TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm của nhận thức về đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), tài nguyên thiên nhiên và môi trường là vấn đề cấp thiết hiện nay ĐDSH có giá trị sinh thái, văn hoá, giáo dục và thẩm mỹ to lớn Công ước về bảo tồn ĐDSH tại Rio de Janeiro (1992) đánh dấu cam kết toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật.
Đa dạng sinh học có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học là phổ biến nhất.
Đa dạng sinh học, một khái niệm được xem là "toàn diện và đầy đủ nhất" từ năm 1992, bao gồm sự phong phú của sinh giới từ mọi nguồn trên trái đất, bao gồm sự đa dạng trong cùng loài, giữa các loài và hệ sinh thái Thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái).
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, bao gồm hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, cùng với sự khác biệt về gen và các hệ sinh thái phức tạp (WWF, 1990) ĐDSH được xem xét ở ba cấp độ: cấp độ loài, cấp độ gen và cấp độ hệ sinh thái, bao gồm sự khác biệt giữa các quần xã và môi trường sống Một định nghĩa khác về ĐDSH là tập hợp tất cả các nguồn sống trên hành tinh, bao gồm tổng số các loài động, thực vật và tính đa dạng trong từng loài, tuy nhiên định nghĩa này còn dài và chưa đề cập đến mức đa dạng gen cũng như các sinh vật khác như vi sinh vật, tảo, nấm.
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là toàn bộ các dạng sống khác nhau trên trái đất, từ vi sinh vật đến động thực vật, bao gồm cả con người Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), ĐDSH bao gồm sự khác biệt ở mọi cấp độ, từ phân tử AND đến quần thể sinh vật Khoa học nghiên cứu về tính đa dạng này được gọi là khoa học về ĐDSH.
Đa dạng di truyền thể hiện ở sự khác biệt trong phân tử AND đặc trưng của mỗi loài và cá thể, thông qua số lượng, trình tự nucleotit, hàm lượng AND, và tỷ lệ các cặp base A+T/G+X Trật tự nucleotit trong gen quy định tính trạng và đặc tính cơ thể Hàm lượng AND tăng lên trong quá trình tiến hóa là một biểu hiện của đa dạng gen.
Đa dạng loài thể hiện sự phong phú về số lượng loài và phân loài trên Trái Đất, trong một khu vực địa lý hoặc sinh cảnh cụ thể Loài là một nhóm cá thể khác biệt về mặt sinh học và sinh thái, có khả năng trao đổi thông tin di truyền và sinh sản hữu thụ Tính đa dạng loài bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi nói đến đa dạng sinh học.
Đa dạng sinh học ở cấp độ hệ sinh thái thể hiện qua sự khác nhau của các kiểu quần xã sinh vật Quần xã sinh vật được hình thành từ các loài sinh vật trong một sinh cảnh nhất định và các mối quan hệ tương tác giữa chúng, đồng thời liên hệ với môi trường vật lý tạo thành hệ sinh thái Hệ sinh thái bao gồm quần xã động, thực vật, vi sinh vật, thổ nhưỡng và các yếu tố khí hậu, liên kết với nhau qua chu trình vật chất và năng lượng Quan điểm mới còn đề cập đến sự đa dạng văn hóa dân tộc, thể hiện tính nhân đạo và công bằng trong bảo tồn đa dạng sinh học.
Đa dạng sinh học (ĐDSH) đóng vai trò then chốt trong việc duy trì chu trình sinh-địa-hóa khép kín, đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường ĐDSH cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu cho cuộc sống con người Việc lạm dụng tài nguyên và gây rối loạn hệ sinh thái đang đe dọa nền văn minh, do đó ĐDSH là nền tảng cho sự phát triển bền vững của nhân loại.
Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và điều hòa nguồn nước, chống xói mòn, điều hòa không khí, cung cấp nguồn thức ăn và hạn chế các hiện tượng thời tiết cực đoan Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội đang gây áp lực lớn lên môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học Đa dạng sinh học không chỉ mang lại các giá trị thẩm mỹ, tín ngưỡng, giải trí mà còn là cơ sở cho sự hình thành và bảo tồn đa dạng văn hóa của mỗi vùng miền.
Sự suy giảm đa dạng sinh học là một vấn đề cấp bách toàn cầu, đòi hỏi các nghiên cứu và nỗ lực bảo tồn để duy trì sự sống trên Trái Đất.
Về thảm thực vật
Các tác giả khác nhau có nhiều lý luận riêng về phân loại rừng để đánh giá đa dạng sinh thái Các cách phân loại rừng thường dựa trên cấu trúc và ngoại mạo, một hướng cổ điển được nhiều người áp dụng Cơ sở phân loại của xu hướng này thường là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và các đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật.
Theo Schmitthusen (1959), hệ thống phân loại thảm thực vật ở châu Âu chủ yếu dựa vào quần xã thực vật, trong khi A K Caiander ở Phần Lan lại sử dụng thảm tươi để phân loại rừng Caiander cho rằng thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá tính đồng nhất sinh học của môi trường rừng, tuy nhiên, thảm tươi không thể chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như lửa rừng và khai thác.
Theo Schmitthusen (1959), thảm thực vật trên Trái Đất được phân chia thành 9 lớp quần hệ chính, bao gồm rừng, cây bụi, sa-van, đồng cỏ, thực vật một năm, hoang mạc, đồng rêu, thực vật hồ nước nội địa và thực vật biển.
Theo phân loại của UNESCO (1973), Việt Nam có 4 lớp quần hệ chính: rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ Các lớp này được chia nhỏ thành phân lớp, nhóm quần hệ, và cuối cùng là quần hệ Quần hệ lại tiếp tục phân thành phân quần hệ và quần hợp Rừng mưa nhiệt đới thường có các quần xã thực vật đa dạng với nhiều loài ưu thế Tuy nhiên, ở những vùng khí hậu khắc nghiệt như Tây Nguyên, có thể tồn tại các quần hợp đặc biệt hoặc các quần hệ cây trồng.
Hàng ngàn tác phẩm và công trình khoa học ra đời, cùng với các hội thảo quốc tế, thúc đẩy thảo luận về đa dạng sinh học Các tổ chức quốc tế hợp tác để đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên toàn cầu.
Thái Văn Trừng (1978, 1999) phân chia thảm thực vật Việt Nam dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, trong đó khí hậu là yếu tố chính hình thành kiểu thực vật Schmid (1974) nghiên cứu thảm thực vật Nam Trung Bộ, nhấn mạnh sự phân hóa khí hậu và thành phần thực vật đai cao, xác định ranh giới giữa hệ thực vật Malêzi và hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa Trần Ngũ Phương (1970) phân chia các đai thực vật ở miền Bắc dựa trên độ cao, địa hình và thành phần thực vật.
Năm 1985, Phan Kế Lộc đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật Việt Nam dựa trên phân loại của UNESCO (1973), bao gồm 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Các công trình nghiên cứu gần đây về đa dạng thực vật tại các khu bảo tồn thiên nhiên, như "Tính đa dạng thực vật Cúc Phương" (1997) và "Đa dạng thực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan" (1998), đã góp phần làm phong phú thêm kiến thức về hệ sinh thái Việt Nam Các nghiên cứu khác tập trung vào các Vườn Quốc gia như Bạch Mã, Pù Mát, Na Hang và Hoàng Liên, cung cấp thông tin chi tiết về đa dạng sinh học thực vật tại các khu vực này.
(2006) [24], Nguyễn Văn Hoàn nghiên cứu tại KBTTN Tây Yên Tử (2010) [14],
Ở vùng đồi núi thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Đến nay, khu vực đồi núi Chí Linh, Hải Dương vẫn thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thảm thực vật, ngoài một số báo cáo thuộc chương trình điều tra của tỉnh.
Về hệ thực vật
- Đa dạng phân loại hệ thực vật và giá trị tài nguyên
Nghiên cứu về thực vật đã có lịch sử lâu đời trên thế giới, với những đóng góp đáng kể từ Plinus, nhà bác học La Mã, người đã mô tả gần 1.000 loài cây trong tác phẩm "Lịch sử tự nhiên," đặc biệt chú trọng đến cây thuốc và cây ăn quả Ray, một nhà khoa học người Anh, tiếp tục phát triển lĩnh vực này với tác phẩm "Lịch sử thực vật."
Linné (1707-1778), nhà bác học Thụy Điển, đã mô tả hơn 8.000 loài cây và khởi xướng danh pháp lưỡng nôm Antoine - Laurent de Jussieu (1748 - 1836), nhà bác học người Pháp, là người đầu tiên sắp xếp thực vật vào các họ và mô tả gần 100 họ.
Từ nửa sau thế kỷ XIX, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy những thành tựu đáng kể trong nghiên cứu thực vật, đặc biệt là phân loại thực vật với những đóng góp của Bessey, Hutchinson, Takhtajan, và Engler R K Brummitt (1992) thống kê thực vật bậc cao có mạch trên thế giới với 13.884 chi, 511 họ thuộc 6 ngành, trong đó ngành Magnoliophyta chiếm số lượng lớn nhất với 13.477 chi, 454 họ, chia thành hai lớp Magnoliopsida và Liliopsida.
97 họ V H Heywood (1996 và 2007) đã ghi nhận thực vật có hoa trên thế giới với ước tính có khoảng 250.000 loài
Các công trình thực vật chí tiêu biểu của các nước lân cận như Thực vật chí Malaixia, Thực vật chí Thái Lan, Thực vật chí Ấn Độ, Thực vật chí Hải Nam và Thực vật chí Vân Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học khu vực.
1997), Thực vật chí Trung Quốc (1994-2013), Thực vật chí Hồng Kông (2009), Thực vật chí Đài Loan (1989-1999),… [44]
- Đa dạng về dạng sống thực vật
Nghiên cứu dạng sống thực vật cho thấy mối quan hệ giữa chúng và điều kiện tự nhiên, biểu hiện tác động của sinh thái lên loài Phổ dạng sống giúp hiểu bản chất sinh thái của hệ thực vật và so sánh giữa các hệ thực vật khác nhau.
Trên thế giới, người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) [30,
Phổ dạng sống được phân loại dựa trên vị trí chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi như lạnh hoặc khô Thang phân loại này bao gồm các nhóm dạng sống cơ bản.
1- Cây có chồi trên đất (Ph) trong đó: a- Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg) b- Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me) c- Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi) d- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na) e- Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp) f- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep) g- Cây có chồi trên đất thân thảo (Hp)
2- Cây chồi sát đất (Ch) 3- Cây chồi nửa ẩn (Hm) 4- Cây chồi ẩn (Cr) (trong đó có cây thủy sinh – Cr (Hy)) 5- Cây chồi một năm (Th)
Nghiên cứu đã phân tích dữ liệu của hơn 1.000 loài cây từ khắp nơi trên thế giới để xác định tỷ lệ phần trăm trung bình cho từng loài, từ đó xây dựng nên một phổ dạng sống tiêu chuẩn (SN) \$(Standard\ N)\$.
SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th là cơ sở để so sánh phổ dạng sống của thảm thực vật giữa các vùng khác nhau trên Trái Đất Khi tổng hợp được khối lượng các kiểu sống trong kiểu thảm thực vật, ta có thể tính phần trăm của từng dạng sống trên phổ dạng sống, tức SB, để so sánh với SN.
Ở vùng nhiệt đới ẩm, độ che phủ (Ph) chiếm ưu thế với khoảng 80%, trong khi các loại khác như Ch chỉ gần 20% và Hm, Cr, Th rất ít Ngược lại, ở vùng khô hạn, tỷ lệ Th và Cr tăng lên đáng kể, còn Ph giảm xuống.
Nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã có lịch sử từ thế kỷ XVIII, với những công trình nghiên cứu thực vật đầu tiên.
Loureiro (1790) và Pierre (1879 - 1907) đặt nền móng cho việc nghiên cứu đa dạng thực vật Việt Nam Đầu thế kỷ XX, bộ "Thực vật chí đại cương Đông Dương" (1907) ra đời, trở thành nền tảng đánh giá quan trọng.
Thực vật chí Đông Dương được chủ biên bởi nhà thực vật học người Pháp Lecomte và cộng sự năm 1952 Thái Văn Trừng (1999) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch Bộ "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) mô tả 11.611 loài thuộc 3.179 chi, 295 họ và 6 ngành.
Nghiên cứu đa dạng phân loại thực vật ở Việt Nam được thể hiện qua các công trình tiêu biểu như "Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam" (Phan Kế Lộc, 1973) và "Danh lục Thực vật Tây Nguyên" (Nguyễn Tiến Bân và cộng sự, 1984) Lê Trần Chấn đã thống kê được sự phong phú với 1.261 loài thực vật bậc cao có mạch trên diện tích nhỏ (15 km2), đồng thời đánh giá sự đa dạng về dạng sống, yếu tố địa lý và cấu trúc thảm thực vật, so sánh với hệ thực vật Cúc Phương.
Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn xuất bản "Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật," khái quát các phương pháp nghiên cứu đa dạng thực vật và cung cấp thông tin về đa dạng sinh học ở Việt Nam và thế giới Sách thống kê Việt Nam có 10.580 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 2.342 chi, 334 họ, 6 ngành.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG 3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí, địa hình tự nhiên
Thị xã Chí Linh, Hải Dương, nằm ở vị trí chiến lược phía Đông Bắc, giáp ranh với nhiều tỉnh thành quan trọng Khu vực này có diện tích rừng đáng kể, lên đến 9.232,47 ha theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hải Dương Địa hình Chí Linh đa dạng với đồi núi xen kẽ đồng bằng, tạo nên cảnh quan phong phú.
Khu đồi núi với rừng tự nhiên và rừng trồng có độ cao tăng dần về phía Bắc, nổi bật với đỉnh Dây Diều (616 m) và đèo Trê (536 m) thuộc xã Hoàng Hoa Thám.
Khu vực này có địa hình đồi bát úp gò lượn sóng xen kẽ bãi bằng, với độ cao trung bình từ 50-60m và độ dốc 10-15º, tạo nên cảnh quan độc đáo Các bãi bằng xen kẽ có độ cao trên 2,5m, góp phần làm đa dạng địa hình khu vực.
Khu vực phía Nam đường 18 là bãi bồi phù sa mới với địa hình tương đối bằng phẳng, trũng dần về phía Nam Thị xã được bao bọc bởi sông Kinh Thầy, sông Thái Bình và sông Đông Mai, đồng thời có vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều ở phía Bắc và Đông Bắc Thị xã Chí Linh bao gồm 8 phường và 12 xã, trong đó 13 xã và phường thuộc miền núi, chiếm phần lớn diện tích.
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí, địa hình tự nhiên
Thị xã Chí Linh, Hải Dương, nằm ở vị trí chiến lược phía Đông Bắc, giáp ranh với nhiều tỉnh thành quan trọng Khu vực này có diện tích rừng đáng kể, lên đến 9.232,47 ha theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hải Dương Địa hình Chí Linh đa dạng với đồi núi xen kẽ đồng bằng, tạo nên cảnh quan phong phú.
Khu đồi núi với rừng tự nhiên và rừng trồng có độ cao tăng dần về phía Bắc, nổi bật với đỉnh Dây Diều (616 m) và đèo Trê (536 m) thuộc xã Hoàng Hoa Thám.
Khu vực này có địa hình đồi bát úp gò lượn sóng xen kẽ bãi bằng, với độ cao trung bình từ 50-60m và độ dốc 10-15º, tạo nên cảnh quan độc đáo Các bãi bằng xen kẽ có độ cao trên 2,5m, góp phần làm đa dạng địa hình khu vực.
Chí Linh có địa hình đa dạng, phía nam đường 18 là bãi phù sa bằng phẳng, trong khi phía bắc và đông bắc là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều Thị xã được bao bọc bởi các con sông Kinh Thầy, Thái Bình và Đông Mai, chia thành 8 phường và 12 xã, trong đó phần lớn thuộc khu vực miền núi Trên địa bàn Chí Linh còn có Trường Đại học Sao Đỏ và nhiều cơ quan, xí nghiệp đóng quân.
Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng rừng huyện Chí Linh, Hải Dương
Thị xã Chí Linh mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 4.
9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm là 23°C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng
Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 10-12°C vào tháng 1 và tháng 2, đạt đỉnh 37-38°C vào tháng 6 và tháng 7 Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.463 mm, với độ ẩm trung bình cao.
81,6% Do đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu thị xã Chí Linh được chia làm 2 vùng:
- Vùng khí hậu đồng bằng phía Nam
Vùng khí hậu bán sơn địa chi phối phần lớn diện tích, với mùa đông lạnh hơn do vị trí địa lí và địa hình phân hoá Thị xã Chí Linh sở hữu nguồn nước phong phú từ các sông lớn như Kinh Thầy, Thái Bình, Đông Mai Kênh mương trung thuỷ nông Phao Tân - An Bài dài 15,5km cùng 33 hồ đập với tổng diện tích 409 ha đảm bảo nguồn nước tưới tiêu và trữ lượng nước ngầm lớn.
Kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số và lao động
Năm 2013, thị xã Chí Linh có dân số 164.837 người với tỷ lệ tăng tự nhiên là 9,48% Tổng số lao động là 71.925 người, chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (55.855 người), tiếp theo là dịch vụ (8.273 người) và công nghiệp, xây dựng (7.767 người) Phần lớn lao động chịu sự quản lý của cấp huyện, với số lượng lớn nhất vẫn là lao động trong ngành nông - lâm nghiệp và thuỷ sản (54.019 người).
Thị xã Chí Linh nằm ở vị trí chiến lược trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, với hệ thống giao thông đường bộ thuận lợi như Quốc lộ 18 và 37, tạo điều kiện kết nối với các tỉnh thành lân cận Bên cạnh đó, mạng lưới đường sông dài khoảng 40 km ở phía Đông, Tây, Nam giúp Chí Linh giao thương dễ dàng với Hải Phòng, Bắc Giang và Bắc Ninh.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đa dạng các kiểu thảm thực vật tại vùng đồi núi Chí Linh, tỉnh Hải Dương
4.1.1 Hệ thống các kiểu thảm thực vật
Hệ thống phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) được sử dụng để phân loại các kiểu thảm thực vật rừng ở khu vực đồi núi thị xã Chí Linh.
1 Lớp quần hệ rừng thưa
1.1 Phân lớp quần hệ rừng thưa chủ yếu là thường xanh 1.1.1 Nhóm quần hệ rừng thưa cây lá rộng thường xanh (đai thấp dưới 700 m) 1.1.1.1 Rừng hỗn giao lá rộng:
2 Lớp quần hệ cây bụi 2.1 Phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu thường xanh 2.1.1 Nhóm quần hệ thảm cây bụi lá rộng thường xanh 2.1.1.1 Quần hệ thảm cây bụi thấp thường xanh
2.1.1.1.1 Thảm cây bụi thứ sinh:
4.1.2 Mô tả các đơn vị phân loại trong hệ thống thảm thực vật
Thảm thực vật rừng tự nhiên ở Chí Linh tập trung chủ yếu tại Hoàng Hoa Thám và Bắc An Bên cạnh đó, các xã Văn An, Hưng Đạo có diện tích rừng phòng hộ, và xã Lê Lợi có một phần nhỏ rừng đặc dụng thuộc dãy Phượng Hoàng Nghiên cứu thực địa cho thấy sự đa dạng của các kiểu thảm thực vật chính tại khu vực này.
- Nhóm quần hệ rừng thưa cây lá rộng thường xanh bị tác động mạnh trên núi đất thấp (độ cao < 700 m): Nhóm quần hệ này có 2 kiểu như sau:
+ Rừng hỗn giao cây lá rộng: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Diện tích rừng tự nhiên còn sót lại của vùng đồi núi Chí Linh tập trung chủ yếu ở hai xã Hoàng Hoa Thám và Bắc An, tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh Thảm thực vật rừng là phần tiếp giáp với khu rừng già nguyên sinh của Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tuy nhiên đã bị tác động mạnh và đang tái sinh Mật độ cây gỗ còn khá lớn và đa dạng, nhưng số lượng cây gỗ có giá trị kinh tế cao không nhiều, thay vào đó là các loài cây gỗ tạp, ưa sáng chiếm ưu thế Bên cạnh đó, vẫn còn sót lại một số loài cây của rừng nguyên sinh có khả năng tái sinh tốt như Gụ lau, Dẻ trái tròn, Cà ổi bắc bộ, Sung vả.
Trong hệ sinh thái rừng này, tầng vượt tán thường không có, tầng ưu thế sinh thái và tầng dưới tán khó phân biệt, tạo thành một tầng duy nhất Cây gỗ có đường kính nhỏ (10-20 cm), cong queo và phân cành sớm Cấu trúc rừng đơn giản, chỉ gồm 2-3 tầng.
Tầng cây gỗ chiếm ưu thế thường đạt độ cao 10-12m, đôi khi lên đến 15m như ở khu vực thôn Đá Bạc Các loài cây gỗ chiếm ưu thế thường gặp bao gồm Vàng anh Saraca dives, Re Cinnamomum sp, Ngát Giromiera subaequalis, Ràng ràng Ormosia balansae, Muối Rhus chinensis, Thừng mức Wrightia pubescens, Thành ngạnh Cratoxylum polyanthum, Đỏ ngọn C prumifolium, Ba bét Mallotus cochinchinensis, và Ba soi Macaranga denticulata.
Tầng cây bụi thường bao gồm các loài phổ biến như me rừng (Phyllanthus emblica), phèn đen (P reticulatus), đơn (Ixora chinensis Lamk.) và ngọc nữ (Clerodendrum spp.).
Cơm nguội (Ardisia spp.), Một số nơi còn có các quần xã tre nứa mọc thành đốm nhỏ, xen lẫn
Tầng cỏ phát triển mạnh mẽ nhờ các loài xâm nhập, ưa sáng và chịu hạn tốt, bao gồm các đại diện chính từ ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), họ Cỏ (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ Cúc (Asteraceae), cùng các loài thân thảo khác như An điền (Hedyotis spp.) và Cà (Solanum spp.).
Ngoài ba tầng chính của rừng, còn có các tầng phụ với sự xuất hiện của dây leo thuộc họ Nho (Vitaceae) như Song nho dị diệp và Tứ thư thân dẹp Bên cạnh đó, ta còn thấy các loài thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) như Dây sâm nam và Hoàng đằng, cùng các loài phụ sinh như Tổ chim thuộc ngành Dương xỉ, các loài thuộc họ Lan (Orchidaceae), và loài bán kí sinh thuộc họ Tầm gửi.
Các diện tích rừng trong vùng nghiên cứu có xu hướng phục hồi đặc trưng của thảm thực vật rừng nguyên sinh, chứa đựng nguồn gen thực vật quý hiếm và đa dạng sinh học cao nếu được bảo vệ tốt Khu vực này còn bao gồm nhiều di tích lịch sử, văn hóa như Đền thờ Chu Văn An và đỉnh bàn cờ Trần Hưng Đạo Tuy nhiên, rừng ở đây có cấu trúc nghèo nàn, đặc biệt là khu vực đồi núi cao trồng cây làm cảnh phục vụ du lịch, với các loài chủ yếu là Thông nhựa và Keo lá tràm lâu năm, cùng với khu vực Chùa Thanh Mai có Sau sau chiếm ưu thế.
Trong khu di tích, bên cạnh các loài cỏ, dương xỉ bản địa còn có sự xuất hiện của một số loài cây được di thực từ nơi khác đến, làm phong phú thêm hệ thực vật nhưng cũng đặt ra vấn đề về tính bản địa của vùng nghiên cứu.
Hệ sinh thái thực vật tại khu vực nghiên cứu (KVNC) Hoàng Hoa Thám đa dạng với các kiểu thảm thực vật đặc trưng cho các sinh cảnh đặc biệt, bao gồm thảm thực vật ven bờ nước tại các hồ và rừng tự nhiên thuần loài như Rừng Dẻ.
Hình 4.1: Rừng thường xanh cây lá rộng thứ sinh tại khu vực xã Hoàng
Hình 4.2: Rừng thường xanh cây lá rộng thứ sinh tại khu vực xã Bắc An
Hình 4.3: Rừng thường xanh cây lá rộng thứ sinh tại khu vực thôn Đồng Châu, xã Hoàng Hoa Thám (cấu trúc)
Hình 4.4: Cận cảnh những loài cây gỗ trong rừng thường cong queo (chụp tại khu vực Thanh Mai, Hoàng Hoa Thám)
Rừng Dẻ bắc giang (Castanopsis boisii) là loài ưu thế ở Chí Linh, Hải Dương, có giá trị thương mại và được coi là loài đặc hữu của Việt Nam Loài cây này phân bố rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc, tập trung nhiều ở Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Dương Hạt Dẻ bắc giang là thực phẩm quen thuộc, được xuất khẩu và mang lại nguồn thu lớn cho người dân, đặc biệt ở Bắc Giang với sản lượng hàng năm gần 100 tấn Đây là loài cây có giá trị kinh tế cao, cần được bảo tồn và phát triển.
Rừng Dẻ Bắc Giang (Castanopsis boisii) có cấu trúc đơn giản, với tầng ưu thế gần như thuần loài là Dẻ Bắc Giang, cao trung bình 15-25m và đường kính 20-35cm, thể hiện sự khác biệt về độ tuổi và phát triển giữa các khu vực như Trại Gạo (già cỗi) và Cổ Mệnh (phát triển tốt).
- Tầng dưới tán, cây bụi thường có một vài cây ưa sáng tham gia như Bời lời,
Cò ke, Ngọc nữ nhưng số lượng khá ít
Tầng cỏ trong rừng Dẻ Bắc Giang nghèo nàn do canh tác và khai thác hạt Thảm cây bụi thứ sinh là dạng thoái hóa, phân bố ở vùng đất xói mòn mạnh do nương rẫy và chăn thả gia súc Đất khô cằn dẫn đến trảng cây bụi nghèo nàn, cây bụi thấp (1,5-2,5m), chủ yếu là loài ưa sáng, chịu hạn, thích nghi với đất nghèo dinh dưỡng.
Hình ảnh thảm thực vật tại KVNC:
Hình 4.5: Rừng Dẻ - Castanopsis boisii loài cho quả kinh tế tại các xã
Hoàng Hoa Thám và xã Bắc An
Hình 4.6: Rừng Dẻ - Castanopsis boisii – loại quả đang được khai thác tại các xã Hoàng Hoa Thám
Hình 4.7: Thảm cây bụi thứ sinh tại Thôn Gốc Lách, xã Bắc An, Tx Chí Linh Hình 4.8: Thảm cây bụi thứ sinh tại Thôn
Gốc Lách, xã Bắc An, Tx Chí Linh
Đa dạng hệ thực vật
4.2.1 Xây dựng danh lục các loài thực vật tại vùng đồi núi thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Nghiên cứu khu vực đồi núi Chí Linh đã xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch dựa theo hệ thống Brummitt (1992) Kết quả thống kê cho thấy khu vực này có tổng số 652 loài thuộc 440 chi và 142 họ thực vật, thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch.
+ Ngành Thông đất – Lycopodiophyta: 1 loài, 1 chi, 1 họ;
+ Ngành Cỏ tháp bút – Equisetophyta: 1 loài, 1 chi, 1 họ;
+ Ngành Dương xỉ - Polypodiophyta: 29 loài, 20 chi, 14 họ;
+ Ngành Thông – Pinophyta: 4 loài, 4 chi, 4 họ;
+ Ngành Ngọc lan – Magnoliophyta: 617 loài, 414 chi, 122 họ
Trong đó: Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida có: 472 loài, 331 chi, 97 họ
Lớp Hành - Liliopsida có: 145 loài, 83 chi, 25 họ
Hệ thực vật (HTV) khu vực đồi núi Chí Linh thể hiện sự phong phú và đa dạng ở các taxon bậc ngành Bảng 4.1 minh họa chi tiết sự phân bố của các taxon trong các ngành của hệ thực vật tại khu vực đồi núi thị xã Chí Linh, Hải Dương.
Bảng 4.1: Sự phân bố của các taxon trong các ngành của hệ thực vật khu vực đồi núi thị xã Chí Linh
Việt Nam Tên latinh Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Ngành Thông đất Lycopodiophyta 1 0,70 1 0,23 1 0,15 Ngành Cỏ tháp bút Equisetophyta 1 0,70 1 0,23 1 0,15 Ngành Dương xỉ Polypodiophyta 14 9,86 20 4,55 29 4,45
Tổng 142 100 440 100 652 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Hình 4.9: Biểu đồ tỷ lệ % số họ, chi, loài của từng ngành thực vật so với cả HTV
4.2.2 Đa dạng phân loại hệ thực vật 4.2.3 Đa dạng về mức độ ngành của hệ thực vật Chí Linh
Sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật không đồng đều, trong đó ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế vượt trội với 94,63% tổng số loài, 94,09% tổng số chi và 85,92% tổng số họ Tiếp theo là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), đóng góp 4,45% tổng số loài, 4,55% tổng số chi và 9,86% tổng số họ thực vật.
Trong 3 ngành còn lại của hệ thực vật tại Chí Linh đã tìm thấy được là các ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta), ngành Thông (Pinophyta) thì số lượng và tỉ lệ của các họ, chi, loài so với toàn khu đồi núi Chí Linh, Hải Dương đều rất thấp
Phân bố taxon trong các ngành thực vật Chí Linh so sánh với hệ thực vật Việt Nam được thể hiện chi tiết ở Bảng 4.2, cung cấp cái nhìn tổng quan về sự khác biệt và tương đồng giữa hai hệ thực vật này.
Bảng 4.2: Bảng so sánh tỷ lệ % số loài của hệ thực vật vùng đồi núi thị xã
Chí Linh với HTV Việt Nam
NGÀNH Chí Linh Việt Nam*
VIỆT NAM LA TINH Số loài % Số loài %
2 Ngành Cỏ tháp bút Equisetophyta 1 0,15 2 0,02
Mặc dù diện tích HTV Chí Linh rất nhỏ so với tổng diện tích rừng đặc dụng Việt Nam, nhưng lại chiếm tỷ lệ đáng kể (6,015%) tổng số loài trong HTV Việt Nam Trong hệ thực vật khu đồi núi Chí Linh và Việt Nam, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế hàng đầu, theo sau là ngành Dương xỉ và ngành Thông Có sự khác biệt về tỷ lệ các loài thuộc ngành Thông đất và Cỏ tháp bút giữa hệ thực vật khu đồi núi Chí Linh và Việt Nam, đặc biệt ngành Cỏ tháp bút có tỷ lệ số loài so với Việt Nam lớn nhất (50%).
So sánh tỷ lệ phần trăm số loài trong các ngành thực vật, hệ thực vật Chí Linh, Tây Yên Tử có 5 ngành, tương đương với khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tây Yên Tử Đáng chú ý, KBTTN Khe Rỗ có tới 6 ngành thực vật, trong khi KBTTN Yên Tử chỉ có 3 ngành.
Sự phân bố không đều của taxon bậc loài thể hiện rõ sự thống trị của ngành Ngọc lan, đặc biệt tại HTV Yên Tử với tỷ lệ vượt trội trên 90% Ngành Dương xỉ có sự biến động tỷ lệ giữa các HTV, trong đó HTV Chí Linh có tỷ lệ trung bình so với các khu vực lân cận Sự khác biệt về tỷ lệ loài giữa các HTV có thể do điều kiện địa hình khác nhau và mức độ nghiên cứu chi tiết ở từng vùng Mặc dù có sự khác biệt, tỷ lệ số loài trong các ngành của HTV Chí Linh so với các HTV lân cận là tương đối tương tự nhau.
Bảng 4.3: So sánh tỷ lệ % số loài của Hệ thực vật khu đồi núi Chí Linh với các
Hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử, KBTTN Khe Rỗ và KBTTN Yên Tử
Tử * VIỆT NAM Số loài % Số loài % Số loài % Số loài %
3 Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) 1 0,15 4 0,46 1 0,09
6 Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 617 94,63 817 93,48 980 92,89 670 94,90 Tổng 652 100 874 100 1.055 100 706 100
Diện tích vùng nghiên cứu là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học Sự khác biệt về đa dạng thể hiện rõ khi so sánh trên cùng một đơn vị diện tích (Bảng 4.4).
So sánh số loài trên cùng một đơn vị diện tích giữa Hệ thực vật khu đồi núi Chí Linh với các Hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử và KBTTN Khe Rỗ cho thấy sự khác biệt về đa dạng sinh học giữa các khu vực.
Các khu HTV Chí Linh Tây Yên Tử Yên Tử Khe Rỗ
Khu đồi núi Chí Linh, mặc dù diện tích nhỏ, sở hữu sự đa dạng thành phần loài thực vật cao với 562 loài được ghi nhận, cho thấy tiềm năng sinh học đáng kể so với các hệ thực vật lân cận.
Chí Linh thể hiện rõ sự đa dạng về số loài Đây cũng là một số liệu quan trọng công công tác định hướng bảo tồn cả HTV
Sự phân bố không đều của các taxon thể hiện rõ trong ngành Ngọc lan, ngành có số lượng loài lớn nhất Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), còn gọi là lớp Hai lá mầm, chiếm ưu thế vượt trội với 72,39% số loài, 75,23% số chi và 68,31% số họ của toàn hệ thực vật Trong khi đó, lớp Hành (Liliopsida), hay lớp Một lá mầm, có tỷ trọng thấp hơn đáng kể.
145 - chiếm 22,24% của toàn hệ thực vật và 23,50% của ngành Ngọc lan, số chi là
83 - chiếm 18,86,03% của toàn hệ thực vật và 20,05% của ngành Ngọc lan, và số họ là 25 - chiếm 17, 61% của toàn hệ thực vật và 20,49% của ngành Ngọc lan
Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế vượt trội trong ngành Magnoliophyta và toàn hệ thực vật, thể hiện qua tỷ lệ loài so với lớp Liliopsida là 3,26:1 Tỷ lệ này tiếp tục được duy trì ở cấp họ (3,88) và chi (3,99), khẳng định sự đa dạng và phong phú của lớp Ngọc lan.
Bảng 4.5: Sự phân bố của các taxon trong ngành Ngọc lan của HTV Chí Linh
Tỷ lệ (D/M) 3,88 3,99 3,26 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Hình 4.10: Biểu đồ % phân bố tỷ trọng của hai lớp trong ngành Ngọc lan
Tỷ lệ Magnoliopsida/Liliopsida (M/L) được so sánh giữa lớp Ngọc lan và lớp Hành tại hệ thực vật Chí Linh với các khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Khe Rỗ và Yên Tử để đánh giá sự khác biệt về thành phần loài.
Dựa trên bảng so sánh tỷ lệ phần trăm số loài giữa lớp Ngọc lan và lớp Hành trong ngành Ngọc lan, sự khác biệt về thành phần loài giữa HTV Chí Linh và các HTV khu vực như BTTN Tây Yên Tử được làm nổi bật.
KBTTN Khe Rỗ và KBTTN Yên Tử
HTV Khe Rỗ HTV Yên Tử
Số loài % Số loài % Số loài % Số loài %
Nguyên nhân gây suy giảm nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu
Các loài thực vật có giá trị bảo tồn nguồn gen và kinh tế ở Chí Linh phân bố không đều, tập trung nhiều nhất ở Hoàng Hoa Thám và Bắc An do diện tích rừng tự nhiên lớn Tỷ lệ cây gỗ so với cây bụi và cây thảo còn thấp, số lượng cây gỗ lớn có thể khai thác được còn ít, chủ yếu ở một số khu vực thuộc Hoàng Hoa Thám, Bắc An và phường Cộng Hòa Mặc dù cây thuốc có chất lượng thấp, nhưng đây là cơ sở cho thấy tiềm năng phục hồi, bảo tồn và phát triển để khai thác trong tương lai.
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi nhận thấy vẫn còn những hiện tượng làm suy giảm nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu, điều này đòi hỏi các giải pháp bảo tồn và quản lý bền vững để ngăn chặn sự suy thoái hơn nữa.
Có thể khái quát trong một số ý sau đây:
4.3.1 Chặt cây rừng, xâm phạm diện tích rừng làm nương rẫy, trang trại
Hiện tượng chặt cây, đốt rừng làm nương rẫy tuy không phổ biến nhưng vẫn tồn tại ở một số khu vực, tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất của người dân địa phương.
Việc chặt cây rừng để lấy đất trồng cây ăn quả, đặc biệt là nhãn và vải, gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường Mặc dù diện tích trồng vải đã có dấu hiệu dừng lại, vẫn tồn tại tình trạng các trang trại trồng vải xen kẽ vào khu vực rừng tái sinh tự nhiên, đe dọa sự phục hồi của rừng.
- Một số nơi người dân chặt cây rừng, đốt nương để lấy đất trồng cây nông nghiệp như Sắn
- Chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên thành rừng trồng một số cây công nghiệp như rừng Keo, rừng Bạch đàn, làm suy giảm đa dạng sinh học
Một số hình ảnh về việc phá rừng tại KVNC: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Hình 4.40: Phá rừng làm nương trồng Sắn Hình 4.41: Phá rừng làm nương
Hình 4.42: Diện tích đất trống ngày càng tăng Hình 4.43: Vải lấn át diện tích rừng tự nhiên
Hình 4.44: Rừng trồng Bạch đàn được mở rộng
Hình 4.45: Rừng trồng Keo đang được mở rộng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
4.3.2 Khai thác trái phép tài nguyên ngoài gỗ
Hiện tại, một bộ phận người dân vẫn có thói quen vào rừng khai thác trái phép sản vật như:
- Khai thác các loài cây thuốc (Re, Chân chim, Bồ bồ),
- Khai thác lấy sợi (Mây)
- Khai thác làm thuốc nhuộm (Củ nâu)
Việc khai thác cây làm cảnh, đặc biệt là các loài như Si, Đa, Lộc vừng, gây thiệt hại về số lượng cây và suy giảm chất lượng môi trường do quá trình vận chuyển cây từ rừng về nơi tập kết.
Hiện tượng khai thác đất trái phép đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan khu vực, đặc biệt là việc sử dụng đất làm nền đường cho các dự án khác.
Hình 4.46: Loài Chân chim bị người dân khai thác dóc hết vỏ
Hình 4.47 cho thấy một loài thuộc chi Si đang bị khai thác trái phép để làm cảnh, với mục đích đưa chúng ra khỏi rừng.
Hình 4.48: Lấy đất làm nền đường của các dự án
Hình 4.49: Lấy đất làm nền đường của các dự án khác
Hình 4.50: Lấy đất làm nền đường tạo nên các khoảng trống trong
Hình 4.51: Những ao nhỏ sau việc lấy đất làm nền đường tạo nên
Đề xuất một số giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu
Chí Linh, tương tự nhiều địa phương khác, sở hữu hệ sinh thái đồi núi tự nhiên với tính đa dạng sinh học cao, cần được bảo vệ để duy trì và phát triển Để bảo tồn các loài thực vật có giá trị bảo tồn nguồn gen và kinh tế, một số giải pháp sẽ được đề xuất.
4.4.1 Xây dựng các chương trình thâm canh hiệu quả: nhằm mục đích vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường ở hệ sinh thái tự nhiên vùng đồi núi
Trong những năm gần đây, hiệu quả kinh tế từ cây vải và nhãn không còn cao như kỳ vọng Nhiều hộ gia đình đã chuyển sang trồng các loại cây khác như sấu và sưa Trước đây là rừng tự nhiên, các trang trại trồng vải đã lấn át cây rừng, đặc biệt là rừng thuần cây Dẻ ở thôn Hố Sếu.
Nhìn chung, trong các địa điểm điều tra, ngoài các phường Cộng Hòa, Văn
Diện tích rừng tự nhiên ở Chí Linh còn rất ít so với trước đây, đặc biệt tại các xã như Hoàng Hoa Thám, Bắc An, Hoàng Tiến, An Lạc, Hưng Đạo, nơi rừng chỉ còn lại trên đỉnh núi và đồi Hiện tượng giảm chất lượng và diện tích rừng tự nhiên vẫn tiếp diễn, đòi hỏi các giải pháp cấp bách để bảo tồn tài nguyên rừng, nhất là các loài thực vật quý hiếm Cần có các giải pháp chung, điều chỉnh theo địa hình và điều kiện kinh tế của từng xã để triển khai một cách thích hợp.
Luân canh hợp lý trong các mô hình trồng trọt là yếu tố then chốt để bảo vệ tài nguyên đất và nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững, phục vụ phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
Tận dụng lợi thế từ điều kiện tự nhiên đa dạng như đồi núi, ao hồ, sông ngòi, cần tập trung phát triển trồng trọt và chăn nuôi các giống loài bản địa có giá trị kinh tế cao, mở ra hướng đi bền vững cho nền kinh tế địa phương.
Mô hình nuôi gà dưới tán rừng, như ở thôn Vành Liệng, Bãi Thảo (xã Bắc An), cung cấp số lượng lớn gà cho các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội và Hải Dương, giúp giảm áp lực lên rừng tự nhiên và tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Xây dựng mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng tự nhiên như bò khai, gừng, riềng, khoai sọ, lá dong, củ mài giúp nâng cao đời sống người dân và giảm áp lực khai thác rừng Mô hình này còn giúp tăng độ che phủ, khả năng giữ nước, giữ đất, hình thành hệ sinh thái bền vững.
4.4.2 Trồng thêm cây có nguồn gốc là cây bản địa thay thế vào diện tích rừng trồng
Xã An Lạc nổi bật với cụm di tích văn hóa - lịch sử Đền Cao, một điểm nhấn quan trọng trong du lịch văn hóa của Chí Linh và Hải Dương Để phát huy giá trị của di tích này, cần bảo tồn nghiêm ngặt khu vực Đền Cao, đặc biệt là 54 cây Lim xanh quý hiếm đã được đăng ký bảo tồn cấp quốc gia Thảm thực vật tái sinh dưới gốc các cây Lim xanh hiện tại hứa hẹn sẽ thay thế các cây già cỗi trong tương lai.
Để tăng tính hấp dẫn cho du khách, cần trồng bổ sung các loài thực vật bản địa, đa dạng hóa hệ thực vật khu vực Đền Cao Chính quyền địa phương cần quy hoạch chi tiết hơn dịch vụ ăn uống, không nên cho phép mở hàng quán trong đền, đặc biệt ở khu vực Lim xanh tái sinh Thay thế cây Keo tai tượng và Bạch đàn trên đường lên đền thờ vua Lê Đại Hành bằng các loài cây bản địa có tán rộng, vừa tạo bóng mát vừa phù hợp với quần thể di tích lịch sử.
4.4.3 Xây dựng các phương pháp quản lý và giáo dục nhận thức về khai thác hợp lý nguồn tài nguyên rừng
Rừng dẻ với diện tích khoảng 1.000 ha tập trung ở hai xã Hoàng Hoa Thám và Bắc An, huyện Chí Linh Dự án bảo tồn và phát triển rừng đã được triển khai từ năm 2001 đến 2003 bởi Trung tâm môi trường và Lâm sinh nhiệt đới, kết hợp cùng lâm trường và phòng nông nghiệp huyện Chí Linh, nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng quý giá này.
Mô hình sử dụng bền vững rừng dẻ tái sinh ở huyện Chí Linh không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn khôi phục rừng dẻ tự nhiên, một điều hiếm thấy ở miền Bắc Tuy nhiên, việc phát triển trồng cây Vải đang lấn chiếm diện tích rừng dẻ tự nhiên, đặc biệt tại thôn Hố Sếu, xã Hoàng Hoa Thám, gây ảnh hưởng đến sự bền vững của mô hình.
Thảm rừng Dẻ tự nhiên trải dài từ Lục Ngạn (Bắc Giang) xuống xã Hoàng Hoa Thám và Bắc An là dải rừng Dẻ tự nhiên độc nhất vô nhị ở miền Bắc Việc mất đi diện tích rừng này sẽ là một tổn thất lớn cho thảm thực vật rừng của miền Bắc và Việt Nam Do đó, cần có các quy định quản lý rừng chặt chẽ để hạn chế tối đa sự thu hẹp diện tích rừng dẻ tự nhiên.
Người dân thôn Thanh Mai vẫn khai thác củ nâu, mây tại rừng chùa Thanh Mai, tạo nguồn thu nhập hấp dẫn nhưng trữ lượng đang cạn kiệt Chính quyền địa phương cần khuyến cáo tạm dừng khai thác và phối hợp xây dựng mô hình trồng củ mài, mây để tăng thu nhập bền vững Tình trạng khai thác các cây dược liệu ở Bắc An và Hoàng Hoa Thám cũng đáng báo động, cần thời gian dài để phục hồi nếu ngừng khai thác.
Chí Linh thu hút du khách bởi các danh lam thắng cảnh như chùa, đền Để bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững, cần có quy hoạch chi tiết đến từng khoảnh rừng, đặc biệt là rừng sản xuất giao khoán cho hộ dân Việc này giúp bảo vệ rừng tốt hơn, đồng thời bảo tồn các loài động thực vật có giá trị sinh sống tại đây.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1 Về các quần xã thực vật: Khu vực đồi núi Thị xã Chí Linh (Hải dương) có