TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu sử dụng cây thuốc trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 80% dân số toàn cầu dựa vào y học cổ truyền, chủ yếu là thuốc từ cây cỏ Sự quan tâm đến hệ thống y học cổ truyền và thuốc dược thảo đã gia tăng trong hai thập kỷ qua, với thị trường dược thảo toàn cầu ước tính đạt 80 tỷ USD vào năm 2002, chủ yếu ở Mỹ, châu Âu và châu Á Các quốc gia đang tiến hành điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dược liệu để bảo tồn đa dạng sinh học Hơn 35.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc, trong đó 2.500 loài được buôn bán, với 90% thảo dược thu hái hoang dã Tuy nhiên, nguồn cây thuốc tự nhiên đang bị tàn phá nghiêm trọng, ước tính 50% đã bị thu hoạch cạn kiệt, và chỉ có vài trăm loài được trồng Các phương pháp trồng truyền thống đang dần bị thay thế bởi phương pháp công nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu.
Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc có niên đại hơn 5.000 năm, được tìm thấy trên các bản khắc đất sét của người Sumeria ở Mesopotamia cổ đại (Iraq ngày nay) Các tài liệu này đề cập đến việc sử dụng cây Carum (Carum carvi) và cây Húng tây (Sweet basil) trong các toa thuốc Ngoài ra, các nhà khảo cổ học cũng phát hiện rễ cây Thục quỳ (Althaea officinalis), cây Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) xung quanh bộ xương người có niên đại từ thời kỳ đồ đá ở Iraq.
Kiến thức về thảo mộc của người Hy Lạp và Roma phản ánh nền văn minh phát triển sớm của họ, chịu ảnh hưởng từ Babylon, Ai Cập, Ấn Độ và Trung Hoa Hippocrat (460-377 TCN), một thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp, được mệnh danh là
“Cha đẻ của nền y học hiện đại” từng là một nhà nghiên cứu về thảo mộc và thường nhấn mạnh câu nói: “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và chính thuốc là thức ăn của bạn.”
Vào năm 2735 trước công nguyên, hoàng đế Thần Nông của Trung Hoa đã ghi chép 365 vị thuốc đông y trong cuốn “Mục lục thuốc thảo mộc”, trong đó có cây Ma hoàng (Ephedra sp.) được sử dụng để chống suy hô hấp Nhiều loại cây thuốc như Gai mèo (Cannabis sp.) dùng làm thuốc chống nôn, Đại phong tử (Hydnocarpus kurzii) là thành phần chính trong thuốc chữa bệnh phong, và Anh túc (Papaver somniferum) có trong một số loại thuốc giảm đau vẫn được sử dụng đến ngày nay.
Thuật ngữ “Cây thuốc” đã trở nên quen thuộc và cần thiết cho sức khỏe con người từ lâu Lịch sử sử dụng cây thuốc bắt nguồn từ thời kỳ săn bắn và hái lượm, khi con người biết tránh xa các loại cây độc hại và lựa chọn những cây có tác dụng chữa bệnh Hầu hết các loài cây thuốc được sử dụng theo cách truyền thống trong các cộng đồng Hiện nay, hàng trăm hoạt chất tự nhiên từ cây cỏ đã được nghiên cứu và ứng dụng để chế tạo thuốc hiện đại có hiệu quả cao, và xu hướng này vẫn đang được phát triển ở nhiều quốc gia.
Tình hình nghiên cứu sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam, với 54 dân tộc anh em, sở hữu nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe Nền y học cổ truyền Việt Nam đã phát triển nhiều bài thuốc hiệu quả từ lâu đời, và những kinh nghiệm quý báu này đã được ghi chép thành sách và lưu truyền rộng rãi Quốc gia này được đánh giá có tiềm năng lớn về cây thuốc trong khu vực Đông Nam Á, với gần 4.000 trong số hơn 12.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc Mặc dù có sự đa dạng và nhiều loài quý hiếm, việc phát triển và sử dụng dược liệu trong nước vẫn chưa được khai thác triệt để, mặc dù đã có nhiều hoạt động nghiên cứu và phát hiện cây thuốc diễn ra trên toàn quốc.
Từ thời vua Hùng Vương (2900 năm TCN), tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị và chữa bệnh qua các văn tự Hán Nôm và truyền thuyết Nền y học cổ truyền Việt Nam đã phát triển song song với kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân, gắn liền với các danh y nổi tiếng Trong thời kỳ nhà Lý (1010-1224), nhà sư Nguyễn Minh Không đã chữa bệnh cho dân và vua, được phong tặng danh hiệu "Quốc sư" Thời nhà Trần (1225-1399), Phạm Ngũ Lão đã thu thập và trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ.
"Dược Sơn", hiện vẫn còn di tích tại xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương [11]
Vào thế kỷ XIII và XIV, hai danh y nổi tiếng là Phạm Công Bân và nhà sư Nguyễn Bá Tĩnh (hiệu Tuệ Tĩnh) đã để lại dấu ấn trong y học Mặc dù nhiều tác phẩm quý giá của Tuệ Tĩnh bị quân Minh thu giữ, hiện nay vẫn còn tồn tại bộ sách "Nam Dược Thần Hiệu" với 496 vị thuốc nam, cùng với "Tuệ Tĩnh y thư" và "Tam thập phương gia giảm".
Tuệ Tĩnh, một danh y vĩ đại trong lịch sử y học dân tộc Việt Nam, là người đầu tiên đề xuất phương châm "Nam dược trị nam nhân", nhấn mạnh tầm quan trọng của thuốc nam trong việc chữa bệnh cho người Việt.
Sau Tuệ Tĩnh, mãi đến thời Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông -
Lê Hữu Trác (1721-1792) là một nhân vật quan trọng trong y học Việt Nam, nổi bật với bộ sách "Lãn Ông tâm lĩnh" gồm 66 quyển, trong đó ông đã bổ sung 329 vị thuốc mới bên cạnh việc kế thừa "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh Ông cũng mở trường đào tạo Y sinh, truyền bá kiến thức y học, được xem là tổ sáng lập nghề thuốc Việt Nam Trong thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788-1883), Nguyễn Quang Tuân đã viết nhiều tác phẩm như "Nam dược" và "La Khê phương dược", đề cập đến 500 vị thuốc nam Lê Đức Huệ cũng có công trình "Nam thiên Đức Bảo toàn thư" với 511 vị thuốc nam và bệnh học Đến thế kỷ 21, "Produits medicinaux" (1928) của Crevost đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc từ thực vật có hoa, đánh dấu bước tiến quan trọng trong nghiên cứu y học.
Petelot đã biên soạn bộ sách "Les plantes medicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam" với 4 tập, trong đó thống kê 1482 loại thảo dược từ ba nước Đông Dương.
Các tác phẩm nổi bật như "Bắc Nam dược tính" (1937) của Vũ Như Lâm và "Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam" (1957) của GS Đỗ Tất Lợi đã mô tả và chỉ ra công dụng của hơn 100 loài cây thuốc nam Đến năm 1969,
GS Đỗ Tất Lợi đã xuất bản cuốn "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam", giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo dược Qua nhiều lần tái bản, đến năm 2005, số loài cây thuốc được giới thiệu đã tăng lên đáng kể.
Bộ "Từ điển cây thuốc Việt Nam" (2012) của Võ Văn Chi đã mô tả chi tiết gần 4700 loài cây thuốc, mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn cho ngành Dược và các nhà thực vật học.
[10] Trong số đó trên 90% là cây hoang dại và có 144 loài đã được đưa vào
Cẩm nang Cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam chỉ ra rằng tiềm năng cây thuốc trong tự nhiên rất phong phú nhưng vẫn chưa được khai thác hết Trong hơn 20 năm qua, sự thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, như chia tách tỉnh và tốc độ công nghiệp hóa, đã dẫn đến việc thu hẹp diện tích rừng tự nhiên Việc khai thác gỗ bừa bãi và phá rừng để trồng cây công nghiệp đã làm cạn kiệt nguồn cây thuốc Hơn nữa, việc khai thác cây thuốc ồ ạt mà không có biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phân bố và thành phần các loài cây thuốc, khiến nhiều loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Sự phá hủy rừng không chỉ làm mất đi nguồn tài nguyên cây thuốc mà còn gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.
Theo chỉ đạo của Ban bí thư TW Đảng, việc phát triển nền Đông y Việt Nam cần kết hợp chặt chẽ giữa Đông y và Tây y trong tổ chức, đào tạo, nghiên cứu và sản xuất thuốc Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2007/QĐ-TTg nhằm hiện đại hóa công nghệ chế biến thuốc từ dược liệu, quy hoạch vùng nuôi trồng theo tiêu chuẩn GACP của WHO, và tăng cường đầu tư vào cơ sở chiết xuất hoạt chất từ dược liệu Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg cũng nhấn mạnh việc nghiên cứu và sử dụng hiệu quả các hoạt chất thiên nhiên từ dược liệu, phục vụ cho công nghiệp bào chế thuốc đặc thù của Việt Nam Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, theo Quyết định 1976/QĐ-TTg, tập trung vào phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu và sản xuất hàng hóa, với 8 vùng khai thác tự nhiên và 8 vùng quy hoạch trồng dược liệu tập trung, trong đó có vùng Tây Bắc.
Hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam rất độc đáo và đa dạng sinh học, chứa đựng nhiều nguồn dược liệu quý Tuy nhiên, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã dẫn đến sự ra đời của nhiều loại thuốc tây y mới, mang lại hiệu quả nhanh chóng và tiện lợi Điều này đã khiến việc sử dụng thuốc nam giảm dần, đặc biệt là trong giới trẻ hiện nay, khi họ gần như không còn kiến thức về các cây thuốc nam.
*Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại KBTTN Phu Canh Huyện Đà Bắc, tình Hòa Bình
Nguyễn Văn Hưởng (2016) trong luận văn cao học đã phản ánh thành phần và tính đa dạng của các loài cây thuốc, tình hình sử dụng và công dụng chữa bệnh của một số loài cây thuốc tại KBTTN Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Đoàn Sỹ Võ (2016) cũng đã nghiên cứu các loài cây lâm sản ngoài gỗ ở KBTTN Phu Canh, nhấn mạnh rằng nhóm cây thuốc có số lượng loài phong phú nhất và phân bố rộng rãi ở nhiều sinh cảnh khác nhau.
Tại xã Trung Thành, nơi sinh sống của nhiều người dân tộc Tày, Mường và Kinh, có diện tích rừng tự nhiên rộng lớn nằm ở đai cao.
200 -1200m chưa có nghiên cứu nào về thành phần cây thuốc,tính đa dạng,phân bố,giá trị sử dụng của cây thuốc
Cần tiến hành nghiên cứu để đánh giá thực trạng và đề xuất phương pháp phát triển tài nguyên cây thuốc tại khu vực.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 M ụ c tiêu t ổ ng quát Đánh giá được thực trạng về tài nguyên cây thuốc ở khu vực Xã Trung Thành huyện Đà Bắc làm cơ sở đề suất giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tạo thu nhập cho người dân địa phương
2.1.2 M ụ c tiêu c ụ th ể Đánh giá được hiện trạng về thành phần loài, phân bố và tình hình khai thác sử dụng, phát triển cây thuốc tại khu vực nghiên cứu Đề xuất được giải pháp để bảo tồn và phát triển cây thuốc tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây thuốc tự nhiên và trồng trên địa bàn xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở các quần thể rừng trong khu vực rừng của các Xóm Bay, Búa, Hạ,
Sổ, Trung Tằm, Trung Thượng thuộc xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 6 đến tháng 10/2020.
Nội dung nghiên cứu
-.Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
Phương pháp nghiên cứu
Kế thừa các tư liệu về điều kiện tự nhiên như địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai và tài nguyên rừng là rất quan trọng Những thông tin này giúp hiểu rõ hơn về môi trường sống và phát triển bền vững.
- Điều kiện kinh tế; điều kiện xã hội: dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán
- Kế thừa số liệu từ các công trình nghiên cứu khác
2.5.2 Chu ẩ n b ị và điều tra sơ thám
Chuẩn bị các mẫu biểu phỏng vấn, điều tra tuyến và OTC là rất quan trọng Đồng thời, cần liên hệ trực tiếp với cán bộ cấp xã để xin phép vào khu vực thực địa và thu thập số liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu.
Chuẩn bị đầy đủ phương tiện như máy chụp ảnh, dao, thước 30cm, đồ đựng mẫu vật và bản đồ hiện trạng rừng của khu vực nghiên cứu là rất quan trọng Ngoài ra, cần có câu hỏi phỏng vấn và biểu ghi chép điều tra tuyến để thu thập thông tin chính xác.
+ Khảo sát, làm quen với người dân trong khu vực để tìm hiểu về khả năng và tình hình sử dụng cây thuốc của người dân tại xã
Tiến hành phỏng vấn người dân và cán bộ xã nhằm xác định khu vực có nhiều cây thuốc Qua đó, nhờ người dân dẫn đi nhận diện cây, thu mẫu và chụp ảnh để phục vụ cho nghiên cứu.
+ Mục đích của việc điều tra sơ thám:
- Nắm được địa hình khu vực nghiên cứu và thông tin sơ bộ phân bố của các loài ngoài thực địa
- Định ra các hướng đi của các tuyên điều tra, ước tính khối lượng công việc ngoại nghiệp để xây dựng kế hoạch điều tra
2.5 3 Điề u tra thành ph ầ n loài, vi ệ c khai thác, gây tr ồ ng cây thu ố c t ạ i Xã Trung Thành, huy ệ n Đà Bắ c, t ỉ nh Hòa Bình
Qua khảo sát, chúng tôi đã xác định được 03 tuyến điều tra đại diện cho các xóm trong xã, phản ánh sự đa dạng của các dân cư khác nhau Kết quả điều tra đã được ghi chép vào các biểu mẫu để phục vụ cho nghiên cứu.
Tuy ến điề u tra s ố 01: Từ xóm Trung Thượng đi đến xóm Trung Tằm; luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tuy ến điề u tra s ố 02: Từ xóm Trung Tằm đi đến xóm Hạ;
Tuyến điều tra số 03 bắt đầu từ xóm Hạ đến xóm Búa, trong đó sẽ tiến hành lập 1OTC tại khu rừng phòng hộ xóm Búa và quay trở lại xóm Trung Thượng Đồng thời, sẽ kết hợp phỏng vấn các hộ dân trong khu vực.
Sau đó tiến hành lập một OTC tại khu vực này kết hợp phỏng vấn các hộ dân, kết thúc tuyến tại kết thúc UBND Xã Trung Thành
Phỏng vấn người dân và các hộ gia đình tại xã Trung Thượng để thu thập thông tin về các loại cây thuốc Ghi chép đầy đủ các thông tin theo mẫu biểu, bao gồm tên cây thuốc, đặc điểm, dạng sống, và bộ phận sử dụng Người dân sẽ được nhờ dẫn đi đến khu vực có cây thuốc để nhận diện và xác định tên loài Đối với những loài chưa xác định, ghi tên địa phương và tiến hành thu mẫu, chụp ảnh để giám định lại tên loài sau này.
Biểu điều tra phỏng vấn: khai thác, chế biến sử dụng cây thuốc Đối tượng phỏng vấn:
Trình độ văn hoá: Địa chỉ:
TT Tên loài Tên địa phương
Ghi chú luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Ông (bà) có biết ở địa phương mình đã sử dụng cây cỏ nào làm thuốc không?
- Nơi phân bố của từng cây thuốc
- Những bộ phận nào của cây được sử dụng làm thuốc, chữa những bệnh gì
- Đối tượng sử dụng cây thuốc là ai? Kết quả sau khi sử dụng cây thuốc ra làm sao?
- Một năm ông (bà) vào thu hái thuốc mấy lần?
- Tình hình gây trồng và chế biến thuốc như thế nào?
- Thu hái thuốc như vậy thì bác có đem ra thị trường để bán không hay chỉ phục vụ gia đình
- Hiện nay ông (bà) có trồng loại thuốc nào trong vườn không?
- Việc sử dụng thuốc như vậy thì ông (bà) có lưu truyền lại cho thế hệ sau không? Và cách thức lưu truyền như thế nào?
Các bộ và người dân địa phương có mối liên hệ chặt chẽ với rừng, và kinh nghiệm của họ cung cấp thông tin quý giá về sự phân bố các loài trong khu bảo tồn Tuy nhiên, việc thu thập thông tin cần phải được chắt lọc và kiểm tra tính xác thực, và nếu có thể, nên thu mẫu để giám định.
Vì vậy phỏng vấn người dân và cán bộ kiểm lâm là cách nhanh nhất có được thông tin về các loài trong khu vực nghiên cứu
Trước khi phỏng vấn tiến hành ghi thông tin, địa chỉ người cần phỏng vấn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Mẩu biểu: Phỏng vấn cá nhân
STT Họ và tên Nơi ở Nghề nghiệp
Xin ông bà cho biết những thông tin sau đây:
- Ông (bà) có biết thông tin gì về các loài cây thuốc quý hiếm có ở địa phương mình không?
- Loài cây đó thường mọc ở đâu? Ở khu rừng nào? Ở độ cao bao nhiêu? Mọc với những loài cây nào?
- Cây thuốc đấy ông (bà) dung để chữa bệnh gì?
- Cây thuốc đó thuộc dạng dây leo hay cây thân gỗ?
- Những loài quý hiếm như vậy thì khả năng bắt gặp của trước kia so với bây giờ thì thế nào?
- Có ai vào thu gom cây thuốc quý như vậy không?
- Những cây thuốc đó sau khi khai thác chúng có khả năng tái sinh lại không?
- Ở địa phương mình ông (bà) có biết ai đã từng trồng thử hoặc chuyên làm về ngành thuốc nam không?
Bảo tồn và phát triển loài cây có giá trị này gặp phải nhiều khó khăn, bao gồm sự suy giảm môi trường sống và áp lực từ khai thác Để khắc phục vấn đề này, cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, tăng cường giáo dục cộng đồng về giá trị của loài cây, và phát triển các chương trình trồng lại cây.
Mẫu Biểu Điều tra cây thuốc theo tuyến
Số hiệu tuyến: Địa danh: Ngày điều tra:
Người điều tra: Số tờ:
Toạ độ đầu tuyến: Toạ độ cuối tuyến:
Mẩu biểu: Tổng hợp các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu
Phương pháp xây dự ng danh l ụ c cây thu ố c:
Lập danh lục cây thuốc của khu vực dựa trên các kết quả giám định được và kết quả phỏng vấn người dân sau đó xây dựng danh lục
Bảng: Danh lục cây thuốc tại khu vực Xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Bộ phận sử dụng Nguồn
Phương pháp đánh giá được sử dụng để xác định mức độ đa dạng về thành phần loài, phân bố, khả năng sử dụng và việc gây trồng các loài cây thuốc trong khu vực nghiên cứu Đánh giá này dựa trên Danh lục cây thuốc đã được điều tra và các tài liệu liên quan.
2.5.3.3 Điều tra, đánh giá đặc trưng về phân bố của loài cây thuốc quý hiếm tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Đi theo các tuyến điều tra đã lập, tuyến nào bắt gặp những cây thuốc quý hiếm nằm trong: Sách Đỏ Việt Nam 2007, NĐ 06/2019, NĐ 160/2013, Danh lục đỏ cây thuốc 2019, IUCN Red list of Vietnam, tiến hành lập OTC và miêu tả các sinh cảnh các vật xung quanh Lập OTC với S0m2 (10x10) Xác định tên loài trong OTC, những loài nào là cây thuốc tiến hành thu mẫu và chụp ảnh và loài nào chưa xác định được tên loài cây trong OTC đều thu mẫu về giám định lại
Một số tài liệu tra cứu cây thuốc luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Mẫu biểu: Điều tra cây gỗ Ô tiêu chuẩn: Diện tích:
Trạng thái rừng: Độ cao tuyệt đối: Vị trí:
Ngày điều tra: Độ dốc: Người điều tra:
TT Tên loài D1.3(cm) Hvn(m) Hdc(m) Phẩm chất Ghi chú
Điều tra tầng cây cao bao gồm việc xác định tên các loài cây, đo đường kính thân cây ở độ cao 1,3m bằng thước kẹp kính, và ước chừng chiều cao vút ngọn cùng chiều cao dưới cành.
Tốt: là cây sinh trưởng và phát triển không bị sâu bệnh
Trung bình: là cây bị sâu bệnh không nghiêm trọng, so với cây tốt phát triển kém hơn
Xấu: là cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn
Mẫu biểu: Điều tra cây tái sinh Ô tiêu chuẩn: Diện tích: Trạng thái: Độ cao tuyệt đối: Vị trí: Ngày điiều tra: Độ dốc: Người điều tra:
Số cây theo cấp chiều cao
Tổng số cây tái sinh
2 >2 Chồi Hạt T TB X luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Mẫu biểu: Điều tra cây bụi thảm tươi Ô tiêu chuẩn:……… Diện tích:………….Trạng thái:……… Độ cao tuyệt đối:………Vị trí:………….Ngày điều tra:……… Độ dốc:……… Người điều tra:………
ODB Tên loài chủ yếu Hvn(m)
Tình hình sinh trưởng Số lượng Độ che phủ(%)
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn người dân để thu thập thông tin về loài thuốc quý hiếm, bên cạnh việc tự điều tra.
Mẫu biểu: Phỏng vấn thông tin cây thuốc
Giới tính: Dân tộc: Địa chỉ:
TT Tên loài Tên địa phương
Ghi chú luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tình hình s ử dụng cây thuốc tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc , tỉnh Hòa Bình
Chuẩn bị đầy đủ phương tiện, câu hỏi phỏng vấn, giấy tờ ghi chép, máy ảnh, thước đo và sơ đồ hiện trạng rừng tại khu vực Đồng thời, sưu tầm các bài thuốc dân gian để hỏi và đối chiếu.
Trong một cuộc phỏng vấn với 10 hộ gia đình trong làng, chúng tôi đã thu thập thông tin về kinh nghiệm thu hái và sử dụng cây thuốc để trị bệnh của người dân địa phương Chúng tôi đã hỏi về các thành phần loài cây thuốc, phương pháp trồng trọt của cộng đồng, các loại bệnh mà người dân thường sử dụng cây thuốc để điều trị, cũng như hình thức khai thác và sử dụng các loài cây này Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cây thuốc trong khu vực.
2.6.3 N ộ i nghi ệ p Đánh giá sự đa dạng của cây thuốc thông qua các kết quả phỏng vấn của các thầy lang và người dân trong bản
Tra cứu và xây dựng danh mục cây thuốc, tổng hợp và phân tích đa dạng các loài cây thuốc cùng với thành phần và công dụng của chúng Đồng thời, xác định các loài cây thuốc nguy cấp, quý hiếm để bảo tồn và phát huy giá trị.
Tiến hành thống kê và đánh giá hiện trạng khai thác, chế biến cây thuốc tại khu vực nghiên cứu, bao gồm các hình thức khai thác và tình hình gây trồng Đánh giá các loài cây thuốc được người dân sử dụng đa mục đích và tình hình buôn bán thuốc nam tại xã Trung Thành, đồng thời tính tỷ lệ sử dụng cây thuốc của người dân trong xã.
Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình dựa trên kết quả nghiên cứu và tuân thủ quy định pháp luật Các giải pháp này cần phù hợp với quy trình quy phạm của nhà nước và tham khảo tài liệu về bảo tồn tài nguyên thực vật và cây thuốc.
Dựa vào những khó khăn và thuận lợi, cơ hội và thách thức tại khu vực nghiên cứu
Dựa vào tình hình khai thác chế biến, phương thức gây trồng, sử dụng và buôn bán cây thuốc
Dựa vào những tác động tiêu cực, tài nguyên cây thuốc đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng theo kết quả điều tra từ các tuyến.
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI
Điều kiện tự nhiên
Trung Thành là một xã miền núi thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cách trung tâm huyện khoảng 53 km Khu vực này có giao thông đi lại khó khăn do địa hình đồi núi phức tạp.
- Phía Bắc giáp xã Đoàn Kết,
- Phía Đông Nam giáp xã Cao Sơn
- Phía Đông giáp xã Tân Minh,
Xã Trung Thành có tổng diện tích tự nhiên là 3.002,06 ha, trong đó bao gồm 155,29 ha đất nông nghiệp, 69,78 ha đất phi nông nghiệp, và 38,75 ha đất chưa sử dụng Diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp trong xã là 2.738,24 ha, với 761,34 ha do UBND xã quản lý và 1.723,39 ha do các hộ gia đình quản lý.
* Diện tích do UBND xã quản lý: 761,34 ha trong đó:
+ Diện tích đất có rừng: 549,04 ha
Rừng trồng hiện có diện tích 16,93 ha, trong đó rừng trồng gỗ chiếm 2,33 ha và rừng trồng tre luồng là 14,63 ha Ngoài ra, diện tích đất chưa có rừng là 212,30 ha Rừng tự nhiên chủ yếu bao gồm các khu rừng núi đất lá rộng thường xanh phục hồi, rừng núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt và rừng hỗn giao nứa gỗ, với nhiều diện tích thảm thực bì lau lách và cỏ ranh.
Rừng trồng chủ yếu trồng các loài cây bồ đề, xoan, luồng, keo và một số loại cây khác
Diện tích đất chưa có rừng chủ yếu bao gồm diện tích rừng mới trồng chưa phát triển thành rừng, cùng với diện tích đất trống có thảm thực bì chủ yếu là lau lách, cây bụi và cỏ ranh.
Xã Trung Thành nằm trong khu vực núi thấp và núi cao, với ba dải dông núi chính và các dải dông núi phụ Đỉnh núi Pu To có độ cao lớn nhất là 1.280 m, trong khi độ cao trung bình là 700 m và độ cao thấp nhất là 200 m so với mặt nước biển Địa hình nơi đây có độ dốc bình quân trên 30 độ, với chiều dài sườn dốc từ 1.000 đến 2.000 m, tạo nên những con đường hiểm trở và khó khăn trong việc di chuyển.
Xã Trung Thành nằm trong lưu vực của các suối Dinh, Sổ, Tằm và Bay, chảy ra hồ Sông Đà Hệ thống này không chỉ cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Hòa Bình mà còn phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp tại các xóm trong xã.
Khí hậu xã Trung Thành, tỉnh Hòa Bình, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, với lượng mưa trung bình 1.824,4 mm, chiếm 93,6% tổng lượng mưa hàng năm Ngược lại, mùa hanh khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chỉ có lượng mưa trung bình 125,2 mm, chiếm 6,4% Trong năm, số ngày mưa dao động từ 110 đến 130 ngày, với độ ẩm không khí trung bình đạt 83%, cao nhất là 87% và thấp nhất là 79% Nhiệt độ không khí trung bình là 21,7°C, với nhiệt độ cao nhất trung bình 29°C và thấp nhất trung bình 14,6°C, có những ngày xuống tới 5°C vào tháng 1 Hướng gió chính vào mùa hè là gió Đông Nam, trong khi mùa đông là gió Đông Bắc.
* Thu ỷ văn: Trong xã có các suối lớn như Suối Dinh, Suối Sổ, Suối
Tằm và Suối Bay chảy ra hồ Sông Đà, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho nhà máy thủy điện.
Hoà Bình cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp tại các xóm trong xã Mặc dù các suối lớn có nước chảy quanh năm, nhưng do độ dốc cao và nhiều đá nổi, việc vận chuyển bằng đường thuỷ không khả thi Vào mùa mưa, lũ đột xuất thường xảy ra, gây cản trở cho việc đi lại của người dân trong xã và khu vực lân cận.
3.1 4 Đị a ch ất và Đấ t
Xã Trung Thành có địa hình vùng núi cao với phần lớn diện tích là núi đất và núi đá Trong xã, có ba loại đá mẹ chủ yếu: đá vôi, đá mác ma a xít và đá sa thạch Đá vôi chủ yếu chứa can xít màu đỏ nâu, với sản phẩm phong hoá tạo thành phần cơ giới thịt trung bình Đá a xít chứa các khoáng vật như Ka li, mua ga đen, bi ro xin và clo rít, tạo ra thành phần cơ giới thịt nhẹ Đá sa thạch chủ yếu là thạch anh và li mô nít, với sản phẩm phong hoá tạo thành phần cơ giới hạt thô, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều sỏi cuội với kích thước khác nhau do phong hoá không triệt để.
* Đất: Trong xã có 2 nhóm đất chính:
Nhóm đất Feralitic mùn có màu sắc từ đỏ vàng đến vàng nhạt, thường xuất hiện trên các vùng núi có rừng ở độ cao từ 700 đến 1200 m Đất này có những đặc điểm và tính chất riêng biệt, góp phần quan trọng vào hệ sinh thái nơi đây.
Đất Feralitic là loại đất có màu vàng nhạt, thường xuất hiện trên các vùng núi có rừng, phát triển trên nền đá sa thạch Đặc điểm của loại đất này là có tầng dày trên 120 cm, với thành phần cơ giới thịt nhẹ, chứa nhiều hạt thô và lẫn sỏi, cuội Đất Feralitic có khả năng thấm nước nhanh nhưng giữ nước kém.
Đất Feralitic mùn có màu đỏ, thường xuất hiện trên các vùng núi có rừng phát triển, đặc biệt là trên đá vôi với độ dày tầng đất trên 120 cm Loại đất này có thành phần cơ giới thịt trung bình, nổi bật với khả năng thấm nước và giữ nước hiệu quả.
Đất feralit mùn màu đỏ vàng trên núi, phát triển trên đá magma axit, có tầng dày trên 120 cm và thành phần giới thịt trung bình Đặc điểm nổi bật của loại đất này là khả năng thấm nước chậm và giữ nước tốt.
Nhóm đất Feralitic có màu vàng hoặc vàng nhạt thường xuất hiện trên các khu vực đất trống, đồi trọc, cây bụi, nương và rẫy, với độ cao dưới 700 m Loại đất này phát triển trên các loại đá mẹ như sa thạch, đá vôi và đá mác ma a xít, có độ dày từ 50 đến 120 cm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
Qua quá trình điều tra cây thuốc tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, chúng tôi đã xác định được 476 loài cây thuốc thuộc 336 chi và 125 họ, phân bố trong 5 ngành thực vật: Ngành Quyết trần (Psilotophyta), Ngành Thông đất (Lycopodiophyta), Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), Ngành Thông (Pinophyta) và Ngành Mộc lan.
(Magnoliophyta).Trong đó Ngành mộc lan chiếm số lượng họ lớn nhất là: 106 họ, 309 chi và 441 loài cụ thể thể hiện kết quả ở bảng 4.1 như sau:
Bảng 4.1 Thành phần các loài cây thuốc ở khu vực
Tổng 125 100 336 100 476 100 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Kết quả từ bảng 4.1 cho thấy rằng các loài cây thuốc ở xã Trung Thành chủ yếu thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta), với sự phân bố không đồng đều giữa các ngành Ngành Ngọc lan chiếm ưu thế với 106 họ (84,8%), 309 chi (91,96%) và 441 loài (92,65%) Ngành Dương xỉ có 14 họ (11,2%), 21 chi (6,25%) và 28 loài (5,88%) Ngành Quyết trần là ngành có số lượng họ, chi và loài ít nhất, chỉ với 01 họ, 01 chi và 01 loài Sự đa dạng của các taxon thực vật làm thuốc chủ yếu tập trung ở ngành Mộc lan, với các loài cây thuốc phân bố trong hai lớp: Lớp Ngọc lan (Magnoliosida) và lớp Hành (Liliopsida) Kết quả phân bố được thể hiện trong bảng 4.2.
Bảng 4.2 Số lượng họ, chi và loài cây thuốc trong ngành Ngọc lan
Kết quả bảng 4.2 cho thấy:
Các loài cây thuốc trong ngành Mộc lan chủ yếu thuộc hai lớp Ngọc lan và Hành, trong đó lớp Ngọc lan chiếm ưu thế với 87% số họ, 84,79% số chi và 86,62% số loài Những loài trong lớp Ngọc lan thường gặp và có sự phân bố rộng rãi trong rừng, dẫn đến việc nhiều hộ gia đình phụ thuộc vào rừng để khai thác cây thuốc Tuy nhiên, việc khai thác quá mức có thể ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thực vật trong rừng.
Sự đa dạng về loài, chi, họ của cây thuốc trong khu vực, bao gồm cả rừng tự nhiên phòng hộ và rừng khoán cho các hộ gia đình quản lý, tạo ra tiềm năng lớn cho việc phát triển nghề cây thuốc cho người dân địa phương Đồng thời, đây cũng là nơi lý tưởng để bảo tồn nguồn gen của các loài quý hiếm trong khu vực.
4.1.2 Đa d ạ ng v ề s ố lượ ng loài trong các h ọ
Tại Trung Thành, số liệu điều tra cho thấy có nhiều loài thực vật bậc cao có mạch được sử dụng làm thuốc Bảng 4.3 thể hiện sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ thực vật.
Bảng 4.3 Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ
Từ 5-10 loài 4 loài 3 loài 2 loài 1 loài
Tỷ lệ % 21,01 44,96 9,24 6,93 7,14 10,71 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Kết quả từ bảng 4.3 cho thấy ngành Quyết trần chỉ có 1 họ và 1 loài, trong khi ngành Thông đất cũng chỉ có 1 họ với 2 loài Ngành Dương xỉ và ngành Thông không có họ nào có số loài lớn hơn 3 Ngành Mộc lan nổi bật với 10 họ có số loài lớn hơn 11, chiếm 21,01%, cùng với 17 họ có từ 5 đến 10 loài, chiếm 44,96% Ngoài ra, có 7 họ với 4 loài (9,24%), 11 họ với 3 loài (6,93%), 17 họ với 2 loài (7,14%), và 51 họ chỉ có 1 loài (10,71%) Đa dạng thành phần loài của cây thuốc trong mỗi khu vực nghiên cứu là tiêu chí quan trọng để đánh giá tiềm năng nguồn tài nguyên cây thuốc.
Ngành Mộc lan có số lượng loài phong phú, với nhiều họ và loài chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số loài của cả hai lớp Hành và Mộc lan Bảng 4.4 trình bày các họ có số loài lớn nhất trong ngành này.
Bảng 4.4 Các họ có số loài nhiều nhất
TT Họ Số lượng Tỷ lệ %
Kết quả từ bảng 4.4 cho thấy, trong tổng số 125 họ, chỉ có 10 họ chiếm 8% số loài Đặc biệt, họ thầu dầu là họ có số loài lớn nhất.
Trong tổng số loài, họ đậu chiếm 7.77% với 37 loài, trong khi họ cúc có 29 loài, tương đương 6.09% Họ bạc hà, họ ô rô, họ ngũ gia bì và họ re có số lượng loài thấp nhất, với 11 loài, chiếm 2.31% tổng số loài.
Khu vực nghiên cứu thể hiện sự đa dạng phong phú về các loài cây thuốc, phân bố không đồng đều trong các trạng thái rừng khác nhau, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi và cây gỗ nhỏ.
Tại Trung Thành sự đa dạng về các bậc chi Kết quả được thể hiện trong bảng 4.5 như sau:
Bảng 4.5 Các chi có loài cây thuốc nhiều nhất
TT Chi Họ Loài Tỷ lệ
Bảng 4.5 cho thấy có 6 chi có số loài nhiều nhất, trong đó chi Ficus dẫn đầu với 10 loài, chiếm 2.1% trong họ dâu tằm Điều này cho thấy sự đa dạng phong phú của các chi tại khu vực điều tra.
4.1.4 Đa dạ ng v ề b ộ ph ậ n s ử d ụ ng
Khi nghiên cứu về các bộ phận sử dụng của cây thuốc, mỗi loài cây đều có giá trị sử dụng riêng, và các bộ phận khác nhau của cùng một cây thuốc được áp dụng cho những mục đích khác nhau Việc lựa chọn bộ phận nào để chữa bệnh là rất quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao và đảm bảo an toàn cho người sử dụng Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật tính phong phú và đa dạng trong khả năng chữa bệnh của các bộ phận cây thuốc, mà còn cung cấp tư liệu quý giá để đánh giá thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc trong cộng đồng dân tộc thiểu số Kết quả phân tích về các bộ phận của cây thuốc được trình bày trong bảng 4.6.
Bảng 4.6 Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc STT Bộ phận sử dụng Số loài Tỷ lệ (%)
Bảng này liệt kê hơn 476 loài, do một số loài có thể có nhiều bộ phận được sử dụng Để tải luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất, vui lòng liên hệ qua email: luanvanfull@gmail.com.
Người dân quanh khu vực Trung Thành sử dụng đa dạng các bộ phận của cây làm thuốc, bao gồm lá, thân, rễ, củ, hoa, quả, mủ, nhựa và vỏ cây Điều này cho thấy tri thức về việc sử dụng cây cỏ làm thuốc của họ khá phát triển.
Theo bảng 4.6, lá cây là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 26.36%, tiếp theo là thân với 180 loài, chiếm 22.81% Ngọn là bộ phận ít được sử dụng nhất, chỉ có 5 loài, chiếm 0.63% Để làm rõ sự đa dạng của các bộ phận được sử dụng, bảng 4.7 đã thống kê và phân loại các bộ phận này.
Bảng 4.7 Tỷ lệ các loài với bộ phận được sử dụng
TT Số bộ phận sử dụng Số loài Tỉ lệ (%)
Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây thuốc tại khu xã Trung Thành 39 4.3 Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
Để nghiên cứu sự phân bố của các loài cây thuốc, chúng tôi áp dụng phương pháp điều tra chuyên ngành thông qua việc thiết lập các tuyến điều tra và lập các ô tiêu chuẩn (OTC) Chúng tôi tiến hành đo đếm các chỉ tiêu của tầng cây gỗ, tầng cây tái sinh và tầng cây bụi thảm tươi Khu vực nghiên cứu được chia thành hai đai cao: Đai 1 từ 200m - 700m và Đai 2 từ 700m - 1200m, với các ô tiêu chuẩn đại diện cho các kiểu trạng thái rừng khác nhau được thiết lập tại mỗi đai.
Dựa vào cấu trúc đai cao ta có kết quả trong bảng sau:
Bảng 4.10 Thành phần loài và cấu trúc tầng thứ theo đai cao Đai cao (m) Sinh cảnh Số loài Tỷ lệ %
Rừng trung bình 130 14,86 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Rừng tre nứa xen gỗ 72 8,23
Ghi chú: Bảng này có số loài lớn hơn 476 loài do một số loài có thể sống ở các đai cao khác nhau
Bảng 4.10 cho thấy rằng các cây thuốc chủ yếu phân bố ở độ cao từ 200-700m, với số lượng cây thuốc nhiều nhất ở rừng trung bình và ít nhất ở ruộng Ở độ cao trên 700m, cây thuốc tập trung chủ yếu ở rừng già trên núi cao, trong khi số lượng loài ở ven khe là ít nhất.
Hiện nay, một số loài thực vật đặc trưng chỉ xuất hiện ở đai cao như Biến hóa núi cao, Lan kim tuyến, Hoàng đằng và Thanh thiên quỳ.
Một số loài cây gỗ có bộ phận dùng làm thuốc phân bố ở hai đai, bao gồm sến mật, nhội, trám, cẩu tích, tắc kè đá, bổ béo đen, bình vôi và hoàng đằng.
Quá trình đánh giá sự đa dạng về dạng sống cho thấy các loài cây thuốc phân bố phong phú và phức tạp theo môi trường sống Chúng có thể sống ở vùng đồi núi cao, đồi núi thấp, rừng thưa, rừng thứ sinh phục hồi sau cháy, gần nước khe suối, ven bờ nước, đồng ruộng, ruộng ẩm, cũng như ở ven đường đi và nương rẫy Dựa vào hiện trạng khu vực nghiên cứu và sự phân bố tự nhiên của cây thuốc, tôi đã chia sinh cảnh phân bố của cây thuốc thành 9 nhóm chính, với kết quả tổng hợp được thể hiện trong bảng 4.11.
Bảng 4.11 Phân bố cây thuốc trong các sinh cảnh sống STT Sinh cảnh Kí hiệu Số loài Tỷ lệ %
Kết quả từ bảng 4.9 chỉ ra rằng sự phân bố của các loài cây thuốc trên các sinh cảnh là không đồng đều Sự chênh lệch này có thể do thời điểm điều tra không trùng với mùa sinh trưởng tối ưu của các cây thuốc hoặc do các hoạt động khai thác của con người.
Khu vực nghiên cứu chủ yếu có sự phân bố của các loài cây thuốc tại sinh cảnh rừng thứ sinh, với 348 loài, chiếm 34,49% Tiếp theo là sinh cảnh trảng cỏ cây bụi với 218 loài, chiếm 21,61% Sinh cảnh môi trường nước có số loài ít nhất, chỉ 3 loài, chiếm 0,3% Các loài cây thuốc trong môi trường rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chữa trị bệnh và thúc đẩy quá trình tái sinh, phục hồi rừng.
Rừng nguyên sinh hiện chỉ còn tồn tại ở độ cao trên 700 m và xa khu dân cư, nhưng vẫn có nhiều loài quý hiếm và có giá trị sử dụng cao như Lan lim tuyến và Thanh thiên quỳ, cần được bảo tồn.
Sinh cảnh rừng thứ sinh đã trải qua nhiều năm khai thác gỗ, nhưng vẫn duy trì được cấu trúc với tầng tán chính bao gồm các loài cây gỗ, cùng với tầng cây tái sinh, tầng cây bụi thảm tươi và thực vật ngoại tầng.
Diện tích rừng thứ sinh phục hồi đã được giao khoán cho các hộ bảo vệ nhằm mục đích phòng hộ, cho phép người dân tận thu lâm sản ngoài gỗ, bao gồm cả cây thuốc, theo hướng dẫn của cơ quan chức năng Các loài cây thuốc thường gặp ở vườn nhà chủ yếu là cây trồng hoặc mọc tự nhiên, được sử dụng để chữa bệnh thông thường như cảm cúm, nhức đầu, đau bụng, và một số loài cũng được dùng làm gia vị như gừng, tía tô, lá lốt, lá khôi, nhội, sung, rau sắng.
Một số loài có phạm vi phân bố ở nhiều sinh cảnh như nhội, sung, sến mật, trám
Các cây thuốc trong rừng khu vực điều tra đang bị khai thác nghiêm trọng, với nhiều nhà buôn đến thu mua hàng năm Người dân thường lên rừng lấy cây cỏ củ để bán mà không biết mục đích và tác dụng của chúng Do đó, việc bảo vệ rừng cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc quý giá trong khu vực.
Nghiên cứu môi trường sống của từng loài là rất quan trọng, giúp bảo tồn sự đa dạng của cây thuốc và tạo ra nguồn nguyên liệu hữu ích cho việc sản xuất thuốc chữa bệnh.
4.3 Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
4.3.1 Tình hình khai thác cây thu ốc để s ử d ụ ng t ạ i c ộng đồ ng
Xã có một trạm y tế trung tâm với giường bệnh, y sỹ và y tá, nhưng thiếu thốn dụng cụ y tế và thuốc men Do đó, y học truyền thống và cây thuốc hoang dại vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe cho người dân ở các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số.
Tại Trung Thành, 100% hộ gia đình vẫn sử dụng cây thuốc hoang dại và kinh nghiệm truyền thống để phòng và chữa bệnh, cho thấy việc khai thác cây thuốc trong tự nhiên diễn ra thường xuyên.
Khai thác cây thuốc để sử dụng tại cộng đồng ở Trung Thành được quan tâm ở mức độ:
Hầu hết người dân trong cộng đồng vẫn thu hái cây thuốc để phòng và chữa bệnh cho cá nhân và gia đình, hoặc ngâm rượu thuốc Mặc dù số lượng cây thuốc bị thu hái khá ít, nhưng khối lượng dược liệu trong mỗi lần sử dụng không nhiều và không có loài cây nào bị khai thác quá mức Tuy tình trạng khai thác chưa đến mức báo động, nhưng cần có sự quản lý của chính quyền địa phương để ngăn chặn việc khai thác quá mức các loài cây thuốc.