việc thường xuyên đào tạo để nâng cao trình độ cho đội ngũ này.

Để nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân cũng như khách du lịch trong việc quản lý và bảo vệ rừng, cần thực hiện tuyên truyền qua các biển báo dễ nhìn thấy Bên cạnh đó, việc truyền đạt trực tiếp về lợi ích và vai trò của côn trùng là rất quan trọng, đồng thời nhận diện các loài côn trùng gây hại để thu bắt và loại bỏ nhằm ngăn chặn dịch bệnh Thêm vào đó, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về rừng và cách bảo vệ rừng, cũng như bảo vệ côn trùng, đặc biệt là bộ cánh cứng, sẽ thu hút sự quan tâm của cộng đồng.

Để phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho cộng đồng, cần có các chính sách hợp lý nhằm cải thiện tình hình kinh tế nghèo nàn, chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nếu không, người dân có thể chặt phá rừng và gây hại cho môi trường sống của động thực vật, làm giảm đa dạng sinh học Việc áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp và lựa chọn canh tác phù hợp, như ưu tiên cây ngắn ngày như lúa và ngô, là rất cần thiết để đảm bảo lương thực tại địa phương Đồng thời, cần đẩy mạnh chăn nuôi gia súc như lợn, bò, và gà, nhưng cũng phải chú ý đến công tác phòng chống dịch bệnh và thiết lập bãi chăn thả hợp lý.

Phát triển du lịch là một giải pháp quan trọng bên cạnh việc thực hiện các mô hình thích hợp Với phong cảnh đẹp, khu vực này có khả năng thu hút đông đảo khách du lịch Do đó, ngành du lịch cần được chú trọng và đầu tư mạnh mẽ.

Giải pháp quản lý côn trùng có ích là cần thiết để ngăn chặn sự xuất hiện của sâu hại và bảo vệ sự đa dạng sinh học Việc sử dụng hiệu quả các loài côn trùng thiên địch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo vệ môi trường Giải pháp này có ưu điểm là tính chọn lọc cao, không gây ô nhiễm và không ảnh hưởng đến con người cũng như các loài sinh vật khác Để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc sử dụng côn trùng thiên địch, cần thực hiện các biện pháp cụ thể.

Công tác bảo vệ bao gồm việc điều tra và xác định thành phần loài, tìm hiểu các đặc điểm sinh học của loài ăn thịt và con mồi, cũng như các đặc điểm về hình thái, môi trường sống và yêu cầu thức ăn cần thiết cho sự phát triển của chúng.

Sau khi nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của loài, việc chọn lựa và xây dựng quy trình gây nuôi phù hợp là rất quan trọng Cần bảo quản chúng để có thể chủ động thả vào rừng khi xuất hiện sâu hại.

- Giải pháp quản lý côn trùng gây hại

Khi mật độ sâu hại vượt quá ngưỡng cho phép và ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng cũng như hiệu quả kinh doanh, cần lựa chọn và áp dụng các biện pháp diệt trừ kịp thời và phù hợp.

4.4.2 Các giải pháp cụ thể để quản lý côn trùng gây hại và bảo tồn côn trùng thiên địch

Trong quá trình điều tra tại VQG Vũ Quang, côn trùng gây hại chiếm tỉ lệ lớn nhưng ít gặp, chưa đủ khả năng gây dịch hại Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp quản lý côn trùng gây hại và bảo tồn côn trùng thiên địch là rất cần thiết.

Để phát triển bền vững các sinh cảnh rừng, cần áp dụng biện pháp khoanh nuôi và bảo vệ rừng phục hồi, giúp rừng tự điều chỉnh và cân bằng Đối với đất trống và đồi núi trọc, cần nghiên cứu và lựa chọn các loại cây trồng phù hợp để mở rộng diện tích rừng, đồng thời trồng xen kẽ nhiều loài cây nhằm tạo sự đa dạng sinh học Sau khi xác định được loài cây trồng thích hợp, việc kiểm soát và quản lý côn trùng gây hại, cũng như bảo tồn côn trùng thiên địch là rất quan trọng.

+ Quản lý côn trùng gây hại:

Để nâng cao hiệu quả trồng trọt tại Vũ Quang, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bằng cách chọn giống cây có khả năng chống chịu sâu hại như bọ lá, Xén tóc, Mọt, Bọ hung, và Vòi voi hại măng Đồng thời, giống cây cũng phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa, nhằm đảm bảo cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, từ đó không tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại.

Thường xuyên tiến hành điều tra để thu thập thông tin về các loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng là cần thiết để dự đoán dịch bệnh và phục vụ cho các nghiên cứu cơ bản Việc thống kê dữ liệu qua nhiều năm giúp xác định quy luật phát dịch và thiên địch, từ đó xây dựng kế hoạch phòng trừ hợp lý Đặc biệt, đối với các loài như Vòi voi và Bọ sừng, cần thực hiện điều tra sâu về trưởng thành bằng phương pháp điều tra dưới đất.

Các biện pháp phòng trừ và tiêu diệt được tiến hành như sau:

*Với các loài họ Bọ hung ăn lá, họ Cánh cứng ăn lá:

- Cần sử dụng chất dẫn dụ sinh học để bẫy sâu trưởng thành

- Chặt toàn bộ cây bị bệnh, đốt, ngâm nước hoặc phun thuốc hóa học để tiêu diệt sâu non, sâu trưởng thành

- Thu thập, bắt, tiêu hủy

- Tỉa thưa cây, dọn vệ sinh và đốt để tiêu diệt mầm bệnh

* Với các loài họ Vòi voi

- Kết hợp việc chăm sóc rừng trồng (chủ yếu là rừng trồng tre nứa) với tiêu diệt nhộng bằng cách cuốc đất lật xung quanh gốc bán kính 1m

- Lấp kín vị trí đẻ trứng của chúng và tiêu diệt sâu trưởng thành, cần bọc ngay măng mới nhú khỏi mặt đất bằng túi ni lông

- Tập trung thu bắt chúng ở pha sâu non và pha trưởng thành

- Sử dụng kết hợp với các loài côn trùng thiên địch của sâu hại Tre là các loài bọ ngựa, Bọ xít ăn sâu

*Với các loài họ Xén tóc: Có thể sử dụng chất dẫn dụ sinh học và chặt cây tươi để bẫy sâu trưởng thành

Quản lý và bảo tồn côn trùng thiên địch là phương pháp hiệu quả và tiết kiệm chi phí để kiểm soát các loài côn trùng gây hại Việc sử dụng côn trùng thiên địch không chỉ giúp phát huy vai trò khống chế mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

Ngày đăng: 31/07/2023, 20:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN