1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu tính đa dạng sinh học nhóm bướm ngày (rhopalocera, lepidoptera) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên nà hẩu, yên bái

88 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tính đa dạng sinh học nhóm bướm ngày (Rhopalocera, Lepidoptera) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Yên Bái
Tác giả Nguyễn Văn Linh
Người hướng dẫn TS. Lê Bảo Thanh
Trường học Trường đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Các nghiên cứu về côn trùng nói chung và Bướm ngày nói riêng trên thế giới (12)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu về Bướm ngày ở Việt Nam (15)
    • 1.3. Nghiên cứu về các giải pháp bảo tồn côn trùng nói chung và côn trùng cánh vẩy nói riêng (22)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI (24)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
    • 2.2. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (24)
    • 2.3. Nội dung điều tra nghiên cứu (24)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 2.4.1. Phương pháp thu thập, đánh giá thông tin, kết thừa tài liệu (25)
      • 2.4.2. Phương pháp phỏng vấn (25)
      • 2.4.3. Phương pháp điều tra thực địa (25)
      • 2.4.4. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu (29)
      • 2.4.5. Phương pháp phân tích số liệu (30)
      • 2.4.6. Cách xử lý mẫu và bảo quản mẫu (31)
      • 2.4.7. Phương pháp phân loại mẫu (32)
      • 3.4.1. Khí hậu (36)
      • 3.4.2. Thuỷ văn (38)
    • 3.5. Tài nguyên nhân văn (38)
    • 3.6. Các giá trị cảnh quan, môi trường, bảo tồn và du lịch (39)
    • 3.7. Dân tộc, dân số, và lao động và phân bố dân cư (39)
    • 3.8. Tập quán sinh hoạt, sản xuất (40)
    • 3.9. Sản xuất nông nghiệp (40)
    • 3.10. Lâm nghiệp (41)
    • 3.11. Tiềm năng du lịch (41)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 4.1. Thành phần loài bướm ngày của khu vực nghiên cứu (43)
    • 4.2. Đặc điểm phân bố của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu (48)
      • 4.2.1. Phân bố của các loài bướm theo điểm điều tra (48)
      • 4.2.2. Phân bố của các loài bướm ngày theo sinh cảnh (49)
      • 4.2.3. Đa dạng của bướm ngày theo sinh cảnh (55)
    • 4.3. Tính đa dạng về hình thái của bướm ngày (56)
      • 4.3.1. Đa dạng về tập tính (60)
      • 4.3.2. Ý nghĩa của các loài bướm ngày tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu . 54 4.4. Đặc điểm hình thái và tập tính của một số loài có giá trị (62)
      • 4.4.1. Bướm phượng (Papilio paris Linnaeus) (68)
      • 4.4.2. Bướm phượng (Papilio helenus Linnaeus) (69)
      • 4.4.3. Bướm chai xanh thường (Graphium sarpedon Linnaeus) (69)
      • 4.4.4. Hải âu cam ( Appias nero Fabricius) (70)
      • 4.4.5. Bướm Đốm xanh nền đen (Tirumala septentrionis Butler) (70)
    • 4.5. Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn và bảo vệ các loài bướm ngày ở Nà Hẩu (71)
      • 4.5.1. Các giải pháp chung (72)
      • 4.5.2. Các giải pháp quản lý cụ thể (73)
      • 4.5.3. Công tác điều tra giám sát (73)
      • 4.5.4. Thu thập thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài chủ yếu (74)
      • 4.5.5. Các biện pháp kỹ thuật (75)
    • 1. Kết luận (76)
    • 2. Kiến nghị. .................................................................................................... 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO (76)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu về côn trùng nói chung và Bướm ngày nói riêng trên thế giới

Côn trùng là nhóm động vật phong phú và đa dạng nhất, với ước tính số lượng loài đã được mô tả trên toàn cầu dao động từ 720.000 đến hơn 1.000.000 loài Các nghiên cứu cho thấy, vào năm 1997, có khoảng 720.000 đến 751.000 loài côn trùng, trong khi từ năm 1998 đến 2008, con số này tăng lên 800.000 và tiếp tục đạt 948.000 vào năm 2003 Đến năm 2004, IUCN ước tính có khoảng 950.000 loài, và một số nghiên cứu gần đây cho rằng tổng số loài có thể lên tới 5-6 triệu.

Theo ước tính của Myers (2001), số lượng loài trên thế giới có thể lên đến khoảng 8.000.000 Groombridge và Jenkins (2002) đã thống kê được 963.000 loài, bao gồm côn trùng và các động vật nhiều chân khác Số lượng côn trùng ước tính rất khác nhau, với con số dao động từ 2.000.000 loài (Nielsen và Mound, 2000) Các tính toán này dựa trên việc ngoại suy từ các loài Coleoptera và Lepidoptera tại New Guinea do Novotny et al thực hiện.

(2002) có thể đạt tới một con số từ 3,7 triệu và 5.900.000 loài cho tổng số động vật chân đốt trên thế giới

Côn trùng là nhóm động vật đa dạng và đông đúc nhất trên Trái Đất, với khoảng một tỷ tỷ (10^8) cá thể Điều này có nghĩa là trên mỗi km² bề mặt, có tới 10 tỷ con côn trùng sinh sống, tương đương với khoảng 200 triệu con cho mỗi người Với sự tương quan này, nhiều người cho rằng côn trùng mới thực sự là "chủ nhân" thống trị hành tinh xanh của chúng ta.

Côn trùng trở thành một ngành khoa học bắt đầu từ Aristoteles (384 –

Ông đã lần đầu tiên mô tả và phân loại thế giới động vật thành hai nhóm: nhóm có máu và nhóm không có máu Nhóm không có máu bao gồm các loài có cơ thể phân đốt, được chia thành đầu, ngực và bụng Trong nhóm này có côn trùng, đa túc, nhện, một phần giáp xác thấp và một số giun đốt.

Cajus Plinius Secundus đã công bố các công trình nghiên cứu về sự hô hấp của côn trùng, cho rằng chúng có máu Aldrovandi (1522 – 1605), giáo sư tại Gymnasium Bologna, cũng đã công bố các tác phẩm liên quan đến côn trùng, trong đó thuật ngữ Insecta được sử dụng để chỉ các loài như bọ cạp, nhện, giun đốt và sao biển Tác phẩm của ông chứa đựng nhiều quan sát quý giá về cách sinh sống và hình dạng của các nhóm động vật này.

Th.Moufer (1550 – 1604) đã biên soạn và công bố tài liệu dựa trên bản thảo của Conrad Gesner (1516 – 1565) vào năm 1634 Hệ thống phân loại của Moufet tương tự như của Aldrovandi, nhưng khác biệt ở chỗ sao biển không còn được xếp vào nhóm Insecta.

Những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giải phẫu côn trùng đến từ Marcello Malpighi (1628 – 1694) và Antony Leeuwenhoek (1632 – 1723) Năm 1668, Francesco Reidi (1626 – 1697) đã phát hiện ra hiện tượng đáng chú ý trong nghiên cứu này.

Johannes Swammerdam đã chứng minh rằng ruồi không chỉ phát sinh từ những con dòi trong thịt thối rữa, mà còn từ những miếng thịt mà ruồi đã đẻ trứng vào trước đó.

(1637 – 1685) là người hoàn thiện các công trình nghiên cứu của Reidi và ông gọi đó là côn trùng ký sinh

Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của John Ray được Hội Hoàng gia Anh công bố, đánh dấu sự khởi đầu trong lĩnh vực côn trùng học Aurivillius (1909) đã xem Ray là nhà côn trùng học đầu tiên và duy nhất trước Linne về hệ thống phân loại côn trùng Mặc dù Ray đã mô tả nhiều giống và loài, nhưng hệ thống thuật ngữ của ông còn thiếu sót, khiến cho việc hiểu biết trở nên khó khăn Đến thời điểm này, nhiều nhóm động vật như nhện, mò, mạt, rận, chim và giun đất đã được phân loại rõ ràng, không còn bị xếp lẫn trong nhóm côn trùng.

Carl von Linne (1707 – 1778) là người sáng lập hệ thống phân loại hiện đại cho côn trùng, đóng góp lớn cho thực vật và động vật học Ông phân chia côn trùng thành các bộ, giống và loài, đồng thời phân loại nhện, giáp xác và rết vào nhóm không cánh, tách biệt giun và sao biển khỏi côn trùng.

Sau thời kỳ Linne, nghiên cứu về côn trùng gia tăng mạnh mẽ, nhưng côn trùng học vẫn chỉ là một phần của động vật học Các vấn đề chính trong côn trùng học bao gồm hệ thống phân loại, giải phẫu, sinh thái và sinh lý học Ban đầu, côn trùng học phát triển từ ngành động vật rừng, sau đó đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy độc lập.

Theo Geiler (1967), J.T.C Ratzeburg (1801 – 1871) được xem là người tiên phong trong lĩnh vực côn trùng học lâm nghiệp Ông đã mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo về côn trùng nông nghiệp, trong đó có những công trình quan trọng của H Nordlinge (1818).

1897), côn trùng y học, côn trùng ứng dụng của K.Eschrich (1871 -1951)…

Từ giai đoạn này, nghiên cứu về côn trùng trên toàn cầu đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến việc thành lập các "Hội côn trùng học" ở nhiều quốc gia phát triển như Đức, Nhật Bản, Mỹ, Canada và Pháp Những nhà nghiên cứu côn trùng nổi bật như Eckstein, Eidmann, Prell, Zwolfer và Schwerdtfeger đã đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này, và sự phát triển này đã lan rộng ra khắp thế giới.

Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) là một trong những bộ côn trùng đa dạng nhất, bao gồm cả ngài (bướm đêm) và bướm ngày Cơ thể và cánh của chúng được phủ bởi những lông vảy nhỏ, tạo nên vẻ ngoài giống như bụi phấn, do đó còn được gọi là bộ Cánh phấn Miệng của chúng có vòi hút, trong khi hàm trên đã thoái hóa, chỉ còn lại dấu vết Râu đầu của bướm có nhiều hình dạng khác nhau như sợi chỉ, lông chim, dùi đục và dùi trống Hiện nay, khoảng 180.000 loài bướm đã được mô tả, với ước tính tổng số loài trên thế giới lên tới 300.000-500.000.

Bộ Cánh vẩy được chia làm hai nhóm chính là Bướm ngày và Bướm đêm, với những đặc điểm sai khác như sau:

Bảng 1.1: Đặc điểm khác nhau giữa Bướm ngày và Bướm đêm

Bộ phận Bướm ngày Bướm đêm

Râu đầu Hình dùi đục, hình dùi trống Hình sợi chỉ, hình lông chim

Cánh Đa số ngắn lớn Đa số dài nhỏ

Phần bụng Đa số thon dài Đa số mập ngắn

Liên kết cánh trước sau

Không có cơ quan liên kết Có cơ quan liên kết

Xếp cánh khi nghỉ ngơi

Hai đôi cánh thường xếp thẳng trên lưng ( một số ít xếp bằng trên lưng)

Hai đôi cánh xếp bằng hoặc xếp thành hình mái nhà trên lưng

Ban ngày Hoạt động ban đêm nhiều hơn

(Cố Mậu Bân, Trần Bội Trân ,1997)

Tình hình nghiên cứu về Bướm ngày ở Việt Nam

Những mẫu Bướm ngày đầu tiên được thu thập ở Việt Nam hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên quốc gia Paris, có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam và được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 1864 đến 1868 Trong nghiên cứu nổi tiếng “Nghiên cứu côn trùng” của Oberthur (1893), 89 loài Bướm ngày đã được đề cập, trong đó có 4 taxon mới được mô tả cho Bướm ngày Việt Nam.

2003) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trong khoảng thời gian từ 1894 đến 1990, các nhà sưu tập người Pháp đã tiến hành thu thập mẫu Bướm ngày, kéo dài gần 100 năm Kết quả của công việc này là hai công trình của Joannis (1900, 1902), trong đó đã xác định được 93 loài Bướm ngày ở tỉnh Cao Bằng và Lào Cai (theo Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Từ năm 1902-1911, Fruhstorfer, nhà nghiên cứu Bướm ngày người Thụy

Sĩ đã công bố nhiều bài báo quan trọng về các loài và phân loài mới của khu hệ Bướm ngày Việt Nam, với hơn 150 taxon mới được ghi nhận trong Danh mục các mẫu chuẩn của Fruhstorfer (1922) Ông cũng có những đóng góp đáng kể trong nghiên cứu về các họ Bướm phấn (Pieridae), Bướm giáp (Nymphalidae), Erycinidae và Bướm xanh (Lycaenidae), được xuất bản trong nhiều tập về vùng Đông Phương dưới sự chủ biên của Seitz (1908-1928).

Nghiên cứu tiếp theo về Bướm ngày ở Đông Phương, bao gồm Việt Nam, dựa trên các bộ mẫu từ các nhà sưu tập Pháp Kết quả được công bố trong ba công trình của Vitalis (1919) và Dubois cùng Vitalis (1921).

Các công trình nghiên cứu từ năm 1924 đã đề cập đến 661 taxon, bao gồm cả loài và phân loài, và được coi là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo (Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Joannis (1930) đã có công trình nghiên cứu mang tên “Lépidoptères héterocères du Tonkin” được xuất bản ở Paris Tác giả đã thống kê được

1.798 loài thuộc 746 giống và 45 họ côn trùng Cánh vảy ở vùng Đông Dương, trong đó có Việt Nam

Trong những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, việc thu thập Bướm ngày ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các nhà côn trùng học người Pháp, Anh và Nhật Bản Năm 1950, Lemee và Tams đã công bố 250 loài Bướm ngày phân bố tại miền Bắc Việt Nam.

Trong thời kỳ này, Metaye đã có những đóng góp quan trọng cho việc hiểu biết về khu hệ Bướm ngày tại Việt Nam, xác định được 454 loài Bướm ngày (Metaye, 1957) Tuy nhiên, danh sách của ông chủ yếu dựa trên các tài liệu trước đó của Dubois và Vitalis, và chứa nhiều lỗi, do đó không thể áp dụng nếu không có phương pháp phân loại chi tiết (Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Các nghiên cứu về họ Bướm ngao (Riodinidae), họ Bướm xanh (Lycaenidae) và họ Bướm nhảy (Hesperiidae) ở miền Nam Việt Nam đã được thực hiện bởi các nhà côn trùng học Nhật Bản từ năm 1964 đến 1970, tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn chưa hoàn tất.

Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, Russel đã thu thập một bộ sưu tập nhỏ nhưng giá trị ở miền Nam Việt Nam, chứa đựng những số liệu quan trọng về khu hệ và phân loại học Một phần trong số liệu này đã được Eliot áp dụng trong các công trình tu chỉnh phân loại của ông liên quan đến Bướm ngày châu Á (Eliot, 1969, 1986; Eliot & Kawazoe, 1986; dẫn trong Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Năm 1976, Viện Bảo vệ Thực vật đã tiến hành điều tra côn trùng tại Miền Bắc Việt Nam, với sự hợp tác của các nhà côn trùng học từ Trung Quốc và Việt Nam, xác định được 181 loài thuộc 9 họ Bướm ngày Công trình này chủ yếu tập trung vào việc xác định các loài côn trùng gây hại.

Công trình điều tra cơ bản về côn trùng miền Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến 1970 của Mai Phú Quí và các cộng sự (1981) đã xác định được danh mục 161 loài thuộc 5 họ Bướm ngày.

Nghiên cứu về Bướm ngày ở miền Bắc Việt Nam đã được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong nước, với một số danh sách ngắn được công bố trong các công trình về động vật và nông nghiệp (Anonymous, 1976; Trần Thị Lan, 1981) Tuy nhiên, việc định loại các loài này vẫn chưa đạt độ tin cậy cao (Monastyrskii và Devyatkin).

Vào năm 2003, các tác giả Nguyễn Thị Hồng (1979) và Nguyễn Phụng (1985) đã tiến hành phân loại họ Bướm giáp (Nymphalidae) tại Bảo tàng Pari, đồng thời mô tả các taxon mới (Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Từ những năm 1990, nhiều nghiên cứu về bướm đã được thực hiện, chủ yếu bởi các nhà côn trùng học Việt Nam, Séc, Nhật Bản và Nga Tại Việt Nam, các khảo sát này tập trung vào Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.

Một nhóm nhà khoa học từ Viện Hàn lâm Khoa học Séc đã thực hiện các nghiên cứu ngắn hạn, tập trung vào sinh thái tại các khu bảo tồn, và đã công bố nhiều bài báo quan trọng (Spizer và nnk, 1987, 1993; dẫn trong Monastyrskii và Devyatkin, 2003).

Nghiên cứu về các giải pháp bảo tồn côn trùng nói chung và côn trùng cánh vẩy nói riêng

Nghiên cứu đa dạng sinh học (ĐDSH) côn trùng đã được thực hiện tại một số Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn như VQG Cát Tiên, VQG Tam Đảo và VQG Xuân Sơn Tại VQG Pù Mát và KBTTN Pù Huống, nhiều cơ quan nghiên cứu, tổ chức quốc tế và trường đại học đã tiến hành điều tra ĐDSH côn trùng Kết quả điều tra của Alexander L Monastyrskii và Nguyễn Văn Quảng năm 1998 đã phát hiện 293 loài côn trùng, và năm 2001, hai tác giả này đã công bố bổ sung thêm 12 loài Trong báo cáo nghiên cứu của Lê Xuân Huệ (2007) về ĐDSH chim tại VQG Pù Mát, đã thống kê được 1084 loài thuộc 64 họ của 7 bộ Tuy nhiên, việc nghiên cứu các giải pháp bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam vẫn còn hạn chế và chủ yếu mang tính cục bộ tại một số địa phương và khu bảo tồn.

Báo cáo nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An, đã đề xuất các biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý một số loài côn trùng có ích như ong ruồi và ong khói Đồng thời, nghiên cứu cũng khuyến nghị nhân nuôi một số loài côn trùng cánh cứng và bướm đẹp Đặng Thị Đáp (2008) đã đưa ra các mô hình nhân nuôi bướm tại Tam Đảo, mặc dù công trình này rất công phu nhưng chỉ tập trung vào một số loài có giá trị thẩm mỹ cao.

Các nghiên cứu về đa dạng sinh học (ĐDSH) đã được thực hiện tại một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở việc điều tra và phát hiện thành phần loài Việc nghiên cứu đặc điểm phân bố, giá trị ĐDSH của côn trùng và các giải pháp bảo tồn vẫn còn hạn chế Đặc biệt, tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về côn trùng.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá sự phong phú và đa dạng của nhóm Bướm ngày cùng với sự phân bố của chúng theo các sinh cảnh là rất quan trọng Đồng thời, cần đề xuất các biện pháp bảo tồn cho những loài Bướm ngày có ích và có giá trị kinh tế.

Cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ các nghiên cứu tiếp theo tại KBTTN

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đối tượng : Các loài Bướm ngày (Rhopalocera, Lepidoptera) Địa điểm : Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu – Yên Bái Thời gian nghiên cứu : từ tháng 04/2013 đến 10/2013.

Nội dung điều tra nghiên cứu

+ Xác định thành phần loài của bướm ngày tại khu vực nghiên cứu; + Đánh giá tính đa dạng bướm ngày theo các dạng sinh cảnh;

+ Đánh giá tính đa dạng sinh học của các loài trong khu vực nghiên cứu;

- Tính đa dạng về hình thái;

- Đa dạng về tập tính thức ăn, nơi cư trú, sinh sản;

- Ý nghĩa của bướm ngày ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu: Các loài quý hiếm, Các loài có hình thái đẹp, Các loài có ích;

Một số đặc điểm hình thái của các loài có giá trị hoặc các loài có tính chỉ thị môi trường rất quan trọng trong việc nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học Những đặc điểm này không chỉ giúp xác định các loài mà còn cung cấp thông tin về tình trạng môi trường sống của chúng Việc hiểu rõ các đặc điểm này sẽ hỗ trợ trong việc phát triển các chiến lược bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập, đánh giá thông tin, kết thừa tài liệu

KBT Nà Hẩu đã được hình thành và xây dựng dựa trên các tài liệu hiện có, cùng với kết quả điều tra khu hệ động thực vật gần đây Ngoài ra, việc thu thập bản đồ hiện trạng và địa hình của khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu cũng đã được thực hiện.

2.4.2 Phương pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là cán bộ KBTTN, dân địa phương, các cán bộ tại các trạm kiểm lâm, những người thường xuyên gắn bó với rừng Phỏng vấn bao gồm các bước sau:

Nghe từ người dân và cán bộ bảo vệ rừng về khu vực, chúng tôi thu thập thông tin về các đặc điểm của loài bướm trong quá trình kiểm tra rừng và làm rẫy Những loài bướm thường gặp và tên địa phương của chúng cũng được ghi nhận, giúp làm rõ hơn về sự đa dạng sinh học trong khu vực.

Phỏng vấn người dân tại các thôn trong ranh giới Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) và một số cán bộ Kiểm lâm tại các trạm kiểm lâm địa bàn đã cho thấy tình trạng săn bắt các loài thuộc nhóm bướm ngày bộ Cánh vẩy đang diễn ra trong khu vực nghiên cứu.

2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa 2.4.3.1 Thiết lập các tuyến khảo sát và điểm điều tra

Bướm ngày có miệng hút và chủ yếu ăn mật hoa cùng các chất khoáng, vì vậy chúng thường xuất hiện ở những khu vực như ven suối, ven đường, và những nơi có nhiều hoa như cây bụi, cây hoa màu, và cây ăn quả Do đó, tôi đã thiết lập phương pháp điều tra tuyến với các điểm điều tra được bố trí dọc theo các tuyến này.

Để lập tuyến điều tra, tôi dựa vào kết quả xác định dạng sinh cảnh và địa hình khu vực nghiên cứu, cùng với đặc điểm sinh học của các loài bướm ngày Các tuyến điều tra cần đáp ứng các tiêu chí nhất định để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình nghiên cứu.

• Tuyến điều tra phải đi qua các dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu

• Đảm bảo tính đại diện

• Thuận lợi cho việc điều tra và thu bắt mẫu

Dựa vào tiêu chí trên tôi xác định được 4 tuyến điều tra

Tuyến 1 có điểm xuất phát từ trạm Kiểm lâm Nà Hẩu và kết thúc tại xã Nà Hẩu, với chiều dài khoảng 6 km Trên tuyến này, du khách sẽ có cơ hội khám phá các sinh cảnh đa dạng như rừng tái sinh, rừng pha tre nứa và rừng trồng Để phục vụ cho công tác điều tra, tuyến 1 được bố trí 6 điểm điều tra cụ thể, bao gồm điểm 1, 2, 3, 4, 5 và 6.

- Tuyến 2: Xuất phát từ Trung tâm UBND xã Nà Hẩu tới đội Kiểm lâm

Tuyến sinh cảnh Nà Hẩu dài khoảng 3 km chủ yếu bao gồm rừng trồng, đồng ruộng và khu dân cư Để thực hiện điều tra, tuyến này được bố trí 4 điểm điều tra tại các vị trí 7, 8, 9 và 10.

Tuyến 3 bắt đầu từ đội Kiểm lâm Nà Hẩu và kéo dài 3,5 km đến thôn 1 bản Tát Tuyến đường chủ yếu đi qua sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động, bên cạnh đó còn có rừng trồng và khu dân cư Do đó, tôi đã bố trí 4 điểm điều tra tại các vị trí 11, 12, 13 và 14.

Tuyến 4 có chiều dài 5 km, bắt đầu từ bản Tát và kết thúc tại bản Dần Thàng Tuyến đi qua sinh cảnh rừng tự nhiên nguyên sinh, xen kẽ với các khu vực trống có cây bụi thảm tươi Do xuất phát từ hai bản, tuyến cũng đi qua các khu vực hoa màu, rừng trồng và khu dân cư Tôi đã bố trí 4 điểm điều tra tại các điểm 15, 16, 17 và 18.

Chúng tôi thực hiện 8 đợt điều tra, mỗi đợt từ 6 – 7 ngày

2.4.3.2 Xác định cách sinh cảnh trong khu vực

Các dạng sinh cảnh được lựa chọn dựa trên tiêu chuẩn chung, phản ánh các dạng sinh cảnh điển hình của khu vực nghiên cứu Trong khu vực này, chúng tôi đã xác định được một số dạng sinh cảnh quan trọng.

* Sinh cảnh 01: Rừng nguyên sinh: Phân bố ở đai độ cao từ 500m-

700m, rừng giàu, ít bị tác động nên có cấu trúc tầng thứ điển hình cho rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Tầng cây gỗ (tầng A) có chiều cao từ 15 đến trên 30m, nổi bật với các loài như Táu mặt quỉ, Kháo vàng, Sồi, Dẻ cau, Giổi, và Kháo nhớt, trong đó chiều cao có thể đạt tới 35m Tầng thấp bao gồm các cây như Bứa, Trám, De, Thiều rừng, và Ngát.

- Tầng cây bụi (tầng B): Mía giò, Đu đủ rừng, Đáng gai, Cau rừng, v.v

- Thảm cỏ (tầng C): Thổ tế tân, Lá cơm nếp, Dương xỉ, Rẻ quạt rừng,

- Tái sinh: Đáng, Mức trơn, Trứng gà, Trâm muỗi, Lọng bàng, Thiều rừng,

- Thực vật ngoại tầng: Các loài dây leo: Bằm bằm, Mỡ lợn, Vạn niên thanh

Sinh cảnh 02: Rừng phục hồi sau nương rẫy là khu vực đất hoang do hoạt động nương rẫy và chăn thả, với đất cứng và chặt Tại đây, các loài cây ưa sáng phát triển nhanh chóng, bao gồm các cây gỗ nhỏ, cỏ và dương xỉ Những loài cây tiêu biểu như Cỏ lào, Câu đắng, Cà dại, Núc nác, Dung, Thẩu tấu, Mua, Lá nến, và Chè đuôi lươn, trong đó cây Mua chiếm ưu thế Lớp cây bụi có thể cao tới 3m, tạo thành một thảm thực vật phong phú với sự hiện diện của cỏ và dương xỉ.

Sinh cảnh 03 là rừng pha tre nứa và các cây gỗ, chủ yếu bao gồm các loài tre nứa và cây gỗ như Bứa, Ngát, Trám chua, Vạng trứng Rừng này có sự tái sinh phong phú của các loài cây ưa sáng như Hu đay và Ba bét Ngoại tầng rừng có sự hiện diện của Ráy xẻ và Dây leo cành, tuy số lượng không nhiều Lớp thực bì phát triển mạnh với sự xuất hiện của Cỏ và các cây bụi nhỏ như mua cỏ lau.

Trong khu vực nghiên cứu, rừng trồng đa dạng với loại phổ biến nhất là rừng trồng quế Loại rừng này được trồng với mật độ dày và có độ khép tán nhanh, dẫn đến thực bì chủ yếu là các loài cỏ dại.

Tài nguyên nhân văn

Trong vùng, người dân tổ chức các lễ hội truyền thống như lễ hội hát Then, lễ hội Lùng tùng và nghề dệt thổ cẩm, nhưng hiện nay những hoạt động này đang dần mai một Đặc biệt, lễ hội cúng rừng tại xã Nà Hẩu là một sự kiện độc đáo, trong thời gian diễn ra, người dân không được tác động đến rừng Để phát triển du lịch, cần có kế hoạch đầu tư và khôi phục các hoạt động văn hóa này.

Các giá trị cảnh quan, môi trường, bảo tồn và du lịch

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và khu vực lân cận sở hữu nhiều sinh cảnh rừng đa dạng và phong phú về sinh học, với địa hình núi đá và nhiều hang động, thác nước đẹp như Hang Dơi, Hang Âm, Hang Dương và thác Bản Tát Khu vực này có tiềm năng lớn cho du lịch sinh thái Tuy nhiên, hiện tại, các hoạt động phát triển du lịch sinh thái chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến việc tiềm năng này chưa được khai thác hiệu quả.

Dân tộc, dân số, và lao động và phân bố dân cư

Vào năm 2010, dân số Khu BTTN Nà Hẩu đạt 13,988 người, với mật độ dân số trung bình là 33 người/km² Trong đó, Mỏ Vàng có mật độ dân số cao nhất là 39 người/km², trong khi Phong Dụ Thượng có mật độ thấp nhất là 27 người/km².

- Lao động: Toàn khu bảo tồn có 7693 lao động, chiếm 55 % dân số Lao động trong khu vực Nhà nước là 559 người, chiếm 4 % tổng số lao động

Khu bảo tồn là nơi sinh sống của 5 dân tộc, bao gồm Kinh, Dao, Tày, H’Mông và Nùng, trong đó hai dân tộc chính là Dao và H’Mông.

Người Dao là một trong những dân tộc đông đảo và phân bố rộng rãi trong khu bảo tồn, sống tại các làng thuộc xã Phong Dụ Thượng, Đại Sơn, Mỏ Vàng Họ vẫn giữ gìn nhiều phong tục và truyền thống đặc trưng, với phụ nữ thường mặc áo váy truyền thống tự làm Đàn ông trưởng thành phải trải qua lễ Lập tỉnh, trong đó có điệu múa truyền thống múa xoè Hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người Dao mang tính cộng đồng rõ nét, và tại Văn Yên, họ có thu nhập cao nhờ vào sản phẩm cây quế.

Người H'Mông là một dân tộc chủ yếu sinh sống trong khu vực lõi của khu bảo tồn, nổi bật với những đặc trưng văn hóa và truyền thống độc đáo Tại Nà Hẩu, họ duy trì lối sống định cư và canh tác lúa nước, đồng thời bảo tồn bản sắc dân tộc trong sinh hoạt hàng ngày Với tinh thần cộng đồng cao và tự lực tự cường, phụ nữ H'Mông vẫn tự tay làm ra vải và mặc áo váy truyền thống, thể hiện sự gắn bó với văn hóa của mình.

Tập quán sinh hoạt, sản xuất

Sản xuất nông nghiệp trong khu vực chiếm tỷ trọng cao, nhưng diện tích đất nông nghiệp lại hạn chế Tỷ trọng sản xuất lâm nghiệp đang phát triển mạnh nhờ vào việc trồng quế, trong khi dịch vụ vẫn chưa phát triển Nhìn chung, nền kinh tế khu vực đã bắt đầu chuyển dịch từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, tuy nhiên cần có sự chuyển đổi cơ cấu nhanh chóng để hòa nhập với xu thế chung của các vùng trong tỉnh.

Sản xuất lâm nghiệp trong khu vực đã triển khai một số dự án như 135, 661, và chương trình giảm nghèo của WB, tuy nhiên, vốn đầu tư vẫn còn thấp và không ổn định Người dân cũng tham gia vào việc nhận khoán bảo vệ rừng trên diện tích 9,863 ha với mức khoán 100,000đ/ha/năm, điều này đã góp phần cải thiện thu nhập cho họ.

Sản xuất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp hiện nay quá nhỏ so với tổng diện tích, với đất trồng lúa và màu chỉ chiếm bình quân 285m²/người Sản phẩm chủ yếu là lúa nước, ngô, lúa nương và sắn, trong đó ruộng nước thường nằm ở những khu vực thấp, gần dân cư, ven suối và ruộng bậc thang Năng suất lúa còn thấp do kỹ thuật canh tác chưa phát triển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.

Các loại hoa màu như ngô và sắn thường được trồng trên những vùng đất cao, bằng phẳng mà không có điều kiện để khai hoang ruộng nước Vì diện tích ruộng nước không đủ 1 sào/người và chủ yếu chỉ có 1 vụ, người dân buộc phải làm nương rẫy để bổ sung nguồn lương thực.

Chăn nuôi trong khu vực chưa phát triển và thiếu đầu tư, với thành phần đàn gia súc chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lợn và gà Công tác thú y còn hạn chế, nhiều thôn bản không có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa được đào tạo chính quy.

Lâm nghiệp

Trước đây, người dân chủ yếu khai thác gỗ và động vật từ rừng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và thương mại Tuy nhiên, sau khi thực hiện chính sách đóng cửa rừng tự nhiên và giao đất giao rừng, tình trạng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng đã giảm đáng kể nhờ sự tham gia của lực lượng kiểm lâm và cộng đồng Một nguồn lợi quan trọng từ rừng là việc trồng và khai thác quế, đặc biệt ở các khu vực như Phong Dụ Thượng, Mỏ Vàng, và Đại Sơn, giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo và cải thiện thu nhập.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thành phần loài bướm ngày của khu vực nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu tại khu vực KBTTN Nà Hẩu chúng tôi đã ghi nhận được 63 loài thuộc 7 họ Kết quả được ghi vào biểu sau:

Bảng 4.1: Thành phần loài bướm ngày bắt gắp ở các dạng sinh cảnh

STT Tên khoa học/Tên Sinh cảnh K (%)

I Amathusiidae/ Họ Bướm rừng 01 02 03 04 05 06 x Thaumantis diores (Doubleday) x 5.56

II Danaidae / Họ Bướm đốm

9 Euploea tulliolus Fabricius x x x x 61.1.1 x0 Ideopsis similis Linnaeus x x x x 38.89 xx Parantica aglea Stoll x x x 55.56 x2 Parantica melaneus Cramer x x x 44.44 x3 Tirumala septentrionis Butler x x x x x 44.44 x4 Tirumala limniace Cramer x x x 38.89

III Lycaenidae / Họ Bướm xanh x5 Lampides boeticus Linnaeus x x 16.67 x6 Miletus chinensis (Felder) x 16.67

IV Nymphalidae / Họ Bướm giáp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si x7 Argyreus hyperbius (Linnaeus) x x x 27.78 x8 Cethosia cyane Drury x x 33.33 x9 Cyrestis thyodamas Boisduval x x 22.22

20 Euthalia eryphylae de Niceville x x 16.67 2x Euthalia lubentina Cramer x 16.67

30 Graphium agamemnon Linnaeus x x x 38.89 3x Graphium sarpedon Linnaeus x x x 55.56

40 Papilio polytes Linnaeus x 22.22 4x Papilio protenor Cramer x x x x x 44.44

43 Troides helena Linnaeus x 5.56 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

VI Pieridae / Họ Bướm cải

50 Cepora nadina Lucas x x x x 61.11 5x Delias hyparete Linnaeus x x x 22.22

VII Satyridae / Họ Bướm mắt rắn

60 Melanitis phedima Cramer x x 27.78 6x Mycalesis intermedia Moore x x x 22.22

Trong một khoảng thời gian ngắn, mặc dù điều kiện thời tiết không thuận lợi, khu vực nghiên cứu đã thu thập được 417 mẫu bướm, xác định được 63 loài thuộc 7 họ bướm ngày So với các khu vực khác, như KBTTN Pù Luông với 158 loài (Bùi Xuân Phương, 2011) và VQG Tam Đảo với 362 loài, số lượng loài bướm tại đây cho thấy sự đa dạng sinh học đáng kể.

Số lượng bướm ngày tại khu vực nghiên cứu chưa lớn, nhưng thành phần các loài bướm ngày lại khá phong phú Sự phong phú này được xác định là do điều kiện tự nhiên thuận lợi của khu vực nghiên cứu, góp phần vào đa dạng thành phần loài bướm ngày.

Bảng 4.2: Đa dạng thành phần loài bướm ngày

STT Họ Số loài P% Số giống P%

Bảng danh lục thành phần loài cho thấy có 4 họ chiếm số lượng loài nhiều nhất: họ Papilionidae với 16 loài, họ Danaidae có 12 loài, và cả hai họ Pieridae, Nymphalidae đều có 11 loài Ngược lại, họ Amathusiidae và Lycaenidae là hai họ có số lượng loài ít nhất, chỉ với 2 loài mỗi họ.

Tôi đã xác định được 13 loài thường gặp, 28 loài ít gặp và 22 loài ngẫu nhiên, với tỷ lệ các loài được ghi trong hình 4.1.

Hình 4.1: Tỷ lệ độ bắt gặp của các loài bướm ngày

Những loài thường gặp tập trung ở các họ được thể hiện ở bảng 4.3

Bảng 4.3: Các họ có loài thuộc nhóm thường gặp

Stt Tên họ Số lượng Tỷ lệ%

Theo bảng 4.3, các loài phổ biến nhất thuộc họ Pieridae, tiếp theo là họ Danaidae Trong khi đó, họ Nymphalidae và Papilionidae có số lượng loài ít gặp hơn.

Nhóm ít gặp bao gồm 28 loài thuộc 5 họ, được trình bày trong bảng 4.4.

Bảng 4.4: Các họ có loài thuộc nhóm ít gặp của khu vực nghiên cứu

STT Họ Số lượng Tỷ lệ %

Từ bảng 4.4 ta thấy các loài ít gặp tập trung ở 5 họ trong tổng số 7 họ của khu vực nghiên cứu Có 3 loài: Apias nero Fabricius, Apias albina

Boisduval thuộc họ Pieridae và loài Euploea core Cramer, Euploea sylvester

Fabricius thuộc họ Danaidae có độ bắt gặp cao nhất là 50%.

Đặc điểm phân bố của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu

Các loài bướm ngày thường tập trung ở những khu vực phù hợp với đặc điểm sinh thái của chúng, như nguồn thức ăn và khí hậu Tuy nhiên, chúng có khả năng di chuyển giữa các dạng sinh cảnh khác nhau, do đó, sự phân bố của các loài bướm ngày chỉ mang tính chất tương đối.

4.2.1 Phân bố của các loài bướm theo điểm điều tra

Với 6 dạng sinh cảnh khác nhau tại tại KBTTN Nà Hẩu, đề tài bố trí

Trong nghiên cứu này, 18 điểm điều tra đại diện cho các dạng sinh cảnh khác nhau, dẫn đến sự đa dạng về các loài bướm ngày được thu thập Để thể hiện sự phân bố của các loài bướm ngày theo từng điểm điều tra, tôi đã lập bảng thống kê các loài bướm đã được ghi nhận.

Bảng 4.5: Tỉ lệ các loài bướm ngày theo điểm điều tra Điểm điều tra

Tỷ lệ (%) Điểm điều tra

Số lượng loài Tỷ lệ

Theo bảng 4.5, các điểm điều tra 3, 4, 6, 7, 9, 10, 13, 17, 18 có số lượng loài phong phú nhất, chủ yếu nằm gần khu dân cư với cây nông nghiệp, rừng trồng, rừng phục hồi và cây bụi nhỏ ven suối Ngược lại, các điểm 10, 11, 12 có số loài ít hơn do nằm trong rừng tự nhiên, nơi có ít cây thức ăn, chủ yếu là các loài cây gỗ lớn, thiếu cây bụi và cây thu hút bướm.

4.2.2 Phân bố của các loài bướm ngày theo sinh cảnh

Bướm ngày có khả năng di chuyển xa, đặc biệt là các loài bướm di cư Tuy nhiên, chúng có sự lựa chọn sinh cảnh sống rõ ràng, chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố như thức ăn, ánh sáng, gió, nhiệt độ và độ ẩm Do đó, số lượng loài bướm ở các sinh cảnh khác nhau rất đa dạng.

Bảng 4.6: Phân bố của bướm ngày phân bố theo sinh cảnh

RNS RPH RPTN RT DC HM

Sự khác nhau trong phân bố của bướm ngày theo sinh cảnh được thể hiện rõ hơn trong hình 4.2

Với: SC 1: Rừng nguyên sinh

SC 2: Rừng phục hồi sau nương rẫy

SC 3: Rừng pha tre nứa và cây gỗ

SC 6: Trồng hoa màu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Hình 4.2: Tỷ lệ phần trăm số loài bướm ngày theo sinh cảnh

Bảng 4.6 và hình 4.2 cho thấy có hai sinh cảnh chiếm hơn 20% tổng số loài bướm trong khu vực nghiên cứu, đó là rừng phục hồi sau nương dẫy và khu dân cư Sự khác biệt trong thành phần loài bướm giữa các sinh cảnh cho thấy chúng phải thích nghi với môi trường để tìm kiếm thức ăn, giao phối và đẻ trứng Các loài bướm thường sống ở những khu vực như bìa rừng, cây bụi hay khoảng trống trong rừng, nơi có nhiều ánh sáng và thức ăn hơn so với rừng sâu Khu vực dân cư và đất canh tác nông nghiệp cung cấp nhiều khoảng trống và nguồn nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng loài Ngược lại, rừng tự nhiên với độ ẩm cao và ánh sáng hạn chế không phù hợp với hầu hết các loài bướm, mặc dù một số loài như bướm rừng (Amathusiidae) lại thích nghi tốt với điều kiện này.

Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Nà Hẩu có mật độ quần thể bướm ngày ở mức trung bình, nhưng một số loài bướm rất phổ biến tại đây.

Ideopsis similis Linnaeus, Cethosia cyane Drury ở rừng trồng và rừng tái sinh

Bên cạnh những loài bướm phổ biến, có nhiều loài hiếm chỉ xuất hiện với 1 – 3 cá thể, như giống Troides Sự đa dạng của các loài côn trùng, đặc biệt là bướm, phụ thuộc vào sự phong phú của thực vật Cạnh tranh về nguồn thức ăn, môi trường sống và thiên địch ký sinh đã dẫn đến việc nhiều loài bướm có quần thể nhỏ.

Bảng 4.7 trình bày những loài có khả năng xuất hiện ở nhiều sinh cảnh khác nhau và có phân bố rộng rãi.

Bảng 4.7: Các loài Bướm gặp ở nhiều sinh cảnh

STT Tên loài Họ Số sinh cảnh bắt gặp

13 Papilio noblei de Nicéville Papilionidae 4/6

22 Ypthima baldus Fabricius Satyridae 5/6 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 4.7 cho thấy có 22 loài bướm phân bố rộng rãi theo các sinh cảnh, trong đó họ Danaidae chiếm ưu thế với 8 loài Họ Papilionidae và Pieridae có 5 loài mỗi họ, trong khi họ Satyridae và Nymphalidae có 2 loài Những loài này thường gặp ở nhiều sinh cảnh và là nhóm bướm phổ biến tại Việt Nam.

Các loài chỉ thu được ở pha trưởng thành duy nhất ở một sinh cảnh được thống kê qua bảng 4.8

Bảng 4.8: Số loài/ Họ bướm ngày bắt gặp ở duy nhất 1 sinh cảnh ST

T Họ Số lượng loài bắt gặp

SC1 SC2 SC3 SC4 SC5 SC6

Với: SC 1: Rừng nguyên sinh

SC 2: Rừng phục hồi sau nương rẫy

SC 3: Rừng pha tre nứa và cây gỗ

SC 6: Trồng hoa màu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Bảng 4.8 cho thấy rằng họ Papilionidae và Nymphalidae có số lượng loài nhiều nhất với 3 loài, trong khi họ Lycaenidae và Satyridae chỉ có 1 loài Đặc biệt, họ Danaidae không có loài nào, còn họ Amathusiidae có 2 loài.

Hầu hết các sinh cảnh đều có đại diện phân bố hẹp Sự khác biệt của các sinh cảnh được thể hiện rõ hơn trong hình 4.3

Hình 4.3: Tỷ lệ phần trăm các loài bướm ngày bắt gặp ở 1 sinh cảnh

4.2.3 Đa dạng của bướm ngày theo sinh cảnh

Bảng 4.9: Đa dạng của bướm ngày theo sinh cảnh

STT Sinh cảnh Số lượng loài(S)

6 Hoa màu 30 93 46.70 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Kết quả từ bảng 4.9 cho thấy, sinh cảnh khu vực dân cư tiếp giáp hoa màu có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất với giá trị d = 59.52 Theo sau là sinh cảnh trồng hoa màu với d = 46.70, sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy d = 41.58, sinh cảnh rừng trồng d = 27.98, sinh cảnh rừng pha tre nứa d = 26.88, và cuối cùng, sinh cảnh rừng tự nhiên có chỉ số đa dạng sinh học thấp nhất là d = 17.73.

Các loài bướm ngày thuộc họ Bướm cải Pieridae và Bướm đốm Danaidae thường xuất hiện với số lượng lớn trong các sinh cảnh như khu dân cư, cánh đồng hoa màu và rừng thưa Khu vực nghiên cứu có nhiều điểm quan sát cho thấy sự phong phú của các loài bướm này.

Các loài bướm thuộc họ Amathusiidae thường xuất hiện trong các khu rừng tự nhiên với cây cối rậm rạp và nhiều cây gỗ lớn Ngoài ra, một số loài bướm phượng như Troides helena cũng được tìm thấy trong các sinh cảnh này.

Sinh cảnh rừng pha tre nứa là môi trường sống quan trọng cho nhiều loài bướm mắt rắn thuộc họ Satyridae, đặc biệt là các loài trong chi Lethe và Mycalesis.

Vì vậy ta thấy chỉ số đa dạng sinh học ở các dạng sinh cảnh khác nhau cũng khác nhau.

Tính đa dạng về hình thái của bướm ngày

Sự đa dạng của loài bướm ngày được thể hiện rõ qua hình thái, do đó, các nhà côn trùng thường sử dụng hình thái để phân loại chúng.

Cơ thể bướm được chia thành ba phần chính: Đầu, Ngực và Bụng, mỗi phần có cấu trúc đặc trưng và chức năng riêng trong đời sống côn trùng Bề mặt của chúng được bao phủ bởi lớp vẩy nhỏ, tạo nên vẻ mềm mại và lông tơ, đồng thời mang màu sắc nổi bật, đặc trưng cho loài bướm.

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nổi bật với sự đa dạng về kích thước của các loài sinh vật Tôi đã thu thập được loài bướm Papilio memnon thuộc họ Papilionidae, có chiều dài thân khoảng 32mm và sải cánh lên đến 50mm Ngoài ra, khu vực này cũng là nơi sinh sống của nhiều loài có kích thước nhỏ hơn, tạo nên sự phong phú trong hệ sinh thái.

Lampides boeticus Linnaeus (họ Lycaenidae), có chiều dài thân thể khoảng 12 mm, sải cánh khoảng 30 mm

Papilio memnon Lampides boeticus Linnaeus

Các loài bướm ngày có sự đa dạng về màu sắc và hình dạng Trong khu vực nghiên cứu, bướm thuộc họ Satyridae và Amathusiidae thường bay gần mặt đất và có màu xám tối do sống ở nơi ánh sáng yếu Ngược lại, bướm thuộc họ Danaidae, Papilionidae, Pieridae và Nymphalidae thường có màu sắc sặc sỡ vì hoạt động ở những nơi quang đãng Họ Danaidae có ba dạng màu sắc cơ bản: đen (Euploea), đỏ da cam (Danaus) và được gọi là bướm đốm do có nhiều đốm trắng Họ Pieridae cũng có các màu cơ bản như trắng, vàng, xanh, đỏ và đen Đặc biệt, cánh bướm là một trong những đặc điểm nổi bật, với sự khác biệt về cấu trúc và sắp xếp của các vảy cánh giữa các họ bướm, tạo nên sự đa dạng hình dạng.

Lycaenidae luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Hình dạnh của cánh trước và sau của các loài Bướm ngày tại khu vực nghiên cứu có các dạng chủ yếu sau:

Bảng 4.10: Các dạng cánh chủ yếu của các loài bướm ngày

STT Dạng cánh Tên loài Ghi chú

1 Hình tam giác gần nhọn Troides helena Linnaeus

2 Hình tam giác mép ngoài hơi nhọn Danaus genutia Cramer

3 Hình tam giác mép ngoài có răng cưa

4 Hình tam giác mép ngoài có

1 răng cưa Junonia atlites Linnaeus

5 Hình mo cau Cepora nadina Lucas

6 Mép ngoài gợn sóng Tirumala limniace Cramer Cánh sau

1 Hình quạt mép ngoài có răng cưa Tirumala limniace Cramer

2 Hình quạt mép ngoài có đuôi ngắn Vindula erota Fabricius

3 Hình quạt mép ngoài có đuôi dài

Trong thế giới bướm, một số loài thể hiện rõ tính nhị hình sinh dục, với sự khác biệt về kích thước, hình dạng, màu sắc và hoa văn cánh giữa con đực và con cái Ví dụ điển hình bao gồm các loài như Troides helena, Graphium antiphates, Papilionidae polytes, P.paris và P memnon.

4.3.1 Đa dạng về tập tính

Mỗi loài bướm đều có những đặc điểm riêng, phản ánh sự thích nghi với môi trường sống Tập tính của các loài bướm rất đa dạng, bao gồm các hành vi liên quan đến di chuyển, kiếm ăn, sinh sản và tự vệ.

Tập tính bay của bướm ngày rất đa dạng và phong phú, liên quan đến các hoạt động như trao đổi chất, ăn uống, sinh sản và tự vệ Trong họ Papilionidae, các loài như Papilio helenus, Graphium sarperdon và Papilio paris thường bay nhanh và có cánh chập chờn khi hút mật từ hoa Ngược lại, một số loài trong họ Danaidae lại say sưa khi hút mật, trong khi các loài thuộc họ Nymphalidae và Papilionidae thường bay đơn lẻ, còn họ Pieridae thường bay theo đàn.

Bướm họ Papilionidae thường thích những chỗ nhô cao hay đồi nhỏ Giống Troides thường bay cao và bay nhanh nên rất khó thu bắt

Bướm thuộc họ Pieridae thường bay trong ánh nắng và gần mặt đất, nhưng một số loài như Hebomoia lại chủ yếu bay trên ngọn cây Giống bướm Pieris là phổ biến nhất và có mặt trên toàn cầu Chúng thường đuổi nhau và bay lên cao.

Bướm họ Danaidae có khả năng bay xa, mặc dù không giỏi lắm, trong khi một số loài có khả năng di cư Ngược lại, các loài thuộc họ Amathusiidae và Satyridae thường bay sát mặt đất theo hình thức bay chuyền.

Nhìn chung bướm họ Nymphalidae có điểm đặc trưng là khả năng bay nhanh, dẻo dai của chúng Chúng ưa thích sinh cảnh nhiều ánh nắng, hoa màu

Thức ăn là yếu tố thiết yếu đối với các loài côn trùng, đặc biệt là bướm ngày Ở giai đoạn sâu non, bướm ngày chủ yếu ăn lá cây, rễ cây và vỏ cây, trong khi ở giai đoạn trưởng thành, thức ăn chính là mật hoa và các chất khoáng Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy rằng khu vực nghiên cứu có nguồn thức ăn cho bướm ngày rất phong phú và đa dạng, điều này được thể hiện rõ qua bảng thống kê.

Bảng 4.11: Nguồn thức ăn của các loài bướm ngày

Họ Bướm Cây thức ăn Loài bướm

- Nhiều loài cây thuộc họ Rutaceae là thức ăn của

Atrophaneura spp.; Pachliopta aristolochiae Papilio polytes, P memnon Papilio demoleu

Họ bướm cải - Cây Fabaceae

- Sung, vải, trúc đào: hầu hết các loài Catopsilia spp

Họ bướm Đốm - Euphorbiaeceae, Apocyanaceae:

- Loài Michelia foveolata họ Mộc lan

- Euphorbiaceae, Apocynaceae ( bòng bong); Sung, vả; Hà Thủ Ô là thức ăn của các loài

Euploea spp , Euploea core Tenopalpus aureus

Họ bướm Giáp - Xoài, điều họ Anacardiaceae

Neptis hylas Vindula spp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

4.3.2 Ý nghĩa của các loài bướm ngày tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 4.3.2.1 Các loài có tên trong sách đỏ

Trong quá trình khảo sát khu hệ bướm ngày tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tôi đã phát hiện 3 loài bướm được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2007.

Bảng 4.12: Các loài có tên trong sách đỏ

STT Tên loài Sách đỏ

Việt Nam Phục lục CITES

Trong đó hai loài Troides còn có trong phụ lục II của CITES

Troides helena phân bố từ tây bắc Ấn Độ đến Burma, khu vực Đông Dương, Thái Lan và bán đảo Malaysia Tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, loài này có số lượng ít, được phát hiện 2 lần vào tháng 9 tại điểm điều tra số 1, thuộc trạng thái IIIA1 Môi trường sống chủ yếu là rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp, với độ cao trung bình từ 700 đến 800 mét so với mực nước biển Rừng được chia thành 4 tầng, trong đó thực vật chủ yếu là các cây thuộc họ Dẻ, họ Re, họ Sến, họ Hoa hồng và họ Ngọc lan Tầng cây bụi có các loài như Xú hương, Mua, Ba chạc và Đủng đỉnh bông đơn Tầng thảm tươi bao gồm Dương sỉ, ráy và Thiên niên kiện Ngoài ra, sinh cảnh trảng cỏ cây bụi tiếp giáp khu dân cư ven suối có nhiều cây bụi nhỏ như cỏ lào, hoa xuyến chi và mò hoa trắng (Bạch đồng nữ), cùng một số loài hoa của cây nông nghiệp và cây ăn quả.

Cây thức ăn của loài bướm này rất phong phú nhờ khí hậu thuận lợi và vị trí nằm trong khu bảo tồn, ít bị tác động Tuy nhiên, một số loài cây như Bông ổi, Bướm bạc, Mò hoa trắng gần khu dân cư bị chặt phá để làm nương rẫy, dẫn đến suy giảm số lượng nhưng không đáng kể Loài bướm này có sải cánh lớn nhất tại Việt Nam, từ 140-190 mm, với cánh trước màu đen và mép ngoài viền trắng, cánh sau màu vàng óng Chúng thường sống ở vùng rừng rậm, ẩm ướt, bay khỏe và nhanh nhưng thường bay thấp, đậu trên hoa cây bụi Bướm đực và cái thường bay thành đôi vào buổi hoàng hôn mùa hè Loài bướm này được các nhà sưu tập ưa chuộng và hiện nay rất hiếm, xếp loại E (nguy cấp).

Troides aeacus phân bố từ Tây Bắc dãy núi Himalaya qua Bắc Ấn Độ, Tibet, Bruma đến Tây Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Việt Nam Loài này có số lượng trung bình và được phát hiện vào tháng 9 tại các điểm điều tra, thường bay vào buổi sáng sau khi mặt trời mọc, đặc biệt trong thời tiết xương mù và mưa phùn Chúng hút mật từ cây mò hoa trắng và không phải là hiếm ở Việt Nam, nhưng quần thể thường không lớn Bướm cái đẻ trứng riêng lẻ vào mặt dưới của lá, và sâu non ăn trên các loài cây dây leo thuộc họ Aristolochiaceae, trong khi pha trưởng thành thường bay cao.

Vì cùng giống nên thức ăn của 2 loài này không khác nhau là mấy luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Hai loài bướm Troides helena và Troides aeacus thường xuất hiện ở khu vực thấp và hiếm khi được tìm thấy ở độ cao trên 1000m Chúng thường bay lượn trong các khoảng trống của rừng, đặc biệt gần những cây hoa thuộc chi lantana.

Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn và bảo vệ các loài bướm ngày ở Nà Hẩu

Các loài bướm ngày có mối liên hệ chặt chẽ với môi trường sinh thái, đặc biệt là rừng Sự thay đổi hoặc mất mát của hệ sinh thái rừng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chúng, thậm chí dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng.

Hoạt động chặt phá và phát quang rừng trước đây đã làm xáo trộn môi trường sống của các loài bướm, khiến cho số lượng rừng nguyên vẹn giảm sút Tuy nhiên, từ khi khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được thành lập, mức độ chặt phá đã giảm và rừng đang trong quá trình tái sinh Dù vậy, các hoạt động như thu hái củi, chăn thả gia súc và phát nương rẫy vẫn tiếp diễn, cản trở sự tái sinh tự nhiên của rừng Hơn nữa, các đám cháy rừng khó kiểm soát trên các đỉnh núi đã làm trầm trọng thêm tình trạng xuống cấp của môi trường sống, mặc dù có sự hiện diện của lực lượng kiểm lâm.

Một mối lo ngại lớn trong công tác bảo tồn hiện nay là sự ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống trong khu vực bảo tồn nghiêm ngặt, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc.

Người Dao và Mông chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp như trồng ngô và sắn, điều này ảnh hưởng đáng kể đến rừng và môi trường sống của bướm Để cải thiện công tác bảo tồn, vườn cần thiết lập các nguyên tắc quản lý tài nguyên rừng cụ thể Cần thực hiện đánh giá chính xác và đầy đủ về tình hình quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có, đồng thời xác định những khó khăn cần khắc phục và các nguy cơ đe dọa đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là động vật và bộ côn trùng.

Xác định trách nhiệm rõ ràng của các tổ chức, cá nhân và các cấp có thẩm quyền trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học là rất quan trọng Cần có các chính sách cụ thể và thiết thực nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương, từ đó đáp ứng hiệu quả mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên tại huyện.

Công tác bảo tồn nhằm mục tiêu tăng cường số lượng và chất lượng các loài bướm, từ đó góp phần duy trì sự cân bằng trong hệ sinh thái rừng.

Trên cơ sở các nguyên tắc quản lý trên, Vườn cần đề ra các giải pháp quản lý cụ thể sau:

Phối hợp giữa các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương là cần thiết để thúc đẩy quy hoạch dân cư hiệu quả Cần có chính sách hỗ trợ kỹ thuật và vay vốn nhằm phát triển kinh tế và cải thiện điều kiện sống cho người dân Đầu tư nghiên cứu toàn diện và mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế trong bảo tồn đa dạng sinh học là rất quan trọng Khuyến khích đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các loài bướm, sẽ góp phần bảo vệ môi trường.

Cần sắp xếp và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và năng lực phù hợp để đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền về giá trị của việc bảo tồn đa dạng sinh học qua nhiều hình thức, nhằm thu hút sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.

Các bước trong công tác bảo tồn bao gồm việc thực hiện điều tra và giám sát hiệu quả để hiểu rõ hiện trạng của các loài bướm ngày trong khu vực, đặc biệt là các loài chủ yếu.

Thu thập thông tin về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của các loài chủ yếu là rất quan trọng Các vấn đề chính cần làm rõ bao gồm quan hệ dinh dưỡng, nơi cư trú, tập tính sinh sản và các phương thức tự bảo vệ của chúng.

Lựa chọn các biện pháp kỹ thuật thích hợp để tạo điều kiện cho bướm ngày phát triển

4.5.2 Các giải pháp quản lý cụ thể

Khu hệ bướm ngày của Nà Hẩu có 63 loài, trong đó nhiều loài quan trọng như các loài trong sách đỏ, các loài mới phát hiện, và các loài có vai trò sinh thái lớn Đặc biệt, các loài này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch sinh thái Để bảo tồn hiệu quả, cần tập trung nguồn lực vào các loài chủ yếu này.

4.5.3 Công tác điều tra giám sát

Do sự phong phú và sự xuất hiện của các loài bướm ngày có thể thay đổi theo từng năm, cần tiến hành điều tra liên tục trong nhiều năm tại 18 điểm điều tra trên 4 tuyến đã được xác lập Trên các tuyến này, việc thu thập dữ liệu chính là rất quan trọng.

Xác định thành phần các loài bướm ngày đặc biệt là các loài chủ yếu, thu thập mẫu vật các loài bướm ngày đặc biệt là ở pha trưởng thành

Xác định và thu thập các loài cây là thức ăn cho các loài bướm ngày, đặc biệt là thức ăn cho sâu non

Thu thập tất cả các thông tin về thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm, đặc điểm lâm phần tại thời điểm điều tra

Nhóm loài được ghi trong sách đỏ và mới phát hiện ở Việt Nam chủ yếu tập trung tại các sinh cảnh như trảng cỏ cây bụi, gần khu dân cư có cây ăn quả và hoa màu, theo kết quả điều tra ban đầu.

Rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp

Do vậy ngoài việc điều tra trên các tuyến đã xác lập, cần phải đặc biệt chú trọng tại các điểm điều tra có sinh cảnh này

* Đối với nhóm loài có vai trò là sinh vật chỉ thị : Đối với nhóm loài này thường tập trung ở các sinh cảnh sau :

Rừng kín thường xanh ven suối

Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi

Rừng trồng hỗn giao cây bản địa và Keo thuần loài

Vì vậy trong quá trình điều tra cần điều tra kỹ tại các sinh cảnh này

* Đối với nhóm loài có ý nghĩa du lịch sinh thái : Với nhóm loài này chúng ta phân bố chủ yếu ở các sinh cảnh sau :

Rừng kín thường xanh ven suối

Rừng thứ sinh phục hồi

Rừng kín thường xanh trên đồi núi thấp

Vì vậy trong quá trình điều tra cần điều tra kỹ tại các sinh cảnh này

4.5.4 Thu thập thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài chủ yếu Để có được các thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài bướm ngày chủ yếu, ngoài việc kế thừa các tài liệu có liên quan, cần luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si phải đầu tư kinh phí cho công tác nghiên cứu đối với các nhóm loài này bằng các hình thức sau:

Xây dựng các trang trại nuôi bướm thử nghiệm với việc trồng các loại thực vật là thức ăn cho từng nhóm loài

Tiến hành nuôi sâu non trong phòng thí nghiệm đối với từng nhóm loài

4.5.5 Các biện pháp kỹ thuật

Để bảo tồn và phát triển các loài bướm ngày, cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật dựa trên kết quả điều tra và phân tích về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của chúng.

* Đối với nhóm loài có tên trong sách đỏ và loài mới phát hiện:

Kết luận

Từ ngày 12/04/2013 đến 24/09/2013, khu vực nghiên cứu đã ghi nhận 63 loài bướm ngày thuộc 7 họ khác nhau Trong đó, họ Papilionidae chiếm 25.04%, Pieridae 17.46%, Lycaenidae 3.17%, Danaidae 19.05%, Satyridae 14.29%, Amathusiidae 3.17% và Nymphalidae 17.46%.

Trong đó những loài thường gặp có 13 chiếm tỷ lệ 21% loài loài ít gặp có 28 loài chiếm tỷ lệ 44%, còn loài ngẫu nhiên gặp là 22 chiếm tỷ lệ 35%

Có 9 điểm điều tra bắt gặp nhiều loài nhất trong tổng số 18 điểm là: 3;4;6;7;9;10;13;17;18 Với 2 điểm 11;12 bắt gặp ít nhất

Với 6 sinh cảnh xác định thì sinh cảnh 02 và 05 chiếm tỉ lệ cao nhất, nhỏ nhất sinh cảnh 01 Có 22 loài bắt gặp ở nhiều sinh cảnh và 13 loài bắt gặp duy nhất một sinh cảnh

Tại khu vực nghiên cứu các loài Bướm ngày có đa dạng về sinh cảnh sống, đa dạng hình thái, đa dạng về tập tính

Xác định được 3 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam là Troides acecus,

Troides helena và Lamprotera curius trong đó có 2 loài nằm trong danh lục

CITES đã xác định 4 loài bướm ngày là sinh vật chỉ thị và 22 loài có giá trị du lịch sinh thái Để bảo tồn đa dạng sinh học của các loài bướm ngày tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nà Hẩu, cần thực hiện tốt công tác quản lý, tiếp tục nghiên cứu khoa học và tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho cộng đồng.

Kiến nghị 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Để bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh học, đặc biệt là các loài bướm tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, cần thực hiện những hành động cụ thể và hiệu quả.

Các biện pháp khẩn cấp nhằm giảm thiểu tình trạng phá rừng do nương rẫy, khai thác gỗ, và lấy củi, cũng như phòng chống cháy rừng cần được thực hiện một cách hiệu quả Điều này bao gồm việc tăng cường lực lượng tuần tra bảo vệ tài nguyên rừng và củng cố việc thi hành pháp luật.

Cần tiến hành nghiên cứu và điều tra lâu dài để đánh giá toàn diện sự đa dạng và tầm quan trọng của các loài bướm ngày, cũng như các mối đe dọa mà chúng phải đối mặt trong khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.

Tham mưu cho chính quyền xã trong việc xây dựng dự án tái định cư nhằm cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư sống trong vườn, từ đó giảm áp lực lên các nguồn tài nguyên rừng hiện tại.

Các hoạt động nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu cần được thực hiện trong cộng đồng dân cư và đối với khách du lịch Điều này bao gồm việc cung cấp thông tin về các hoạt động bị pháp luật cấm cũng như những hành vi phá hoại môi trường.

Việc thu hẹp diện tích Vườn và chuyển đổi các khu vực thuộc vùng đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nà Hẩu sang mục đích phát triển kinh tế cần được xem xét cẩn thận Điều này nhằm đánh giá những tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với nguồn tài nguyên rừng, đặc biệt là các loài bướm trong khu vực.

Xây dựng mô hình nuôi bướm thử nghiệm tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) nhằm bảo tồn các loài bướm quý hiếm và có hình thái đẹp, từ đó phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển du lịch.

Củng cố phòng trưng bày mẫu vật về các loài bướm tại KBTTN thông qua việc bổ sung thêm mẫu tiêu bản, tài liệu và tranh ảnh minh họa sinh động, phong phú.

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt

1 Đặng Ngọc Anh (2000), Nghiên cứu thành phần các loài Bướm ngày

(Rhopalocera) của Việt Nam, làm cở sở đề xuất biện pháp quản lý sử dụng, Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng, Hà Nội

2 Đặng Thị Đáp, Nguyễn Chí Trọng, Tạ Huy Thịnh, Hoàng Vũ Trụ, Trương

Xuân Lam và Đặng Đức Khương (1995) đã tiến hành điều tra ban đầu về khu hệ Bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Ninh Bình Nghiên cứu này được công bố trong tuyển tập các công trình nghiên cứu về sinh thái và tài nguyên sinh vật, do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội phát hành.

3 Đặng Thị Đáp, Hoàng Vũ Trụ (2003), Kết quả nghiên cứu nhóm Bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò và Vườn Quốc Gia Ba Bể Báo cáo khoa học, Hội nghị toàn quốc những vấn đề cơ bản trong khoa học các sự sống, Nxb khoa học và kỹ thuật,

4 Đặng Thị Đáp, Vũ Văn Liên, Đặng Thị Hường, Nguyễn Thế Hoàng (2008),

Hướng dẫn tìm hiểu về các loài bướm Vườn quốc gia Tam đảo và giá trị bảo tồn chúng, Hà Nội.

5 Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn, Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm Nghiệp, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội

6 Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999), Bảo tồn đa dạng sinh học, Nxb Nông

7 Vũ Văn Liên, Vũ Quang Côn (2005), Vai trò chỉ thị của một số họ bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống - Báo cáo khoa học Hội nghị toàn quốc 2005, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

8 Vũ Văn Liên, Vũ Quang Côn, Tạ Huy Thịnh (2007a), Đặc điểm sinh học của một số loài Bướm thuộc các họ Papilionidae, Pieridae, Danaidae và Nymphalidae (Lepidoptera: Rhopalocera) ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ hai, Hà Nội 26/10/2007 Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội

9 Vũ Văn Liên, Vũ Quang Côn, Tạ Huy Thịnh (2007b), Nghiên cứu xác định vai trò chỉ thị sinh thái của bướm (Lepidoptera; Rhopalocera) ở vườn quốc gia Tam Đảo Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

10 Nguyễn Văn Phiến (2005), Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Bướm ngày tại

Vườn Quốc Gia Cát Bà, phục vụ công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Lâm Nghiệp

11 Bùi Xuân Phương (2011), Một số nét đặc trưng của khu hệ Bướm ngày ở

Việt Nam, Hội Nghị khoa học toàn quốc về Tài nguyên sinh thái và

12 Bùi Xuân Phương (2011), Hội nghị Côn trùng học lần thứ 7, Bước đầu nghiên cứu khu hệ Bướm ngày (Lepidoptera; Rhopalocera) tại khu BTTN Pù luông Thanh hóa, NXB, Nông nghiệp trang 223 đến 229, Hà Nội

13 Mai Phú Quý, Trần Thị Lài, Trần Thị Bích Lan (1981), Kết quả điều tra cơ bản côn trùng Miền Bắc Việt Nam (1960-1970) Trong: Kết quả điều tra cơ bản động vật Miền Bắc Việt Nam (1955-1975), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 180-228 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

14 Bobo, K.S., Waltert, M., Fermon, H., Njokagbor, J., Muhlenberg, M

(2006), From forest to farmland: butterfly diversity and habitat associations along a gradient of forest conversion in Southwestern Cameroon Journal of insect conservation 10, pp 29-42

15 Boggs, C.L., Watt, W.B., Ehrlich, P.R (Eds.) (2003), Butterflies:

Evolution and Ecology Taking Flight Rocky Mountain Biological Lab Symposium Series University of Chicago Press

16 Ehrlich, P.R (2003), Butterflies, test systems, and biodiversity In: Boggs

CL, Watt WB, and Ehrlich PR (eds.) Butterflies: ecology and evolution taking flight The University of Chicago Press, Chicago, IL

17 Finn Danielsen, Colin G Treadaway (2003), Priority conservation areas for butterflies (Lepidoptera: Rhopalocera) in the Philippine islands

Animal Conservation (2004) 7, 79–92.The Zoological Society of London Printed in the United Kingdom

18 Pavie, Auguste, (1879-1895), Natural history; Scientific expeditions,

19 顾茂彬,陈佩珍,著,(1997), 海南岛蝴蝶 ,中国林业出版社

Cố Mậu Bân, Trần Bội Trân (1997), Bướm đảo Hải Nam, NXB Lâm nghiệp Trung Quốc

20 李湘涛 (2006), 昆虫博物馆 ,时事出版社

Lý Tương Đào ( 2006), Bảo tàng Côn trùng, NXB Thời sự

Ngày đăng: 31/07/2023, 20:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Ngọc Anh (2000), Nghiên cứu thành phần các loài Bướm ngày (Rhopalocera) của Việt Nam, làm cở sở đề xuất biện pháp quản lý sử dụng, Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần các loài Bướm ngày (Rhopalocera) của Việt Nam, làm cở sở đề xuất biện pháp quản lý sử dụng
Tác giả: Đặng Ngọc Anh
Nhà XB: Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng
Năm: 2000
2. Đặng Thị Đáp, Nguyễn Chí Trọng, Tạ Huy Thịnh, Hoàng Vũ Trụ, Trương Xuân Lam, Đặng Đức Khương (1995), Bước đầu điều tra khu hệ Bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương – Ninh Bình. Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu điều tra khu hệ Bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương – Ninh Bình
Tác giả: Đặng Thị Đáp, Nguyễn Chí Trọng, Tạ Huy Thịnh, Hoàng Vũ Trụ, Trương Xuân Lam, Đặng Đức Khương
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995
3. Đặng Thị Đáp, Hoàng Vũ Trụ (2003), Kết quả nghiên cứu nhóm Bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò và Vườn Quốc Gia Ba Bể. Báo cáo khoa học, Hội nghị toàn quốc những vấn đề cơ bản trong khoa học các sự sống, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu nhóm Bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò và Vườn Quốc Gia Ba Bể
Tác giả: Đặng Thị Đáp, Hoàng Vũ Trụ
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
4. Đặng Thị Đáp, Vũ Văn Liên, Đặng Thị Hường, Nguyễn Thế Hoàng (2008), Hướng dẫn tìm hiểu về các loài bướm Vườn quốc gia Tam đảo và giá trị bảo tồn chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tìm hiểu về các loài bướm Vườn quốc gia Tam đảo và giá trị bảo tồn chúng
Tác giả: Đặng Thị Đáp, Vũ Văn Liên, Đặng Thị Hường, Nguyễn Thế Hoàng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
5. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn, Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm Nghiệp, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn, Mão
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2001
7. Vũ Văn Liên, Vũ Quang Côn (2005), Vai trò chỉ thị của một số họ bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống - Báo cáo khoa học Hội nghị toàn quốc 2005, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò chỉ thị của một số họ bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Tác giả: Vũ Văn Liên, Vũ Quang Côn
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm