1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài hãy sử dụng phương pháp nghiên cứu trong tâm bệnh học để mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ từ đó đề xuất hướng tác động phù hợp đối với trẻ

44 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài hãy sử dụng phương pháp nghiên cứu trong tâm bệnh học để mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ
Tác giả Đinh Thị Thịnh
Người hướng dẫn Th.S. Lại Thị Thu Hường
Trường học Trường Đại Học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục Mầm Non
Thể loại Bài tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 5,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu về tâm lý trẻ CPTTT giúp ích rất nhiềucho các bậc phụ huynh, thầy cô giáo trong việc phát hiện sớm những dấu hiệu bấtthường của con trẻ cũng như có những chương trình, kế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Khách thể nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Giới hạn nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 2

7 Cấu trúc bài tiểu luận 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÂM LÍ TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ 4

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 5

1.2.1 Thuật ngữ trẻ CPTTT 5

1.2.2 Những cách nhìn nhận về CPTTT 6

1.2.2.1 Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ 6

1.2.2.2 Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội 7

1.2.2.3 Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây ra CPTTT 7

1.2.2.4 Khái niệm CPTTT theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối nhiễu tâm thần IV (DSM – IV) 7

1.2.2.5 Khái niệm CPTTT theo Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) năm 1992 8

1.3 Phân loại mức độ CPTTT 9

Theo bảng phân loại DSM – IV có 4 mức độ CPTTT như sau: 9

1.3.1 Trẻ CPTTT mức độ nhẹ 10

1.3.2 Trẻ CPTTT ở mức trung bình 10

1.3.3 Trẻ CPTTT mức độ nặng 11

1.3.4 Trẻ CPTTT mức rất nặng 12

1.4 Nguyên nhân gây CPTTT 12

1.4.1 Nguyên nhân trước khi sinh 12

Trang 3

1.4.2 Những nguyên nhân trong khi sinh 13

1.4.3 Những nguyên nhân sau khi sinh 13

1.4.4 Các nguyên nhân môi trường 14

1.5 Một số vấn đề thể chất và tâm thần liên quan đến CPTTT 14

1.5.1 Những dạng khuyết tật thường xảy ra đồng thời với CPTTT 14

1.5.1.1 Khiếm thính 14

1.5.1.2 Khiếm thị 14

1.5.1.3 Khó khăn về vận động 14

1.5.2 Những bệnh thường thấy ở trẻ CPTTT 15

1.5.2.1 Bại não 15

1.5.2.2 Động kinh 16

1.5.3 Các dạng rối loạn tâm thần thường xảy ra với CPTTT 16

1.5.3.1 Tự kỷ 16

1.5.3.2 Rối loạn quá hiếu động/giảm chú ý 19

1.6 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT 19

1.6.1 Đặc trưng của trẻ CPTTT trong những năm đầu tiên 19

1.6.2 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ CPTTT 21

1.6.2.1 Đặc điểm cảm giác, tri giác 21

1.6.2.2 Đặc điểm chú ý 23

1.6.2.3 Đặc điểm trí nhớ 23

1.6.2.4 Đặc điểm tư duy 24

1.6.2.5 Đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp 26

1.6.2.6 Đặc điểm tình cảm 27

1.6.2.7 Đặc điểm tính cách 28

1.6.2.8 Đặc điểm hành vi 29

1.6.2.9 Nhu cầu của trẻ CPTTT 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30

Chương II THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU CHO TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ 30

2.1 Thực trạng chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ 30

2.2 Hướng tác động đối với trẻ CPTTT 32

2.2.1 Các hướng tác động theo phân loại trẻ CPTTT 32

Trang 4

2.2.2 Những nguyên tắc giáo dục, những yêu cầu cần có và những phương pháp

giáo dục trẻ CPTTT 32

2.2.2.1 Những nguyên tắc giáo dục cơ bản đối với trẻ CPTTT 32

2.2.2.2 Những yêu cầu cần có của chương trình dạy trẻ CPTTT 33

2.2.2.3 Các phương pháp giáo dục trẻ CPTTT 33

2.3 Can thiệp cho trẻ CPTTT trên các phương diện đặc điểm tâm lý 33

2.3.1 Về cảm giác, tri giác 33

2.3.2 Về chú ý 34

2.3.3 Về trí nhớ 34

2.3.4 Về tư duy 34

2.3.5 Về ngôn ngữ 35

2.3.6 Tình cảm 36

2.3.7 Về tính cách 36

2.3.8 Về hành vi 36

2.3.9 Nhu cầu 37

2.4 Những việc phụ huynh và giáo viên cần làm trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ CPTTT 37

2.4.1 Đối với phụ huynh 37

2.4.2 Đối với giáo viên 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 38

PHẦN KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam số lượng trẻ em chậm phát triển trítuệ (CPTTT) ngày càng gia tăng Trẻ em CPTTT là một trong những đối tượng đặc biệtcần nghiên cứu của tâm lý học Việc nghiên cứu về tâm lý trẻ CPTTT giúp ích rất nhiềucho các bậc phụ huynh, thầy cô giáo trong việc phát hiện sớm những dấu hiệu bấtthường của con trẻ cũng như có những chương trình, kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻCPTTT một cách đặc thù và hợp lý để giúp các em trở nên độc lập hơn, dễ thích ứngvới các môi trường xã hội hơn, không còn quá phụ thuộc vào người khác và không trởthành gánh nặng của xã hội Bên cạnh đó việc có những kiến thức cơ bản về trẻ CPTTT

sẽ giúp cộng đồng, xã hội có những nhìn nhận đúng đắn, sự cảm thông và không kì thịđối với nhóm trẻ CPTTT – vốn đã chịu nhiều thiệt thòi từ khi sinh ra cũng như thứctỉnh ý thức trách nhiệm cộng đồng trong việc chung tay nâng đỡ nhóm đối tượng đặcbiệt này để giúp xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ và nhân ái hơn

Như chúng ta đã biết, giáo dục mầm non là bậc học quan trọng nhất trong hệthống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành những cơ sởban đầu, nền tảng cho sự phát triển nhân cách và tư duy cho mỗi con người

Trẻ đến trường không chỉ được chăm sóc mà còn được làm quen với nhiều hoạtđộng khác nhau như hoạt động làm quen văn học, âm nhạc, toán, tạo hình, phát triểnthể chất và con được làm quen với những hoạt động khác, thông qua việc học mà chơi,chơi mà học, trẻ sẽ được hình thành những kiến thức ban đầu, rất cơ bản để tạo nềntảng cho cuộc sống sau này của trẻ

Mặt khác, trẻ mầm non đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tưduy, về ngôn ngữ, về tình cảm, những thế giới khách quan xung quanh thật bao la rộnglớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn, và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốnbiết, muốn được khám phá cho nên giáo dục mầm non đã góp phần không nhỏ vào việcgiáo dục thế hệ trẻ Ở lứa tuổi này sự nhạy cảm cao nên yêu cầu không thể thiếu trongcông tác chăm sóc giáo dục trẻ, cô giáo phải rất linh hoạt nhạy bén kịp thời, có nănglực và có tính chủ động sáng tạo

Nhưng có những em bé, những trẻ mầm non lại không có được may mắn cócuộc sống hạnh phúc và bình thường như bao trẻ khác Có những trẻ sinh ra đã chậm,không biết ai là bố mẹ của mình, những trẻ đã lên mấy tuổi rồi mà vẫn chưa thể bập bẹnhững từ ngữ đầu tiên trong cuộc đời, có những trẻ không thể tự bước trên đôi châncủa mình mà phải nhờ vào sự giúp đỡ của bố mẹ, ông bà hoặc người thân Nếu chúng

Trang 6

ta có những đứa con như vậy, chúng ta sẽ suy nghĩ gì? Đó trước hết là sự vất vả chămsóc, là những suy nghĩ buồn chán vì cho rằng số phận hẩm hiu, nhưng sau đó là nhữngtình yêu thương, là sự cố gắng đến tột cùng của những người mẹ, người cha để conmình có được cuộc sống bình thường như bao bạn khác Có những trẻ nhờ sự cố gắngcủa cha mẹ và gia đình kết hợp với sự giúp sức của y học đã may mắn có được cuộcống bình thường, vậy còn những trẻ không may mắn được như vậy thì sao?

Với mong muốn góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục mầm non, tôi

lựa chọn đề tài: “Hãy sử dụng phương pháp nghiên cứu trong tâm bệnh học để mô

tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ Từ đó đề xuất hướng tác động phù hợp đối với trẻ” để nghiên cứu với hy vọng sẽ góp phần nhỏ giải quyết

những vấn đề thực tiễn về GDMN và hoàn thành tốt mục tiêu của bộ giáo dục đề ra

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng của việc mô tả chân dung tâm lí trẻmầm non chậm phát triển trí tuệ Đề xuất một số biện pháp trị liệu phù hợp hiệu quả ởtrường mầm non

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp trị liệu phù hợp hiệu quả cho trẻ châm phát triển trí tuệ củagiáo viên ở trường mầm non

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về mô tả chân dung tâm lí trẻ mầm non chậm pháttriển trí tuệ

- Nghiên cứu thực trạng tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ

- Đề xuất môt số biện pháp trị liệu phù hợp hiệu quả cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ởtrường mầm non

5 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ, đề tài đặt ra Tôi sử dụng một số phương pháp nghiêncứu sau: phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phươngpháp thống kê toán học trong giáo dục

7 Cấu trúc bài tiểu luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 2 chương:

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lí luận về tâm lí trẻ mầm non chậm phát triển trí tuệ.

Chương 2: Thực trạng và một số biện pháp trị liệu phù hợp cho trẻ mầm non chậmphát triển trí tuệ

Trang 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÂM LÍ TRẺ MẦM NON CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ.

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề.

Trước thế kỷ 19, hầu như không có một quan điểm khoa học nào về sự chậm

phát triển trí tuệ Kể từ khi quyển sách mang tên Del'education d'unnhomme

sauvage cuả Itard ra đời (1801), xã hội đã tham gia tích cực vào việc cải thiện tình

trạng của trẻ chậm phát triển trí tuệ Itard tin rằng sự chậm phát triển trí tuệ có thể đượckhắc phục phần nào nhờ vào một sự giáo dục tốt Học trò của ông - Seguin đã mởnhững ngôi trường đầu tiên cho trẻ chậm phát triển trí tuệ tại Mỹ Cả hai nhà khoa họcnày đều có thể được coi là những người đầu tiên đã quan tâm tới sự phát triển của trẻchậm phát triển trí tuệ

Phong trào hướng về sự phát triển đã trải qua một thời kỳ thụt lùi vào cuối thế

kỷ 19 do ảnh hưởng của những phát hiện trong ngành thần kinh học về biến dị của Hệthần kinh trung ương theo đó người ta cho rằng tình trạng chậm phát triển trí tuệ luônluôn có nguyên nhân là sự tổn thương thuỳ não Vì những tổn thương não là không thểthay đổi được nên người ta có thể kết luận rằng việc điều trị cho những người chậmphát triển trí tuệ là vô ích Lý thuyết về biến dị này đã có những ảnh hưởng tiêu cực lênnhững người chậm phát triển trí tuệ Rất nhiều người CPTTT đã sống suốt đời trongcác trung tâm cư trú lớn, thường tách xa khỏi xã hội Trong những năm 1970, quanđiểm về sự CPTTT đã có những thay đổi Những phẩm chất của con người cũng nhưnhững nhu cầu về mặt xã hội của người CPTTT được đề cao Người ta cho rằng nhữngngười CPTTT nên được sống trong một môi trường bình thường thay vì trong các trungtâm Đây chính là thời kỳ của sự bình thường hoá và hội nhập

Lý do xã hội muốn giáo dục cho trẻ CPTTT có liên quan chặt chẽ với quan điểmcủa xã hội về người CPTTT Quan điểm này liên quan đến tình cảm, tư tưởng và thái

độ đối với người CPTTT.Một quan điểm có thể được bộc lộ theo hướng cá nhân hoặctập thể trong chính sách của trường học và chính sách chính phủ Quan điểm của chínhphủ Việt Nam liên quan tới trẻ CPTTT được thể hiện trong văn bản pháp luật cuả Nhànước cũng như qua việc phê chuẩn các công ước quốc tế Một trong những công ướcquan trọng nhất liên quan đến trẻ em là Công ước Liên Hợp Quốc 1980 về quyền trẻ

em Chính phủ Việt Nam thông qua Công ước này vào 28-2-1990

Trong Công ước này, chúng ta có thể thấy tuyên bố sau:

“ Trẻ khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được giáo dục và đào tạo để tự giúpbản thân, để tham gia vào một cuộc sống đầy đủ và phù hợp đạo đức và để đạt tới mức

Trang 9

độ tối đa của sự tự chủ và hoà nhập xã hội” (Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ

em, điều 23) Trẻ khuyết tật được mô tả là trẻ em với khuyết tật trí tuệ hoặc thể chất.Như vậy, giáo dục là một quyền của trẻ em nên giáo dục cũng là một quyền cơbản của trẻ khuyết tật, bao gồm cả trẻ CPTTT Học để Ngoài quyền cơ bản của mộtđứa trẻ CPTTT là được giáo dục, để việc thực hiện trở nên có tính thực tiễn, trẻ CPTTTcần được coi là có thể phát triển, có thể học tập và có thể giáo dục được Như nhữngbài trên đã đề cập trong Học phần 3 - “Sự phát triển của trẻ chậm phát triển trí tuệ” -theo Lý thuyết phát triển động, trẻ CPTTT trải qua những giai đoạn phát triển tương tựnhư trẻ bình thường Điểm khác nhau là những giai đoạn này tốn nhiều thời gian hơn

và quá trình phát triển dừng lại sớm hơn

Ngoài ra, chúng ta cần nhớ rằng có thể có những khuyết tật nhất định được địnhnghĩa là sự sai lệch chức năng bẩm sinh hoặc mắc phải đối với những khả năng nhấtđịnh có thể ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của trẻ Lý thuyết phát triển độngkhuyến khích việc thiết kế các chương trình hướng dẫn dựa trên nguyên tắc rằng trẻCPTTT có thể giáo dục được nếu chúng ta quan niệm về việc học tập như là nhữngcách thể hiện hành vi mới hoặc việc mở rộng những hành vi hiện tại bất chấp giới hạn

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Thuật ngữ trẻ CPTTT

Trước đây ở nước ta, đặc biệt là ở phía Bắc những trẻ CPTTT thường được gọi

“trẻ chậm khôn”, thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Trung tâm nghiên cứu tâm

lý trẻ em (NT) của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

Thuật ngữ “chậm phát triển tâm thần” cũng được sử dụng trong nhiều tài liệu

tiếng Anh và tiếng Việt Trong tiếng Anh thuật ngữ đó là “Mental Retardation” Hiệp

hội chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) và các tác giả của cuốn Sổ tay thống kê – chẩnđoán những rối nhiễu tâm thần IV (DSM - IV) sử dụng thuật ngữ này

Hiện nay, trên thế giới có xu hướng sử dụng thuật ngữ ít mang tính kì thị hơnđối với các khuyết tật: trẻ ngoại lệ, trẻ có khó khăn về học tập, trẻ có khuyết tật về pháttriển, trẻ có nhu cầu đặc biệt Những cách sử dụng này nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cựccủa những thuật ngữ “chậm phát triển trí tuệ” hoặc “chậm phát triển tâm thần” vìnhững thuật ngữ này có thể làm cha mẹ trả cảm thấy buồn, trẻ dễ bị các bạn trêu chọc

và giáo viên ít tin tưởng vào khả năng học tập của trẻ

Những lí giải trên của các nhà khoa học về nhiều khía cạnh cũng có lí do thỏađáng, nhưng có những thuật ngữ như “trẻ giảm khả năng” lại quá chung chung, bởi lẽ

“trẻ giảm khả năng” không chỉ có trẻ CPTTT mà còn có các trẻ khuyết tật khác.

Trang 10

Hầu hết những người chưa bao giờ gặp người CPTTT đều cho rằng ngườiCPTTT là những người khác biệt Trong thực tế, nhận định này hoàn toàn không đúng.Người CPTTT sống cùng trong một xã hội với người bình thường, khi đường ranh giớiCPTTT được vạch ra thì nó đã tách những người này ra khỏi những người không bị coi

là CPTTT Đây là việc làm hoàn toàn mang tính chuyên môn

Xem xét trên những mặt chung nhất, người CPTTT hoàn toàn không khácnhững người không CPTTT Những người bị gán tên CPTTT và những người không bịgán tên gọi này đều có suy nghĩ, tình cảm, nguyện vọng,… Nhưng nếu kết luận ngườiCPTTT không có gì khác biệt so với mọi người thì lại cực đoan Mặc dù người bị gánnhãn CPTTT có nhiều điểm giống với người không CPTTT, nhưng nói chung họ vẫnkhác với phần đông mọi người Đó là những vấn đề cần nghiên cứu và lí giải.Ngay trong nhóm người CPTTT cũng cần thận trọng, tránh kết luận đơn giảnrằng tất cả những người CPTTT đều giống nhau bởi vì những người CPTTT cũng khácnhau (về mức độ CPTTT)

Trên thế giới hiện nay có hai thuật ngữ được sử dụng phổ biến là“Metal

Retaration” do Hiệp hội chậm phát triển trí tuệ Mỹ lựa chọn và “Intelectual Disability” do tổ chức nghiên cứu khoa học quốc tế về CPTTT (IASSID) lựa chọn.

1.2.2 Những cách nhìn nhận về CPTTT

1.2.2.1 Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ

Hai tác giả người Pháp là Afred Simon và Theodore Simon là những người đầutiên phát minh ra trắc nghiệm trí tuệ vào đầu thế kỷ XX Mục đích của trắc nghiệm này

là để phân biệt trẻ em bình thường học kém và trẻ em học kém do CPTTT Sau khi rađời nó đã được các nhà tâm lý học Mỹ chú ý và được lấy làm cơ sở cho nhiều trắcnghiệm trí tuệ khác

Từ khi trắc nghiệm trí tuệ ra đời, qua nhiều năm nghiên cứu, đại đa số cácchuyên gia đã thống nhất sử dụng trắc nghiệm trí tuệ để xác định CPTTT Theo họnhững người có chỉ số trí tuệ dưới 70 là CPTTT

Sử dụng trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán CPTTT có ưu điểm là khách quan,đáng tin cậy và dễ thực hiện, đặc biệt là trong trường hợp cần đánh giá, phân loạinhanh Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như:

- Chỉ số trí tuệ không phải là đơn vị đo lường duy nhất về tiềm năng trí tuệ của conngười

- Không phải lúc nào kết quả chẩn đoán trên trắc nghiệm trí tuệ cũng tương ứng vớikhả năng thích ứng của cá nhân trong thực tế Có nhiều trường hợp trẻ đạt chỉ số trí tuệthấp nhưng lại thích ứng dễ dàng với môi trường

Trang 11

Nhược điểm lớn nhất khi xác định trẻ CPTTT theo phương pháp này là trắcnghiệm trí tuệ ít có hiệu quả với trẻ em nghèo và trẻ em có nguồn gốc văn hóa khácnhau Như vậy để đánh giá xác thực và toàn diện cần phải dựa vào nguồn gốc văn hóa,hoàn cảnh địa lý, kinh tế, xã hội.

1.2.2.2 Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội

Theo Benda – người có quan điểm dựa trên khả năng thích ứng của cá nhân:

“Một người CPTTT là người không có khả năng điều khiển bản thân mình và cần đến

sự chăm sóc của cộng đồng”.

Khái niệm này cho rằng những người CPTTT trong quá trình phát triển vàtrưởng thành sẽ không đạt được cuộc sống độc lập Đồng thời cách tiếp cận này cónhững nhược điểm là:

- Một cá nhân có thể bị coi là CPTTT trong môi trường này nhưng lại không gặp khókhăn trong môi trường khác Ví dụ như một người cảm thấy học Toán hay Tiếng Việtthì khó nhưng lại có thể thích nghi tốt nếu sống ở nông thôn hoặc làm công việc đồngáng

- Khó xác định thế nào là một trẻ chưa thích ứng được vì các chuyên gia chưa thốngnhất được thế nào là một trẻ thích ứng được Hiện nay các chuyên gia đang thiết kếmột số thang đo thích ứng như trắc nghiệm trí tuệ

- Khả năng thích ứng kém không chỉ do CPTTT mà còn do nhiều nguyên nhân khácgây nên những thiếu hụt về hành vi thích ứng Ví dụ như nhiều người do hụt hẫng vềtình cảm đã ảnh hưởng đến khả năng độc lập của họ

1.2.2.3 Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây ra CPTTT

Theo quan điểm dựa vào nguyên nhân gây ra CPTTT, Luria cho rằng: “Trẻ

CPTTT là trẻ mắc bệnh về não rất nặng khi còn trong bào thai hoặc nhưng năm tháng đầu đời Bệnh này cản trở sự phát triển của não, do vậy nó gây ra sự phát triển không bình thường về tinh thần Trẻ CPTTT dễ dàng được nhận ra do khả năng lĩnh hội ý tưởng và khả năng tiếp nhận thực tế bị hạn chế.”

Việc phân loại trẻ CPTTT dựa trên nguyên nhân có giá trị thực tiễn đặc biệt làtrong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ Tuy nhiên khó khăn thường gặp trong việcphân loại theo cách này là tính đa dạng của nguyên nhân Hơn nữa, có nhiều trẻ em vàngười lớn CPTTT nhưng lại không phát hiện được những khiếm khuyết trong hệ thầnkinh của họ (khoảng 1/3 người CPTTT không phát hiện ra nguyên nhân gây CPTTT)

Trang 12

1.2.2.4 Khái niệm CPTTT theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối nhiễu tâm thần IV (DSM – IV)

Theo DSM – IV, tiêu chuẩn chẩn đoán CPTTT bao gồm:

A Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình: Chỉ số trí tuệ đạt gần 70 trên một lần thựchiện trắc nghiệm cá nhân

B Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp,

tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/liên cá nhân, sử dụng tiện ích công cộng,

tự định hướng, kỹ năng học đường chức năng, lao động, giải trí, sức khỏe và an toàn

C Hiện tượng CPTTT xuất hiện trước 18 tuổi

Như vậy, theo DSM – IV, đặc điểm cơ bản của khuyết tật là hoạt động trí tuệdưới mức trung bình (Tiêu chí A), bị hạn chế đáng kể hai trong số những hành vi thíchứng được đề cập ở trên (Tiêu chí B), khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi (Tiêu chí C).Chức năng trí tuệ tổng quát là chỉ số trí tuệ (IQ) đo được qua một hoặc hơn mộttrắc nghiệm cá nhân về trí tuệ Độ chênh lệch cao nhất trong quá trình xác định chỉ sốtrí tuệ là 5 điểm, kể cả khi công cụ đo có những đặc điểm khác biệt nhất định Do vậyvẫn có thể chẩn đoán những người khiếm khuyết về hành vi xã hội và có chỉ số trí tuệdao động từ 70 – 75 là người CPTTT Ngược lại một số người có chỉ số trí tuệ thấp hơn

70 nhưng lại ít bị khiếm khuyết và thiếu hụt về khả năng thích ứng thì không bị coi làCPTTT

Ngoài chỉ số trí tuệ thấp, khả năng thích ứng kém thường là triệu chứng của cánhân CPTTT Khả năng thích ứng là khả năng đáp ứng những đòi hỏi chung của cuộcsống và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn độc lập cá nhân, tiêu chuẩn mà một người cùngtuổi đạt được trong cùng một hoàn cảnh văn hóa và môi trường cộng đồng

Khả năng thích ứng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như giáodục, động cơ, đặc điểm nhân cách, rối loạn tinh thần và những vấn đề sức khỏe; cácyếu tố này có thể xuất hiện cùng với CPTTT

1.2.2.5 Khái niệm CPTTT theo Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) năm 1992

Theo AAMR – 1992, CPTTT là những hạn chế lớn về khả năng thực hiện chứcnăng, đặc điểm của nó là:

- Hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình

- Hạn chế về hai hoặc nhiều hơn những kỹ năng tự thích ứng như: kỹ năng giao tiếp, tựphục vụ, sống tại gia đình, sử dụng các tiện ích công cộng, tự định hướng, sức khỏe, antoàn, kỹ năng học đường chức năng, giải trí, lao động

- Hiện tượng CPTTT xuất hiện trước 18 tuổi

Trang 13

Theo AAMR, đặc điểm cơ bản của CPTTT được biểu thị ở hoạt động trí tuệdưới mức trung bình, điều này xác định khi chỉ số trí tuệ cá nhân chỉ đạt từ 70 – 75hoặc thấp hơn, chỉ số trí tuệ được đo thông qua một hoặc hơn một trắc nghiệm, đồngthời phải thông qua một nhóm chuyên gia, phù hợp với các trắc nghiệm bổ sung cũngnhư phù hợp với thông tin đánh giá.

Hạn chế về trí tuệ xảy ra đồng thời với hạn chế khả năng thích ứng, trên cơ sở

đó ta biết được hạn chế chung và giảm bớt khả năng sai số trong quá trình chuẩn đoán.Mười lĩnh vực kỹ năng thích ứng (giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹnăng xã hội, sử dụng các phương tiện công cộng, sức khoẻ, an toàn, tự định hướng, kỹnăng học đường chức năng, giải trí và lao động)

18 tuổi là điểm mốc đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt của một cá nhân trong

xã hội Theo AAMR, CPTTT không phải là cái mà bạn có như mắt, mũi hay một tráitim yếu đuối; nó cũng không phải là hình thức gầy hay thấp; CPTTT cũng không phải

là sự rối loạn về y học hoặc rối loạn về tinh thần; CPTTT là tình trạng đặc biệt về chứcnăng bắt đầu xuất hiện từ khi trẻ còn nhỏ và được biểu hiện ở sự hạn chế về trí tuệ vàkhả năng thích ứng

AAMR nhấn mạnh 4 yếu tố cần phải cân nhắc khi áp dụng khái niệm này:

1 Một sự đánh giá hiệu quả phải tính đến sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, cũngnhư sự khác biệt về yếu tố giao tiếp hành vi

2 Sự hạn chế về kỹ năng thích ứng xảy ra trong hoàn cảnh môi trường đặc trưng chotuổi đồng trang lứa và thể hiện rõ nhu cầu cần thể hiện của người đó

3 Với sự hỗ trợ thích hợp trong khoảng thời gian thích hợp, khả năng thực hiện chứcnăng cuộc sống của người CPTTT nói chung sẽ được cải thiện

4 Xã hội có trách nhiệm hỗ trợ để trẻ khuyết tật có khả năng hòa nhập cộng đồng Hệthống hỗ trợ người CPTTT về nhiều dịch vụ và điều phối phù hợp với người khuyết tật.Nếu người khuyết tật càng nặng thì mức độ hỗ trợ càng cao để người đó có thể hòanhập vào cộng đồng một cách tối đa

Cho đến nay khái niệm CPTTT được sử dụng rộng rãi trên thế giới và ở ViệtNam là khái niệm CPTTT theo bảng phân loại DSM – IV và khái niệm CPTTT theobảng phân loại AAMR năm 1992 Hai định nghĩa này đều sử dụng các tiêu chí cơ bảngiống nhau là hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng vàkhuyết tật xuất hiện trước năm 18 tuổi Sự khác nhau giữa hai định nghĩa này là DSM –

IV sử dụng chỉ số trí tuệ làm tiêu chí xác định CPTTT còn theo bảng phân loại AAMR

sử dụng khả năng thích ứng xã hội để phân loại mức độ CPTTT

Trang 14

1.3.2 Trẻ CPTTT ở mức trung bình

Trẻ CPTTT ở mức trung bình có thể đạt tuổi trí tuệ từ 4 – 7 (IQ từ 35 - 40 đến

50 -55) Theo Piaget trẻ CPTTT trung bình ở vào giai đoạn tiền tư duy logic Chúng cóthể xây dựng những khái niệm hữu ích dựa vào kinh nghiệm nhưng chủ yếu chúng vẫnquan tâm đến những trải nghiệm trực tiếp thông qua tiếp nhận Chúng thường cố gắnggiải quyết vấn đề bằng nguyên tắc thử và sai Hầu hết trẻ có kỹ năng giao tiếp trongnhững năm đầu của thời kì thơ ấu Khi lớn lên trẻ CPTTT trung bình có khả năng đưa

ra quyết định nhưng chúng cần được giúp đỡ Người lớn giúp trẻ bằng cách chỉ chochúng những lựa chọn khác nhau và cùng chúng tìm hiểu kết quả Trẻ có thể thảo luận

về những nguyên tắc và quyết định Người lớn nên có thái độ cởi mở đối với những ýkiến của trẻ và phải có khả năng thay đổi các nguyên tắc nhằm đáp ứng nhu cầu củachúng Điều quan trọng đối với trẻ là khi trẻ lớn lên, trẻ phải cảm thấy mình có nhiềuquyền hạn hơn trong cuộc sống của mình Chúng có thể thu được kết quả từ quá trìnhdạy và hướng dẫn các kỹ năng nghề, kỹ năng xã hội Ở một chừng mực nhất định,

Trang 15

chúng có thể chịu trách nhiệm với một số nhiệm vụ cụ thể Chúng trải nghiệm niềm vuikhi thành công, đồng thời cũng trải nghiệm thất bại Nỗi thất bại có thể cản trở hoạtđộng của chúng Trẻ CPTTT trung bình có thể học để đi lại độc lập trong những địađiểm quen thuộc Ở thời kỳ thanh thiếu niên, những khó khăn trong việc nhận ra nhữngquy tắc xã hội thông thường có thể cản trở mối quan hệ bạn bè Khi lớn lên, phần lớntrẻ có thể thực hiện những công việc không đòi hỏi nhiều kỹ năng dưới sự giám sát tạicác xưởng làm việc riêng hay trong hoạt động lao động chung (như lắp ráp, đóng góiđơn giản) Chúng thích nghi tốt với cuộc sống trong cộng đồng, thường là những nơi cógiám sát.

1.3.3 Trẻ CPTTT mức độ nặng

Trẻ CPTTT mức độ nặng sẽ đạt tuổi trí tuệ giữa 2 và 4 (IQ từ 20 – 25 đến 35 –40) Theo lý thuyết của Piaget, đây là giai đoạn tiền thao tác trong quá trình phát triển.Trong những năm đầu thời kỳ thơ ấu, trẻ CPTTT nặng không phát triển hoặc ít pháttriển ngôn ngữ nói Khi lớn lên, chúng có thể học nói nhưng giao tiếp vẫn rất đơn giản.Trẻ CPTTT nặng có thể tư duy liên kết theo kiểu “cái này đi với cái kia” (ví dụ cáichén đi với đôi đũa) và kiểu “cái này rồi đến cái kia” (ví dụ mẹ lấy mũ rồi chúng ta sẽ

đi chơi) nhưng không có khả năng tư duy ở dạng phán đoán xem điều gì sẽ xảy ra trongnhững tình huống mới Những kỹ năng của chúng không dựa nhiều trên sự hiểu biết vềbản chất của sự vật mà chủ yếu dựa trên trình tự của hành động mà chúng đã được dạy

kỹ lưỡng Chúng quen với những chuỗi hành động (đầu tiên ra khỏi giường sau đó điđánh răng rồi ăn sáng) nên chúng sẽ rất lúng túng khi một mắt xích trong chuỗi bị đứtđoạn vì một lí do không biết trước Trẻ thậm chí có thể hoảng sợ vì chúng không biếtcách ứng phó với tình huống mới Trẻ CPTTT nặng có thể phát triển tốt trong mộtchương trình hằng ngày có tổ chức, trong những quy tắc ổn định và trong những tìnhhuống dễ nhận ra Sự lặp lại và tính quen thuộc có thể dần đưa đến sự hiểu bản chất sựvật Mặt khác, chúng ta cần phải cẩn thận để không gây cho trẻ sự buồn tẻ, chán nản.Tình trạng đồng bộ hóa quá mức có thể đưa đến sự cứng nhắc Bằng cách mang đếncho trẻ một sự đa dạng nhất định, trẻ có thể mở rộng kinh nghiệm Mặc dù trẻ CPTTTnặng vẫn có khả năng phân biệt giữa bản thân và người khác nhưng trẻ không thể đặtmình vào vị trí của người khác, thực tế trẻ vẫn có thái độ coi bản thân mình là trungtâm Trẻ CPTTT nặng có thể được huấn luyện về những kỹ năng tự chăm sóc bản thân

cơ bản Chúng chỉ thu nhận được ở mức độ hạn chế từ những chỉ dẫn trong các mônhọc tiền học đường, ví dụ như nhận mặt chữ cái hoặc đếm đơn giản Khi lớn lên chúng

có thể thực hiện những kỹ năng đơn giản ở môi trường được giám sát chặt chẽ Hầu hết

Trang 16

chúng có thể thích nghi tốt với cuộc sống cộng đồng, trong nhà tập thể hoặc tại nhàmình, trừ khi chúng có những khuyết tật đòi hỏi cần được chăm sóc đặc biệt.

1.3.4 Trẻ CPTTT mức rất nặng

Trẻ CPTTT mức rất nặng sẽ đạt tuổi trí tuệ từ 0 – 2 tuổi (IQ < 20 – 25) Hầu hếttrẻ được chẩn đoán là CPTTT mức rất nặng đều có vấn đề về thần kinh, đây được coi lànguyên nhân gây ra CPTTT Trong những năm đầu của thời kỳ thơ ấu, trẻ có thể hiệnkhuyết tật nặng về vận động, nghe và nhìn Rất nhiều trong số những trẻ này bị độngkinh Theo Piaget, trẻ CPTTT mức độ rất nặng có sự phát triển ở giai đoạn cảm giác –vận động Nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh chỉ hạn chế ở những gì trẻ nhậnđược thông qua cảm giác và những hoạt động vận động Ban đầu, chỉ những gì mà trẻnhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy hoặc nếm thấy trực tiếp thì mới tồn tại; cònnhững gì trẻ không thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy thì không tồn tại Dựavào những kinh nghiệm lặp lại và trí nhớ trẻ dần dần có khả năng liên kết giữa các kinhnghiệm, trẻ bắt đầu tư duy theo kiểu liên kết Một trong những nhận thức liên kết đầutiên mà trẻ có là liên hệ về sự xuất hiện của những người trông trẻ với việc trẻ được ăn.Trẻ CPTTT rất nặng thể hiện ý thích khám phá môi trường của mình và thể hiện nhữngtrò chơi phối hợp và trò chơi thể hiện chức năng Trò chơi phối hợp tay mắt là trò chơitrong đó đứa trẻ chơi với đồ chơi bằng cách sờ vào chúng, bỏ vào miệng, gõ chúngxuống sàn,…Trong những trò chơi phối hợp, trẻ phối hợp hai đồ vật đó với nhau nhưđập khối hộp vào nhau hoặc đặt một khối hộp lên trên khối kia Trò chơi thể hiện chứcnăng là trò chơi mà trẻ bắt đầu sử dụng những vật liệu đúng cách, ví dụ như chơi vớimột chiếc ô tô đồ chơi bằng cách lái ô tô đi quanh sàn Ngoài ra còn có một vài trò chơigiả vờ với những với những đồ chơi dạng bản sao hoặc mô hình Dựa trên cách trẻ pháttriển, trẻ có thể trưởng thành thêm trong nhận thức về sự tồn tại của đồ vật Trẻ CPTTTphụ thuộc nhiều vào những người khác, không chỉ vấn đề về chăm sóc mà còn về cáctrải nghiệm Sự phát triển tối đa có thể diễn ra trong một môi trường có tổ chức cao với

sự giúp đỡ, giám sát liên tục và quan hệ đã được cá nhân hóa giữa trẻ với người trôngnom Sự phát triển vận động, các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự lực có thể được cảithiện nếu trẻ nhận được hướng dẫn và tập luyện hợp lý Một vài trẻ có thể thực hiệnnhững nhiệm vụ đơn giản ở những môi trường được giám sát chặt chẽ

1.4 Nguyên nhân gây CPTTT

1.4.1 Nguyên nhân trước khi sinh

Những yếu tố nội sinh:

Trang 17

- Lỗi nhiễm sắc thể: gây hội chứng Down, Turmer, Cri - du - chat Đây là nguyên nhânphổ biến nhất gây CPTTT Những trẻ mắc phải hội chứng này, chúng ta có thể quan sátđược những rối loạn bên ngoài bằng mắt thường.

- Lỗi gen: Hội chứng PKU, san filippo, chứng xơ cứng dạng củ, gẫy nhiễm sắc thể,Rett, William Beuren, Angelman, Prader Willy

- Rối loạn nhiều yếu tố: nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch màng não, tật đầunhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp

Các yếu tố ngoại sinh:

- Do lây nhiễm khi bà mẹ mang thai: Sởi Rubella – sởi Đức, nhiễm toxoplasma vi-rút

cự bào, giang mai, HIV,…

- Do nhiễm độc: một số loại y dược mà bà mẹ dùng chẳng hạn như thuốc chống độngkinh, chất rượu cồn, chụp tia x-quang, chất độc màu da cam (thế hệ thứ hai), kháng thểRH

- Do suy dinh dưỡng ở người mẹ, thiếu I - ốt trong thức ăn hoặc nước uống

1.4.2 Những nguyên nhân trong khi sinh

- Thiếu oxy ở trẻ: do sinh quá lâu, do nhau thai, trẻ không thở hoặc không khóc ngaysau khi sinh

- Tổn thương trong lúc sinh: tổn thương não do mẹ đẻ khó hoặc do dụng cụ y tế hỗ trợkhi sinh (do dùng forceps để kéo đầu trẻ)

- Viêm nhiễm: Vi rút Herpes, giang mai

- Đẻ non hoặc thiếu trọng lượng: thời gian mang thai của bà mẹ đủ nhưng trọng lượngcủa đứa trẻ lại thiếu

1.4.3 Những nguyên nhân sau khi sinh

- Viêm nhiễm: viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thủy đậu, viêm phổi

- Tổn thương não: do chấn thương ở đầu, do ngạt hoặc tổn thương do các bệnh u nãohay do tác động của chỉnh trị: phẫu thuật, dùng tia phóng xạ,…

- Nhiễm độc: chẳng hạn như nhiễm độc chì

- Suy dinh dưỡng, bị lạm dụng, kích thích dưới ngưỡng hoặc bị bỏ rơi

+ Một số hội chứng kể trên mang tính ổn định tức là không lây lan hoặc phát triểnchẳng hạn như chứng rối loạn nhiễm sắc thể, lây nhiễm hoặc tổn thương

+ Nhưng lại có một số hội chứng phát triển Sau một giai đoạn nhất định, xảy ra hiệntượng dị biến trong sự phát triển của trẻ và từ sau đó sự phát triển của trẻ sẽ bị ngưnglại hoặc giảm sút chẳng hạn như do sự sai lệch về chuyển hoá bẩm sinh như PKU, SanFilippo, Rett

Trang 18

+ Những vấn đề khác chẳng hạn như động kinh và liệt cứng có thể làm cho tật của trẻnặng thêm.

1.4.4 Các nguyên nhân môi trường

- Phát hiện nguyên nhân gây tật CPTTT không phải là một việc dễ dàng CPTTTthường là hệ quả của sự tác động phức tạp do nhiều loại nguyên nhân

- Những yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đứa trẻ là:

+ Không được chăm sóc đầy đủ về y tế và thể chất: thiếu dinh dưỡng, suy dinh dưỡngdẫn đến suy giảm chức năng của não, không tiêm phòng đầy đủ

+ Thiếu hụt về tâm lý xã hội: thiếu sự chăm sóc nhạy cảm, không được khuyến khíchhoặc bị khiếm khuyết về các giác quan, kích thích quá mạnh, bị bỏ rơi hoặc bị lạmdụng

+ Trong gia đình việc sử dụng ngôn ngữ bị hạn chế, sử dụng những câu ngắn hoặcnhững câu có vốn từ vựng bị giới hạn

+ Ít có cơ hội đến trường

+ Cuộc sống của trẻ bị người khác áp đặt, định đoạt; trẻ không thể tự kiểm soát đượccuộc sống của mình, thiếu tự tin dẫn đến việc học kém ở trường

1.5 Một số vấn đề thể chất và tâm thần liên quan đến CPTTT

1.5.1 Những dạng khuyết tật thường xảy ra đồng thời với CPTTT

1.5.1.1 Khiếm thính

Trẻ khiếm thính là trẻ khó nghe hoặc điếc Khiếm thính có thể do nhiều nguyênnhân: nguyên nhân trước sinh (các bệnh truyền nhiễm, Rubella, giang mai; dùng thuốc

có hại cho sự phát triển tai của bào thai,…); trong khi sinh (thiếu oxy, dùng dụng cụ y

tế forceps để kéo đầu trẻ ra,…) hoặc sau khi sinh (bệnh tật, tai nạn,…)

1.5.1.2 Khiếm thị

Trẻ khiếm thị là những trẻ nhìn kém hoặc bị mù Nói cách khác, khiếm thị làmức độ sắc nét của thị lực ngay cả khi có kính là từ 5% - 30% Thị lực thông thườngdao động trong khoảng 30% - 100% Trong tình trạng mù thị lực dưới 5%

Khiếm thị thường xảy ra do các vấn đề liên quan về mắt: bị khúc xạ (viễn thị,cận thị); đục thủy tinh thể; bị lác; chứng giật cầu mắt; tổn thương võng mạc; teo dâythần kinh thị giác; tổn thương não; mắt nhỏ hơn mức bình thường

1.5.1.3 Khó khăn về vận động

Một trẻ bị khó khăn về vận động là trẻ bị yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc do đaulàm trẻ không cử động được Đối với trẻ lớn không thể cầm một vật, không thể cúixuống nhặt vật lên, không thể đi bộ 10 mét

Các dạng tật vận động:

Trang 19

- Bại, liệt 1 tay

- Bại, liệt 2 tay

- Bại, liệt 1 chân

- Bại, liệt 2 chân

- Bại, liệt nửa người

- Bại, liệt tứ chi

- Thiếu, thừa ngón tay

- Ngắn chi, cụt chi

- Bệnh cơ, xương, khớp

- Bàn chân khoèo

Nguyên nhân:

- Do bệnh: bại liệt, bại não, viêm khớp, viêm cơ, bệnh xương

- Do tai nạn: chấn thương, sang chấn sau sinh

- Do bẩm sinh

Cách phát hiện các dạng tật vận động ở trẻ:

- Trẻ nằm ngửa những không giơ được hai tay lên

- Trẻ không thể giữ vật nhỏ trong tay, không thể đưa một vật vào miệng

- Trẻ không thể dùng hai tay để nắm giữ đồ vật

- Trẻ không thể lật từ ngửa sang sấp và ngược lại

- Trẻ không tự ngồi một mình, ngồi hay bị ngã

- Trẻ không thể tự uống được bằng cốc

- Trẻ không nhặt được vật nhỏ

- Trẻ không tự bò, không tự đứng

- Trẻ không thể tự ăn

- Trẻ không biết cởi quần áo

- Trẻ không thể tự bỏ vật vào hộp và tự lấy ra

- Trẻ không thể xếp đồ vật lại với nhau và tách ra

- Trẻ không thể tự đi và chạy một mình

- Trẻ không xuống cầu thang và không có khả năng leo trèo

- Trẻ không có khả năng nhảy, không đá bóng được

1.5.2 Những bệnh thường thấy ở trẻ CPTTT

1.5.2.1 Bại não

Bại não là một tình trạng gây tàn tật cho trẻ em có nguyên nhân từ não Chứngtật này do não bị tổn thương trước khi sinh, trong khi sinh hoặc sau khi sinh cho đến 5

Trang 20

tuổi Dạng tật này gây ảnh hưởng đến các tư thế tự nhiên và hoạt động bình thường củatrẻ Trẻ có thể mềm nhũn, toàn thân co cứng hoặc vận động không tự chủ.

Bại não không phải là bệnh tiếp diễn, tổn thương não chỉ xảy ra một lần vàkhông bị xấu đi Bại não không nặng thêm nhưng cũng không phải là bệnh có thể chữakhỏi Những trẻ em bị bại não sẽ phải mang tật suốt đời Bại não không lây lan vàngười ta không phải vì già mà mắc chứng bại não

1.5.2.2 Động kinh

Động kinh là cơn mất ý thức ngắn, định hình, đột ngột có khuynh hướng tái pháttheo chu kỳ, khi lên cơn có thể không kiểm soát được

Các cơn động kinh: trẻ ngã xuống bất cứ lúc nào, bất kì nơi nào ngay cả khi ngủ,

co giật chân tay nhịp nhàng, mắt trợn ngược, sùi bọt mép, rối loạn đại tiểu tiện, cơnnặng có thể hôn mê

20% người bị động kinh là do tổn thương thùy não, trường hợp này gọi là

“động kinh có triệu chứng” 80% còn lại không hề có tổn thương não và thông thường

có thể hoạt động một cách bình thường, trường hợp này gọi là “động kinh nguyên

phát”.

Nhiều nhà khoa học nghiên cứu các kích thích gây nên cơn động kinh, các nhân

tố thường được đề cập đến là thiếu ngủ, kiệt sức, stress, xúc động mạnh sau khi tập thểdục, hiện tượng kinh nguyệt, hít thở mạnh, thay đổi nhiệt độ, tiếng ồn, các luồng ánhsáng thay đổi,…

Trong dân cư cứ 150 người thì có 1 người bị mắc động kinh, khoảng 0.5 – 1%.Trong những người CPTTT, 30% bị động kinh và cứ 20 người bị động kinh thì có mộtngười bị CPTTT

1.5.3 Các dạng rối loạn tâm thần thường xảy ra với CPTTT

1.5.3.1 Tự kỷ

Leo Kanner, một nhà tâm thần học người Mỹ thuộc bệnh viện John Hopkins ởBaltimore, lần đầu tiên đã nhận dạng tự kỷ vào năm 1943 Ông đã mô tả những điểmđặc biệt của một đứa trẻ 11 tuổi như: khó phát triển quan hệ với mọi người, chậm nói

và không có khả năng sử dụng ngôn ngữ khi đã nói được, hành vi trùng lặp và rậpkhuôn, thiếu trí tưởng tượng giỏi học vẹt, bị ám ảnh đối với sự trùng lặp, diện mạo bênngoài vẫn bình thường Kanner gọi tình trạng mới phát hiện là sự tự kỷ thời kỳ ấu nhi(early infantile autism), nguồn gốc thuật ngữ từ tiếng Hy Lạp “auto” – có nghĩa là tựmình (bởi vì những trẻ này dường như tự kiềm hãm mình bên trong) Đến nay đã biếtthêm nhiều điều về bệnh tự kỷ Rối loạn tự kỷ đôi khi được gọi là sự tự kỷ thời kỳ ấunhi, sự tự kỷ thời kỳ trẻ thơ hoặc sự tự kỷ Kanner

Trang 21

* Tiêu chí chuẩn đoán rối loạn tự kỷ

Trong cuốn “Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV” đãđưa ra những tiêu chí chẩn đoán rối loạn tự kỷ như sau:

A Một tập hợp gồm sáu hoặc nhiều hơn các tiêu chí (1), (2), (3) và trong đó có ít nhấthai tiêu chí từ nhóm (1) và một tiêu chí từ nhóm (2) và (3)

(1) Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ít nhất ở hai trong số các biểu hiệnsau:

a Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như ánhmắt, nét mặt, các tư thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo các liên hệ mang tính xã hội

b Không có khả năng xây dựng mối quan hệ với các bạn đồng trang lứa phù hợp vớimức độ phát triển

c Thiếu đòi hỏi tự nhiên đối với việc chia sẻ niềm vui, sở thích/mối quan tâm hay cácthành tích đạt được với người khác (ví dụ như không biết cầm hay chỉ cho người khácthứ mà mình thích)

d Thiếu sự trao đổi qua lại về tình cảm xã hội

(2) Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ở ít nhất một trong số các biểuhiện sau:

a Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói (không có ham muốn bù đắp lạihạn chế này bằng cách giao tiếp khác, ví dụ như những cử chỉ, điệu bộ thuộc kịchcâm)

b Với những cá nhân nói được thì lại suy giảm khả năng thiết lập và duy trì đối thoại

c Sử dụng ngôn ngữ trùng lặp/rập khuôn hoặc sử dụng ngôn ngữ khác thường

d Thiếu những hoạt động/cách chơi đa dạng và đóng vai có chủ ý; thiếu hoạtđộng/cách chơi bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức độ phát triển

(3) Những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lặp lại hoặc rập khuôn thểhiện ở ít nhất một trong những biểu hiện sau:

a Quá bận tâm tới một hoặc một số mối quan hệ có tính rập khuôn và bó hẹp với mộtmức độ tập trung hoặc cường độ bất thường

b Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và không mang tínhchức năng

c Có những vận động mang tính lặp lại, rập khuôn (ví dụ gõ tay hoặc vặn tay)

d Bận tâm dai dẳng đối với những bộ phận của vật thể

B Chậm hoặc thực hiện không bình thường ít nhất ở một trong số các lĩnh vực sau, vớimốc khởi đầu trước tuổi lên ba:

Trang 22

(1) Tương tác xã hội

(2) Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội

(3) Chơi/hoạt động mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng

C Hội chứng không phải do Rett hay bất hòa nhập thời kì thơ ấu

Như vậy những đặc điểm để chẩn đoán rối loạn tự kỷ chính là sự xuất hiện tìnhtrạng phát triển đặc biệt bất thường hoặc khuyết tật trong phối hợp và giao tiếp xã hộicũng như sự xuất hiện của tập hợp các hành động và sở thích đặc biệt hạn hẹp Dạngbiểu hiện của tình trạng rối loạn này rất khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển vàtuổi của cá nhân

* Phân loại và nguyên nhân

Thực tế không phải trẻ nào mắc bệnh tự kỷ cũng như nhau Thông thường người

ta phân thành 3 nhón tự kỷ:

Nhóm không phản ứng: hoàn toàn từ chối giao tiếp

Nhóm thụ động: chấp nhận giao tiếp nhưng không bao giờ chủ động

Nhóm chủ động nhưng kì quặc: tạo ra sự giao tiếp một cách kì dị

Đã có những thay đổi sâu sắc trong nhận thức về nguyên nhân gây ra tự kỷ.Trong những nghiên cứu ban đầu, Kanner cho rằng cha mẹ trẻ tự kỷ quá bận tâm côngviệc mà mất đi quan tâm đối với con mình Các bậc cha mẹ này thường là người thànhđạt, có địa vị cao trong xã hội nhưng lại rất “lạnh lùng”. Lý luận này đã tác động rấttiêu cực đến các bậc cha mẹ

Ngày nay người ta đã thống nhất rằng nguyên nhân của tự kỷ là sự biến đổi bấtthường trong quá trình phát triển của não hoặc bởi tổn thương não Vì nguy cơ mắc rốiloạn tự kỷ ở anh, chị, em của cá nhân có rối loạn này đang ngày càng gia tăng nênngười ta cho rằng có thể do yếu tố di truyền

* Cách trẻ tự kỷ hiểu về thế giới và những vấn đề liên quan đến tự kỷ

Cách trẻ tự kỷ hiểu về thế giới: Một đứa trẻ tự kỷ sẽ có khả năng trong việc hiểunhững kích thích đến với nó (những gì nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy vàcảm thấy) Chúng rất khó hiểu được ý nghĩa thông tin, khó loại bỏ các kích thích khôngliên quan, khó liên kết các thông tin và khó khái quát thông tin (ví dụ kinh nghiệm vềcái ghế cho thấy không phải cái gì giống cái ghế đều là cái ghế) Rất nhiều thứ mà mộtđứa trẻ tự kỷ trải nghiệm là mới mẻ với nó Thế giới đối với trẻ tự kỷ là hỗn loạn và rờirạc Vì vậy rất nhiều trẻ tự kỷ tìm kiếm sự an toàn cho mình bằng việc lặp lại nhữnghành động tương tự nhau hoặc tìm cách khác để trốn tránh thực tại (ví dụ như bịt tailại)

Ngày đăng: 27/07/2023, 18:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w