1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) điều tra, đánh giá tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia vũ quang, tỉnh hà tĩnh

64 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra, đánh giá tài nguyên cây thuốc ở Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Hoàng Minh Nguyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Minh Hợi
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 568,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua nhiều thế hệ, con người mới tổng kết được những phương pháp khai thác, chế biến và sử dụng những loài cây, con làm thuốc, những hiểu biết này chưa được công bố mà nó chỉ tồn tại

Trang 1

HOÀNG MINH NGUYÊN

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG,

TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội 2008luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 2

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG,

TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Chuyên nghành: Quản lý tài nguyên rừng

Mã số: 06 62 68

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Minh Hợi

Hà Nội 2008

Trang 3

đặc biệt đối với những sinh viên tỉnh lẻ.

Nhân dịp này tôi xin dành một phút tưởng niệm và nhắc lại lời cảm ơn với Thầy giáo PGS.TS Phạm Nhật, người Thầy đầu tiên đã dìu dắt tôi trên con

đường làm khoa học.

Tôi xin cảm ơn Thầy Giáo GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn-ĐHQG Hà Nội, Thầy giáo TS Phạm Văn Điển-ĐHLN, Ks Lê Vũ Thảo-Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng, những người đã truyền những kiến thức cơ bản về nghiên cứu thực vật.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý VQG Vũ Quang, Ks Trần

Văn Song, đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi tiếp cận và làm việc trên địa bàn.

Cuối cùng Tôi xin cảm ơn gia đình Tôi, Cô Nguyễn Thị Huyền những

người đã giúp đỡ về mặt tài chính và động viên tinh thần những lúc khó khăn

nhất.

Tự nhiên là cuốn sách không có trang cuối cùng, với trình độ chuyên môn

có hạn, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến đóng góp của các Thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18, tháng 8 năm 2008

Tác giả

Hoàng Minh Nguyênluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 4

CỨU……… 10

2.1 Mục tiêu……… 10

2.2 Nội dung ………. 10

2.3 Phương pháp nghiên cứu……… 10

Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận…… ………. 15

Luận điểm khoa học ……….……….… ………… 19

Chương 3- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU……… 16

3.1 Điều kiện tự nhiên……… 16

3.1.1 Ranh giới ……… 16

3.1.2 Vị trí địa lý……… 16

3.1.3 Địa hình……… 16

3.1.4 Đất đai……… 17

3.1.5 Khí hậu, thủy văn ……… 17

3.1.6 Thảm thực vật……… 17

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội ………. 18

3.2.1 Dân số, dân tộc ……… 18

3.2.2 Thu nhập và đời sống ……… 18

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 21

4.1 Đa dạng về thành phần loài ……… 21

4.2 Đa dạng về dạng sống ……… 21

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 5

4.3.2 Đa dạng phương pháp chế biến ……….……… 30

4.3.3 Bộ phận sử dụng ………. 31

4.3.4 Những bài thuốc theo kinh nghiệm của người dân địa phương ……… 33

4.4 Đa dạng về nguồn gốc ……… 35

4.5 Phân bố cây thuốc ……… 37

4.5.1 Phân bố cây thuốc theo môi trường sống … 37

4.5.2 Phân bố của các loài theo các dạng thảm thực vật…… 38

4.6 Các loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng tại VQG Vũ Quang. 43 4.7 Các loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao ở VQG Vũ Quang…… 44

4.8 Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở VQG Vũ Quang……….

46 4.8.1 Thực trạng quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn……… 47

4.8.2 Thực trạng và tiềm năng phát triển cây thuốc ở VQG Vũ quang ……… 49

4.8.3 Các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng…… 50

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………. 54

Kết luận……… 55

Kiến nghị ………. 56

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 6

ĐDSH Đa dạng sinh học

ICDP Chương trình phát triển cộng đồng

KBTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên

NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 7

TT Nội dung Trang

2.2 Giá trị xuất nhập khẩu nguồn dược liệu trong những năm trước

4.10 Tần số loài theo số lượng công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc ở VQG Vũ

4.15 Phân bố của các loài cây thuốc theo môi trường sống ở VQG Vũ

Quang……… 37

4.16 Các loài cây thuốc có giá trị cao về mặt bảo tồn ở VQG Vũ Quang 43

4.18 Lựa chọn tập đoàn cây trồng để phát triển TNCT ……… 52

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 8

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đa dạng sinh học (ĐDSH) có một vai trò cực kì to lớn đối với con người,

đó là điều không thể phủ nhận Từ xa xưa, con người đã sử dùng nguồn tài

nguyên này cho nhiều mục đích khác nhau để phục vụ đời sống như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nơi ở, và ngay cả những hoạt động tinh thần như phong tục tập quán, nghệ thuật - thi ca, hội hoạ cũng đều xuất phát từ mối liên

hệ giữa con người và những sinh vật xung quanh, “Hệ thống giá trị của hầu hết tôn giáo, triết học đã cung cấp và biện hộ cho sự hiểu biết của con người về bảo tồn loài” [23] Trong các nhu cầu cơ bản của con người thì chữa bệnh là một

điều hết sức quan trọng, đây là vấn đề mà bất cứ dân tộc nào, cá nhân nào cũng

phải quan tâm, đặc biệt khi xã hội loài người đang ở giai đoạn mà khoa học chưa phát triển, chưa có những loại thuốc tây y (theo cách gọi hiện nay) thì con người chỉ dựa hoàn toàn vào những vị thuốc lấy từ thiên nhiên Trải qua nhiều thế hệ,

con người mới tổng kết được những phương pháp khai thác, chế biến và sử dụng

những loài cây, con làm thuốc, những hiểu biết này chưa được công bố mà nó chỉ tồn tại ở những nhóm nhỏ người sống trong các bản làng ở vùng rừng núi và

ta gọi chúng là kiến thức bản địa Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta đã xem nhẹ cách chữa bệnh truyền thống để tôn vinh những sản phẩm được bào chế chủ yếu từ các chất hoá học - thuốc tây hiện nay, “trong hoạt động bảo tồn

ĐDSH thì những kiến thức bản địa cần phải được đánh giá ngang tầm với những

hệ thống kiến thức khác” [37] Cả Đông y và Tây y đều có vai trò rất lớn trong

sự tiến bộ của loài người và tài nguyên thực vật không những là nguồn nguyên liệu chủ yếu trong Đông y mà nó cũng rất quan trong trong Tây y Theo Lancet (1994) thì có hơn 25% đơn thuốc ở tổ chức các nước hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) và khoảng 60% đơn thuốc ở Đông Âu vẫn bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật bậc cao [40] Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam như

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 10

hiện nay thì sự phân hoá giàu nghèo, mức sống giữa những cá nhân, các vùng miền ở đồng bằng và miền ngược có sự chênh lệch rất lớn, do đó không phải ai cũng có điều kiện để có thể tiếp cận được với những dịch vụ y tế đắt tiền, y học dân tộc có thể đảm đương được một phần rất lớn để giải quyết vấn đề này, vì khả

năng chữa bệnh của chúng là điều không thể phủ nhận, không phải cứ nhất thiết

phải dùng hoá phân tích một cách rõ ràng rồi mới dùng, chúng ta không đợi nghiên cứu xong rồi mới đem ra áp dụng vì “những kinh nghiệm chữa bệnh của

ông cha đã được chứng minh trên người thực, bệnh thực từ bao đời nay rồi” [20].

Mặt khác trong những năm qua, nhà nước ta cũng xác định cần phải phối hợp

Đông và Tây y mới có thể đem lại những lợi ích cho cả cộng đồng, như vậy xã

hội chúng ta đã thừa nhận và coi trọng y học cổ truyền Việt Nam có điều kiện tự nhiên nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho các loài thực vật phân bố và nước ta

được xem là một trong những trung tâm ĐDSH của thế giới Theo thống kê của

Viện Dược liệu - Bộ Y tế, từ năm 1961-2004, ở Việt Nam có khoảng 3.948 loài thực vật và nấm, thuộc 307 họ có giá trị sử dụng làm thuốc, trong đó khoảng 80% là những loài cây thuốc mọc tự nhiên trong rừng, nhưng hiện nay những khu rừng nhiệt đới đa dạng, nơi sinh sống lý tưởng cho những loài này đang bị thu hẹp với một tốc độ nhanh chóng, chỉ còn lại một diện tích rất nhỏ ở trong những khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia Những khu rừng này được ví

như những ốc đảo nhỏ bé nằm trên sa mạc của sự tàn phá, quy mô về diện tích

cũng như số lượng của các khu bảo tồn ngày càng được tăng lên nhưng chất

lượng của chúng lại ngược lại, do đó chúng ta cần phải hành động ngay để cứu

lấy tài nguyên ĐDSH nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng Cần phải xác

định được các đặc điểm của đối tượng từ đó mới có những ưu tiên và phương

pháp bảo tồn thích hợp Trên cơ sở những nghiên cứu về ĐDSH chung, đối với những loài cây thuốc, một yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải nắm được thành

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 11

phần loài và giá trị sử dụng của chúng ở từng VQG và khu bảo tồn thiên nhiên

(BTTN), để từ đó có kế hoạch bảo tồn đi đôi với sử dụng một cách có hiệu quả

cao.

VQG Vũ Quang nằm trong vùng sinh thái Bắc Trường Sơn, có mức độ

ĐDSH rất cao, đặc trưng nhất là kiểu rừng mưa nhiệt đới và rừng nhiệt đới núi

cao Mặt khác, ở đây có một bộ phận dân địa phương bao gồm cả người kinh,

người dân tộc Lào khá đông sinh sống lâu đời ở vùng sâu trong rừng, những kinh

nghiệm sử dụng thuốc của họ chưa được ai quan tâm nghiên cứu Để phục vụ công tác bảo tồn, chúng ta cần phải nắm được thành phần loài, phân bố, công dụng… của cây thuốc từ đó mới có những chiến lược và công cụ hợp lý Xuất

đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH

HỌC VÀ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nền y học cổ truyền dùng cây cỏ để làm thuốc có mặt từ rất sớm ở hầu hết

các nơi trên thế giới Ở miền Địa Trung hải, miền trung châu Âu đã được biết từ

thời Galien, Điốtcôride và Hipôcrat, các thầy thuốc thời trung cổ đã dùng những

cỏ cây, vỏ, rễ… để chữa bệnh, họ đã xây dựng được một nền lý thuyết khá cơ bản, từ đó làm nền tảng cho nền y học hiện đại, một số cây thuốc đó dưới dạng này hay dạng khác được dùng làm nguyên liệu chế các chế phẩm của Tây y.

Nhưng nền y học phương Đông đã sử dụng một số lượng loài làm thuốc lớn hơn

nhiều Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam, trong giai đoạn này đã xuất hiện những nhà khoa học châu Âu để tâm nghiên cứu về nền y học Việt nam,

trong đó phần nhiều họ quan tâm nghiên cứu về thực vật chí và nghiên cứu về

cây thuốc.

Đầu tiên là những bút kí về y học của Tarell và cộng sự sau cuộc viễn du

miền Đông Dương, nhưng đây chỉ mới là những tài liệu rời rạc chưa được công

bố một cách cụ thể Regnault (1902) đã nghiên cứu một cách cụ thể hơn, ông đã cho xuất bản cuốn sách về nền y học cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam, tác phẩm này đã sưu tầm được 494 loài cây làm thuốc, và có tên gọi Latinh Công trình về dược liệu Việt Nam được E.M.Petrot và Paul Hunrier nghiên cứu và cho xuất bản vào năm 1907 Tiếp đó là công trình của nhà thực học người Pháp

Pétélot và Crévost, được xuất bản gồm 2 tập (1952-1953) về “Cây thuốc của

Campuchia, Lào và Việt Nam”[20] Ở Nga, cũng có nhiều nhà thực vật quan tâm nghiên cứu về cây thuốc như I I Brekhman, A F Hammerman, I V.

Gruxvitxki và A A Iaxenko, và đã xuất hiện Dược điển, những công trình nàyluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 13

ghi lại thành phần cây, con làm thuốc và họ đã đưa ra được những phân tích về

phương pháp sử dụng thuốc Đông y so với những vị thuốc quen sử dụng.

Vào năm 2006, Nguyễn Kim Dân đã biên dịch cuốn “ Dược thảo toàn thư”[1] của Andrew Chevallier, trong đó ông đã mô tả về hình thái và công dụng

của hơn 550 loài thực vật làm thuốc trên toàn thế giới, chú trọng vào những loài phân bố rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và mô tả đúng với phương pháp cổ

điển trong việc chế biến và sử dụng.

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Trong những đầu của thế kỉ XX, nhà thực vật học người Pháp H Lecomte

và cộng sự đã giới thiệu bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương, trong đó đã mô

tả, định tên khoa học và lập khoá phân loại cho các loài thực vật có mạch Tiếp

đó, Thái Văn Trừng đã bổ sung và rà soát lại và công bố cuốn “Thảm thực vật

rừng Việt Nam”, trong đó đã thống kê được 7.004 loài thuộc 850 chi và 289

họ[30] Lê Khả Kế và các cộng sự (1969-1976) đã công bố bộ sách “Những cây

cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm có 6 tập[15] Từ năm 1971 đến 1988, Viện

Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập của bộ “ Cây gỗ rừng Việt Nam”, trong đó giới thiệu khá chi tiết các loài[31] Năm 1993, Trần Đình Lý và các

cộng sự đã giới thiệu cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” trong đó đã giới thiệu

1900 loài, gồm các loài thực vật như rau ăn, tinh dầu, dược liệu[21]…Từ năm

1991 đến 1993, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản cuốn “Cây cỏ Việt Nam” [18], bộ

sách này gồm 6 tập được xuất bản tại Canada và được tái bản ở Việt Nam, ông

đã tiến hành khảo sát các mẫu thực vật của Việt Nam tại Bảo tang lịch sử tự

nhiên Paris (Pháp), nên những loài được thống kê là những loài đã có mẫu rõ ràng Bên cạnh đó, bộ sách này còn có hệ thống khoá phân loại được lập một cách công phu Có thể nói đây là một công trình cực kì có giá trị cho những nhà nghiên cứu thực vật và những nhà bảo tồn Năm 1997 Nguyễn Tiến Bân đã biên

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 14

soạn cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ Thực vật Hạt kín ở Việt Nam”

giới thiệu 265 họ, khoảng 2300 chi thuộc ngành Hạt kín ở Việt Nam[2] Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lí dựa trên bảng phân loại của Brummitt

và thống kê được hiện nay Việt Nam có khoảng 11.178 loài thuộc 395 họ và 2.582 chi Tiếp đó, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã xuất bản cuốn “Cẩm nang

Nghiên cứu đa dạng sinh vật”[28], đây là công trình có ý nghĩa rất lớn cho

những người điều tra và nghiên cứu về thực vật, nó giúp người đọc có thể bước

đầu tiếp cận được với phương pháp nghiên cứu và nhận biết các họ thực vật ngay

tại hiện trường.

Trên đây là những công trình nghiên cứu mang tính cơ bản, được thực hiện

cho toàn bộ khu hệ thực vật Việt Nam, để phục vụ cho công tác bảo tồn một cách

có hiệu quả cho một khu vực nhất định như VQG hay khu BTTN thì cần phải

xác định một cách cụ thể các yếu tố như thành phần, phân bố, điều kiện tự nhiên,

kinh tế- xã hội… từ đó mới có những đề xuất sát thực với các điều kiện của các khu bảo tồn.

Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thế kỉ

XIV đời Trần điển hình có danh y Tuệ Tĩnh, ông là tác giả của hai cuốn sách

“Nam dược thần hiệu”, trong đó đã ghi chép 496 cây thuốc và vị thuốc, tập sách

thứ hai là “Hồng nghĩa giác tư y thư” có 600 vị thuốc và cây thuốc nam, sách

của ông đã tổng kết được nhiều bài thuốc và phương pháp chữa bệnh rất có ý nghĩa đối với nền y học nước nhà[20] Tiếp đó là một danh y nổi tiếng Hải

Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, đây là người có ảnh rất lớn đến nền y học cổ

truyền của nước nhà thông qua tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được viết vào năm 1770 và được in ra vào năm 1885, bộ sách gồm 28 tập và chia thành 66 cuốn, trong đó giới thiệu hơn 700 vị thuốc và phương thuốc nam “ Hải

Thượng Lãn Ông đã tiếp thu có phê phán, chọn lọc rồi vận dụng những kiến thứcluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 15

cơ bản vào điều kiện cụ thể về khí hậu, về con người và cả cách suy nghĩ của con người Việt Nam, nhất là lý luận của nền y học Trung Quốc và những thầy thuốc

đi trước, của nhân dân lao động và những người nước ngoài” [20] Nguyễn

Quang Lượng (thế kỉ XIX) trong tác phẩm “Nam dược chí danh truyền” ghi

chép khoảng 500 vị thuốc nam[13] Những tác phẩm này vào thời điểm đó chưa

do chưa tiếp cận được với những tiến bộ trong phân loại học nên vẫn chưa ghi rõ được những loài nào tạo nên những vị thuốc đó Đến 1997, Võ Văn Chi đã cho

xuất bản tác phẩm “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [8] Điển hình có nhà dược liệu học lớn của Việt Nam, giáo sư Đỗ Tất lợi, ông đã cho ra đời tác phẩm

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (1962-1965), trong bộ sách này đã

trình bày khoảng 430 loài thực vật thuộc 116 họ khác nhau và đến năm 2006, ông lại bổ sung và hoàn thiện thêm và cho ấn hành tác phẩm cùng tên, trong đó trình bày đầy đủ tên khoa học, mô tả chi tiết về hình thái, cấu tạo hoá học, công dụng của 670 loài thuộc 172 họ[20] Có thể nói đây là tác phẩm đầy đủ nhất về thực vật làm thuốc ở Việt Nam hiện nay, nó đã tổng hợp được những kinh nghiệm quý báu từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước, đây là cẩm nang

có ý nghĩa rất lớn đối với những người làm nghề y, những nhà nghiên cứu thực vật học, những nhà bảo tồn sinh vật Bên cạnh đó, ông còn phối hợp với nhiều tác giả khác nghiên cứu những đề tài khác đi sâu hơn về y học như nghiên cứu nhân sâm, ba kích, sa nhân Tiếp đến năm 1998, Quý Ngưu và Trần Như Đức cho xuất bản cuốn “Cây thuốc quanh ta”[22], trong đó thống kế khoảng 400 loài

và hơn 100 bài thuốc khác nhau về tác dụng chữa bệnh Vào năm 2004, Nguyễn Văn Tập có tài liệu tham luận về “Một số vấn đề phát triển cây thuốc ở Việt Nam

hiện nay”[26], trong đó đã chỉ ra phương hướng mới cho tương lai, gắn liền giữa bảo tồn và phát triển Vào đầu tháng 4/2006, Nhà xuất bản trẻ cho xuất bản cuốn

“Cây có vị thuốc ở Việt Nam” [19] của Phạm Hoàng Hộ, trong đó ông đã đưa raluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 16

hơn 2010 loài cây thuốc khác nhau, trong đó đi sâu vào việc mô tả hình thái, chỉ

mới nêu ra mặt công dụng Khu BTTN Pù Huống (2006) đã tiến hành đề tài

“Điều tra khảo sát đánh giá tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Pù Huống” [16],

đề tài đã đưa ra 374 loài thực vật làm thuốc thuộc 5 ngành, 124 họ và 286 chi.

Mới đây nhất vào năm 2007, nhà xuất bản Hà Nội cho xuất bản cuốn “Cây thuốc, Vị thuốc, Bài thuốc Việt Nam”[6] của hai dược sỹ Tào Duy Cần và Trần

Sỹ Viên, trong đó đã thống kê được 380 loài cây thuốc và 161 bài thuốc chữa

được nhiều nhóm bệnh khác nhau.

Trên đây là những nghiên cứu điển hình đi trước có ý nghĩa lớn về y học, bao gồm những thông tin như thành phần, mô tả hình thái, công dụng.

Nghiên cứu ở VQG Vũ Quang

VQG Vũ Quang đã được quan tâm nghiên cứu từ năm 1992 với các công trình điển hình như:

Vào tháng 5/1992, đoàn nghiên cứu gồm Bộ NN&PTNT, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Vinh và WWF đã khảo sát các loài chim, thú, bò sát, lưỡng cư, bướm và các loài thực vật.

Tháng 2-3/1993, Danh mục đầu tiên về các loài thú, chim, bò sát, lưỡng

cư, cá, bướm và thực vật đã được Viện điều tra quy hoạch rừng và WWF tiến hành.

Tháng 1/1999, WWF đã tiến hành khảo sát hệ thực vật Vũ Quang và lưu

dữ tiêu bản ở phòng thực vật.

Nghiên cứu điển hình về thực vât được A Kuznetsov và Vũ Văn Dũng tổng hợp và công bố trong cuốn “Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên, Khu Bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang”[11] với tổng số 423 loài thực vật Năm

2005, “dự án đầu tư xây dựng và phát triển VQG Vũ Quang”[24], do Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung bộ đã công bố 523 loài thực vật khác nhau.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 17

Ngoài ra có những đề tài nghiên cứu ở cấp độ nhỏ hơn như: đề tài “hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã Hương Điền, thuộc VQG Vũ Quang”[17], do Phan Thị Thuý Hà thực hiện đã xác định được 349 loài, thuộc 215 chi và 79 họ, trong 349 loài Hiện tại Đinh Trần Tân đang thực hiện đề tài “ Đánh giá tính đa dạng thực vật của VQG Vũ Quang”, bước đầu đã phát hiện thêm 48 loài mới để bổ sung vào bảng danh lục thực vật của vườn.

Nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc tại khu vực hiện nay chưa có một tài liệu nào đề cập tới Cũng vì lý do đó, để giải quyết yêu cầu về mặt lý luận, đề tài này tiến hành là hết sức cần thiết.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 18

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

- Nắm được những thông tin về thành phần loài, công dụng, phân bố, giá trị của các loài cây thuốc.

- Tổng kết kinh nghiệm về thu hái, chế biến và sử dụng các loài cây làm thuốc của cộng đồng địa phương.

- Xác định được thực trạng về quản lý tài nguyên rừng và tài nguyên cây thuốc ở VQG Vũ Quang.

- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật và kinh tế - xã hội để bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc.

2.2 Nội dung

- Đánh giá đa dạng các taxon cây thuốc (Đa dạng cấp độ ngành, họ, chi)

- Đặc điểm làm thuốc ( Công dụng, chế biến…)

- Đánh giá phân bố của các loài cây thuốc (Phân bố theo môi trường sống, theo các dạng sinh cảnh)

- Các loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

- Các loài thuốc có giá trị hàng hoá cao

- Các giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc

2.3 Phương pháp nghiên cứu

* Khảo sát thực địa: về cơ bản cũng giống như phương pháp điều tra thực

vật chung, nhưng nó có một số đặc điểm khác như điều tra cây thuốc cần phải có thêm những thông tin như: Công dụng, cách khai thác, chế biến….Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra cây thuốc của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) Đặc điểm chung của những phương pháp này là thống kê tất cả các cây thuốc hiện có trên các tuyến điều tra, đi từ thấp lên cao qua các kiểu rừng, khe suối.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 19

* Phương pháp PRA: cần phải kết hợp cả phương pháp này để phát huy tối

đa năng lực của cộng đồng thông qua sự tham gia tích cực của họ vào hoạt động điều tra trên thực địa, đồng thời phân tích những áp lực lên tài nguyên rừng và

tìm các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc.

* Phương pháp RRA (phương pháp điều tra nhanh nông thôn): Đây là

phương pháp để khai thác những thông tin thông qua phỏng vấn những cá nhân

và gia đình bằng nhiều câu hỏi như: Cây thuốc nào mà bác biết cách sử dụng? nó

có ở đâu?, khai thác nó như thế nào? nó có bán đắt không?

* Công tác ngoại nghiệp

- Thu hái và xử lý mẫu

Phải xác định rõ ràng mục tiêu chính của công tác điều tra là: Điều tra thành phần loài, phân bố, trữ lượng, công dụng, cách chế biến và sử dụng thuốc

trong nhân dân, đây là cơ sở để phân bổ nhân lực, xác định tuyến và tìm hiểu

những thông tin cần thiết.

- Lựa chọn địa bàn nghiên cứu và lập tuyến điều tra

Để tiếp cận được những thông tin có giá trị cần phải lựa chọn những địa điểm và vị trí tuân theo những nguyên tắc như: chọn những khu vực của người

dân trong những địa bàn xa trung tâm vì đây là khu vực còn ít nghiên cứu, mặt khác họ là những người sống gần với rừng nhất và trải qua quá trình sinh sống nhiều đời phụ thuộc vào rừng họ sẽ có nhiều kinh nghiệm quý về cây thuốc.

+ Công tác chuẩn bị: Những tài liệu về danh lục thực vật đã có ở khu vực

VQG Vũ Quang như: Danh lục thực vật VQG Vũ Quang…, Xác định những loài

định tìm thông qua tài liệu mô tả, hình vẽ hoặc xem tiêu bản khô nếu có, để hình dung được chúng ngoài thực địa, xác định vị trí địa lý khảo sát Khi điều tra cần

phải có chuyên gia về thực vật và cây thuốc đi cùng Chuẩn bị thêm các dụng cụ

để thu mẫu như: bao tải, túi nilon, dao cắt cành.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 20

+ Vận động quần chúng tham gia điều tra: Đối tượng quan trọng tham

gia công tác này là những ông lang, bà mế, những người họ sống bằng nghề đi hái cây thuốc Ngoài ra còn những đối tượng khác có thể tham gia một cách có

ích như trẻ em, đối tượng này có thể cung cấp những thông tin một cách chính

xác những gì thấy được trong cuộc sống hàng ngày.

+ Thu thập mẫu cây, xác định tên và nghiên cứu tác dụng.

Cố gắng lấy mẫu đủ hoa, quả và bộ phận dùng làm thuốc, đồng thời với việc lấy mẫu cần phải chụp ảnh để xác định màu sắc vì khi khô mẫu sẽ mất hết

màu Khi thu được mẫu cần hỏi ngay người dân đi cùng như: Cây này chữa bệnh

gì, cách bào chế, dùng tươi hay dùng khô, liều lượng và cách dung [20]

* Công tác nội nghiệp

Lập danh lục thực vật

- Danh lục thành phần loài được lập theo từng họ, chi, loài theo vần ABC, sắp xếp theo Brummitt[35] Danh lục bao gồm: Tên khoa học, họ, công dụng, cách chế biến và bộ phận sử dụng.

Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật

- Đánh giá đa dạng taxon trong ngành Thống kê loài, chi và họ theo từng ngành từ thấp lên cao, trên cơ sở dựa vào bảng danh lục đã xây dựng, tính tỉ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ

đa dạng của nó.

- Đánh giá đa dạng loài của các họ.

Xác định họ có nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài các chi so với toàn bộ số loài

của hệ thực vật làm thuốc.

- Đánh giá đa dạng loài của các chi

Xác định chi nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài

của cả hệ thực vật cây thuốc.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 21

- Đánh giá mức độ giá trị và mức độ đe dọa Dựa vào các tài liệu: Sách Đỏ Việt Nam, Phần II – Thực vật (2007)[5]; Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006[27] và Nghị định 32/2006/NĐCP [10]để

phân tích thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá này.

- Đánh giá mức độ các nhóm công dụng cây thuốc.

Dựa vào thông tin thu thập được về công dụng và phương pháp chế biến của người dân bản địa, kết hợp với các tài liệu về cây thuốc đã được xuất bản, thống kê các loài theo các nhóm công dụng như: Các loài chữa bệnh ngoài da, chữa bệnh dạ dày, cao huyết áp… để từ đó thấy được sự đa dạng về công dụng của cây thuốc.

- Đánh giá sự phân bố tài nguyên cây thuốc

Đánh giá theo các tuyến khảo sát trên thực địa khi đi qua các dạng sinh

cảnh khác nhau, vì khả năng về thời gian và tài chính có hạn nên chỉ có thể tiến

hành đánh giá mức độ nhiều hay ít theo mức độ xuất hiện của nó Để từ đó thấy được sinh cảnh thích hợp cho loài.

- Đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên cây thuốc Dựa vào điều tra giá bán các loại cây thuốc ở địa bàn nghiên cứu và các tài liệu điều tra ở các khu vực khác như thành phố Vinh, thứ tự từ loài có giá trị cao

đến loài có giá trị thấp hơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận

Quan điểm hệ thống và hệ sinh thái là nền tảng để bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc.

Hệ sinh thái rừng bao gồm các thành phần tài nguyên sinh vật rừng: thực vật, động vật và vi sinh vật; tài nguyên tiểu hoàn cảnh rừng: Tiểu khí hậu, đất

rừng Cây thuốc nằm trong nhóm tài nguyên sinh vật rừng, cây thuốc có thể là cây gỗ lớn, trung bình hoặc cây gỗ nhỏ, có thể là tầng cây cao, cây bụi, dây leo,

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 22

thực vật phụ sinh, thực vật kí sinh, thảm tươi… Trong điều kiện khí hậu mưa ẩm nhiệt đới thì cây thuốc là một bộ phận chức năng sinh thái rất quan trọng.

Hiệu quả kinh tế là động lực để phát triển tài nguyên cây thuốc

Ngoài hiệu quả về mặt xã hội như đã nói đến ở phần đặt vấn đề thì tài nguyên cây thuốc còn có hiệu quả kinh tế hiện tại cũng như tiềm năng rất lớn khi chúng ta nắm bắt thị trường và phát triển chúng một cách hiệu quả, điều này đặc biệt có ý nghĩa ở vùng đệm Ví dụ, theo kết quả điều tra và tính toán về lượng giá cho các loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG) trong đó có dược liệu trong các trạng thái rừng ở vùng hồ Hoà bình của Trường Đại học Lâm nghiệp năm 2002.

Bảng 2.1 Hiệu quả kinh tế từ rừng ở vùng Hồ Hoà Bình

Trạng thái rừng

Hình thức kinh doanh Đơn vị tính Giá trị hiện tại

Giá trị tiềm năng

IIIA2 LSNG đ/ha/năm 1.249.760 5.185.129 IIIA1 LSNG đ/ha/năm 542.000 1.716.500

Đó chỉ mới là giá trị dược liệu còn những giá trị khác nữa như lương thực,

thực phẩm, nguyên liệu thủ công nghiệp, mỹ nghệ… nếu tính tổng giá trị thì sẽ rất lớn Theo thống kê của Bộ Thương mại trong một vài năm về tình hình xuất nhập khẩu dược liệu của nước ta như sau:

Bảng 2.2 Giá trị xuất nhập khẩu nguồn dược liệu trong những năm

trước đây.

Năm Xuất khẩu

(Tr.USD)

Nhập khẩu (Tr.USD)

sản xuất loại hàng hoá này Mặt khác, giá trị nhập khẩu cũng tăng theo thời gian

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 23

chứng tỏ nhu cầu về dược liệu trong nước là rất lớn, khả năng cung cấp trong

nước là không đủ vì lượng nhập khẩu cao hơn nhiều so với xuất khẩu Do đó,

đây là cơ hội để phát triển loại hàng hoá này để kết hợp bảo tồn và phát triển kinh tế.

Quan điểm đa ngành trong bảo tồn ĐDSH

Bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng không thể đạt được hiệu quả cao nếu chỉ dựa vào hoạt động của một ngành hay một lĩnh vực nào đó, vì hoạt động này cần phải huy động nhiều lĩnh vực kiến

biết kết hợp kiến thức về sinh vật học, sinh thái học, thổ nhưỡng học và đặc biệt

là kiến thức lâm học Đồng thời phải biết đặt đối tượng tác động trong bối cảnh

vận động của yếu tố kinh tế - xã hội” [14] Do đó, khi đề xuất các giải pháp bảo

tồn tài nguyên cây thuốc phải kết hợp giữa giải pháp kỹ thuật và giải pháp kinh

tế - xã hội.

Luận điểm khoa học

Sau khi tiến hành tra cứu các tài liệu nghiên cứu về thực vật, những vấn đề trong hoạt động bảo tồn và phát triển TNCT ở khu vực VQG Vũ Quang, chúng tôi có thể đưa ra những luận điểm như sau:

- Hệ thực vật cây thuốc tại VQG Vũ Quang đa dạng về số lượng các taxon

so với toàn khu vực Việt Nam.

- Người dân địa phương ở VQG Vũ Quang có nhiều kinh nghiệm quý trong

khai thác, chế biến và sử dụng cây thuốc.

- Còn có những vấn đề (mâu thuẫn) trong hoạt động bảo tồn ĐDSH và Phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 24

được chính phủ có quyết định công nhận với diện tích 55.035 ha Vũ Quang

thuộc vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ, là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các khu bảo tồn thuộc dãy Trường Sơn Đây là khu vực vẫn còn giữ được những đặc điểm của rừng nguyên sinh, ít bị tác động bởi hoạt động đốt nương làm rẫy.

3.1.1 Ranh giới

VQG Vũ Quang nằm cách thị xã Hà Tĩnh 70 km về phía Tây Phía Bắc giáp

xã Sơn Kim, Sơn Tây (Hương Sơn) và các xã Hương Quang, Hương Minh,

Hương Thọ, Hương Điền và thị trấn Vũ Quang; phía Nam là đường biên giới

Việt - Lào; Phía Đông giáp xã Hương Thọ, Hòa Hải (Hương Khê); Phía Tây giáp

xã Hương Quang và Sơn Kim( Hương Sơn).

3.1.2 Vị trí địa lý

105 0 35 ’ kinh độ Đông.

3.1.3 Địa hình

Đây là khu vực cuối cùng của vùng Bắc Trường Sơn, có độ cao dao động từ

30 – 2.286 m, đỉnh cao nhất là Rào Cỏ, nằm ở phía Bắc, thuộc biên giới Việt

-Lào Đây là nơi bắt nguồn của 3 con sông: Sông Nậm Tươi, sông Rào Nổ và

sông Khe Tre, bắt nguồn từ phía Nam VQG, có nhiều suối nhỏ hẹp độ dốc lớn Những con sông này chảy về hướng Bắc và rộng dần ở vị trí thấp.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 25

3.1.4 Đất đai

Đây là khu vực phân bố nhiều độ cao và nhiều kiểu địa hình khác nhau nên

tập trung khá nhiều loại đất đai, nhưng chủ yếu là những loại đất như: Đất feralit

đỏ nâu, feralit đỏ vàng, và đất phù sa thung lũng.

- Đất feralit đỏ vàng tập trung chủ yếu ở núi thấp và trung bình, hàm lượng mùn trong lớp đất mặt trung bình, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình.

- Đất feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi, đất feralit đỏ nâu phát triển trên

đá bazan ở độ cao lớn hơn 1800 m, nằm ở khu vực biên giới Việt - Lào.

3.1.5 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu chia thành hai kiểu khá rõ ràng Ở khu vực đồng bằng, độ cao nhỏ, khí hậu chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa đông bắc và đông nam - chế độ khí hậu chung của miền trung Việt Nam Ở khu vực miền núi, có độ cao lớn, là sự kết hợp của chế độ khí hậu Lào và Miền trung Việt Nam Khí hậu trong năm

được hình thành 3 mùa rõ rệt: mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3, thời tiết lạnh,

độ ẩm cao; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, lượng mưa rất lớn nên có thể gây lũ lụt.

- Nhiệt độ

rất lớn nên nhiệt độ thay đổi theo độ cao- độ cao tăng thêm 100 m thì nhiệt độ

- Lượng mưa

Tổng lượng mưa trung bình năm Hương Khê là 2418 mm và ở Hương Sơn

là 23900 mm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 9 và tháng 10 Số ngày mưa trong tháng phân bố khá đều trong năm Mùa đông lượng mưa không lớn

(45 – 64 mm), chủ yếu là mưa phùn.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 26

các con sông này Sông Khe Chè bắt nguồn từ phía Tây - Xã Kim Sơn, chảy theo

hướng nam bắc và chảy vào sông Ngàn Phố, ở thượng nguồn sông này có độ dốc

khá lớn nên dòng chảy có cường độ mạnh và phức tạp, càng xuống thấp dòng chảy chậm và ổn định hơn do địa hình bằng phẳng hơn Sông Ngàn Trươi bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, và đổ vào sông Ngàn Trươi Sông Rào Nổ bắt nguồn từ phía đông của VQG, lúc đầu chảy theo hướng bắc nam và sau đó chảy

theo hướng đông và nhập vào sông Ngàn Sâu.

Nói chung những con sông này được hình thành ở những khu vực có địa hình phức tạp, có độ dốc cao nên dòng chảy có cường độ mạnh và nhiều đoạn khác nhau và gần xuống thấp thì dòng chảy ổn định hơn.

3.1.6 Thảm thực vật

VQG Vũ quang được chia thành 5 kiểu rừng chính theo các đai cao khác nhau:

- Rừng xanh trên đất thấp: phân bố ở độ cao 100 – 300 m ở phía Bắc và

Đông Bắc; thành phần chủ yếu là các trảng cây bụi, chủ yếu là rừng phục hồi

trên núi thấp.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 27

- Rừng thường xanh trên núi thấp phân bố trong khoảng đai cao từ 300 đến

1000 m, ở vùng lõi VQG Rừng chủ yếu là rừng thứ sinhcó trữ lượng gỗ khá cao.

- Rừng thường xanh trung bình: phân bố trên đai cao từ 1000 đến 1400 m, theo dải hẹp, chạy dài từ phía Bắc đến Đông Nam VQG, thành phần chủ yếu là các loài cây lá rộng và một số loài cây lá kim thuộc họ Kim giao, Hoàng đàn, đặc biệt là loài Pơ mu.

- Rừng thường xanh núi cao: phân bố trên độ cao 1400 m đến 1900 m , hình thành ở sườn và dông ở phía Nam và phía Tây, có một số loài lá kim và một số

họ như họ Côm (Eleocarpaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae).

- Rừng phân bố trên độ cao lớn hơn 1900 m: Phân bố ở phía Nam VQG, chủ yếu là các loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Dẻ (Fagaceae).

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc

- Dân số

Theo số liệu điều tra gần đây nhất, VQG Vũ Quang có vùng đệm gồm 9 xã,

1 thị trấn với 7578 hộ và 33.148 nhân khẩu Trong đó gồm khoảng 1 - 2% số dân sống trong vùng lõi của VQG và 98% sống trong vùng đệm Tỉ lệ tăng dân số khoảng 1,2% Đặc biệt chú ý có những thôn sinh sống lâu đời trong vùng lõi

VQG như Kim Quang và Mạn Chạn của xã Hương Quan (Huyện Vũ Quang),

bốn xóm của xã Hòa Hải.

- Dân tộc: Có 4 thành phần dân tộc đang sinh sống trong vùng đệm và

vùng lõi của VQG Vũ Quang gồm: Kinh, Lào, Mán Thanh, Tày; trong đó người Kinh chiếm 98,0%, Lào chiếm 1,4%, Thanh và Tày chiếm 0,6% [11].

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 29

độ đa cây thuốc, có thể so sánh với hệ cây thuốc Việt Nam để có được sự nhìn

nhận một cách tổng quan Kết quả so sánh được trình bày ở bảng 4.1 Ta thấy hệ thực vật làm thuốc ở VQG Vũ Quang với tỉ lệ diện tích rất nhỏ (0,00017%)

nhưng lại chiếm đến 29,67% số họ, 15,50% số chi và 6,66% số loài của cả nước Qua đó có thể kết luận hệ thực vật cây thuốc Vũ Quang khá đa dạng về số lượng

các taxon.

Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc VQG Vũ Quang và hệ cây thuốc Việt Nam

(Magnoliophyta) Điều này được thể hiện rất rõ ở bảng 4.2.

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 30

Bảng 4.2 Số lượng và tỉ lệ của các taxon các ngành thực vật làm thuốc

Ngành Mộc lan có số lượng taxon lớn nhưng sự phân bố trong các lớp Mộc lan (Magnoliopsida) và lớp Loa kèn (Liliopsida) trong ngành này cũng

không đồng đều, điều này sẽ được thể hiện rõ qua bảng 4.3 tổng hợp sau đây.

Bảng 4.3 Số lượng và tỉ lệ của các lớp Mộc lan và lớp Loa kèn

trong ngành Mộc lan tại VQG Vũ Quang

Qua đó ta thấy, lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có số họ (61 họ, chiếm

76,25%), số chi (145 chi, chiếm 83,3%) số loài (170 loài, chiếm 84,6%) cao hơn hẳn các taxon đó trong lớp Loa kèn (Liliopsida).

Tuy các taxon chủ yếu tập trung rất ít vào các ngành khác ngoài ngành Mộc lan (Magnoliophyta) nhưng các loài chứa đựng trong đó lại có giá trị về

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 31

công dụng cũng như bảo tồn rất cao như: Thông đất (Lycopodiella cernua (L.) Fraco & Vast.) thuộc ngành Thông đất (Lycopodiophyta), Pơ mu (Fokienia

hodginsii (Dunn) A Henry & Thomas), Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus (Blume) de Laub., Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum (Roxb.) Wallich ex Hook.)… Lớp Loa kèn có các loài như: Thiên niên kiện (Homalomena occulta

(Lour.) Schott., Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb.), Sa nhân (Amomum

xanthioides Wall ex Baker) …

Sự không đồng đều trên có thể giải thích được bởi đặc điểm của khu hệ thực vật ở Việt Nam nói chung và VQG Vũ Quang nói riêng thì các taxon chủ yếu cũng tập trung vào ngành Mộc lan (Magnoliophyta) và lớp Mộc lan (Magnoliopsida).

Sự đa dạng ở bậc họ, bậc chi đồng nghĩa với việc xét trong họ, trong chi

có bao nhiêu loài, thông qua bảng tổng hợp sau đây (bảng 4.4 ).

Bảng 4.4 Sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ

Số loài Ngành

Trên

15 loài

10-15 loài

5-9 Loài

4 loài

3 loài

2 loài

1 loài

có từ 1 đến 9 loài (87 họ, chiếm 97,76%) Số loài trong 2 nhóm này cũng tương

tự Như vậy có nghĩa là hệ thực vật cây thuốc ở VQG Vũ quang có số họ và số

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 32

loài phân bố tập trung vào các họ có số loài từ 1 đến 9 Những họ có nhiều loài nhất được thể hiện ở bảng 4.5 sau:

Bảng 4.5 Các họ đa dạng nhất về số loài làm thuốc ở VQG Vũ Quang

Vũ Quang (1)

Số loài ở Việt Nam (2)

Tỉ lệ (1) và (2)

Qua đó ta thấy, họ có tỉ lệ cao nhất là Ngũ gia bì (Araliaceae) với 0,42, họ

Tiết dê (Menispermaceae) với 0,13 Còn lại họ có tỉ lệ thấp nhất là họ Cỏ (Poaceae) với 0,02; họ Đậu (Fabaceae) với 0,01 và do đó còn nhiều khả năng phát hiện thêm những loài cây thuốc khác ở trong 2 họ này ở VQG Vũ Quang.

Sự phân bố các loài trong các chi thực vật làm thuốc ở VQG Vũ cũng

không đồng đều, điều này thể hiện qua bảng 4.6 sau:

Bảng 4.6 Sự phân bố số loài trong các chi

Ngày đăng: 31/07/2023, 20:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm