1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa đồng nai

133 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn Hóa Đồng Nai
Tác giả Nguyễn Viết Sử
Người hướng dẫn TS. Hoàng Văn Sâm
Trường học Trường Đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý Bảo vệ Tài nguyên Rừng
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1................................................................................................................ 3 (12)
    • 1.1. Nhận thức về đa dạng sinh học (12)
    • 1.2. Tổng quan nghiên cứu về hệ thực vật (17)
      • 1.2.1. Trên thế giới (17)
      • 1.2.2. Ở Việt Nam (17)
      • 1.2.3. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng (21)
  • CHƯƠNG 2.............................................................................................................. 14 (23)
    • 2.1. Mục tiêu của đề tài (23)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (23)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (23)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (23)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (23)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.4.1. Công tác chuẩn bị (23)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra thực địa (24)
        • 2.4.2.1. Thu thập số liệu tại thực địa (24)
        • 2.4.2.2. Xử lý và bảo quản mẫu (29)
        • 2.4.2.3. Xác định và kiểm tra tên khoa học (31)
        • 2.4.2.4. Xây dựng danh lục thực vật (33)
      • 2.4.3. Phương pháp nghiên cứu các nguyên nhân suy giảm và đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật (35)
  • CHƯƠNG 3.............................................................................................................. 27 (36)
    • 3.1. Sơ lược về lịch sử hình thành Khu Bảo tồn (36)
    • 3.2. Điều kiện tự nhiên (36)
      • 3.2.1. Vị trí địa lý (36)
      • 3.2.2. Địa hình (37)
      • 3.2.3. Khí hậu (37)
      • 3.2.4. Thủy văn (38)
      • 3.2.5. Thổ nhưỡng (39)
    • 3.3. Điều kiện kinh tế - Xã hội (40)
      • 3.3.1. Dân số, phân bố dân cư và lao động (40)
      • 3.3.2. Tình hình kinh tế (41)
        • 3.3.2.1. Sản xuất nông nghiệp (41)
        • 3.3.2.2. Sản xuất lâm nghiệp (44)
        • 3.3.2.3. Các ngành nghề khác (44)
      • 3.3.3. Tình hình y tế, giáo dục, hạ tầng cơ sở (45)
        • 3.3.3.1. Y tế (45)
        • 3.3.3.2. Giáo dục (45)
      • 3.3.4. Cơ sở hạ tầng (46)
        • 3.3.4.1. Hệ thống đường giao thông (46)
        • 3.3.4.2. Hệ thống điện (47)
        • 3.3.4.3. Hệ thống nước (47)
    • 3.4. Hiện trạng tài nguyên rừng (47)
      • 3.4.1. Hiện trạng rừng (47)
      • 3.4.2. Tài nguyên rừng (49)
    • 3.5. Hiện trạng và tình hình sử dụng tài nguyên rừng (50)
  • CHƯƠNG 4.............................................................................................................. 43 (52)
    • 4.1. Xây dựng danh lục (52)
    • 4.2. Đa dạng về thành phần loài thực vật thân gỗ (52)
      • 4.2.1. Đa dạng về taxon ngành thực vật (52)
      • 4.2.2 Đa dạng ở bậc dưới ngành (53)
      • 4.2.3 Đa dạng về giá trị sử dụng (55)
      • 4.2.4. Đa dạng các loài cây quý hiếm (58)
        • 4.2.4.1. Các loài trong danh sách của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (62)
        • 4.2.4.2. Các loài qúi, hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) (62)
        • 4.2.4.3. Các loài cây quí, hiếm theo IUCN 2009 (63)
        • 4.2.4.4. Mức độ nguy cấp xét theo CITES (63)
    • 4.3. Các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Văn Hóa – Đồng Nai (64)
      • 4.3.1. Các nguyên nhân trực tiếp (65)
        • 4.3.1.1. Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp (65)
        • 4.3.1.2. Khai thác gỗ (65)
        • 4.3.1.3. Phá rừng làm nương rẫy (67)
        • 4.3.1.4. Do sự khai thác và buôn bán gỗ, các Lâm sản ngoài gỗ (68)
      • 4.3.2 Các nguyên nhân gián tiếp (70)
        • 4.3.2.1 Áp lực dân số (70)
        • 4.3.2.2 Tình trạng đói nghèo (71)
        • 4.3.2.3 Nhận thức của cộng đồng còn thấp (71)
        • 4.3.2.4. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường (72)
    • 4.4 Các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên (72)
      • 4.4.1. Nâng cao năng lực quản lý và thi hành pháp luật (72)
      • 4.4.2. Tăng cường đào tạo (74)
      • 4.4.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng cường trang thiết bị (74)
      • 4.4.4. Giải pháp về nghiên cứu, đánh giá các giá trị bảo tồn thiên nhiên có sự tham gia của cộng đồng (74)
      • 4.4.5. Tăng cường mối quan hệ với chính quyền địa phương trong công tác bảo tồn đa dạng thực vật tại các xã vùng đệm và xử lý các vụ vi phạm (76)
      • 4.4.6. Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng (77)
  • CHƯƠNG 5.............................................................................................................. 69 (78)
    • 5.1. Kết luận (78)
      • 5.1.1. Đa dạng hệ thực vật (78)
      • 5.1.2. Các nguyên nhân gây suy giảm tính đa dạng thực vật ở Khu BTTN Văn hóa – Đồng Nai (79)
      • 5.1.3. Các giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật ở Khu BTTN – Văn hóa Đồng Nai (79)
    • 5.2. Tồn Tại – Khuyến nghị (79)
      • 5.2.1. Tồn tại (79)
      • 5.2.2. Khuyến nghị (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)
  • PHỤ LỤC (87)

Nội dung

3

Nhận thức về đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học (Biodiversity) là thuật ngữ xuất hiện từ những năm 1980, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu và bảo tồn sự phong phú của sự sống trên trái đất Hiện nay, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học và văn hóa ĐDSH không chỉ đề cập đến sự đa dạng của các loài thực vật, động vật, vi khuẩn, rừng và rạn san hô, mà còn là một lĩnh vực nghiên cứu bao gồm mô tả, đánh giá và giải thích nguồn gốc cũng như sự hình thành của nó.

Lịch sử khái niệm về đa dạng sinh học phản ánh nguồn gốc đa dạng của sự sống trên trái đất, là đề tài quan trọng trong các ngành khoa học tự nhiên và nhiều lĩnh vực khác Các quan niệm về sự phân chia sự sống đã tồn tại từ thời cổ xưa và vẫn tiếp tục được thảo luận cho đến ngày nay.

Thuật ngữ ĐDSH xuất hiện lần đầu tiên trong hai bài viết của Lovejoy

Năm 1980, Lovejoy, một nhà nghiên cứu tại Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế ở Washington, đã trình bày một báo cáo quan trọng cho Tổng thống Hoa Kỳ về các vấn đề môi trường toàn cầu, năng lượng, dân số và kinh tế Báo cáo nhấn mạnh sự cần thiết phải có các nỗ lực quốc tế để bảo vệ môi trường, đánh giá diện tích rừng còn lại trên trái đất và những hậu quả của việc khai thác rừng quá mức, như biến đổi khí hậu và suy thoái đa dạng sinh học Lovejoy khẳng định rằng đa dạng sinh học được xác định chủ yếu bởi tổng số loài sinh vật hiện có.

Norse và McManus, hai nhà sinh thái học của Hội đồng Nhà Trắng về chất lượng môi trường, đã viết một chương trong Báo cáo hàng năm (1980) của Uỷ ban về Chất lượng môi trường, đề cập đến ĐDSH toàn cầu Chương này giới thiệu hai khái niệm quan trọng: đa dạng gen và đa dạng sinh thái, với đa dạng sinh thái tương ứng với số lượng các loài sinh vật Báo cáo cũng nêu rõ lợi ích vật chất của ĐDSH, cơ sở tâm lý và triết học của công tác bảo tồn, tác động của con người đến ĐDSH, cùng với các chiến lược và chính sách bảo tồn ĐDSH.

Thuật ngữ ĐDSH lần đầu tiên được giới thiệu bởi Wilson vào năm 1982 trên diễn đàn khoa học Kể từ đó, các vấn đề liên quan đến ĐDSH đã được thảo luận rộng rãi trên toàn cầu, cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn.

Tổ chức Bảo tồn Thiên Nhiên Quốc tế (IUCN) đã khởi xướng ý tưởng về một công ước toàn cầu nhằm bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) Năm 1987, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã kêu gọi sự hợp tác quốc tế để bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Các cuộc họp trù bị của các tổ chức này đã dẫn đến việc thành lập Uỷ ban Hợp tác Liên Chính Phủ, nhằm chuẩn bị cho Công ước ĐDSH.

1992, bản thảo cuối cùng của Công ước Rio đã được chuẩn bị xong và được thông qua tại Nairobi (22/05/1992)

Công ước ĐDSH, được 157 Chính phủ ký kết tại Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro vào ngày 05/06/1992, đã có hiệu lực từ ngày 29/12/1993 Đến tháng 3/1998, có 172 nước ký và 168 nước phê chuẩn, bao gồm cả Việt Nam Chiến lược ĐDSH toàn cầu được công bố bởi Viện Tài nguyên Thế giới, IUCN và UNEP vào năm 1992, đã thúc đẩy UNEP hỗ trợ nhiều chương trình nghiên cứu về ĐDSH và tổ chức các cuộc họp trên toàn cầu nhằm phát triển khái niệm và tăng cường hoạt động liên quan đến ĐDSH.

Đa dạng sinh học (ĐDSH) được định nghĩa là sự phong phú của sự sống trên trái đất, bao gồm hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, cùng với các gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái phức tạp ĐDSH có ba cấp độ chính: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Đa dạng loài bao gồm tất cả các loài sinh vật từ vi khuẩn đến động, thực vật và nấm Ở cấp độ vi mô, ĐDSH còn thể hiện qua sự khác biệt gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly địa lý và giữa các cá thể trong cùng một quần thể Ngoài ra, ĐDSH cũng phản ánh sự khác biệt giữa các quần xã sinh vật, các hệ sinh thái nơi các loài tồn tại và các mối tương tác giữa chúng.

Đa dạng sinh học, theo chương trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam, được định nghĩa là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh, bao gồm tổng số loài động vật và thực vật, cũng như sự đa dạng và phong phú trong từng loài và hệ sinh thái Định nghĩa này đề cập đến ba khía cạnh chính: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Tuy nhiên, định nghĩa này còn dài dòng và dễ gây nhầm lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng, đồng thời chỉ nhấn mạnh đến động vật và thực vật mà không đề cập đến quần xã sinh vật và các loài khác như nấm, vi sinh vật.

Trong tác phẩm “Đa dạng cho sự phát triển” của Viện tài nguyên gen thực vật quốc tế (IPGRI), đa dạng sinh học được định nghĩa là toàn bộ những biến dạng trong tất cả cơ thể sống và các phức hệ sinh thái mà chúng sống, bao gồm ba mức độ: đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền Định nghĩa phổ biến và đầy đủ nhất về đa dạng sinh học là từ công ước về bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro (1992), trong đó nhấn mạnh sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả các hệ sinh thái, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái nước khác, thể hiện sự đa dạng trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái.

Trong cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn, đa dạng sinh vật được định nghĩa là toàn bộ các dạng sống khác nhau trên trái đất, bao gồm động vật, thực vật cả trên cạn và dưới nước, từ mức độ phân tử ADN đến các quần thể sinh vật, bao gồm cả xã hội loài người Môn học nghiên cứu về tính đa dạng này được gọi là Đa dạng sinh học.

Vậy đa dạng sinh học cũng được chia ra ba cấp:

Đa dạng di truyền thể hiện sự phong phú về nguồn gen và kiểu gen trong mỗi loài Sự phân biệt giữa các loài chủ yếu dựa vào bộ nhiễm sắc thể, với mỗi loài sở hữu số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể khác nhau.

+ Đa dạng về loài: Đa dạng loài thể hiện bằng số loài khác nhau sinh sống trong một vùng nhất định

Đa dạng hệ sinh thái phản ánh sự phong phú của các kiểu quần xã sinh vật khác nhau Các sinh vật sống trong các điều kiện môi trường như đất, nước, khí hậu và địa hình tương tác lẫn nhau, tạo nên các hệ sinh thái và môi trường sống đa dạng.

ĐDSH có thể được tiếp cận từ ba góc độ: mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ hệ sinh thái Nó bao gồm các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể, quần thể và các thành phần sinh học khác của hệ sinh thái, có giá trị sử dụng hoặc tiềm năng cho con người ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên do tất cả các dạng sống trên trái đất tạo nên, thể hiện sự đa dạng của sự sống ở mọi cấp độ và tổ hợp Điều này không chỉ bao gồm tổng số hệ sinh thái, loài và vật chất di truyền mà còn các mối quan hệ phức tạp giữa chúng.

Đa dạng sinh học (ĐDSH) không chỉ bao gồm sự đa dạng về loài mà còn phản ánh sự đa dạng văn hóa, là biểu hiện của xã hội con người trong hệ sinh thái Đa dạng văn hóa được thể hiện qua ngôn ngữ, tín ngưỡng, kinh nghiệm quản lý đất đai, nghệ thuật, âm nhạc, cấu trúc xã hội, và chế độ ăn uống Văn hóa bản địa, một phần quan trọng của đa dạng văn hóa, đang bị đe dọa bởi sự phát triển kinh tế và xã hội "văn minh" Bảo vệ sự đa dạng văn hóa là cần thiết, vì nó là nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Vì vậy, ĐDSH phải được coi là sản phẩm của sự tương tác của hai hệ thống: hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội

Tổng quan nghiên cứu về hệ thực vật

Nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ lâu, nhưng các công trình có giá trị bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 19 đến 20, như Thực vật chí Hongkong vào năm 1861, Thực vật chí Australia năm 1866, và Thực vật chí rừng Tây Bắc và Trung tâm Ấn Độ năm 1874.

Từ năm 1928 đến 1932, Nga đã bước vào giai đoạn nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachev A.N nhấn mạnh rằng cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để phản ánh sự phong phú của môi trường sống mà không có sự phân hoá địa lý Ông định nghĩa hệ thực vật cụ thể và cho rằng số loài trong hệ thực vật này ở vùng nhiệt đới ẩm thường dao động từ 1500 đến 2000 loài.

Các nhà sinh vật học Nga đang nghiên cứu để xác định diện tích biểu hiện tối thiểu cần thiết nhằm kiểm kê đầy đủ số loài trong từng hệ thực vật cụ thể Quá trình xác định diện tích này bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau.

- Kiểm kê số loài trên một diện tích hạn chế nhất định

- Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài

- Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu

Việt Nam là một điểm nóng về đa dạng sinh học với sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền, tạo ra môi trường tự nhiên phong phú và đa dạng loài Theo cuốn “Cơ sở sinh học bảo tồn”, khoảng 10% số loài sinh vật trên thế giới được ghi nhận tại đây, trong đó có khoảng 13.000 loài thực vật Nhiều nhóm loài có tính đặc hữu cao và giá trị khoa học, thực tiễn lớn, nhưng con số này vẫn chưa phải là cuối cùng, vì hàng năm có nhiều loài thực vật mới được phát hiện trong hệ thực vật Việt Nam.

Nghiên cứu thực vật Việt Nam đã được khởi xướng bởi các tác giả lớn như Loureiro (1790) và Pierre (1879-1907), những người đã đặt nền tảng vững chắc cho lĩnh vực này Đặc biệt, vào đầu thế kỷ XX, công trình Thực vật chí đại cương Đông Dương do H Lecomte (1907 - 1952) biên soạn đã trở thành nền tảng quan trọng cho việc đánh giá tính đa dạng sinh vật ở Việt Nam, với việc thu mẫu, định tên và lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương.

Trên cơ sở Thực vật Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi, 289 họ [49]; về sau Humbert (1938-

Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam, do Aubréville khởi xướng và chủ biên từ năm 1960 đến 1966, đã công bố 29 tập với 74 họ cây có mạch, góp phần quan trọng vào việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng.

Năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được ở Miền Bắc có 5.190 loài[62], năm

Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê và nâng tổng số loài thực vật ở miền Bắc lên 5.609 loài, bao gồm 1.660 chi và 140 họ, trong đó có 5.069 loài thực vật hạt kín và 540 loài thuộc các ngành khác Từ năm 1969 đến 1976, nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật đã phát hành bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên Tại miền Nam, Phạm Hoàng Hộ đã công bố 2 tập “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp, 20 loài rêu và 5.246 loài thực vật bậc cao có mạch.

Viện điều tra quy hoạch rừng đã công bố 07 tập Cây gỗ rừng Việt Nam

Từ năm 1971 đến 1988, nhiều tài liệu đã được giới thiệu chi tiết kèm theo hình vẽ minh họa Đến năm 1996, luận văn tốt nghiệp được cập nhật và có thể tải về qua email luanvanfull@gmail.com Luận văn thạc sĩ đã được dịch sang tiếng Anh dưới sự biên soạn của Vũ Văn Dũng Năm 1993, Trần Đình Lý cùng tập thể đã công bố danh sách 1900 cây có ích ở Việt Nam, và vào năm 1997, Võ Văn Chi cũng đã công bố các nghiên cứu liên quan.

Từ điển cây thuốc Việt Nam cung cấp thông tin chi tiết về 3105 loài cây thuốc, bao gồm đặc điểm hình thái, bộ phận sử dụng, môi trường sống, phương pháp thu hái, thành phần hóa học, tính vị, tác dụng và công dụng của chúng (Ngô Tiến Dũng, 2006).

Gần đây, các nhà thực vật học từ Liên Xô và Việt Nam đã tiến hành hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam, và kết quả được công bố trong Kỷ yếu “Cây có mạch của thực vật”.

Việt Nam – Vascular Plants Synopsis of Viet Nam Flora” tập 1, 2 (1996) và tạp chí

Sinh học số 4 chuyên đề (1994 va 1995) (Ngô Tiến Dũng, 2006)[19]

Trong 3 tập Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ năm 1991-1993 [20] xuất bản tại Canada và đã được tái bản tại Việt Nam năm 1999 – 2000 [21], trên cơ sở bổ sung vào cuốn Cây cỏ Miền Nam một bộ phận thảo mộc quan trọng ở địa bàn các tỉnh phía Bắc đã thống kê được số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam là 10.500 loài, gần đạt con số 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học Đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá phân loại thực vật Việt Nam

Từ năm 1995 đến 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn và các tác giả khác đã công bố nhiều bài báo về đa dạng thành phần loài tại các khu vực như Vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hòa Bình, Sơn La, Khu Bảo tồn Na Hang, vùng núi cao Sa Pa - Phansipang, ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, và Phong Nha - Kẻ Bàng Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã phát hành cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật”.

Trong những năm gần đây, bộ Thực vật chí Việt Nam đã xuất bản các tập giới thiệu về nhiều họ thực vật quan trọng, bao gồm: Họ Na - Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân, Họ Bạc hà - Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000), Họ Cói - Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2000), và Họ Đơn nem - Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên.

(2002), 5) Họ Trúc đào - Apocynaceae của Trần Đình Lý (2007), 6) Họ Cỏ roi ngựa luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Các tài liệu quý giá như "Verbenaceae" của Vũ Xuân Phương (2007), "Họ Cúc Asteraceae" của Lê Kim Biên (2007), "Bộ Hoa loa kèn - Liliales" của Nguyễn Thị Đỏ (2007), "Ngành Rong lục - Chlorophyta" của Nguyễn Văn Tiến (2007), "Bộ Rong mơ - Fucales" của Nguyễn Hữu Đại, và "Họ Rau răm - Polygonaceae" của Nguyễn Thị Đỏ (2007) rất hữu ích cho việc tra cứu và giám định loài Tuy nhiên, số lượng các họ được đề cập hiện tại vẫn còn hạn chế.

Cuốn Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (2000) của tác giả Trần Hợp đã mô tả đặc điểm nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng của 1566 loài cây gỗ phổ biến từ Bắc vào Nam Các loài cây được sắp xếp theo hệ thống tiến hóa của Armen Takhtajan, bao gồm các ngành Quyết thực vật, Thực vật Hạt trần và Thực vật Hạt kín.

14

Mục tiêu của đề tài

Góp phần bảo tồn tính đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên - Văn Hóa Đồng Nai

- Xây dựng được danh lục thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai là rất quan trọng Việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự phong phú của các loài thực vật mà còn nhấn mạnh vai trò của chúng trong bảo tồn và phát triển bền vững.

Xác định nguyên nhân suy giảm đa dạng thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai là bước quan trọng để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả cho đa dạng thực vật.

Đối tượng nghiên cứu

Hệ thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai:

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng tôi thực hiện 4 nội dung sau:

- Điều tra, xây dựng danh lục các loài thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai;

- Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật thân gỗ tại khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu và phát hiện các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai;

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn Đa dạng thực vật Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai;

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1.Công tác chuẩn bị Để quá trình điều tra được thuận lợi, tôi tiến hành chuẩn bị các nội dung sau: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- Lập kế hoạch điều tra ngoại nghiệp, phỏng vấn dân và các đối tượng có liên quan và xử lý nội nghiệp

- Thu thập và kế thừa có chọn lọc các tài liệu thứ cấp liên quan tới khu vực nghiên cứu

Chuẩn bị bản đồ địa hình cho khu vực nghiên cứu cùng với các bảng biểu, dụng cụ và trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho việc điều tra và làm mẫu tiêu bản, bao gồm máy ảnh, kẹp tiêu bản, giấy báo, cồn, túi nilon và etiket.

2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa 2.4.2.1 Thu thập số liệu tại thực địa a Sơ thám khu vực điều tra Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu, chúng tôi không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu, vì thế việc chọn tuyến và điểm thu mẫu là rất cần thiết.Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu Có thế chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó cắt ngang các vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu

Trước khi quyết định các tuyến điều tra, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu để đánh giá nhanh hiện trạng rừng Dựa vào bản đồ, chúng tôi xác định các tuyến điều tra và lập kế hoạch điều tra cụ thể Phương pháp điều tra theo tuyến được áp dụng dựa trên tài liệu của Nguyễn Nghĩa Thìn trong “Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật” (1997) và “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới”.

Trong khu vực điều tra, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 14 tuyến để phát hiện loài Dưới đây là tọa độ các điểm và sơ đồ các tuyến.

Bảng 2.1: Toạ độ điểm đầu và điểm cuối của các tuyến điều tra

Tuyến Toạ độ điểm đầu/điểm cuối Địa điểm X Y

Trạm KL Rang rang 107° 1' 22" 11° 20' 14" Điểm cuối 107° 1' 7" 11° 19' 45"

Trạm KL Bàu Hào 107° 4' 15" 11° 14' 56" Điểm cuối 107° 3' 42" 11° 15' 16"

Trạm KL Bàu Điền 107° 7' 45" 11° 18' 57" Điểm cuối 107° 7' 20" 11° 18' 43"

4 Điểm đầu Trạm KL Cây Gùi 107° 4' 39" 11° 13' 15" Điểm cuối 107° 4' 50" 11° 13' 44"

Chốt KL Đá Dựng 106° 57' 45" 11° 9' 23" Điểm cuối 106° 58' 9" 11° 9' 46"

Chốt KL cây Gõ 107° 7' 44" 11° 23' 26" Điểm cuối 107° 8' 4" 11° 23' 48"

Trạm KL Đa Kai 107° 6' 13" 11° 24' 46" Điểm cuối 107° 5' 54" 11° 25' 6"

Trạm KL Suối Ràng 107° 8' 5" 11° 21' 9" Điểm cuối 107° 7' 38" 11° 21' 20"

Chốt KL Suối Mun 107° 1' 39" 11° 16' 6" Điểm cuối 107° 1' 41" 11° 16' 26"

Chốt KL Rang Rang 107° 3' 11" 11° 19' 28" Điểm cuối 107° 3' 33" 11° 19' 38"

Chốt KL Suối ràng 107° 7' 22" 11° 19' 52" Điểm cuối 107° 7' 1" 11° 19' 59" luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Chốt KL Bàu Điền 107° 7' 52" 11° 16' 50" Điểm cuối 107° 7' 26" 11° 16' 55"

Chốt KL Ba Cai 107° 1' 30" 11° 8' 17" Điểm cuối 107° 1' 30" 11° 8' 43"

Trạm KL Ba Cai 107° 2' 43" 11° 7' 25" Điểm cuối 107° 2' 54" 11° 7' 42" luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỀU TRA luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trên các tuyến điều tra, cần ghi chép các tác động tự nhiên và nhân tạo lên hệ thực vật, đồng thời thống kê các loài thực vật xuất hiện trong phạm vi 1,5 đến 3 m ở hai bên tuyến, tùy thuộc vào địa hình.

Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của tất cả các loài đã được phát hiện Đồng thời, chúng tôi cũng thu thập mẫu của những loài chưa xác định tên hoặc còn nghi ngờ, nhằm phục vụ cho công tác tra cứu tài liệu giám định.

Trên các tuyến thu mẫu, cần chọn những điểm chốt đặc trưng để đặt các ô tiêu chuẩn có kích thước 40m x 25m (0,1 ha) Sau khi xác định vị trí, sử dụng dây nylon màu để định vị các ô Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành điều tra tất cả các loài thực vật bậc cao có mạch Để thu mẫu, nên sử dụng túi polyetylen thay vì cặp gỗ dán cồng kềnh, đồng thời cần chuẩn bị sổ ghi chép, dây buộc, kéo cắt cành, nhãn, kim chỉ, bút chì (2B), cồn và giấy báo để bảo quản mẫu tốt hơn.

Mỗi mẫu cây cần có đầy đủ các bộ phận như cành, lá, hoa và quả (đối với cây lớn) hoặc toàn bộ cây đối với cây thân thảo.

Mỗi cây thu thập từ 3 đến 5 mẫu, trong khi đối với cây thân thảo, cần tìm các mẫu giống nhau và thu thập với số lượng tương tự Điều này nhằm nghiên cứu các biến dạng của loài và phục vụ cho việc trao đổi.

Các mẫu thu trên cùng một cây sẽ được đánh một số hiệu mẫu chung Hiện nay, có hai phương pháp đánh số phổ biến: đánh số liên tiếp từ 1 cho đến khi kết thúc nghiên cứu hoặc đánh số theo năm tháng mà không phụ thuộc vào các đợt thu mẫu trước Ví dụ, trong đợt nghiên cứu tháng 11 năm 2010, số 1011 sẽ được sử dụng làm gốc, và sau đó sẽ ghi tiếp từ số 1 trở đi Phương pháp này tiện lợi vì không cần nhớ số trước đó, mà chỉ cần đánh số theo từng đợt thu mẫu, giúp nhận biết thời gian thu mẫu dễ dàng hơn.

Khi thu thập mẫu, cần ghi chép ngay các đặc điểm dễ nhận biết trong tự nhiên như vỏ cây, kích thước cây, và đặc biệt là những đặc điểm dễ mất sau khi khô như màu sắc của hoa, quả và mùi vị.

Việc thu thập và ghi chép mẫu thực vật nên được thực hiện cẩn thận, sau đó cho vào túi polyetylen lớn để mang về nhà làm mẫu Túi polyetylen giúp bảo quản mẫu gọn nhẹ, tránh va chạm khi di chuyển qua rừng và giữ cho mẫu tươi lâu, ngay cả trong điều kiện nắng nóng Khi cho mẫu vào túi, cần nhẹ nhàng, đặc biệt nếu có hoa, nên dùng lá của mẫu để bọc trước Ngoài ra, có thể sử dụng túi nhỏ và mỏng để đựng riêng từng loài, sau đó buộc chặt tất cả các túi nhỏ vào túi lớn.

2.4.2.2 Xử lý và bảo quản mẫu

Hàng ngày, các mẫu thu cần được đeo nhãn ngay Trên mỗi nhãn cần ghi chép:

- Địa điểm và nơi lấy (tỉnh, huyện, xã, mọc ven suối, thung lũng, sườn hay đỉnh núi hoặc đồi,…)

- Đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, màu sắc lá, hoa, quả, lông, gai, mùi vị,…

Khi ghi phải dùng bút chì mềm, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực để tránh bị mất khi ngâm tẩm về sau

Sau khi đã đeo nhãn, các mẫu cần được xử lý Sử dụng hai phương pháp xử lý mẫu sau: a Xử lý khô

Mỗi mẫu lá cần được đặt gọn gàng trong một tờ báo gập lại, với cả lá sấp và lá ngửa để dễ dàng quan sát Đối với hoa, sử dụng mảnh báo nhỏ để ngăn cách với các bộ phận khác nhằm tránh dính vào nhau khi sấy Sau khi xếp chồng các mẫu, đặt tấm nhôm lượn sóng sau mỗi 5-10 mẫu để tăng độ thoáng khí và giữ nhiệt Sử dụng cặp ô vuông để ốp ngoài và ép chặt các mẫu lại thành bó, mỗi bó khoảng 15-20 mẫu Các bó mẫu cần được phơi nắng hoặc sấy, và giấy báo cần được thay mới hàng ngày để đảm bảo mẫu nhanh khô, không bị ẩm và không bị nát.

Khi không có thời gian làm mẫu ngay trong ngày, sau khi xử lý xong, không nên dùng cặp mắt cáo để ép mẫu lâu Thay vào đó, chỉ ép trong thời gian ngắn để mẫu ổn định vị trí, sau đó bọc bằng giấy báo và cho vào túi polyetylen lớn Mỗi túi có thể chứa nhiều bó mẫu, và cần dùng cồn để làm ướt các tờ báo trước khi buộc chặt lại để chuyển đến nơi có điều kiện sấy khô.

27

Sơ lược về lịch sử hình thành Khu Bảo tồn

Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai đã trải qua 4 giai đoạn hình thành từ khi thành lập các lâm trường Giai đoạn 1 (1977-1992) chứng kiến sự ra đời và hoạt động của các Lâm trường Mã Đà, Vĩnh An và Hiếu Liêm.

+ Giai đoạn 2 (từ 1992 đến 1997): Thành lập các Doanh nghiệp nhà nước là các lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm, Vĩnh An

+ Giai đoạn 3 (từ 1997 đến 2003): Chuyển các Lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm, Vĩnh An thành loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích

+ Giai đoạn 4 (từ 2004 đến nay): Thành lập Khu Dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu

Khu bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai được thành lập vào năm 2004 thông qua việc sáp nhập lâm phần của lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và một phần của lâm trường Vĩnh An Từ tháng 1/2005 đến tháng 8 năm 2010, khu vực này được gọi là Khu bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu Từ tháng 8 năm 2010 cho đến nay, tên gọi chính thức là Khu bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai.

Điều kiện tự nhiên

Từ 11 0 05’10”đến11 0 22’31” vĩ độ Bắc;

Từ 106 0 54’19”đến 107 0 09’03” kinh độ Đông

+ Phía Bắc tiếp giáp huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước với ranh giới sông Mã Đà và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

+ Phía Nam giáp sông Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu, huyện Trảng Bom và huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Phía Đông của khu vực giáp ranh với Vườn Quốc gia Cát Tiên, huyện Tân Phú và huyện Định Quán thuộc tỉnh Đồng Nai.

+ Phía Tây giáp ranh tỉnh Bình Phước với ranh giới sông Mã Đà và tỉnh Bình Dương với ranh giới sông Bé

Khu Bảo tồn tọa lạc ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai, bao gồm các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu, cùng với xã Thanh Sơn.

La Ngà, Phú Cường, Phú Ngọc, Ngọc Định, Túc Trưng thuộc huyện Định Quán; xã Đắc Lua thuộc huyện Tân Phú; xã Thanh Bình thuộc huyện Trảng Bom; và xã Gia Tân thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, nằm cách trung tâm thành phố Biên Hoà khoảng 40 km, thành phố Hồ Chí Minh khoảng 90 km và thành phố Vũng Tàu khoảng 120 km Vị trí này rất thuận lợi cho việc tiếp cận khoa học công nghệ và tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái.

Khu Bảo tồn tọa lạc ở vị trí trung gian giữa cao nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, với địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Phía Bắc của khu vực có những đồi cao đạt độ cao tuyệt đối lên đến 300 m, với sườn dốc 16 độ.

25 0 ; càng về phía Nam có độ cao thấp hơn, khoảng 150 - 200 m, sườn ít dốc 8 - 15 0 ; phía Tây Nam có dạng đồi thấp, độ cao tuyệt đối 80 - 100 m, sườn thoải với độ dốc

11 - 15 0 ; địa hình đồng bằng phân bố ở phía cực Nam với cao trình nơi cao 10 -20 m, nơi thấp từ 1 - 2 m Độ cao lớn nhất là 368 m, độ dốc lớn nhất có thể đến 35 0

Khu Bảo tồn sở hữu sự đa dạng khí hậu và thành phần động, thực vật rừng độc đáo nhờ vào các kiểu địa hình phong phú, tạo nên những điểm khác biệt so với các vùng khác.

Khu Bảo tồn tọa lạc trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa mưa và khô rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong khi mùa khô diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với nhiệt độ cao ổn định suốt cả năm.

- Nhiệt độ không khí trung bình trong năm cao với nhiệt độ bình quân 25 -

27 0 C, chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 4,2 0 C luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Nhiệt độ trung bình tối cao hàng tháng dao động từ 29 đến 35 độ C, trong khi nhiệt độ tối thấp trung bình hàng năm nằm trong khoảng 18 đến 25 độ C Độ ẩm tương đối đạt từ 80 đến 82%, và khu vực này hiếm khi có gió bão cũng như sương muối.

Lượng mưa tại khu vực này dao động từ 2.000 - 2.800 mm, tạo thành ba vành đai chính: (i) vành đai phía Bắc giáp Bình Phước với lượng mưa rất cao (> 2.800 mm) và 150 - 160 ngày mưa; (ii) vành đai trung tâm có lượng mưa 2.400 - 2.800 mm và 130 - 150 ngày mưa; (iii) vành đai phía Nam có lượng mưa thấp nhất nhưng vẫn đạt 2.000 - 2.400 mm Mùa khô chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa hàng năm, trong khi lượng bốc hơi cao, khoảng 64 - 67% Mùa mưa tập trung 90% tổng lượng mưa, với 4 tháng mưa lớn chiếm 62 - 63% tổng lượng mưa cả năm, trong khi bốc hơi và nhiệt độ thấp hơn vào mùa khô.

Chế độ thuỷ văn của Khu Bảo tồn chịu sự chi phối bởi hệ thống sông suối trên địa bàn, chế độ mưa tại chỗ và hồ Trị An

Sông Đồng Nai có một mạng lưới sông suối phát triển với hơn 60 nhánh Hàm lượng phù sa trong sông rất thấp, với độ đục trung bình từ 15 đến 30 g/m³, cho thấy sự xâm thực của các dòng chảy đổ vào sông Đồng Nai là yếu, dẫn đến hiện tượng lắng đọng phù sa ít.

Trong mùa khô, lượng nước chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng nước trong năm, dẫn đến dòng chảy thấp và mực nước sông Đồng Nai giảm Điều này đã hạn chế khả năng cung cấp nước, gây ra tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.

Mùa mưa trên sông Đồng Nai thường gây ra lũ lớn, đặc biệt là ở những khu vực địa hình thấp thuộc hạ lưu Hiện tượng ngập úng thường xảy ra, nhất là trong những năm có mưa lớn và hồ Trị An xả nước ở mức tối đa.

Khu vực này có nhiều sông, suối nhỏ chảy vào sông Bé và hồ Trị An, như suối Ràng, suối Linh, suối Cây Sung, suối Sai, và suối Bàu Hào Hầu hết các suối nhỏ chỉ có nước trong mùa mưa và thường cạn kiệt vào mùa khô.

Hồ Trị An có diện tích mặt nước biến động theo từng tháng do điều tiết phục vụ thủy điện Diện tích lớn nhất đạt 32.400 ha ở cao trình 62 m vào tháng 10 đến tháng 12, với thể tích khoảng 2,8 tỷ m³ Diện tích mặt nước trung bình cho nuôi trồng thủy sản hiệu quả là 25.000 ha ở cao trình 56 m vào tháng 1 - 2 và tháng 8 - 9 Diện tích nhỏ nhất là 7.500 ha ở cao trình 49 m vào tháng 5 - 6, với thể tích 213 triệu m³ Hồ có mức nước sâu trung bình 8,5 m (nơi sâu nhất 28 m), chiều dài khoảng 44 km, chiều rộng 8 km, và diện tích lưu vực khoảng 15.400 km² (Số liệu Công ty Thủy điện Trị An, 2010).

Ngoài hồ Trị An, khu vực còn có hồ Bà Hào với diện tích hơn 400 ha và hồ Vườn ươm rộng trên 20 ha, cả hai hồ này đều duy trì mực nước ổn định, phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Khu Bảo tồn.

Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 do Phân viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp miền Nam thực hiện vào năm 2003, Khu Bảo tồn có những đặc điểm quan trọng về đất đai.

4 nhóm đất chính và 5 đơn vị bản đồ đất

3.2 Bảng phân loại đất tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hoá ĐN

1 Ru Đất nâu thẩm trên bazan Epilithi - Chromic

II NHÓM ĐẤT XÁM ACRISOLS 1.360,1 1,4

1 Xg Đất xám Gley Veti - Gleyic

1 Fp Đất nâu vàng trên phù Haplic Acrisols 38.666,5 39,8 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si sa cổ

2 Fs Đất đỏ vàng trên phiến sét Hyperferric Acrisols 17.293,1 17,8

3 Fk Đất nâu đỏ trên bazan Rhodic Ferralsols 7.092,1 7,3

(Nguồn: Phân viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp miền Nam, năm 2003)

Điều kiện kinh tế - Xã hội

3.3.1 Dân số, phân bố dân cư và lao động

Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế năm 2009, trong khu vực có 5.415 hộ với khoảng 24.180 nhân khẩu đang sinh sống

Phân bố dân số theo đơn vị hành chính quản lý:

- Xã Mã Đà : 1.727 hộ - 7.621 khẩu - 07 ấp dân cư

- Xã Hiếu Liêm : 1.036 hộ - 4.930 khẩu - 04 ấp dân cư

- Xã Phú Lý : 2.652 hộ - 11.629 khẩu - 09 ấp dân cư Phân bố dân số theo thành phần dân tộc:

- Dân tộc khác : 31 hộ, chiếm 0,57%

Khu vực này có sự hiện diện của nhiều thành phần dân tộc, trong đó dân tộc Chơro là dân bản địa lâu đời tại xã Phú Lý Ngoài ra, cư dân còn đến từ nhiều địa phương khác nhau trên cả nước, thông qua các hình thức di cư như di dân tự do, lao động tại hồ Trị An, cán bộ công nhân viên lâm trường, và công nhân xây dựng thủy điện Trị An Bên cạnh đó, Việt kiều Campuchia hồi hương và dân khai phá vùng kinh tế mới cũng góp phần hình thành một cộng đồng dân cư đa dạng với nhiều nét văn hóa đặc trưng trong khu vực.

Tổng số lao động trong độ tuổi lao động là 14.673 người, trong đó hơn 95% là lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, trong khi phần còn lại làm việc trong thương mại, dịch vụ và các lĩnh vực khác.

Đa số lao động hiện nay có trình độ văn hóa từ tiểu học đến trung học cơ sở, trong khi một số ít có trình độ trung học phổ thông Hầu hết lao động không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật và chủ yếu làm việc trong các ngành nghề chân tay.

Đời sống kinh tế của người dân nơi đây gặp nhiều khó khăn do trình độ dân trí thấp và điều kiện văn hóa, thông tin hạn chế Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với kỹ thuật canh tác chưa cao, dẫn đến sản lượng thu hoạch phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, gây ra sự bấp bênh trong đời sống Hơn nữa, tình trạng săn bắt, lấy cắp lâm sản và lấn rừng làm rẫy vẫn diễn ra, gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trong Khu Bảo tồn.

3.3.2 Tình hình kinh tế 3.3.2.1 Sản xuất nông nghiệp a Trồng trọt

Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, với khoảng 90-95% dân số sống bằng nghề nông Dân cư đa dạng từ khắp nơi, tạo nên những tập quán canh tác phong phú Hệ thống canh tác đang chuyển từ độc canh sang xen canh giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày, nhưng vẫn mang tính tự phát, kém bền vững và năng suất thấp Thêm vào đó, sự biến động giá cả thị trường và thiếu dịch vụ đầu ra ổn định làm giảm hiệu quả kinh tế, ngay cả trong những năm được mùa.

Một số loài cây thường được trồng ở địa phương:

Các loài cây trồng lâu năm chủ yếu bao gồm Điều, các loại xoài như Xoài ba mùa, Xoài cát Hòa lộc, và Xoài tượng, cùng với một số cây ăn quả khác như Nhãn, Chôm chôm, Sầu riêng, Cà phê, Cam, Quýt, và Tiêu Cây màu chủ yếu là Mỳ, Bắp, và Đậu, trong khi cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu là Mía Tuy nhiên, một số rẫy nằm sâu trong vùng lõi có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học do tiếng ồn và hóa chất trong quá trình canh tác.

Cây Điều là nông sản chủ yếu của địa phương, nhưng năng suất thấp do đất xấu, giống cây không rõ nguồn gốc và thiếu đầu tư thâm canh Trong khi đó, cây Xoài chủ yếu là giống ba mùa, có năng suất cao (7 - 9 tấn/ha) nhưng chất lượng và giá bán lại thấp Từ năm 2000, một số hộ dân đã phát triển giống xoài chất lượng cao như Xoài cát Hòa lộc và Xoài Thái Lan, nâng cao giá trị vườn cây.

Cây ngắn ngày chủ yếu bao gồm mỳ, với diện tích trồng không lớn và thường được trồng xen kẽ trên các khu vực cây dài ngày và rừng trồng trong những năm đầu Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng là một hoạt động quan trọng trong khu vực này.

Chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng cho người dân địa phương, nhưng vẫn chậm phát triển và không cân đối với ngành trồng trọt Hình thức chăn nuôi chủ yếu là hộ gia đình với gia súc và gia cầm Gần đây, dịch cúm gia cầm và biến động giá cả đã khiến người dân dè dặt trong đầu tư, làm cho ngành chăn nuôi chưa phát triển Nhiều khu vực vẫn còn tình trạng nuôi gia súc, gia cầm thả rông, gây khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ rừng.

Tại xã Hiếu Liêm, có 91 hộ người Kinh đầu tư chăn nuôi hươu, nai lấy nhung, với tổng số 555 nai xám và 28 hươu sao Hình thức nuôi chủ yếu là tự phát, với đa phần các hộ nuôi từ 3-7 con, trong đó có 14 hộ nuôi từ 10 con trở lên Mức đầu tư cho con giống khá cao, trung bình 10 triệu đồng cho hươu và 20 triệu đồng cho nai, nên chủ yếu tập trung ở những hộ có kinh tế khá Hiện có 7 hộ đã liên kết thành lập Hợp tác xã Dịch vụ hỗ trợ chăn nuôi hươu, nai với vốn điều lệ 3 tỷ đồng, giúp ổn định hoạt động chăn nuôi, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua hỗ trợ vốn, kỹ thuật và phát triển sản phẩm có thương hiệu.

Công tác nuôi trồng thủy sản tại hồ Trị An chủ yếu tập trung vào việc thả cá giống bổ sung, nhằm nâng cao năng suất sản lượng thủy sản và cải thiện chất lượng nước, giảm thiểu ô nhiễm Số lượng cá giống được thả nuôi qua các năm đã góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của hệ sinh thái hồ.

Từ năm 1995 đến 2010, đã có 20,6 triệu con cá giống được thả vào hồ, cùng với khoảng 699 bè nuôi cá của ngư dân, chủ yếu là các loại cá như cá Lóc, Diêu hồng và Chép, với năng suất bình quân đạt 45 - 60 kg/m³ và tổng sản lượng hàng năm khoảng 700 - 800 tấn Nghề nuôi cá bè đã mang lại thu nhập lớn cho người dân, nhưng do việc neo đậu tập trung và thiếu quy hoạch, đã dẫn đến ô nhiễm cục bộ và dịch bệnh lây lan nhanh, gây thiệt hại cho kinh tế hộ nuôi Việc khai thác cá giống và cá chưa đủ kích thước để nuôi các loài cá ăn thức ăn tươi sống như Lóc đồng, Lóc bông đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản của hồ Đặc biệt, việc nuôi các giống thủy sản lạ như cá Hoàng Đế (Cichla ocellaris) và cá Tỳ Bà (Hypostomus sp) cần được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ môi trường tự nhiên.

Trước đây, các lâm trường đã giao khoán đất lâm nghiệp cho người dân theo Nghị định 01/CP, nhằm mục đích trồng rừng tự trồng tự hưởng và thực hiện theo chương trình 327.

Trước đây, cây trồng chủ yếu là Tràm bông vàng và một ít cây Xà cừ, Xoan Từ năm 2000, nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhiều hộ đã chuyển sang trồng giống cây Keo lai giâm hom, nổi bật với khả năng sinh trưởng mạnh mẽ, chu kỳ kinh doanh ngắn và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng rừng.

Người dân địa phương là lực lượng lao động chính thực hiện các công trình lâm sinh hàng năm tại Khu bảo tồn, bao gồm trồng rừng, chăm sóc rừng trồng và xử lý thực bì PCCCR Hoạt động này không chỉ tạo ra nhiều việc làm mà còn góp phần cải thiện thu nhập cho nhiều hộ dân trong xã.

Hiện trạng tài nguyên rừng

Căn cứ vào chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng tại quyết định số 4505/QĐ-UBND ngày 29/12/2008 và quyết định số 1977/QĐ-UBND ngày 16/7/2009, liên quan đến việc sáp nhập Trung tâm Thủy sản Đồng Nai vào Khu bảo tồn.

3.4 Bảng hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của Khu BTTN - VH ĐN Đơn vị tính Ha

Loại đất loại rừng Tổng diện tích

Theo quy hoạch 3 loại rừng Ngoài 3 loại rừng Rừng đặc dụng

Rừng sản xuất Diện tích tự nhiên 100.303,3 59.809,9 8.093,4 32.400

1.1.1 Rừng gỗ lá rộng 44.141,8 43.060,9 1.081,0 a Rừng trung bình 3.372,3 3.370,1 2,2 b Rừng nghèo 17.670,4 17.439,2 231,2 c Rừng phục hồi 23.099,1 22.251,5 847,6

1.1.3 Rừng hỗn giao gỗ - lồ ô 7.746,0 7.447,2 298,8

3.2 Nông nghiệp trong LN 3.981,4 1.365,7 2.615,7 3.3 Các loại đất khác trong LN

(đường sá, sông suối, ao, ….) 2.185,7 976,1 1.209,6

II Đất ngập nước nội địa hồ Trị

Khu Bảo tồn có sự đa dạng về loại hình sử dụng đất, bao gồm rừng đặc dụng, rừng sản xuất và đất ngập nước nội địa hồ Trị An.

Khu Bảo tồn sở hữu tài nguyên thực vật rừng đa dạng và phong phú, với nhiều loài quý hiếm được ghi nhận trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Sách Đỏ IUCN năm 2009 Nơi đây có nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế cao như Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Gõ mật (Sindora siamensis), Cẩm lai bông (Dalbergia bariaensis), Cẩm lai vú (Dalbergia mammosa), Dáng hương trái to (Pterocarpus macrocarpus), Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) và Vên vên (Anisoptera costata).

Chò chai (Hopea recopei) là một trong nhiều loài thực vật đặc hữu của Việt Nam, bao gồm các loài như Lăng yên Nam bộ (Callerya cochinchinensis), Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis) và Xú hương núi Dinh (Lasianthus dinhensis) Tại Đồng Nai, có những loài đặc hữu như Giác đế Đồng Nai (Goniothalamus dongnaiensis), Diệp hạ châu Biên Hòa (Phyllanthus collinsae), Cù đèn Đồng Nai (Croton dongnaiensis), Mót Đồng Nai (Cynometra dongnaiensis), Ngâu Biên Hòa (Aglaia hoaensis) và Xú hương Biên Hòa (Lasianthus hoaensis) Nhiều loài trong số này được sử dụng để phòng và chữa bệnh.

Khu Bảo tồn sở hữu sự đa dạng phong phú về thành phần loài, bao gồm các loài quý hiếm và đặc hữu Tài nguyên thực vật rừng tại đây được thể hiện qua sự phân bố của 15 xã hợp thực vật thuộc 3 kiểu rừng chính.

- Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới (Rkx) + Ưu hợp họ Dầu (Dipterocarpaceae) + họ Nhãn (Sapindaceae) + họ sim (Myrtaceae)

+ Ưu hợp họ Dầu (Dipterocarpaceae) + họ Nhãn (Sapindaceae) + họ Hồng (Ebenaceae) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

+ Ưu hợp chi Trường (Xerospermum) + chi Thị (Diospyros) + chi Trâm (Syzygium)

+ Ưu hợp Xuân thôn (Swintonia floribunda) + chi Chai (Shorea) + chi Trường (Xerospermum)

+ Ưu hợp chi Trường (Xerospermum) + chi Trâm (Syzygium) + Lồ ô (Bambusa procera)

+ Quần hợp Tràm (Melaleuca cajuputi Powel.)

+ Quần hợp Lồ ô (Bambusa procera Chev.& Camus)

+ Ưu hợp cỏ tranh (Imperata cylindrica) + chi Sầm (Memecylon) + chi Mua (Melastoma)

+ Quần hợp Keo lá tràm (Acacia auriculaeformis A Cunn ex Benth.) + Ưu hợp Keo (Acacia) + cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) + cây họ Đậu (Fabaceae)

+ Quần hợp Bạch đàn (Eucalyptus)

- Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới (Rkn) + Ưu hợp chi Bằng lăng (Lagerstroemia) + chi Trường (Xerospermum) + chi Trâm (Syzygium)

+ Ưu hợp Lười Ươi (Scaphium macropodium) + Xuân thôn (Swintonia floribunda) + Lồ ô (Bambusa procera)

- Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (Rkr) + Quần hợp Dầu lông (Dipterocarpus intricatus Dyer.)

+ Quần hợp Giá tị (Tectona grandis L.f.).

Hiện trạng và tình hình sử dụng tài nguyên rừng

Khu bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai là nơi bảo tồn nhiều diện tích rừng nguyên sinh, chủ yếu là các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) với trữ lượng lớn Những cánh rừng này trải rộng trên lưu vực sông Đồng Nai và từng là Chiến khu Đ nổi tiếng trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, hiện nay đã trở thành di tích lịch sử.

Trước năm 1975, rừng Việt Nam bị tàn phá nặng nề do chiến tranh Sau đó, các lâm trường được thành lập để khai thác gỗ phục vụ phát triển kinh tế Từ 1975 đến 1995, nước ta mất 2,8 triệu ha rừng tự nhiên, trung bình 140.000 ha mỗi năm, trong đó vùng Đông Nam Bộ, bao gồm Đồng Nai, mất 300.000 ha Về chất lượng rừng, các điều tra cho thấy loài cây Họ Dầu chiếm ưu thế với 40,5% ở rừng IIIA 1, 28% ở rừng IIB và 33% ở rừng IIA, phản ánh sự vượt trội của chúng trong cấu trúc rừng tự nhiên và mục tiêu khôi phục tự nhiên.

Từ năm 1995, theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Đồng Nai đã thực hiện việc “đóng cửa rừng”, đánh dấu giai đoạn “ngủ yên” của rừng tự nhiên để tự phục hồi sau thời gian dài bị tác động nặng nề Mặc dù rừng không thể trở lại như nguyên sinh, nhưng may mắn là cấu trúc rừng tự nhiên còn lại với 3 tầng rừng, vẫn là nơi trú ngụ cho các loài động vật hoang dã.

Rừng trong Khu Bảo tồn đã trải qua quá trình diễn thế do tác động của con người, chuyển từ rừng nguyên sinh cây họ Dầu sang rừng thứ sinh nghèo và phục hồi.

43

69

Ngày đăng: 21/07/2023, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân, (1997). Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam. NxbNông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: NxbNông nghiệp
Năm: 1997
2. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên), (2003-2005). Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003-2005
3. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên), (2003-2005). Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003-2005
4. Bộ NN – PTNT, Birdlife Intertional in Indichina (2004), Thông tin các khu bảo vệ và đề xuất ở Việt Nam, tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin các khu bảo vệ và đề xuất ở Việt Nam
Tác giả: Bộ NN – PTNT, Birdlife International in Indichina
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
5. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (2007). Sách đỏ Việt Nam. Phần II – Thực vật. Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam. Phần II – Thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
6. Bộ Lâm nghiệp (1971 – 1988), Cây gỗ rừng Việt Nam, tập 1 – 7, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây gỗ rừng Việt Nam, tập 1 – 7
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1971 – 1988
7. Bộ NN – PTNT, Chương trình dự án Lâm nghiệp xã hội Việt Nam – Thụy Điển (2002), “Phương pháp giảng dạy có sự tham gia LCTM”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy có sự tham gia LCTM
Tác giả: Bộ NN – PTNT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
8. Bộ NN – PTNT, Cục Kiểm lâm (1997), Báo cáo tổng kết công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng
Tác giả: Bộ NN – PTNT, Cục Kiểm lâm
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997
9. Bộ NN – PTNT, Cục Kiểm lâm (2000), Quyết định số 14/2002/QĐ/BNN – KL ngày 27/02/2002, Danh mục các loài động thực vật hoang dã nguy cấp buôn bán thương mại quốc tế (CITES), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loài động thực vật hoang dã nguy cấp buôn bán thương mại quốc tế (CITES)
Tác giả: Bộ NN – PTNT, Cục Kiểm lâm
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
10. Bộ NN – PTNT, Cục Kiểm lâm (2002), Báo cáo quốc gia về khu bảo tồn và phát triển kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia về khu bảo tồn và phát triển kinh tế
Tác giả: Bộ NN – PTNT, Cục Kiểm lâm
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
11. Bộ NN & PTNT, (2000). Tên cây rừng Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội 12. Lê Trần Chấn,1999. Một số đặc điểm cơ bản của Hệ thực vật Việt Nam. NXBKH & KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Bộ NN & PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
13. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y Học, Tp. Hồ Chí Minh. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb Y Học
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm